Setsuwa (thuyết thoại) của Nhật Bản

dưới góc nh́n của văn học so sánh

Trung tâm là nihonreiki (nhật bản linh dị lư)
và kon JAKUMONOGATA RI (kim tích vật ngữ tập)

Nguyễn Thị Oanh
Viện Nghiên cứu Hán Nôm (*)

 

Setsuwa (Thuyết thoại) là cách gọi chung cho thể loại thần thoại, truyền thuyết và truyện kể dân gian Nhật Bản. Trong kho tàng Thuyết thoại Nhật Bản, Nihonreiki (thế kỷ thứ 9) và Konjakumonogatarishu (thế kỷ thứ 12) được coi là hai tác phẩm tiêu biểu, ra đời vào thời kỳ Phật giáo và văn học Trung Quốc được du nhập và phát triển rực rỡ tại Nhật Bản. Sau khi chữ Kana ra đời, Thuyết thoại ngày càng phát triển và chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Nhật Bản. Tuy số lượng không nhiều song giá trị mà nó đem lại vô cùng to lớn, không chỉ cho việc nghiên cứu văn học Nhật Bản, mà cho cả việc nghiên cứu lịch sử văn học so sánh ở Đông Á.

Cũng như Nhật Bản, Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh lớn là Trung Quốc và Ấn Độ. Khi chữ Hán chính thức được coi là công cụ ghi chép, ở Việt Nam đă xuất hiện các sưu tập Thuyết thoại viết bằng chữ Hán, chữ Nôm. Tiêu biểu cho thể loại này là các tác phẩm Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Truyền kỳ mạn lục, Công dư tiệp kư, Lan tŕ kiến văn lục... Các tác phẩm trên thực sự đă chiếm một vị trí quan trọng trong văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại. Do bắt nguồn từ truyện kể dân gian, lại chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, Thuyết thoại của hai nước Việt Nam, Nhật Bản tuy không có mối quan hệ giao lưu trực tiếp song sự lưu thông giữa các motip và sự hoán cải các motip và cốt truyện giữa tác phẩm của hai nước có nhiều nét tương đồng. Truyện Bắt thần Sấm trong Nihonreiki của Nhật Bản, Truyện Cường Bạo đại vương trong Công dư tiệp kư của Việt Nam, Truyện Vương Cán trong Dậu dương tạp trở, Truyện Dương Đạo Ḥa trong Sưu thần kư của Trung Quốc... đều có cùng cốt truyện, với một kết cấu hoàn chỉnh từ nhân vật, địa điểm, h́nh dáng thần Sấm, phương pháp bắt thần Sấm, Sự trả ơn và báo thù của thần Sấm, sự tôn vinh người bắt thần Sấm... Hay motip "cây" với các không gian thiêng trên cây, dưới cây, các vật lạ trên cây... trong Konjakumonogatarishu của Nhật Bản có nét tương đồng với các truyện về "cây" trong Lĩnh Nam chích quái, Thiền uyển tập anh, Việt điện u linh... của Việt Nam, Băo Phác Tử, Nhâm thị truyện, Minh báo kư... của Trung Quốc, cho thấy "tính nhân loại", "tính khu vực" đă tạo ra nét chung trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả ba nước. Bên cạnh đó, nét riêng độc đáo được h́nh thành từ đặc điểm địa lư, truyền thống dân cư, ngôn ngữ dân tộc, tâm lư cộng đồng... cũng đă tạo ra những mảng màu khác biệt, làm cho bức tranh chung về Thuyết thoại khu vực trở nên hấp dẫn và lôi cuốn.

I. Vài nét về Setsuwa của Nhật Bản và Việt Nam

1. Về khái niệm Thuyết thoại (Setsuwa).

Setsuwa (từ đây chúng tôi gọi là Thuyết thoại) theo định nghĩa của Từ điển chuyện cổ tích Nhật Bản (Nihon muka shibana shi jiden)(1) là cách gọi chung cho các chuyện được kể theo một chủ đề nhất định. Khái niệm này được sử dụng rộng răi trong giới nghiên cứu. Trong văn học Nhật Bản, người ta phân loại văn học tự sự thời Thượng đại (khoảng trước sau thời đại Nara, 71- 784) thành thần thoại, truyền thuyết, thuyết thoại. Thuyết thoại, ngoài thần thoại và truyền thuyết c̣n được quan niệm là thể loại có dây mơ rễ má với văn xuôi tự sự. Hoặc, người ta coi thuyết thoại là các câu chuyện ngắn, không tuân theo những quy định nghiêm ngặt, khác xa với thể loại monogatari là ḍng chủ lưu của tản văn thời ḱ Heian (khoảng 400 năm từ thời Thiên hoàng Kanmu 737 - 806 cho đến Kamakura Bakufu 1206). Sau thời kỳ Heian, các sưu tập về thuyết thoại chủ yếu là các truyền thuyết về kinh Phật ở các chùa chiền, tuy được kể thành từng chuyện, nhưng vẫn như trước, thuyết thoại chỉ được coi là một thể loại tản văn mang tính "đoản thiên" và "sắp xếp các t́nh tiết câu chuyện" mà thôi. Hơn thế nữa, trong văn học Nhật Bản, thuyết thoại được dùng để gọi chung không hạn định cho loại h́nh truyện kể dân gian, truyện truyền miệng đă được văn bản hóa. Cũng có nghĩa trong văn học Nhật bản, Thuyết thoại được sử dụng một cách khá linh hoạt. Trong lĩnh vực Dân tục học Nhật Bản, các nhà nghiên cứu ít dùng thuật ngữ thuyết thoại, nhưng đối với những truyện kể dân gian được định h́nh bằng chữ Hán, th́ mọi người lại thường xuyên sử dụng thuật ngữ thuyết thoại. Với nghĩa rộng, nó bao gồm cả truyện kể Phật giáo, truyền thuyết dân gian, truyện cổ tích và truyện thế tục, trong đó có cả truyện cười, truyện châm biếm...

