|
|
Chương II Một đoàn tàu Mỹ
Ngày
nay dân-tộc Nhựt-bổn trở nên một
mối lo phiền đáo để cho Âu-Mỹ, h́nh
như Âu-Mỹ có ư buồn rầu ân hận
rằng mối lo phiền đó tự họ làm
ra, tự họ rước lấy. - Trước kia người
Nhựt đang ngủ ngon giấc thủ cựu,
ai bảo Âu-Mỹ chúng ta kéo đến đấm
cửa rầm rầm, đánh thức họ
dậy, cho bây giờ phải lo ! Ấy là một tiếng ân
hận, gần đây thường nghe thốt ra
ở câu văn cửa miệng của nhiều văn
nhơn chánh-khách phương Tây. Một danh-sĩ
Pháp là ông Maurice Dekobra mới đây qua Nhựt chơi
rồi về viết cuốn “Samurai
huit Cylindres”, cũng hơi có cái dọng than
thở như thế. Ta có thể cho là tư tưởng
chung của người Tây-phương giữa lúc
Nhựt-bổn đang hồng hộc về chánh-sách
đế-quốc và đang sấn sước
cạnh tranh về kinh tế công nghệ như là
lúc nầy : - "Trải bao nhiêu thế-kỷ, Nhựt-bổn vẫn ở biệt-tịch một ḿnh, người Âu-châu "không biết tới". Duy có ít người Ḥa-lan được ở tạm trong một cù-lao Nhựt-bổn để mua bán với dân họ. Sự thiệt, thuở ấy họ có muốn biết ta (Tây phương), họ có muốn làm quen với ta, với văn-hóa của ta đâu." "Khi không đề-đốc
Perry Huê-kỳ đem một đoàn tàu chiến
đến bờ biển Nhựt mà "bắn súng
đại-bác nổ đùng đùng" để
bảo cho Nhựt biết rằng Huê-kỳ không
chịu cho họ ở biệt tịch,
chẳng giao thiệp ǵ với nước ngoài." "Những kẻ thù
nghịch với Nhựt bây giờ thử suy nghĩ
coi cái cử-chỉ của đề đốc Perry thuở đó phải hay là không ? Chúng ta có
quyền ǵ được tự phụ rằng văn-minh
của chúng ta tốt đẹp hơn hết
(chứng cớ ǵ đâu), rồi tới
khuấy rầy Nhựt-bổn, buộc họ
"phải tiếp rước ta, bắt họ
phải kư những tờ điều-ước mà
bổn-tâm họ không muốn kư" chút nào." "Theo gương “tốt”
đó của Huê-kỳ, tới Anh, Pháp, Hoà-lan và
gần hết các nước Âu-châu, ùn ùn kéo
qua Nhựt-bổn, dơ
sức mạnh ra mà chiếm tô-giới nọ,
đ̣i huê-lợi kia. Con vi-trùng đế-quốc
đi theo tàu trận của phương Tây mà
truyền vô nước Nhựt đó. v.v…" Thiệt sự, tới năm
1853, Nhựt-bổn đang đóng cửa ngủ
ngon, giữ chặt thói cũ, chính tự đề-đốc
Perry đem một đoàn tàu Mỹ lại
thị oai mà làm cho họ giật ḿnh tỉnh
giấc, phát phẩn tự cường ;
Nhựt-bổn bước vào kỷ nguyên
mới, bắt đầu từ đó. Cũng
bởi thế, nên tôi lấy “Một đoàn tàu Mỹ” mà mạng đề
cho chương nầy, nói về cái lai-lịch
duy-tân khai-quốc của Nhựt-bổn. Nghĩ lại, có lẽ ông
Hoá-công là tác giả cuốn Lịch-sử Nhơn-loại,
khéo sắp đặt biên chép để chỉ
tỏ ra chỗ nên hư hay dỡ của loài người
cũng kỳ. Cùng là một việc đem tàu
lại thị oai : Năm 1853, đoàn tàu Mỹ vào
cửa biến Phố-hạ, làm cho
Nhựt-bổn tỉnh-ngộ tự -tân ; năm
1858, đoàn tàu Pháp tới cửa Đà-nẳng,
giúp cho nước Nam ta trở nên lănh-thổ
bảo-hộ của Pháp-quốc. Chớ chi
thuở đó vua quan ḿnh giỏi, dân-tộc ḿnh
