Nitobe Inazo

và việc chọn ngành học phục vụ chiến lược công nghiệp hóa

Trần Văn Thọ
Giáo sư Đại học Waseda, Tokyo

     Đồng tiền Nhật lưu hành hiện nay có 3 tờ giấy bạc (1.000, 5.000 và 10.000 yên). Nhật Bản dùng h́nh của 3 nhà văn hóa lớn của họ để in lên 3 tờ giấy bạc nầy: Nhà giáo dục, nhà tư tưởng Fukuzawa Yukichi (1835-1901), Nhà gíáo dục, nhà ngoại giao Nitobe Inazo (1862-1933) và văn hào Natsume Soseiki (1867-1916).  Trong cuộc sống ở Tokyo, hầu như  ngày nào cũng cầm đến ít nhất một trong 3 tờ giấy bạc nầy nhưng hiếm khi có dịp ngắm h́nh của 3 nhà văn hóa đă có công lớn trong việc canh tân nước Nhật từ cuối thế kỷ 19.

     Tuy nhiên mấy tuần nay đọc báo Tuổi Trẻ và Tuổi Trẻ Chủ Nhật, theo dơi việc thi vào (hoặc tuyển thẳng vào) đại học và việc chọn ngành của lớp trẻ VN, tự nhiên tôi nghĩ đến câu chuyện đi học và chọn ngành của Nitobe Inazo thời nhỏ.

     Chuyện kể rằng  khi Nitobe  lên 14 tuổi thi đỗ vào Trường ngoại ngữ Tokyo (tiền thân của Đại học Tokyo ngày nay), và định theo học luật để trong tương lai vào chính trường thi thố tài năng. Nhưng t́nh cờ tham dự buổi thuyết tŕnh của Nishimura Sada, một quan chức cao cấp của Bộ Giáo dục đương thời, Niitobe đă quyết định chuyển ngành học. Trong bài thuyết tŕnh, Nishimura nhấn mạnh là để làm cho nước Nhật giàu mạnh, phải công nghiệp hóa, mà điều kiện để công nghiệp hóa thành công là những người trẻ tuổi có tài năng phải cố tâm theo học và đóng góp vào việc phát triển các ngành khoa học kỹ thuật như cơ khí, hóa học,..

     Thế là Nitobe bỏ ư định học luật, lên tận Hokkaido (miền cực bắc nước Nhật) thi vào Trường nông nghiệp Sapporo (tiền thân của Đại học Hokkaido ngày nay) và theo học ngành cơ khí nông học. Ông đă thành công trong sự nghiệp học tập, trở thành giáo sư nông học, góp phần đào tạo thế hệ kế cận. Nhưng Nitobe là người đa tài, xuất chúng trong nhiều lănh vực khác nhau, nên về sau đă mở rộng phạm vi hoạt động và nghiên cứu sang nhiều hướng khác và ở lănh vực nào ông cũng dẫn đầu. Nitobe là người Nhật đầu tiên viết nhiều cuốn sách bằng tiếng Anh có giá trị giới thiệu văn hóa Nhật Bản với phương Tây, được lịch sử ghi nhận là người bắt cầu cho hai nền văn hóa. Trong những sách của ông, nổi tiếng nhất là cuốn Vơ sĩ đạo: linh hồn của Nhật Bản (BUSHIDO: The Soul of Japan) xuất bản tại Mỹ năm 1900. Ông c̣n là nhà ngoại giao lỗi lạc, sau khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, ông  được bầu làm Phó Tổng thư kư Hội Quốc Liên.