2. Các sưu tập thuyết thoại nổi tiếng trên thế giới và Nhật Bản.

Theo nhà nghiên cứu Nhật Bản Kono Tatsu   (trong Từ điển truyện cổ tích Nhật Bản), sưu tập thuyết thoại cổ nhất trên thế giới có thể kể đến các tác phẩm như Truyện kể AEdop, thời cổ đại Bồ Đào Nha, ra đời vào khoảng thế kỷ 6 trước công nguyên; Ngh́n lẻ một đêm, Truyện kể Jataka (Phạn ngữ), thời Ấn Độ cổ đại; hay các truyện chí quái thời Hán, Ngụy, Lục triều của Trung Quốc. Thuyết thoại cổ nhất của Nhật Bản hiện c̣n là Nihonreiiki (Nhật Bản linh dị kư) , ra đời vào năm Konin 14 (823), tác giả là nhà sư Kekai   (sẽ được giới thiệu cụ thể dưới đây). Cùng hệ phả với Nhật Bản linh dị kư c̣n có Nihon kanrei roku (Nhật Bản cảm linh lục) , do nhà sư Gisho soạn vào năm Kasho thứ 3 (850); Sanbo eji (Tam bảo hội từ) do Gentame Nori biên soạn vào năm Eikan thứ 2 (984); Nihon ojyo kyorakuki (Nhật Bản văng sinh cực lạc kư do Yoshishige Yasutane soạn vào Kan wa thứ 2 (986) Các truyện văng sinh, tín ngưỡng Pháp Hoa kinh như Nihon hotsuke genki (Nhật Bản pháp hoa nghiệm kư)   (1044) hay Uchigikishu (Đả khai tập) (1134) đều do  nhà sư Chingen biên soạn. Tất cả các tác phẩm kể trên đều là truyện kể Phật Giáo. Cùng hệ phả này đến đầu thế kỷ 12 (1110) c̣n có tác phẩm Hotsuke shuho itsuhyaku kikigaki sho (Pháp Hoa tu pháp nhất bách ṭa văn thư pháp) , được coi là tư liệu quan trọng để t́m hiểu về t́nh h́nh thuyết kinh (giảng giải kinh Phật) thời bấy giờ. Sang đầu thế kỷ thứ 10, nở rộ phong trào sưu tầm, ghi chép truyện cổ tích, truyện lạ trong dân gian. Đi đầu là tác phẩm Zengehiki (Thiện gia bí kí) của Miyoshiki Kyotsura ; thứ hai là Kike kaii jitsu roku (Kỉ gia quái dị thực lục) . Cả hai tác phẩm đều là sưu tập truyện quái dị được viết bằng Hán văn và đều là tác phẩm chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết chí quái thời Lục triều, thời Đường. Có thể nói, sự ra đời của thuyết thoại Nhật Bản, bao gồm cả truyện kể Phật giáo đều xuất phát từ việc coi trọng các cuộc tiếp xúc với các sách vở đến từ Trung Quốc.

Sau khi chữ Kana ra đời, phong trào ghi chép truyện kể dân gian ngày một phát triển. Đầu thế kỷ thứ 12, Konjakumonogatarishu (Kim tích vật ngữ tập) - tác phẩm ghi chép truyện dân gian đồ sộ ra đời. Kim tích vật ngữ tập không chỉ là sưu tập truyện kể Phật giáo mà c̣n là tác phẩm mang tính thế giới, bao quát vào nó cả truyện thế tục không chỉ của Nhật Bản, mà c̣n có cả truyện kể dân gian Ấn Độ và Trung Quốc (xin giới thiệu dưới đây). Đến sau thời ḱ Kamakura thuyết thoại tuy không ra khỏi khuôn khổ cơ bản đă được định h́nh từ thời Heian đó là ghi chép truyện kể Phật giáo và thế tục, nhưng số lượng tác phẩm đă tăng một cách mạnh mẽ, nội dung cũng phong phú hơn rất nhiều. Có thể nói từ thời ḱ đầu Kamakura đến Trung ḱ là thời đại của thuyết thoại... trong đó nổi tiếng có Kojidan (Cổ sự đàm) , Zoku kojidan (Tục cổ sự đàm) , Kokon cho mon jyu (Cổ kim trứ văn tập) là những sưu tập truyện kể Phật giáo và dân gian của tầng lớp quư tộc quan nhân có hứng thú với thuyết thoại và cổ thư. Một số tác phẩm thuyết thoại được viết theo lối Kana như Uji shu i monogatari (Vũ trị thập di vật ngữ) , Kohon setsuwa shu (Cổ bản thuyết thoại tập) , Kon monogatari (Kim vật ngữ) ; Một số tác phẩm như Hasshin shu (Phát tâm tập) , Shen jyu sho (Soạn tập sao) ... ra đời do nhu cầu học đạo, t́m đến cuộc sống tu thân thanh tịnh của những người muốn xuất gia lánh đời. Những thuyết thoại mang nội dung giáo huấn, dạy cách ứng xử, nổi tiếng có sưu tập thuyết thoại của ba nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản như Shi ju hyaku in nen shu (Tư tụ bách nhân duyên tập)   , Chu ko sen jyu (Chú hảo soạn tập) , và các tác phẩm khác như Ho butsu shu (Bảo vật tập) , Sha seki shu (Sa thạch tập) , So tan shu (Tạp đàm tập) . Trong đó đáng chú ư có Shin do shu (Thần đạo tập) , được chùa Angu biên soạn vào  thời  Nam Bắc triều (1336-1392); Ngoài ra c̣n có San goku ten ki (Tam quốc truyện kư) được biên soạn vào đầu thời Muromachi (1392-1573) vừa là sưu tập thuyết thoại nối theo truyền thống của Kon jakumonogata ri shu (Kim tích vật ngữ tập) và Shi ju hyaku in nen shu (Tư tục bách nhân duyên tập) , vừa là thuyết thoại của thời Tam quốc. Từ cuối thời Mu romachi đến sơ ḱ thời Cận thế đă xuất hiện các truyện quái dị và tiếu lâm như Ki i so tan shu (Ḱ dị tạp đàm) và Sei sui sho (Tỉnh thụy tiếu) , tuy nhiên những sưu tập thuyết thoại truyền thống ngày càng thưa, và mai một dần trong phong trào văn học mới Genre (Janru) (thơ, tiểu thuyết, hí khúc). Người ta đă đưa một phần của thuyết thoại thời cận thế vào Kanajoshi (đoản biên tiểu thuyết thời kỳ Edo)và Hanashiban, một phần được đưa vào Tùy bút. Độ dày của các sưu tập thuyết thoại thời cận thế đă được tổng ḥa một cách thực chất hơn ở các thuyết thoại được biên soạn tiếp sau này cho đến thời cận đại và chiếm một vị trí khá quan trọng trong lịch sử văn học Nhật Bản. Số lượng các tác phẩm cũng nhiều hơn, trong đó đáng chú kư có Do dan sho (Giang đàm sao) , Fu ke go (Phú gia ngữ) , Chu gai sho (Trung ngoại sao) ... là các thuyết thoại ghi chép truyện kể của các gia tộc lớn; Kyo gun sho (Giáo huấn sao) , Zoku kyo gun sho (Tục giáo huấn sao) ... là các thuyết thoại bằng tranh vẽ cuộn thu thập các truyện lợi sinh và duyên khởi của thần phật. Về thuyết thoại kỹ nghệ có các tác phẩm Kyogun sho (Giáo huấn sao) , Zoku kyogun sho (Tục giáo huấn sao) ; hay các tập xướng đạo có Gen sen shu (Ngôn tuyền tập) và Ten bo rin sho (Truyền pháp luận sao) . Đây là những tác phẩm không thể thiếu khi nghiên cứu Setsuwashu của Nhật Bản. Quả thực số lượng các sưu tập thuyết thoại của Nhật Bản chỉ nói một lời là hết nhưng giá trị mà nó đem lại vô cùng lớn, đặc biệt cho việc nghiên cứu về truyện kể dân gian mà đầu tiên là truyện cổ tích Nhật Bản (Nihon muka shibana shi). Tuy nhiên các thuyết thoại cho đến nay vẫn chưa được chỉnh lư và sử dụng một cách có hiệu quả. Việc phân loại tuy dựa vào tính cách và nội dung của thuyết thoại nhưng vẫn chưa đi đến được cách phân loại có tính tổ chức, tính tổng hợp để có thể bao quát được toàn bộ những thủ pháp nghệ thuật, h́nh thức biên tập hay ư đồ biên tập với đối tượng là toàn bộ tác phẩm. Việc khảo sát các sưu tập thuyết thoại mới chỉ dừng ở việc khảo sát một bộ phận như cốt truyện, motip, và đó vẫn c̣n là vấn đề tồn tại của tương lai.  