khôn, th́ có lẽ nước Nam đă nhờ Pháp-quốc
có ḷng tốt chạy sang đánh thức mà
được tỉnh-ngộ tự-tân như
Nhựt-bổn kia rồi. * ĐỀ ĐỐC
BÁ-LƯ ĐEM MỘT ĐOÀN TÀU VÔ CỬA CẤM Lúc nầy đang
hồi Nhựt-bổn nghi kỵ người ngoài,
đă ba trăm năm nay khóa chặt cửa
biển, không cùng nước nào giao thông, và không
cho ghe tàu ngoại-quốc ra vô buôn bán. Trừ ra
có ít nhiều người Hoà-lan và người Tàu
được ở buôn bán tại cửa Tràng-kỳ
(長崎
– Nagasaki)
mà
thôi. Thuở giờ cũng
chưa có nước Âu-Mỹ nào ra mặt chánh-thức
yêu-cầu Nhựt-bổn phải mở cửa thông
thương ; bắt đầu, nước
Mỹ sai sứ đi tàu trận qua
Nhựt-bổn yêu-cầu việc đó trước
hết. Trào Hiếu-minh Thiên-hoàng năm
thứ sáu, mùng 3 tháng 6, âm-lịch, nhằm ngày mùng
8 tháng 7 năm 1853, quan Thủy-sư đề-đốc
Huê-kỳ là Bá-lư (柏理),
theo sách Nhựt, c̣n nguyên-danh Huê-kỳ là Matthew
C, Perry) dẫn 4 chiếc tàu trận vào đậu
ngay cửa biển Phố-hạ (浦賀
- ?), hỏi Giang-hộ tướng-quân (江戸将軍
– Edo Shougun) về việc giao thông. Hồi
nầy chính họ Đức-xuyên làm tướng-quân,
đóng ở thành Giang-hộ (Yedo, tức là Đông-kinh
bây giờ), cho nên gọi là Giang-hộ Tướng-quân. Bấy giờ tại cửa
Phố-hạ, có chức quan Phụng-hành (奉行
- Bugyo) của Mạc-phủ đặt ra để
xem xét các ghe tàu ra vô trong vịnh biển
Giang-hộ (tức là vịnh Đông-kinh). Phàm tàu
ngoại-quốc, dầu cho là tàu chiến
đưa sứ-quan nước nào đi tới,
cũng chỉ được vô cửa Tràng-kỳ,
chớ ngoài cửa ấy ra th́ đều bị
cự, không tiếp. Công cuộc mua bán của
ngoại-nhơn cũng chỉ được phép
mở ra tại Tràng-kỳ, vả lại chỉ
có người hai nước Ḥa-lan và Trung-hoa
được phép ấy thôi. Giữa lúc Nhựt-bổn
hạn chế người ngoài rất nghiêm, canh
pḥng cửa biển rất kỹ, thế mà tàu
binh Mỹ-quốc bỗng dưng ở đâu
chạy vô ngay cửa Phố-hạ được,
làm cho trên Mạc-phủ, dưới quốc-dân,
đều sửng sốt hăi kinh, xôn xao rúng động,
coi như một cách th́nh ĺnh có giặc ngoài
tới đánh nước ḿnh vậy. Lập
tức Mạc-phủ và chư-hầu sắp
đặt vơ-bị sẵn sàng, pḥng rủi có
biến ; c̣n các quan đương-đạo th́
đều diệu vơ dương-oai, để
tiếp kiến đề-đốc
Mỹ-quốc. Tại sao tàu Mỹ lại vào
Phố-hạ ? Nguyên là đề-đốc
Bá-lư trước khi chưa sang nước
Nhựt đă từng dọ xét kỹ càng
nội-t́nh của Nhựt mà biết rằng
Nhựt đăi người ngoài, chỉ cho vô
cửa Tràng-kỳ mà thôi, chớ không chịu cho
vô cửa nào khác hơn. Lúc ấy có một
vị thầy thuốc Ḥa-lan ở ngụ tại
Tràng-kỳ đă lâu, nghe tin đề-đốc
Bá-lư sắp tới, ư muốn dâng công, bèn
viết thơ nói cho đề-đốc hay
rằng nếu như sứ-quan Mỹ-quốc do
cửa Tràng-kỳ mà vô, th́ ḿnh đây giúp làm
thông-ngôn, và giới-thiệu với chánh-phủ
Nhựt-bổn được. Tuy vậy trong óc
đề-đốc Bá-lư đă tính toán đâu
đó sẵn sàng rồi, nên chi ông không vô
cửa Tràng-kỳ mà lại đến ngay
