HY VỌNG NẢY SINH TỪ TRẠNG HUỐNG NGUY KỊCH

Thư độc giả Murakami Ryu gửi New York Times ngày 16/03/2011

Murakami Ryu

Thứ Sáu tuần trước, tôi rời nhà ở phường Minato, Yokohama, đến khách sạn thường đến ở Shinjuku, nhận pḥng khoảng gần 3 giờ chiều. Tôi thường đến ở đây mỗi tuần 3, 4 ngày để viết hoặc làm việc ǵ khác.

Vừa vào pḥng th́ động đất xảy ra. Sợ bị gạch ngói đè lên, tôi tức th́ chộp lấy chai nước, hộp bánh quy và chai rượu brandy, rồi chui ngay xuống dưới bàn viết trông vững chắc. Tuy bây giờ nghĩ lại, nếu mà bị gạch ngói bin-đinh 30 tầng này đè lên, th́ chẳng làm sao mà nhâm nhi rượu brandy cho được. Vậy mà lúc đó th́ hành động như thế đă giúp tôi khỏi bị khủng hoảng.

Ngay sau đó, cảnh-báo động đất được loa truyền đi khắp khách sạn. "Khách sạn này được xây dựng với cấu tạo chịu đựng được động đất ở mức độ kiên cố nhất, không sợ bị sụp đổ. Xin đừng ra khỏi khách sạn". Lời quảng bá ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần. Lúc đầu th́ tôi cũng có ít nhiều hoài nghi: phải chăng chỉ là phía khách sạn cố gắng trấn an khách trọ đấy thôi.

Dù vậy, lúc ấy tôi đă quyết định ngay lập trường căn bản đối ứng với vụ động đất này. Ít nhất th́ ngay thời điểm này, nên tin cậy thông tin từ những cơ quan, những người thông hiểu t́nh h́nh hơn là cá nhân tôi. V́ thế, tôi tin là toà nhà này không sụp đổ được. Và thực tế, toà nhà đă không sụp đổ.

Vẫn nghe rằng người Nhật Bản vốn tin tưởng vào quy luật của "tập thể", giỏi việc tổ chức nhanh chóng thể chế làm việc chung khi lâm vào nghịch cảnh. Điều đó được chứng minh ngay lúc này. Các hoạt động cứu trợ và phục hồi dũng mănh và quả cảm được tiếp tục không ngừng, mà cướp bóc cũng không xảy ra.

Tuy nhiên, ở những chỗ mà mắt nh́n của tập thể không rọi tới th́ (người Nhật) chúng ta lại tỏ ra vị kỷ. Cứ như là phản nghịch đối với thể chế chung vậy. Thực sự đă xảy ra như thế: Gạo, bánh ḿ, nước uống, những thứ nhu yếu ấy đă biến mất từ những ngăn bày hàng trong siêu thị. Các trạm xăng đều khô cạn. Tâm lư hốt hoảng sợ hết hàng mất đang khơi dậy chuyện mua trử nhất thời. Đây chính là lúc ḷng trung thành với tập thể được thử thách.

Hiện nay, nỗi lo ngại lớn nhất là nhà máy phát điện nguyên tử Fukushima. Tin tức hỗn loạn và mâu thuẩn. Có thuyết cho rằng t́nh trạng nhà máy ấy tệ hại hơn sự cố Three Mile Island (1979, Mỹ) nhưng không đến nỗi như vụ Chernobyl (1986, Ukraina), lại có thuyết bảo rằng gió chứa phóng xạ đă thổi tới Tokyo, phải trốn trong nhà và ăn rong biển có chất iodine để giảm bớt bị nhiễm phóng xạ. Bạn tôi ở Mỹ c̣n khuyên là hăy trốn sang phía tây.

Đă có nhiều người rời khỏi Tokyo, nhưng cũng có nhiều người chọn ở lại. Họ bảo là v́ công ăn việc làm. V́ có bạn bè, v́ thú nuôi. Cũng có người bảo là "cho dù có xảy ra t́nh trạng hủy hoại đến như Chernobyl đi nữa, Fukushima xa Tokyo đến 170 dặm, th́ cũng chẳng sao!"

Song thân tôi ở Kyushu về phía tây xa Tokyo, nhưng tôi không có ư định về đó tránh nạn. Tôi muốn ở lại Tokyo với gia đ́nh, bạn bè, và nạn nhân thiên tai. Ở lại đây để giúp họ can đảm phấn đấu. Như họ giúp tôi can đảm phấn đấu.

Hiện tại, trong pḥng khách sạn ở Shinjuku này, tôi quyết tâm giữ vững lập trường ấy. Tôi tin vào lời phát biểu của những nguồn tri thức chuyên môn cao hơn tôi, nhất là thông tin đọc được trên mạng từ những nhà khoa học, y sĩ, kỹ thuật gia. Những ư kiến, phân tích của họ ít được đưa lên truyền thông nhưng có tính cách b́nh tĩnh, khách quan, chính xác, đáng tin hơn cả.

Trong một tiểu thuyết tôi viết mười năm trước, có cảnh học sinh trung học lên diễn thuyết ở Quốc hội rằng: "Đất nước này thứ ǵ cũng có. Quả thật có được đủ thứ. Thế nhưng, chỉ hy vọng là không có thôi"

Ngày nay th́ ngược lại. Ở những nơi tỵ nạn, đang thiếu thốn trầm trọng thực phẩm, nước, thuốc men. Cả Tokyo cũng thiếu vật phẩm, thiếu điện. Đời sống dân chúng bị uy hiếp, chính phủ và công ty điện lực đối ứng trễ năi.

Tuy nhiên, mất tất cả nhưng Nhật Bản thu lượm được một thứ, đó là hy vọng. Động đất, sóng thần đă cướp vét đi hết đồng đội, vật tư của chúng ta, nhưng đă ươm trồng hạt giống hy vọng trong tâm hồn chúng ta bao lâu nay đă đầy những ham muốn vật chất. V́ thế mà tôi tiếp tục tin tưởng.

Phạm Vũ Thịnh dịch theo bản tiếng Nhật.

Sydney 23/03/2011

Bản dịch tiếng Anh : http://www.nytimes.com/2011/03/17/opinion/17Murakami.html