3. Các sưu tập Kanbun setsuwa (Hán văn thuyết thoại) ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, các tác phẩm thuộc loại h́nh truyện, kư, tạp thuật, tiệp kư (ghi nhanh), chí dị, truyền kỳ...có nội dung ngắn gọn, được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm trong văn xuôi tự sự trung đại, chưa có sự thống nhất về tên gọi thể loại. Tùy theo tiêu chí và cách lựa chọn tác phẩm mà có cách gọi khác nhau, ví dụ: Truyện kư (2)(3); Truyện cổ (4), Thần thoại, Chuyện thần quái, Chuyện vặt (5); Văn tự sự, truyện kư (6); Tiểu thuyết chữ Hán (7), Truyện truyền kỳ (8); Kư, Truyện ngắn (9) Truyện kư đoản thiên(10); Truyền thuyết (11)... Các học giả nước ngoài cũng tùy từng tác phẩm mà có cách gọi khác nhau: Tiểu thuyết chữ Hán... (12); Đoản thiên tiểu thuyết (13)

Năm 1997, trong công tŕnh Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, GS. Trần Nghĩa đă đưa ra 37 tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết. Chúng được chia làm 7 loại: Tiểu thuyết bút kư (những mẩu truyện ngắn danh nhân lịch sử, văn hóa, được viết theo lối xác tín), Tiểu thuyết chí quái (chuyện lạ về người, vật, thần thánh, có hư cấu), Tiểu thuyết truyện kỳ (sáng tác trên cơ sở tiểu thuyết chí quái, mang tính giáo huấn hoặc gửi gắm tâm sự), Tiểu thuyết lịch sử (viết về đề tài lịch sử, được nhà văn hư cấu, làm cho sự thực lịch sử được thăng hoa thành nghệ thuật chân thực), Tiểu thuyết công án (được hư cấu trên cơ sở các vụ án), Tiểu thuyết diễm t́nh (hay c̣n gọi là "tài tử giai nhân", nội dung viết về trai tài gái sắc, bút pháp chủ yếu hư cấu) và Tiểu thuyết du kư (viết theo lối "thực lục", có sự sắp xếp, gia công nghệ thuật). Trong 7 loại trên, tiểu thuyết lịch sử, công án, diễm t́nh nếu được tŕnh bày theo kiểu chương hồi c̣n được xếp vào tiểu thuyết chương hồi.

Khảo sát các tác phẩm trong danh mục tiểu thuyết nói trên, loại trừ các tác phẩm thuộc tiểu thuyết chương hồi, và các tác phẩm không thuộc loại "sưu tập", theo chúng tôi, số c̣n lại 24 tác phẩm đều là sưu tập truyện cổ và truyền thuyết dân gian. Chúng bao gồm các tác phẩm có cốt truyện và nội dung ngắn gọn, viết theo lối xác thực, nghe sao kể vậy, và các tác phẩm mà nội dung đă được tác giả hư cấu, tái hiện một cách nghệ thuật. Trong t́nh t́nh thuật ngữ chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu như hiện nay, chúng tôi tạm dùng khái niệm "Hán văn thuyết thoại" (Kanbun setsuwa), để chỉ về loại h́nh: truyện kư, tiểu thuyết Hán văn, truyền kỳ, đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện kư đoản thiên, truyền thuyết,... mà giữa chúng chưa thể có sự phân biệt một cách rạch ṛi về mặt thể loại.