Phố-hạ. Trong ư ông ta chẳng muốn theo
đuôi Ḥa-lan, làm nhẹ thể Mỹ-quốc
đi ; ông muốn tới ngay Mạc-phủ
Nhựt-bổn mà đ̣i phải mở cửa
biển khác cho Mỹ giao-thông ra vào. Mỹ đ̣i
thương-nghị yêu cầu như thế,
thật là khó ḷng cho Nhựt, v́ xưa nay chưa
bị nước nào đ̣i gắt thế ấy
bao giờ. Đề-đốc Bá-lư biết trước
rằng thế nào Mạc-phủ cũng không
chịu nghe, cho nên ông ta cho đoàn tàu trận
chạy tuốt vào cửa Phố-hạ là
cửa cấm và bắn súng đại-bác
chỉ-thiên đùng đùng, ấy là để
ra oai với Nhựt vậy. Tuy ra oai như thế mặc
ḷng, đến việc yêu-cầu thương-nghị
th́ đề-đốc Bá-lư lại dùng cái ngón
hưỡng đăi khoan-thai, rất là khôn khéo. Có
mấy người thông ngôn của ông đem
theo, đều giỏi Hán-văn và tiếng Ḥa-lan,
thành ra sự giao-thiệp với người
Nhựt được thuận tiện dễ dàng
lắm. Quan Phụng-hành trấn
phủ Phố-hạ, vâng lệnh của
Mạc-phủ bảo đề-đốc Bá-lư
rằng nên đưa tàu trận chạy tới
cửa Tràng-kỳ rồi sẽ nói chuyện. Đề-đốc Bá-lư dư
hiểu từ trước rằng thế nào
Nhựt cũng có lời nói đó, nhưng ông
trả lời không chịu bỏ đi đâu
hết. Luôn dịp, ông nói bắn tin cho
Mạc-phủ biết rằng ; “Vạn quốc
giao thông với nhau, ấy là sự tự nhiên
của đạo người lẽ trời
phải thế. Bây giờ thế-giới đă
thay đổi khác xưa, không dung cho nước
nào một ḿnh đóng chặt cửa ngơ lại
được. Nếu Nhựt cầm cự không
nghe, chẳng trái với đạo người
lẽ trời lắm sao ?” Rồi đó ông ngơ ư
nhứt định cứ đậu tàu chiến
tại Phố-hạ, chờ Mạc-phủ thương
thuyết, chớ không chịu đi. Mạc-phủ đành
chịu, v́ không biết lấy cách ǵ chống
cự, xua đuổi cho nổi, chỉ nói
thối thác rằng : “Việc đổi
lịnh quốc-cấm để mở đường
giao-thông, là việc rất quan trọng, nói
chuyện với nhau hấp tấp không được.
Vả chăng hiện nay tướng-quân nước
tôi đang đau bịnh nặng, không thể
quyết định việc lớn mau rồi
được đâu.” Thiệt vậy, lúc bấy
giờ Mạc-phủ tướng-quân là Đức-xuyên
Gia-khánh (徳川家慶
– Tokugawa Ieyoshi) mới mất, mà Nhựt giấu
kín, không dám phát-tang, chắc là pḥng sợ
Mỹ-quốc thừa cơ Nhựt-bổn vô
chủ mà bức sách ǵ chăng ! Đề-đốc Bá-Lư bèn
giao hẹn : - “Vậy th́ để sang
năm tôi sẽ trở lại cùng quư-quốc thương-thuyết
cũng không muộn ǵ. Tới lúc đó xin
chớ có chần chờ thối thác chi
nữa.” Đoạn ông đưa ra
bức quốc-thơ của đại
tổng-thống Mỹ-quốc cùng các tặng
phẩm, trao cho quan Nhựt trấn-phủ
Phố-hạ chuyển dâng về Mạc-phủ dùm,
rồi ông sai cả đoàn tàu nhổ neo kéo
đi. Cái cử-chỉ của
đề-đốc Mỹ thật là ngộ-nghĩnh,
thật là quân-tử ; đă đem cả đoàn
tàu vào đại cửa cấm, bắn súng ra
oai, thế mà lại bỏ đi, ước
hẹn năm khác, để cho Nhựt-bổn có
ngày giờ suy xét sự lợi hại, chớ không
phải thấy người ta yếu mà ép càn hay
là ăn hiếp ngay. Về sau người