       Tài năng và cuộc đời của Nitobe rất đặc biệt, ông đă đóng góp vào việc phát triển Nhật Bản ở nhiều lănh vực khác nhau. Nhưng điểm đáng nói ở đây là Nhật Bản đă thành công trong công cuộc công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước nhờ những người nh́n xa thấy rộng như Nishimura và sự hưởng ứng tích cực của lớp trẻ như Nitobe trong việc chọn ngành học đúng với nhu cầu của đất nước.  Đă có hàng hàng lớp lớp người trẻ Nhật Bản hăng say học tập các ngành khoa học kỹ thuật ở trong nước và nước ngoài và khi ra trường đổ về các công trường, nhà máy gắn bó với cơ sở sản xuất. H́nh ảnh quen thuộc thường được nói đến của những kỹ sư Nhật là sống ḥa ḿnh với công nhân ở hiện trường, tận tụy chỉ dẫn họ sử dụng máy móc, quản lư thiết bị, tay chân cũng thường lấm đầy bụi than như công nhân. Ngược lại, dĩ nhiên họ được đăi ngộ xứng đáng, được xă hội tôn trọng và nhất là có được niềm vui khi thấy đất nước họ ngày càng phát triển mà trong đó có phần đóng góp của họ.

       Việt Nam muốn thành công trong chiến lược công nghiệp hóa, phải chú trọng nhiều hơn đến việc giáo dục khoa học kỹ thuật, phải tạo cơ chế khuyến khích lớp trẻ học các ngành nầy nhiều hơn. Theo báo Tuổi Trẻ (phát hành mấy tuần trước đây), những học sinh có thành tích học xuất sắc ở trung học phổ thông được tuyển thẳng vào đại học  có khuynh hướng đổ xô vào một số ngành trong khoa học xă hội và nhân văn và ít chọn các ngành khoa học kỹ thuật, phản ảnh tâm lư chung của giới trẻ hiện nay.   Dĩ nhiên các ngành khoa học xă hội và nhân văn cũng rất cần thiết, nhu cầu nhân tài trong những ngành nầy cũng sẽ tăng trong quá tŕnh công nghiệp hóa. Tuy nhiên t́nh h́nh hiện nay là cung vượt cầu và khuynh hướng nầy có vẻ ngày càng mạnh do đó số người thất nghiệp có học thức (educated unemployment) sẽ tăng. Mặt khác, kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật trong các ngành điện, cơ khí, hóa học v.v.  đương thiếu nhiều. Các xí nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ng̣ai phải trả lương cao gần bằng mức lương các nước Đống Nam Á khác mà vẫn không có đủ số chuyên viên, kỹ sư cần thiết. Quá tŕnh công nghiệp hóa của ta mới ở giai đoạn khởi đầu mà đă xảy ra t́nh trạng thiếu kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật như vậy, nếu không có kế họach đào tạo quy củ và nhất là không có cơ chế khuyến khích, kêu gọi  giới trẻ yêu thích các ngành khoa học kỹ thuật th́ làm sao bảo đảm cho chiến lược công nghiệp hóa tiến triển nhanh trong đầu thế kỷ tới?

      Đó là vấn đề số lượng. C̣n vấn đề chất lượng và nhiều mặt khác nữa. Cơ sở vật chất, tŕnh độ giáo viên ở các đại học quyết định một phần khá lớn chất lượng của kỹ sư ra trường. Hệ thống thu tập và phổ biến những tiến bộ của khoa học trên thế giới, khả năng tiếp cận của chuyên viên, kỹ sư với những thông tin khoa học ấy cũng không kém quan trọng. Ngoài ra,  nếu kỹ sư, chuyên viên ra trường chỉ thích làm quản lư, không về nhà máy trực tiếp tham gia sản xuất th́ t́nh trạng thiếu hụt ở mặt cung cấp không được cải thiện. Những người có học hàm học vị cao nhưng không tiếp tục nghiên cứu và tham gia đào tạo mà chuyển sang làm quản lư cũng là yếu tố không thuận lợi đối với chiến lược công nghiệp hóa.

        Ở nước ta hiện nay, công nghiệp hóa hiện đại hóa được xem là chiến lược cơ bản để phát triển đất nước. Nhưng để thực hiện thành công chiến lược nầy c̣n có quá nhiều vấn đề phải giải quyết trong đó then chốt nhất là việc nuôi dưỡng những con người có khả năng và có lư tưởng phục vụ thời đại công nghiệp.

                                                                        Tokyo, những ngày hè 1999


* Bài đă đăng ở Tuổi trẻ chủ nhật  số  ra ngày 1/8/1999

-  Phụ bản của Exryu Cuối Tuần

* Xem thêm sơ lược tiểu sử Nitobe Inazo 

 


® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com