Danh mục các tác phẩm "Hán văn thuyết thoại" của Việt Nam

TT

Tên sách

Tác giả

Năm biên soạn

Năm in

 

Năm sao chép

Số truyện

1

Thiền uyển tập anh

Không rơ

Thế kỷ

11-14

1723

 

68

2

Lĩnh Nam chích quái

Không rơ

Như trên

 

Khoảng cuối thế kỷ 18

22

3

Việt điện u linh

Lư Tế Xuyên

1329

 

Không rơ

28

4

Nam Ông mộng lục

 

Hồ Nguyên Trừng

1438

1986

 

31

5

Truyền kỳ mạn lục

Nguyễn Dữ

1547

1712

 

22

6

Truyền kỳ tân phả

Đoàn Thị Điểm

Khoảng nửa thế kỷ 18

1811

 

6

7

Công dư tiệp kư

Vũ Phương Đề

Khoảng nửa đầu thế kỷ 18

 

Không rơ

43

 

Công dư tiệp kư tục biên

Trần Quư Nha

Như trên

 

Không rơ

61

8

Lan tŕ kiến văn lục

Vũ Trinh

1794

 

Không rơ

45

9

Tân truyền ḱ lục

Phạm Quư Thích

Khoảng nửa cuối thế kư 18

 

Không rơ

3

10

Truyện kư trích lục

Khuyết danh

Vương triều nhà Lê

 

Không rơ

13

11

Vũ trung tùy bút

Phạm Đ́nh Hổ

Khoảng nửa đầu thế kỷ 19

 

Không rơ

90

12

Tang thương ngẫu lục

Phạm Đ́nh Hổ, Nguyễn Án

Như trên

1836

 

90

13

Sơn cư tạp thuật

Không rơ

Như trên

 

Không rơ

144

14

Thánh Tông di thảo

Không rơ

Như trên

 

Không rơ

19

15

Mẫn Hiên thuyết loại

Cao Bá Quát

Như trên

 

Không rơ

10

16

Hát đông thư dị

Nguyễn Thượng Hiền

1886

 

Không rơ

66

17

Vân nang tiểu sử

Phạm Đ́nh Dực

1886-1896

 

Không rơ

103

18

Hàn giang danh tướng liệt truyện

 

Đinh Gia Nghi

1891

 

Không rơ

4

19

Bà tâm huyền kính lục

Khuyết danh

Nửa cuối thế kỷ 19

 

Không rơ

60

20

Thính văn dị lục

Khuyết danh

Như trên

 

Không rơ

54

21

Dị nhân lược chí

Phạm Đ́nh Dực

Như trên

 

Không rơ

16

22

Nam thiên trân dị tập

Vũ Xuân Tiên

1917

 

Không rơ

135

23

Dă sử

Khuyết danh

Đầu thế kỷ 20

 

Không rơ

14

24

Đại Nam hiển ứng liệt truyện

Khuyết danh

Không rơ

 

Không rơ

36

Trong số 24 tác phẩm trên, Thiền uyển tập anh, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Nam Ông mộng lục (thế kỷ 11 đến 14) được coi là các tác phẩm mở đầu cho khuynh hướng sưu tầm, bảo tồn truyện kể dân gian, hay nói cách khác, chúng mở đầu cho thể loại truyện kư viết về thể tài các danh nhân lịch sử và những truyện ly ḱ, linh dị. Trong số đó Lĩnh Nam chích quái, với lối kể chuyện đậm đà phong vị dân gian, phóng khoáng, sinh động, có thể nói tác phẩm "đưa tinh hoa của văn học dân gian vào văn học viết, lần đầu tiên mở ra mối quan hệ mật thiết giữa hai ḍng văn học trong lịch sử văn học Việt Nam" (14). Bước sang thế kỷ 15, 16, nổi tiếng với thể loại truyện truyền kỳ có Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục. Hai tác phẩm trên không chỉ đem lại diện mạo mới về h́nh thức và phương pháp sáng tác, mà c̣n ở cả nội dung tư tưởng. Đặc biệt Truyền kỳ mạn lục , tác phẩm được coi là "thiên cổ kỳ bút" và là "áng văn hay của bậc đại gia", nó đă "vượt xa những truyện kư lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật" (15), tác phẩm thực sự đă khơi nguồn cho cả một trào lưu văn học nhân đạo ở thế kỷ sau đó. Bước sang thế kỷ 17, với sự nổi lên bất ngờ của Công dư tiệp kư, tiếp sau đó là Lan tŕ kiến văn lục, Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục.. báo hiệu trước sự nở rộ của trào lưu sáng tác truyện kư giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu 20 của Việt Nam.

II. Nihonreiki (Nhật Bản linh dị kư) với truyện kể dân gian của Trung Quốc và thuyết thoại Hán văn của Việt Nam

1. Vài nét về Nihonreiki (Nhật Bản linh dị kư)

Nhật Bản linh dị kư (Ghi chép những chuyện linh nghiệm, kỳ lạ của Nhật Bản), tên thường gọi là Linh dị kí (Ryoiki) (từ đây gọi là Linh dị kư), tên đầy đủ là Nhật Bản quốc hiện báo thiện ác linh dị kư, là tập truyện cổ Phật giáo đầu tiên viết bằng chữ Hán của Nhật Bản. Đây là tác phẩm nổi tiếng trong kho tàng văn học cổ điển Nhật Bản, phản ánh nhiều mặt của nền văn hóc Nhật Bản thời trung đại. Sách được biên soạn năm En ryaku thứ 6 (787), hoàn thành năm Konin thứ 13 (822). Tác giả là nhà sư Kekai, sống ở chùa Yakushi ở kinh đô Na ra (nay thuộc tỉnh Na ra).

Linh dị kư gồm 3 quyển: Thượng, Trung, Hạ. Quyển Thượng có 35 truyện, Trung có 42 truyện và Hạ có 39 truyện. Cả thảy có 116 truyện. Đầu mỗi truyện là lời Tựa, sau phần lớn mỗi truyện là lời Tán, xen kẽ giữa các truyện là các đoạn thơ, ca dao. Tác phẩm tập trung vào các đề tài như truyện về các thiền sư, về người có sức khỏe, truyện trả ơn của súc vật, các truyện báo ứng luân hồi, ở hiền gặp lành, làm ác phải chịu quả báo, sự linh nghiệm của Phật Quan âm, Diệu kiến Bồ tát, Di lặc Bồ tát, sự biến hóa của kinh điển và tượng Phật. Tất cả các truyện kỳ lạ, linh nghiệm đều được dàn dựng gắn với hiện thực trên nền lịch sử có thật, được tác giả sắp xếp theo trục thời gian từ thời Thiên hoàng Yuryaku (Hùng Lược, 478) cho đến hết thời thiên hoang Kamu (Hằng Vũ, 781-806).