Nhựt mỗi khi nhắc nhở tới, vẫn
cảm phục cái trí-lực chín
chắn tử tế của đề-đốc
Bá-lư, và cho ông là người mở mối duy-tân
khai-quốc cho Nhựt-bổn vậy. NÊN H̉A ? NÊN ĐÁNH ? -
CẢ NƯỚC XÔN XAO “Biết người,
biết ḿnh”, là sự cần dùng ở đời
cho một người, cũng như là cần dùng
sanh tử cho một nước. Một nước
không tự xét ḿnh yếu hèn, không rơ t́nh
thế thiên hạ. bỗng dưng có ngoại-nhơn
lại muốn giao-thiệp tử tế với ḿnh,
mà ḿnh cự tuyệt và chống cự người
ta, ấy là một cách ngu dại, tự rước
lấy cái bại cái chết vào thân vậy. Nhựt-bổn khôn ngoan, không
phải một nước như thế. Hồi đó,
ngoại-quốc tới cầu giao thông với
họ, không phải chỉ có một ḿnh
Mỹ-quốc thôi đâu. Cũng trong năm
Hiếu-minh thứ sáu, ngày 17 tháng 7 (Tây-lịch
ngày 21 tháng 8 năm 1853), tức là cách sau việc
đề-đốc Mỹ-quốc đem tàu binh
vào Phố-hạ - như đă nói ở trên -
đúng một tháng 13 ngày, có một vị đề-đốc
Nga-quốc cũng dẫn 4 chiếc tàu binh vô
cửa Tràng-kỳ, yêu cầu mở đường
Nga Nhựt giao thông. Đề-đốc Nga
gởi quốc-thơ tŕnh Mạc-phủ và xin
Mạc-phủ cử toàn-quyền đại-thần
mau mau xuống Tràng-kỳ thương-thuyết.
Trong khi chờ đợi, đề-đốc Nga
ở Tràng-kỳ muốn lên trên bộ, nhưng
quan trấn-thủ Nhựt cản ngăn khôn khéo,
không cho người Nga lên bờ. Nga đợi hoài
không thấy tin tức, nên ngày 23 tháng 10 năm
đó (Tây-lịch 23 tháng 11), cả đoàn tàu
Nga nhổ neo kéo đi. Trong lúc nầy,
Nhựt-bổn nhờ có người nước
Ḥa-lan (和蘭, Hollande) cư ngụ trong xứ mà
được biết công việc và t́nh thế
nước ngoài. Những người Nhựt nào
biết đọc sách Ḥa-lan và cùng người
Ḥa-lan giao du thân cận, mà được nghe lóm
một hai chuyện ngoại-giao bí mật, th́ cũng
biết sơ về t́nh thế các nước Âu
Mỹ ít nhiều. Ngoài ra, hết thảy dân chúng
không ai hiểu biết ḷng dạ mặt mũi
ngoại-nhơn và công việc của nước
ngoài ra sao ?. Nếu có
một hai người nào tinh khôn lanh lợi mà hơi
rơ t́nh thế ngoại-bang chăng nữa, lại
cũng không hiểu việc ngoại-giao là cái quái
ǵ ? Bởi vậy, sau khi đoàn
tàu Mỹ đă nhổ neo đi rồi, có
nhiều người Nhựt suy nghĩ vơ
vẫn rằng nước Mỹ là nước
ở ngoài ngàn muôn dặm, xa xôi cách trở quá
đi, họ bảo sang năm lại tới, làm
sao mà tới cho kịp ; vả lại biết
chắc đâu họ có trở lại hay không ? C̣n Mạc-phủ th́ tự
hỏi : Nếu như sang năm, sứ Mỹ
trở lại thiệt, th́ nước ta trả
lời với họ thế nào được
đây ? Bấy giờ Mạc-phủ
bèn hỏi khắp chư-hầu lớn nhỏ
về sự nên ḥa hay nên đánh. Dư luận
trong nước rất là xôn xao, kẻ bàn
vầy, người nói khác, bối rối phân-vân,
không ai biết nhứt định thế nào
được hết. Vừa gặp giữa lúc
tướng-quân Gia-định (家定
- Iesada) lên nối ngôi, việc nội-chánh c̣n đang
bộn bề, rắc rối, thành ra
Mạc-phủ vậy, dư-luận cũng
