Tưởng nhớ anh Nguyễn Đại Ca

Đàm Quang Tuấn

 

Anh Nguyễn Đại Ca là sinh viên Viet Nam đầu tiên sang Nhật dzu học dzưới chương tŕnh học bổng của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Nhật Bản, niên khóa 1954-1955. Anh Đại Ca đến Tokyo vào mùa thu năm 1954, học Nhật ngữ thêm một năm nữa, và vào truờng Đại Hoc Kyoto năm 1956.

Tôi lần dầu tiên gặp anh Đại Ca vào cuối tháng 6 năm 1955, khi anh và một nhân viên Bộ Quốc Gia Giáo Dục Nhật Bản đón tôi ở phi truờng Haneda. Anh Đại Ca người đong dỏng cao, gần 1 mét 8. Anh tính t́nh hồn nhiên, song trong sự hồn nhiên cũng có sự thận trọng, cân nhắc.

Về đến Hội Quán Quốc Tế, anh Đại Ca lập tức giới thiệu tôi với Đại Đức Thích Thiên Ân, Đại Đức Thích Tâm Giác và Đại Đức Thích Quảng Minh cùng ở một bin-đinh với chúng tôi. Ngày hôm sau, anh Đại Ca đưa tôi đến chào ông bà Nguyễn Rĩnh Nhiếp (Ông Nhiếp trước là Bí Thư của Hoàng Thân Cường Dể) và mấy hôm sau đi chào ông Nguyễn Ngọc Thơ, Đại Sứ Việt Nam ở Nhật. Anh Đại Ca dễ thân thiết với mọi nguời, gọi ông bà Nhiếp là "ông già, bà già" và ông Thơ là "bác," xưng "con."

Lúc bấy giờ sinh viên ngoại quốc được học bổng của chính phủ Nhật đang tranh đấu yêu cầu chính phủ Nhật cho thêm tiền, lấy cớ là không đủ và quá ít so vơi học bổng của Hoa Kỳ. Cầm đầu nhóm vận động là một sinh viên người Tích Lan (Sri Lanka) và một vài sinh viên người Miến Điện. Tôi mới sang Tokyo, không biết nếp tẻ ǵ và chỉ có một ḿnh anh Đại Ca đi họp. , song tôi không thể quên được ḷng hăng say của anh. Nhóm vân động đă quyết định sinh vien học bổng băi khóa một ngày. V́ t́nh đoàn kết và cũng để tránh sự va chạm trong cư xá, mọi người nghe theo. Cuộc vận động này không thành và rút cuộc anh sinh viên người Tich Lan bỏ về nuớc .

Anh Đại Ca và tôi ở cách nhau ba, bốn pḥng trong Hội Quán, nhưng khi đi học o Gaigo-dai th́ anh Đại Ca thuờng đi chung với mấy sinh viên Phi Luật Tân cùng lớp, c̣n tôi cũng đi với mấy bạn khác cùng lớp.

V́ chúng tôi cùng ở vào một lứa tuổi và ở Viet Nam tôi học truớc anh, nên chỉ sau môt vài tuần chúng tôi đă tutoyer (mày tao) với nhau. Tôi không thể nào quên được tiếng anh Đại Ca phá lên cuời khi nghe được một câu chuyện ǵ vui la. Anh Đại Ca thuờng đùa gọi tôi là "cụ Đàm." (V́ biết tập tục của người Nhat, lúc bắt đầu vào Tokyo Gaigo-dai tôi đă nói tên tôi là "Đàm" khi tự giới thieu hay đáp lại khi hỏi đến tên.) .

Một ngày tháng Hai 1956, trời tuyết lớn o Tokyo, anh Đại Ca và tôi ngồi trong pḥng ăn Hội Quán, vừa chuyện tṛ vừa nh́n tuyết rơi xuống bên ngoài. Đây là lần đầu tiên trong đời cả hai chúng tôi được thấy tuyết rơi. Tôi c̣n nhớ một lần anh Đại Ca và tôi đi dự một cuộc xum họp Việt Kiều, trên duờng ra ga Okubo, môt em bé gái nhỏ độ ba, bốn tuổi đi với mẹ trông thấy chúng tôi, tay giơ ra như khoe một vật ǵ cầm trong tay, tôi dzừng chân lại xoa đầu em bé và hỏi tên rồi mới đi và anh Đại Ca cuời lớn, nói :" Đây là tác phong của cụ Đàm."

Anh Đại Ca chung sống với tôi ở Hội Quán Quốc Tế không đầy chín tháng th́ chúng tôi xong khóa Nhật ngữ. Anh Đại Ca liền dzọn đi miền Kansai vào trường Đại Hoc Kyoto. Nhưng khi anh lên Tokyo, anh ngủ ở pḥng tôi.