Linh dị kư là tác phẩm được viết dưới ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, nó là sản phẩm của thời kỳ Phật giáo và văn hóa Trung Quốc được du nhập và phát triển rực rỡ ở Nhật Bản. Các tác phẩm chí quái Trung Quốc đời Tấn như Sưu thần kư   các tác phẩm truyền kỳ đời Đường nổi tiếng đương thời như Nhâm thị truyện và truyện kể Phật giáo Trung Quốc như Minh báo kư   Kim cương bát nhă kinh tập nghiệm kư ... được lưu hành rộng răi ở Nhật Bản thời bấy giờ đă có ảnh hưởng lớn đến Linh dị kư. Tác giả Linh dị kư c̣n sử dụng nhiều mô típ có tính khuôn mẫu đă được định h́nh trong truyện kể dân gian không chỉ riêng của Nhật Bản mà chung của thế giới như: mô típ về sự sinh nở kỳ lạ; sự hóa thân từ người sang vật; những nhân vật có khả năng kỳ diệu, hôn nhân giữa người và động vật, những nhân vật xấu xí mà tài ba...

Tác phẩm c̣n có nhiều bằng chứng giúp ta hiểu được sự lưu thông của các đề tài cốt truyện, cho đến việc hoán cải motip, cốt truyện đó ở Nhật Bản thời trung đại cũng có những nét tương tự như ở Việt Nam. Tác phẩm đă được người viết dịch ra tiếng Việt, nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1999.

2. Linh dị kư với truyện kể dân gian Trung Quốc và thuyết thoại Hán văn của Việt Nam.

Chúng ta đă biết nền văn học Trung quốc vừa phong phú vừa đa dạng, xuất hiện lâu đời, từ rất sớm đă có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn học truyền miệng và văn học viết. Từ thế kỷ thứ 3 sau công nguyên, ở Trung Quốc đă xuất hiện nhiều loại truyện cổ tích thần kỳ và truyện ngắn chí quái như Bác vật chí của Trương Hoa, Cao Sĩ truyện của Hoàng Phủ Mật ...(thế kỷ thứ 3), Sưu thần kư của Can Bảo (thế kỷ thứ 4), U minh lục , Tường minh lục (thế kỷ thứ 5), Thuật dị kư (thế kỷ thứ 6) và Linh quái lục (thế kỷ thứ 7). Trung Quốc từ xa xưa đă tiếp thu nhiều truyện cổ của các dân tộc, cùng vó ngựa bành trướng, muốn trở thành đế quốc rộng lớn. Bên cạnh đó, trong những năm đầu thế kỷ thứ nhất, Trung quốc cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo. Phật thoại và truyện cổ tích, sử thi Ấn Độ cũng sớm có mặt tại Trung Quốc.

Ở Nhật Bản, từ thế kỷ thứ 4, 5, khi chữ Hán trở thành công cụ chính thức trong việc bang giao với đại lục th́ văn hóa Hán, văn học Hán đă thực sự có điều kiện để thâm nhập vào đời sống văn hóa tinh thần của các cư dân vùng đảo. Các tác phẩm Du tiên quật , Giá chi truyện , Bồ đảo tử truyện ... đă sớm có mặt ở thời Na ra cho thấy đương thời các thể loại là tiểu thuyết chí quái, truyện truyền kỳ của Trung Quốc đă được cư dân phù tang yêu thích. Linh dị kư cũng là tác phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của truyện chí quái, truyền kỳ của Trung Quốc được lưu truyền ở Nhật Bản thời bấy giờ.

Cũng như Nhật Bản, Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh lớn là Trung Quốc và Ấn Độ. Khi chữ Hán chính thức được coi là công cụ ghi chép, ở Việt Nam đă h́nh thành ḍng văn học viết bằng chữ Hán. Sự ra đời của nó "là kết quả của những hối thúc từ bên trong do sự vận động nội tại của bản thân nền học thuật chữ Hán Việt Nam sinh ra, cộng với những kích thích từ bên ngoài do giao lưu văn học mang lại" (16). Xét về nguồn gốc nội tại, thuyết thoại Hán văn của Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền với văn hóa dân tộc, liên quan đến kho tàng thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích thần kỳ việt Nam. Về mặt giao lưu văn học, thuyết thoại Việt Nam đă tiếp thu và chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết chí quái, truyền kỳ Trung Quốc, đồng thời c̣n vay mượn một số đề tài cốt truyện, motip có liên quan đến Phật Giáo và các dân tộc phương Nam thời cổ như Chiêm Thành, Phù Nam, Thiên Trúc...

Do bắt nguồn từ truyện kể dân gian, lại chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, Linh dị kư tuy không có mối giao lưu trực tiếp với các tác phẩm văn học của Việt Nam, nhưng sự lưu thông giữa các motip và sự hoán cải các motip và cốt truyện trong Linh dị kư có những nét tương tự như ở Việt Nam. Người ta có thể dễ dàng t́m thấy những t́nh tiết, motip, cốt truyện tương đồng với các tác phẩm của Trung Quốc và Việt Nam trong Linh dị kư. Xin lấy cốt truyện "bắt thần Sấm" trong Linh dị kư làm ví dụ.

Truyện 3 quyển Thượng kể về người nông dân làng Katawa đi dẫn nước vào ruộng, gặp trời mưa liền trú mưa dưới gốc cây. Đúng lúc đó thần Sấm giáng hạ, người nông dân định dùng gậy sắt đập chết thần Sấm, nhưng khi nghe thần Sấm nói trả ơn bằng cách cho đứa con, ông bèn làm máng nước bằng cây quế hương, thả lá tre xuống cho thần Sấm bay về trời.

Đây là phần đầu truyện Bắt thần Sấm trong Linh dị kư. Thần Sấm là nhân vật thường xuất hiện trong truyện cổ và truyền thuyết dân gian ở các nước trong khu vực. Tuy vị trí địa lư có khác nhau, song Trung Quốc (vùng phương Nam), Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam từ xa xưa cũng là những nước nông nghiệp, lấy lúa nước làm cây trồng cơ bản. Với khí hậu ấm áp, lượng mưa mùa hạ lớn đă đem lại cho các nước thảm thực vật phong phú, hoa trái bốn mùa tươi tốt, nghề nông với cây lúa nước có điều kiện để phát triển và giữ vai tṛ chủ đạo trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, các nước cũng phải hứng chịu những khắc nghiệt do thiên nhiên mang lại, đe dọa cuộc sống và tính mạng con người như lũ lụt, ngập úng, hạn hán và sấm sét. Xuất phát từ nhu cầu ca ngợi tôn vinh, ngay từ những tác phẩm ghi chép truyện dân gian đầu tiên ở các nước đă xuất hiện những anh hùng chống thiên tai mang tầm vóc vũ trụ. Trong cuộc đấu tranh đó, những người b́nh thường nhưng có khả năng ḥa hợp với thiên nhiên, sau khi chết đi được tôn thành thần, và họ cũng chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân. Truyện về những người "bắt thần Sấm" trong Linh dị kư và truyện kể dân gian ở các nước trong khu vực phản ánh một chiều kích khác của đời sống tâm linh của con người.  