vậy, chưa có ai rảnh trí mà suy-nghĩ
tới việc mở nước -thương cho
đặng. Nói về đề-đốc
Bá-lư, sau khi nhổ neo ở Phố-hạ ra đi,
đem cả đoàn tàu chạy về Thượng-hải,
rồi đậu luôn tại đó. Chỉ phái
một chiếc tàu chạy về Mỹ-quốc
để báo cáo vể việc hẹn ḥ với
Nhựt-bổn ra sao. Ông lại tính trước
về sự qua năm Nhựt-bổn e c̣n
chần chờ dây dưa, nên ông tăng số tàu
trận thêm nhiều hơn nữa, và sửa
soạn để đợi đúng ngày hẹn
ước lại đi. Qua năm, giữa hồi tháng
2 năm 1854, nhằm tháng giêng năm đầu
của niên hiệu An-chánh nước Nhựt,
đề-đốc Bá-lư lại kéo đoàn tàu
trận vào cửa Phố-hạ. Nhưng v́
Phố-hạ ở cách thủ-đô của
Mạc-phủ là Giang-hộ hơi xa, nên chi
lần này Bá-lư cho tàu chạy tuốt vô tới
vịnh biển Giang-hộ, nhắc lại
chuyện năm ngoái, yêu cầu sao sao năm nay cũng
phải thương-thuyết để kư điều-ước
Nhựt-Mỹ thông-thương giao hảo cho
rồi. Mạc-phủ bày tỏ nông
nỗi khó khăn, và nói về sự tàu Mỹ vô
tới Giang-hộ như thế là không nên. Đoạn,
Mạc-phủ ngỏ ư muốn cùng Bá-lư mở
cuộc thương-nghị ở Phố-hạ như
năm trước, nhưng Bá-lư một hai không
nghe. Sau Mạc-phủ năn-nỉ hoài, Bá-lư
mới chịu lấy Hoành-tân làm chỗ thương-nghị. Hai bên bàn bạc thỏa
thuận rồi kư tờ điều ước
Nhựt-Mỹ giao hảo thông thương ;
Nhựt-bổn gọi là “Bá-Lư Thần-nại- xuyên ước chương, 柏理神奈川約章
- ? (**)”
nghĩa là tờ điều-ước của Bá-Lư
kư với Nhựt tại Thần-nại-xuyên. Tờ ước nầy kư
ngày mùng 3 tháng 3 niên-hiệu An-chánh nguyên-niên
của Nhựt, tức ngày 31 Mars 1854. Ấy là ngày
mở mối duy-tân tự-cường cho nước
Nhựt vậy. Đây nên nhắc lại
hồi tháng 11 năm trước, đề-đốc
Nga chờ đợi tin tức của
Mạc-phủ không thấy, th́ bỏ Tràng-kỳ
đem đoàn tàu trận đi qua Thượng-hải,
gặp đề-đốc Mỹ tại đây,
bàn tính rằng cả hai đội chiến
thuyền Nga-Mỹ hiệp lại ra oai, bắt
buộc Nhựt-bổn phải mở cửa thông-thương,
chắc là Nhựt sợ hoảng hồn mà vâng
lời ngay. Song, đề-đốc Bá-lư không
nghe cái mưu đó, v́ không muốn hiếp
bức Nhựt-bổn quá. Rồi đó một ḿnh
ông dẫn đoàn tàu Mỹ đến
Giang-hộ, kết quả cùng Nhựt kư xong thương-ước
một cách êm đềm tử tế. Sau, tàu Nga lại đến
Tràng-kỳ rồi lại bỏ đi nữa. Măi
đến ngày 11 tháng 7 niên-hiệu An-chánh
thứ 5, tức là 7 tháng 8 năm 1858, Nga mới
tới Giang-hộ cùng Nhựt thương-nghị
xong và kư tờ ước như là Nhựt đă
kư với Mỹ. Thế là Mỹ thông hảo
với Nhựt trước, rồi sau mới
tới Nga, bởi vậy Nhựt cho Mỹ có công
đầu hết trong cuộc duy-tân khai-quốc
của ḿnh, và có ḷng cảm mến tin yêu Mỹ
lắm. Thật là nhờ có Bá-lư lúc đó
sắp đặt tử tế khôn ngoan, có phước
cho Nhựt lắm vậy. Ngày nay, Nhựt có
hờn Mỹ ghét Mỹ cũng chỉ để
trong bụng thôi, chớ bề ngoài vẫn ân
cần niềm nở, v́ họ nhớ ơn xưa
của Mỹ đă làm cho họ phát-phẫn
tự-cường đó.