Mùa nghỉ xuân năm 1957, tôi xuống Nara, Osaka và Kyoto chơi và trong thời gian lưu lại o Kyoto, tôi ở kư túc xá chung pḥng với anh Đại Ca. Hôm đi chơi một ḿnh, tối tới tận gần 11 giờ mới về, anh Đại Ca mở cửa và hỏi ngay: "Toa đă bắt đuoc em nào rồi, phải không?" Tôi cuời đáp: " Khi moa về, toa khỏi phải đi tiễn, em sẽ đi tiễn moa o ga".  Tối hôm đó, anh Đại Ca đă kể lại những câu chuyện hẹn ḥ, gặp gỡ của anh ở Kyoto, và cả hai cùng cuời ầm lên.

Sau đó, tôi ít gặp lai anh Đại Ca và thuờng chỉ nói chuyện qua diện thoại.

Trong thời gian ở Daigaku-in, anh Đại Ca về nuớc vào năm 1961, và có đến chào ông Nguyễn Ngọc Thơ, lúc bấy giờ làm Phó Tổng Thống. Ít ngày sau, ông Thơ đưa anh Đại Ca đến chào Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Anh Đại Ca trở lại Nhật được mấy tháng th́ chính phủ Viet Nam, qua Ṭa Đại Sứ Viet Nam ở Tokyo, mời anh về nước giữ chức vụ "cố vấn kỹ thuật." Song anh Đại Ca quyết định ở lại Nhật tiếp tục học và đỗ tiến sĩ về vật lư nguyên tử học năm 1965. Anh Đại Ca không bao giờ giảng dạy ở một trường đại học Nhật nào.

Trong lần nói chuyen về anh Đại Ca với anh Lê Dũng Dân vào dịp NHN 2000 ở San Jose, anh Dân cho là anh Đại Ca bị kỳ thị.  Song tôi không nghĩ như vậy v́ đă có một số anh em ex-ryu làm giáo sư ở một vài đại học Nhật Bản. Theo ư tôi, cách xử thế khôn khéo hay "yowatari," mà nguời Viet Nam gọi là "điếu đóm" giỏi cũng là một yếu tố quan trọng như kiến thức chuyên môn để được tuyển chọn làm giáo sư đại học ở Nhật Bản . Đây là những nhận xét khi thấy hai nguời học tṛ của tôi ở Tokyo gaigo-dai được bổ nhiệm làm giáo sư Việt ngữ và mấy sempai của tôi ở Todai được gửi đi dạy ở một vài đại học khác.

Cũng vào khoảng năm 2000, tôi điện thoại thăm hỏi anh Đại Ca.  Anh cho hay anh bị đột qụy truớc đó năm, bẩy tháng và nay đă hồi phục lại. Anh có vẻ chán đời, nói muốn "sớm về với ông bà, ông vải cho xong." Tôi có mấy lời cố để làm anh vui lên và hứa sẽ đến thăm anh.

Như đă hứa, mùa xuân năm 2002 tôi đến thăm anh Đại Ca ở vùng phụ cận Osaka. Anh đón tôi o ga về nhà . Anh vẫn c̣n giữ phong độ cũ và chúng tôi ngồi cùng nói lại những chuyện xa xưa. Anh muốn giữ tôi ngủ lại nhà anh một tối, song khỏang hai giơ sau tôi phải xin cáo từ v́ nhà tôi đợi tôi ở khách sạn Kyoto. Khi ra về, tôi bắt chặt tay anh, nói:

" Đây có thể là lần chót chúng ḿnh gặp nhau, chúc toa ..." Anh Đại Ca vội ngắt lời tôi:  "Nói bậy nào, moa và toa c̣n gặp nhau nhiều lần nữa mà."

Khi về Mỹ, thỉnh thỏang tôi gọi điện thoại về thăm anh. Cách đây khoảng ba năm, tôi điện thoại về thăm anh th́ chi Đại Ca có vẻ như không muốn tôi điện thoại cho anh nữa. Mùa xuân năm nay, khi con tầu siêu tốc qua Kyoto, tôi nhớ lại người bạn xưa và quyết định gọi thăm anh. Lần này, tôi nói tiếng Anh và chị Đại Ca cho hay anh đă qua đời năm ngoái. Tôi bầy tỏ mấy lời chia buồn với chi Đại Ca rồi ngồi thần nguời ra.

Đại Ca ơi, toa hẹn chúng ta sẽ gặp lại mà nay toa đă nhắm mắt nằm xuống. Lúc chia tay ngày năm xưa, moa đă linh cảm đó là lần cuối cùng chúng ta gặp mặt. Nay nghĩ đến toa, ḷng moa bùi ngùi...Thôi nhé, hăy an giấc ngh́n thu.

"Oh! les neiges d'antan." (Ôi, những cụm tuyết năm xưa)

Quư Hạ 2009

Đàm Quang Tuấn