Từ thế kỷ thứ 4, thời nhà Tấn trong tác phẩm Sưu thần kư của Can Bảo, cũng đă xuất hiện truyện bắt thần Sấm. Truyện của Can Bảo kể rằng: Dương Đạo Ḥa trú mưa dưới gốc cây dâu, gặp thần Sấm giáng hạ, anh ta bèn lấy thuổng đập gẫy đùi thần Sấm. Trong Dậu dương tạp trở, quyển 8, có truyện Vương Cán. Truyện kể rằng, Vương Cán người Trịnh Châu, vốn bạo dạn, chẳng biết sợ ai. Vào mùa hè năm Trinh Nguyên đầu, đi làm ruộng, gặp trời mưa to bèn chạy vào ngôi nhà chăn tằm ở gần đó để tránh mưa. Bấy giờ sét đánh vào trong nhà, khí đen lan tỏa, nhà tối như mực, Cán vội ra đóng cửa, cầm cuốc khua loạn lên. Tiếng sét nhỏ dần, khí mây cũng thu lại. Cán vừa hô lớn vừa đánh lấy đánh để, khí đen dài như nửa chiếc giường, sau lại cuốn tṛn như chiếc mâm, lát sau rơi xuống đất, biến thành thỏi sắt. Cán bèn lấy thỏi sắt đó rèn thành dao, những vụn sắt đúc thành nồi nhỏ có chân như cái vạc.

Ở Việt Nam, trong Công dư tiệp kư của Vũ Phương Đề cũng có truyện đánh nhau với thần Sấm. Phần đầu câu chuyện tóm tắt như sau: Cường Bạo Đại Vương, người xă Bối Cẩm, huyện Thiên Bản (Nam Định), tính khí ngỗ ngược, khinh miệt người đời, quên cả cha mẹ, không cúng giỗ tổ tiên. Chỉ có Táo thần là được ông sớm hôm cúng lễ, dù chỉ là một com tôm. Táo thần thấy ông có ḷng thành, thường hay phù hộ. Một hôm, cha mẹ ông đem tội trạng của ông tố cáo với Thiên Đ́nh, Thiên Đ́nh bèn sai Lôi thần xuống đánh. Nhờ có Táo thần mách nước, Cường Bạo đem lá mồng tơi giă nhỏ trộn với dầu nước, tưới lên mái nhà, khi Thiên lôi từ trên trời bay xuống, vừa đặt chân lên nóc nhà đă bị trượt ngă xuống đất. Cường Bạo ở trong nhà lấy gậy ra đánh, thần Sét phải chuồn mất. Sau đó ông c̣n cướp được một đoạn dây đồng đỏ dài độ một trượng, đem chôn ở một chỗ cao ráo sạch sẽ.

Trong khi nghiên cứu Linh dị kư với thuyết thoại của Trung Quốc, nhà nghiên cứu Kono Kimiko (Đại học Waseda, Nhật Bản) đă có sự so sánh tỉ mỉ cốt truyện bắt thần Sấm trong Linh dị kư và các truyện kể dân gian của Trung Quốc và thuyết thoại Nhật Bản, từ nhân vật, địa điểm, h́nh dáng thần Sấm, phương pháp bắt thần Sấm, thần Sấm bay lên trời, sự báo thù, trả ơn của thần Sấm (17) . Kono cho rằng, phần lớn nhân vật bắt thần Sấm trong các thuyết thoại của Trung Quốc là người nông dân, hoặc người dân b́nh thường. Phương pháp bắt thần Sấm cũng muôn h́nh muôn vẻ, người dùng vết nứt của bia để kẹp lấy thần Sấm (truyện 1, quyển Thượng, ); dùng gậy sắt giơ lên bắt thần Sấm (truyện 3, quyển Thượng, Linh dị kư ); đọc Kinh Pháp hoa bắt thần Sấm giáng hạ ở ngay ngôi tháp do thần Sấm phá vỡ (quyển Hạ, Pháp Hoa nghiệm kư - Nhật Bản); dùng cuốc đánh gẫy đùi thần Sấm (quyển 111, Sưu thần kư ); vừa cưỡi ngựa vừa giơ mâu lên để giết thần Sấm (Quyển 18, Bắc Tề thư ); dụ cho thần Sấm nhảy xuống cây, dùng vết nứt ở thân cây kẹp chặt lại rồi bắt thần Sấm (Tiên cảm ngẫu truyện , quyển 394 trong Thái B́nh quảng kư ); dùng đồ thần Sấm kiêng ăn như cá vàng, thịt lợn, gọi thần Sấm xuống, rồi dùng dao chém vào đùi thần Sấm, làm thần Sấm rơi xuống (Truyền kỳ , quyển 394 trong Thái B́nh quảng kư ...

So với phương pháp dùng "vết nứt của cây và đá" để bắt thần Sấm trong Linh dị kư và thuyết thoại của Trung Quốc, chúng ta cũng dễ nhận thấy cách bắt thần Sấm của người Việt cũng có nét độc đáo. Như truyện nêu trên, thần Táo đă dạy cho Cường Bạo dùng những sản vật đặc trưng của vùng nhiệt đới như mồng tơi và dầu nước (có lẽ là dầu lạc) là những nguyên liệu dễ kiếm cho bữa ăn hàng ngày vào mùa hè để đối phó với thần Sấm. Nhờ có chất nhớt trong cây mồng tơi và dầu nước tưới trên nóc nhà nên thần Sấm đă bị trượt ngă, bị đánh và phải bỏ chạy. Chi tiết thần Sấm trượt ngă v́ nhớt mồng tơi và dầu nước không chỉ đề cao trí thông minh của con người, mà c̣n đem lại sự hưng phấn làm cho tiếng cười dân gian thêm sảng khoái.  