* BÊN TRONG TỜ ĐIỀU-ƯỚC
THẦN-NẠI- XUYÊN
Phải biết
thuở ấy Nhựt-bổn cự tuyệt người
ngoài và đă trải qua một thời-kỳ
cấm đạo giết đạo không vừa
ǵ, nếu như một nước nào khác đă
đem tàu trận tới trước hết,
chắc là ỷ mạnh ăn hiếp
Nhựt-bổn nọ kia và thừa cơ Nhựt
đang hèn yếu mà ra tay chiếm đoạt không
chừng ! Song nước Mỹ lúc bấy giờ
đối với Nhựt thiệt là quân-tử,
chỉ muốn giao-hảo thông-thương
chớ không muốn ỷ mạnh ăn hiếp chút
nào, xem ngay việc đề-đốc Nga rủ
hiệp sức ra oai bức bách mà đề-đốc
Mỹ không nghe, đủ biết Mỹ thành-tâm
và có độ-lượng với Nhựt ra
thế nào ? Ngay đến
tờ điều-ước Mỹ nài Nhựt kư
tên, cũng chẳng có khoản nào là Mỹ dành
lấy miếng béo phần ngon mà hiếp bức
ǵ Nhựt trong đó. Thiệt vậy,
tờ ước Thần-nại-xuyên chỉ có 12
khoản rất là vắn tắt đơn sơ,
chưa có bàn định giao ước ǵ về
việc bán buôn đổi chác giữa hai nước
; Mỹ chỉ xin Nhựt mở hai cửa
biển Hạ-điền và Sương-quán
cho
tàu bè của người Mỹ lui tới ra vào ;
c̣n cách đối đăi với người
Mỹ th́ xin Nhựt đừng có gay gắt như
là đối đăi người Ḥa-lan kia. Sự
thiệt, lúc ấy tiếng là người Ḥa-lan
được Nhựt để cho ở buôn bán
tại Tràng-kỳ, nhưng không khác là bị
Nhựt cấm-cố chút nào. Tờ ước
Nhựt-Mỹ nói đây lấy sự thân-ái
giao-thông của người hai nước làm tôn-chỉ
cốt yếu, mà không phân biệt sang hèn
mạnh yếu ǵ hết. Hai bên đối đăi
nhau b́nh-đẳng. Nếu nước nầy
gặp lúc ghe tàu nước kia bị nạn, th́
phải cứu vớt giúp đỡ cho nhau,
hể họ muốn mua sắm các thức cần
dùng chi cũng không bị ngăn trở v…v… Đại-khái
tờ ước chỉ có vậy đó thôi. Tuy lúc nầy
Nhựt đang khóa cửa, không thích mua bán
giao-thiệp với ngoại-bang, nhưng đến
việc cứu nạn pḥ nguy là việc nhơn-đức,
không lẽ nào Nhựt từ chối cho được.
Đề-đốc Bá-lư chỉ lấy có
chỗ đó cảm ḷng người Nhựt,
chớ không kiếm chác hay thắt ngặt
những chuyện khó khăn rắc rối ǵ, thành
ra Mỹ được Nhựt vui ḷng mở
cửa thông-thương ngay, lại có chỗ
nhớ công mến đức của Mỹ
nữa là khác.
* MẤY ÔNG CỐ-ĐẠO
LÀM CHO NHỰT SANH NGHI GHÉT NGƯỜI ÂU-CHÂU Xem qua đoạn trên,
ta đă biết rằng giữa thế-kỷ 19 là
lúc 5 châu qua lại, 4 biển giao-thông rồi, mà
nước Nhựt cũng như nước Nam ḿnh,
cản ngăn chém giết Thiên-chúa giáo-đồ
và cố giữ cái chánh-sách “đóng cửa nhà,
cự người lạ”, cho đến đỗi
nước Mỹ sau Nga đem tàu trận tới
hăm dọa một cách khôn ngoan, tỏ bày
về chỗ lợi hại, kèo nài măi, Nhựt
mới chịu mở cửa thông-thương. Tại sao vậy ? Tại sao đến
lúc bấy giờ, Nhựt c̣n trốn tránh
ngoại-giao và cố giữ chánh-sách khóa cửa
? Có phải là dân
họ ngu-dại dă-man, không biết sự thông-thương
giao-hảo với nước ngoài là có lợi chăng
? Nếu thiệt
họ khờ khạo không biết cái lợi
đó th́ sao cách ít lúc sau họ biết mở
tung cửa ngơ ra cùng người ngoài giao-thông,
rồi họ nhảy vọt lên một cái, là
được duy-tân hùng-cường, ngang vai
bằng lứa với các nước giàu mạnh
nhứt nh́ trong thế-giới ? Vậy th́ ở
trong tất phải có những duyên-cớ ǵ, ta
không nên không xét. Ta nên trở lại chỗ dĩ-văng
của Nhựt-bổn một chút mà xem thực-t́nh,
tự nhiên câu hỏi trên đây được
tiếng trả lời minh-bạch lắm vậy.