Nét độc đáo ở cốt truyện bắt thần Sấm trong Linh dị kư, theo Kono và một số nhà nghiên cứu Nhật Bản, thể hiện ở trang phục của Sugura - người được Thiên hoàng ra lệnh đi bắt thần Sấm. Sugura được mô tả: "...trên trán thắt dây b́m b́m mầu đỏ, vác cây mâu trên cắm lá cờ đuôi nheo cũng màu đỏ, cưỡi con ngựa đi từ con đường Yamabe, thôn Abe ra tới con đường trước chùa Toyora". Theo các nhà nghiên cứu Nhật Bản, Suga ru đă mặc trang phục của vơ sĩ Nhật Bản thời xưa khi ra trận. Màu đỏ tía của dây b́m b́m và cờ đuôi nheo cắm ở ngọn nâu để trừ ma tà là thể hiện tinh thần dũng mănh của người vơ sĩ. Chi tiết này được tác giả tái tạo một cách thẩm mỹ dựa theo những yếu tố truyền thống trong sinh hoạt của người dân Nhật Bản.

Về chi tiết thần Sấm báo thù, và trả ơn, ở truyện 1, quyển Thượng, truyện kể sau khi Suga ru mất, Thiên hoàng ra lệnh làm lễ mai táng ông bảy ngày bảy đêm, mai táng ông ở nơi thần Sấm giáng xuống, dựng bia trên mộ đề rằng: "Mộ của Sugu ru, người đă bắt được thần Sấm". Thần Sấm thấy vậy, lấy làm oán ghét, giáng sấm sét xuống tấm bia, rồi nhảy xuống định dẫm nát trụ bia, nhưng lại bị kẹp chặt vào vết nứt của trụ bia. Thiên hoàng nghe chuyện, sai người gỡ ra, thần Sấm mới thoát chết; Chi tiết thần Sấm báo ơn xuất hiện ở truyện 3, quyển Thượng, thần Sấm sau khi được tha đă tặng cho người nông phu đứa bé con.

Theo Kono, trong thuyết thoại của Trung Quốc đều xuất hiện hai t́nh tiết, báo ơn và trả thù đối với người đánh nhau với thần Sấm. Ở quyển 18, Bắc Tề thư, kể lại sau khi đánh nhau với thần Sấm, tóc của Thệ Cô Diên cùng lông và bờm ngựa bị cháy hết; quyển 394, sách Thái B́nh quảng kư kể lại, sau khi bay về trời, thần Sấm để trả thù luôn đuổi theo sau Trần Loan Phượng, nhưng do Phượng luôn đề pḥng, đi đâu cũng mang dao đi theo, lại đào hố để ẩn náu nên vẫn b́nh yên. Ông c̣n có khả năng gọi mưa, nên người đời gọi là Vũ sư (thày gọi mưa). Truyện 394, Thần Tiên cảm ngẫu truyện, chi tiết thần Sấm báo ơn được thể hiện bằng việc thần Sấm giúp dân làm mưa, trừ dịch bệnh.

Chi tiết báo thù ở truyện Cường Bạo Đại Vương của Việt Nam khác với Linh dị kư và thuyết thoại Trung Quốc. Người báo thù không chỉ là thần Sấm, mà c̣n có sự hỗ trợ của Táo thần. Cường Bạo từ khi được Táo thần phù hộ, sinh ra chủ quan, ngày một ngang ngược. Một hôm ông ta bắt được con cua đồng đêm về nướng ăn, không cúng Táo thần nên Táo thần t́m cách hại lại ông. Táo thần khuyên ông, khi trời sắp mưa th́ xỏ tay vào lỗ vai cày và lấy then gỗ ngang khóa chân lại. Cường Bạo làm theo, chẳng ngờ khi mưa gió ập tới, ông ta muốn chạy nhưng không chạy được liền bị Thiên lôi đánh chết.

Đoạn kết truyện bắt thần Sấm ở Linh dị kư và thuyết thoại các nước phần lớn mang cảm hứng tôn vinh. Sasuga, người bắt được thần Sấm, sau khi chết đi được vua xây mộ, dựng bia đề ngợi ca: "Một Suga ru, người lúc sống bắt được thần Sấm, khi mất cũng bắt được thần Sấm". Trần Loan Phượng (Trung Quốc) cũng được phong làm Vũ sư. Truyện Cường Bạo Đại Vương (Việt Nam) t́nh tiết tuy có khác với Linh dị kư và thuyết thoại Trung Quốc, song rốt cuộc, sau khi chết, cũng được dân làng phong làm Phúc thần, lập đền thờ phụng.

III. Konjakumonogatarishu với thuyết thoại Hán văn của Việt Nam

1. Vài nét về Konjakumonogatarishu.

Sau Nihonreiki, Konjakumonogatarishu (dưới đây xin được gọi tắt là Kim tích) được đánh giá cao của thể loại setsuwa trong kho tàng văn học trung đại Nhật Bản. Sách được biên soạn từ nửa đầu thế kỷ 12 đến thời cuối thời Hean. Chưa rơ tác giả,  gồm 31 quyển với khoảng trên một ngàn truyện, được viết bằng chữ Hán xen lẫn chữ Kana. Đây là bộ sưu tập setsuwa lớn nhất của Nhật Bản từ trước tới nay, nó không chỉ thâu nạp truyện kể Phật giáo, truyện kể dân gian của Nhật Bản mà c̣n thu thập khá nhiều truyện cổ của Ấn Độ và Trung Quốc.