* Kể tới
hồi bắt đầu duy-tân cải-cách,
Nhựt-bổn có lịch sử đă trên 2500 năm,
vốn là một nước từng thâu góp
được văn-hóa của đại-lục
đưa sang mà dồi-mài tô-điểm, thành ra
có một cái đặc-sắc bày tỏ rơ
rệt rồi. Tức như sau đời
trung-cổ trở đi, bao nhiêu học-thuật
kỷ-xảo của mấy nước ở
đại-lục như Trung-hoa, Ấn-độ,
Triều-tiên đều truyền qua
Nhựt-bổn rồi tiêm nhiễm biến hóa mà
trở nên một nền học-thuật
kỷ-xảo riêng của Nhựt-bổn. Đến tư-tưởng
tánh t́nh, tuy là dân Nhựt chịu sự cảm-hóa
của người đại-lục, nhưng mà
về sau dân Nhựt cũng tự thay màu đổi
vẻ, khác hẳn người đại-lục.
Thế là giống người Nhựt có cái tánh-cách
riêng, tự họ sáng-tạo ra cái đặc-sắc
của họ vậy. Khi có tàu Mỹ vô
cửa Phố-hạ, là khi Nhựt-bổn đă
sẵn có những nền tôn-giáo, luân-lư, văn-học,
chánh-trị, luật-pháp, mỹ-thuật, công-nghệ,
thảy thảy đều tấn tới khá
lắm rồi, chớ không phải là xứ mên
mọi ǵ đâu. Lúc ấy mà có người Tây-Âu
coi thường xem khinh Nhựt-bổn, tưởng
đâu nước nầy giống như mấy cù-lao
ở Nam-dương kia, ấy là người Tây-Âu
tối mắt lắm. Vậy mà sao Nhựt-bổn
cứ khư khư ôm chặt cái chánh-sách khóa
cửa ngồi nhà, không ngó ngàng cần thiết
chi tới cuộc ngoại giao với ai ? Câu hỏi đó chính người
Nhựt họ trả lời như vầy : - Nào có phải lỗi
tự Nhựt-bổn chúng tôi đâu ; kỳ
thiệt là tại người Âu-Tây thuở trước
vụng tính mà ra. Phải biết rằng người
Âu bắt đầu để chưn vào nước
Nhựt trên 360 năm trước kia, chớ
phải tới giữa thế-kỷ 19 th́ đất
nước chúng tôi mới thấy có bóng người
Âu-châu sao ! Nếu như họ muốn thành-tâm
giao-hảo với chúng tôi th́ chúng tôi có cự
tuyệt ngoại-giao hay khóa kín cửa ngơ làm chi
! Lời người Nhựt nói
vậy đúng với chơn-t́nh thiệt-sự
lắm. Phải, xem sử
Nhựt-bổn, ta thấy từ đầu
thế-kỷ 16, đă có người Tây-phương
lui tới đất nước của giống dân
đại-ḥa rồi. Trước hết là người
Bồ-đào-nha (Portugals) sang Nhựt vào hồi
1541, kế đến người Y-pha-nho. Rồi
sau tới người Ḥa-lan, người
Hồng-mao nối gót nhau vào nước Nhựt,
hoặc truyền đạo, hoặc bán buôn.
Đông nhứt là hai nước Bồ và Y. Lúc
đó, thiệt Nhựt-bổn không cự
ngoại-nhơn ra vô buôn bán và cũng chẳng
cấm cản ǵ về sự truyền đạo. Song v́ mấy ông cố-đạo
Bồ Y truyền giáo được thong thả
thạnh vượng rồi th́ ỷ y lạm
dụng cái thế-lực của tín-đồ. Lăm
le muốn can-phạm đến chánh-quyền trong
xứ. Chánh phủ Nhựt ḍ xét ư tứ của
bọn ngoại-nhơn truyền giáo muốn
thừa cơ xâm lấn đất nước
của Nhựt, v́ đó mới có cái tư-tưởng
ngờ ghét xua đuổi người ngoài
nổi rùm lên khắp nước. Sự thiệt, bọn
nầy có phải chuyên tâm giảng đạo mà
thôi đâu, phần nhiều ỷ ḿnh và
được trớn rồi tḥ ra lắm cái
cử-chỉ âm-hiểm ngang tàng, làm cho
Mạc-phủ Nhựt phải nghi, nhân dân
Nhựt phải giận. Nào là phá hoại
những chùa phật miễu thần và chê bai công
kích tôn-giáo của Nhựt sẵn có từ xưa
; nào là cậy ḿnh có thế lực mà hay ăn
hiếp dân không theo đạo, sanh chuyện thưa
kiện lên tới cửa quan hoài. V́ đó mà chánh-phủ
Nhựt phải để ư ngờ vực người
Tây-phương và lo ngại giáo-đồ Cơ-đốc
có âm-mưu phản trắc. Lúc bấy giờ, tuy cùng là
người Âu-châu đi kiếm ăn phương
xa với nhau, nhưng mà người Ḥa-lan và người
Y-pha-nho đang có chuyện xích mích ; về
cuộc buôn bán ở Ấn-độ và ở
Nam-dương, người hai nước Bồ-đào-nha
và Y-pha-nho cũng đang dành ăn với nhau
kịch liệt. Đă vậy, lại về tôn-giáo,
đàng th́ theo Cơ-đốc tân giáo
(Protestantisme), đàng th́ theo La-mă cựu-giáo
(Catholicisme), tuy là cùng gốc mà khác nhành
như thế, thành ra như lửa hồng nước
lạnh không đụng được nhau.
Bọn giáo-sĩ qua truyền đạo Thiên-chúa
ở Nhựt thuở ấy, chính là phe La-mă
cựu-giáo, và phần đông là người
Bồ, người Ư. Người Ḥa-lan khôn lanh quá
; họ thấy Mạc-phủ Nhựt-bổn có
ư lo ngại mấy vị cố đạo Bồ
Y, th́ họ càng đâm thọc thêm, nói rằng
phe đạo La-mă bạo-tàng họa-tâm.
Mạc-phủ nghe lời, bèn hạ lịnh
cấm. Thế là người Ḥa-lan trừ
được kẻ nghịch của họ mà thâu
hết mối lợi buôn bán ở nước
Nhựt vào trong tay. Cái lịnh cấm đạo
gây nên sự rối loạn một lúc,
Mạc-phủ thấy rơ cái ảnh hưởng
của La-mă cựu-giáo có hại, nên chi lại càng
nghiêm cấm hơn nữa. Nhơn muốn pḥng
ngừa sự lo về sau, Mạc-phủ chỉ
cho riêng người hai nước Ḥa-lan và
Trung-quốc được ở Tràng-kỳ mà thôi,
c̣n th́ nhứt thiết ngoại nhơn đều
bị ngăn cấm, không được tới
lui buôn bán ǵ hết. Ta xem sơ lai-lịch như
thế, đủ rơ cái nguyên-nhơn chỉ
tại mấy người giáo-sĩ Bồ Y ngang
tàng nham hiểm, mới khiến cho
Nhựt-bổn phải lo thân mà cấm đoán
ngoại-nhơn, tuyệt đường giao
thiệp, làm hại lây cho những người
chuyên nghề bán buôn ; chớ ban đầu
Nhựt-bổn có ngăn cản người ngoài
vào xứ họ thông-thương và truyền-giáo
đâu. Hai vị Mạc-phủ tướng-quân
đă thi hành chánh-sách “khóa nước” đó,
trước là Phong-thần Tú-cát (豊臣秀吉
- Toyotomi Hedeyoshi),
sau là Đức-xuyên Gia-khang (徳川家康
- Tokugawa Ieyasu).
Tới nay, người Nhựt không hề chê trách
ǵ hai ông trước kia khóa-nuớc là sai lầm
thất-kế chút nào. Trái lại, họ nh́n
nhận là sự đương nhiên, và so sánh công
cuộc của hai vị tướng-quân
Phong-thần cùng Đức-xuyên đă làm đó,
cũng như thuở Anh-quốc, nữ-hoàng
Elisabeth đă đánh đuổi người
Y-pha-nho và cấm nghiêm cựu-giáo kia vậy.
Việc làm hai đàng tuy có khác nhau nhưng đến
bổn-ư cũng thế mà thôi. Nhựt-bổn khóa nước
bắt đầu từ họ Phong-thần làm tướng-quân,
kế tới họ Đức-xuyên lên thay
quyền nối ngôi, cha truyền con nối
mấy đời, cứ giữ măi cái chánh-sách
ấy, trước sau luôn 250 năm. Măi tới năm
1854, đề-đốc Bá-lư nước Mỹ
tới gơ cửa lần thứ hai, rồi cùng
Nhựt-bổn kư điều ước
Thần-nại-xuyên, như trên đây đă nói,
bấy giờ Nhựt mới mở cửa ra thông-thương
giao hảo với các nước ngoài vậy.
|
[ Trở về ] - [ Xem tiếp chương 3 : Trong Lúc Khai Quốc ]