"Kim tích" (Xưa nay) là từ mào đầu câu chuyện (giống như câu mào đầu của truyện cổ tích: "Ngày xửa ngày xưa") được tác giả lấy đưa vào tên bộ sưu tập. Thế giới của Kim tích được chia làm ba phần: Thiên trúc (tức Ấn Độ); Chấn Đán (tức Trung Quốc) và Bản triều (tức Nhật Bản), đề cập tới ba chủ đề lớn: Phật pháp, Vương pháp và Thế tục. Phần thứ nhất, quyển 1 được bắt đầu bằng truyện kể về Thích Ca từ trên trời xuống, thác thai vào làm con của Maya, tiếp đó là các truyện lạ, truyện kỳ về quá tŕnh Phật giáo du nhập vào Nhật Bản; Phần thứ hai là truyện lạ, truyện kỳ được trích từ các tác phẩm văn học nổi tiếng của Trung Quốc (cho đến hết quyển 10); Tiếp sau đó từ quyển thứ 11 cho đến quyển thứ 31 là các truyện lạ, truyện kỳ của Nhật Bản. Kim tích đề cập đến nhiều nhân vật, từ Phật Thích Ca, Quan âm Bồ Tát; Địa tạng Bồ tát, đến các nhà sư, đạo sĩ, người tu hành; đến các tầng lớp quư tộc như Quốc Vương, Hoàng đế, Thiên hoàng, các tầng lớp khác trong xă hội như quư tộc, bề tôi, vơ sĩ, kẻ cắp, lực sĩ Sumo, thày thuốc, thày âm dương, phụ nữ và trẻ em... đến cả các thần linh, quỷ dữ, ma ác, các vật ḱ dị và động vật. Không gian của Kim tích rộng lớn, từ Thiên trúc, Thiên giới, Núi Tu di, Trung Quốc, Triều Tiên... đến các cung điện, chùa chiền, đền miếu của Nhật Bản, tiếp đó đến thế giới bên kia như minh giới, địa ngục.

Cũng như Linh dị kư, Kim tích được viết dưới ảnh hưởng của Phật giáo và văn họcTrung Quốc. Ngoài các tác phẩm của Trung Quốc như Tam bảo cảm ứng yếu lược lục, Minh báo kư, Sưu thần kư... Kim tích c̣n chịu ảnh hưởng của các thuyết thoại viết bằng chữ Hán như Nhật Bản linh dị kư, Pháp Hoa nghiệm kư, hay các tác phẩm nổi tiếng viết bằng chữ Hán xen lẫn với Kana như Bách nhân duyên tập, Vũ trị thập di vật ngữ, Cổ bản thuyết thoại tập...

Kim tích c̣n sử dụng nhiều motip được định h́nh trong truyện kể của khu vực và thế giới như motip cây thiêng, g̣ đống, đồi núi, mây mù, sông nước, đến các motip sinh nở kỳ lạ, thai sinh, thác sinh...

Tác phẩm không chỉ là tư liệu quư cho việc nghiên cứu văn học cổ điển Nhật Bản, mà c̣n là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử văn học so sánh ở Đông Á. Nhiều truyện của Kim tích đă được dịch ra tiếng Anh, gần đây là tiếng Trung Quốc, và một số rất ít truyện được dịch ra tiếng Việt... Việc nghiên cứu tác phẩm ở nước ngoài, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu Nhật Bản tuy có muộn, song thực sự nó đă góp phần giới thiệu những tinh hoa của văn học cổ điển Nhật Bản ra thế giới, là nhịp cầu giao lưu nối các nền văn hóa mang bản sắc riêng xích lại gần nhau hơn.   

2. Konjakumonogatarishu với thuyết thoại Hán văn của Việt Nam.

Trong các tác phẩm ghi chép truyện kể dân gian giai đoạn đầu ở các nước, đặc biệt là các nước trong khu vực Hán hóa như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, đều xuất hiện biểu tượng mang tính thế giới như : núi, đá, cây, sông nước và mây mù. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản khi nghiên cứu motip "cây", đă chia ra thành hai mục: "thế giới trên cây" và "thế giới dưới cây". Dưới đây xin đi vào t́m hiểu motip "cây" của Kim tích với một số thuyết thoại Việt Nam.

- Không gian thiêng "dưới cây".

Khảo sát các truyện trong Kim tích, chúng tôi thấy có khá nhiều truyện tương đồng với thuyết thoại Hán văn của Việt Nam như truyện kể về "dưa", một loại hoa quả được mọi người yêu thích, đặc biệt về mùa hè. Truyện Dùng phép thuật lấy trộm dưa, truyện 40, quyển 28 tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng Bảy, hàng đoàn xe ngựa chở dưa từ tỉnh Yamato (nay là Na ra) về Kinh đô. Giữa đường, mọi người nghỉ lại ăn cơm trưa, bỗng có cụ giả lưng đeo ruột tượng, đi guốc geta, một tay chống gậy, một tay phe phẩy quạt đi tới. Cụ già thấy mọi người lấy dưa ra ăn bèn ngỏ lời xin. Đám người chở dưa viện lư do đó là dưa tiến vua nên từ chối. Cụ già bèn nhặt lấy những hạt dưa do mọi người ăn rơi văi dưới đất rồi bới đất để trồng. Thấy vậy, ai cũng cười chế nhạo. Được một lúc, hạt dưa nứt ra, nẩy mầm hai nhánh. Trong lúc mọi người c̣n đang ngơ ngác v́ thấy lạ, cây bỗng lớn lên, lan ra khắp mặt đất, dây nhánh tua tua, ra hoa kết trái, thành quả to, chín. Mọi người đều cho cụ là bậc thánh. Cụ già bèn trẩy dưa mời đám người chở dưa và những người qua đường cùng ăn. Ai nấy đều vui mừng hớn hở. Ăn xong, cụ già từ biệt mọi người ra đi, chẳng biết đi lối nào. Đến khi mọi người định xếp sọt dưa lên xe th́ chẳng thấy c̣n quả dưa nào trong sọt. Đám người chở dưa tỏ ra hối hận, c̣n những người biết chuyện đều cười chế nhạo. Rốt cuộc sau đó chẳng người nào biết cụ giả là ai và câu chuyện được truyền đi như vậy.

Ở Việt Nam truyền thuyết về dưa xuất hiện sớm nhất trong Lĩnh Nam chích quái. Truyện kể Mai An Tiêm được vua sủng ái, sinh ḷng kiêu ngạo, cho rằng mọi vật vua ban cho đều là vật tiền thân của ḿnh, không phải nhờ ơn đến ai. Vua nghe nói cả giận bèn đày An Tiêm ra ḥn đảo giữa bể, bốn bề không một bóng người, ban cho một số lương thực đủ ăn trong bốn năm tháng để cho ăn hết th́ chết. Có con chim trắng tha hạt từ phía tây lại, nhả trên băi cát, cây nảy mầm, mọc lên tươi tốt, dây ḅ xanh um, kết nhụy nở hoa, đến mùa thu, quả chín, lăn lóc khắp nơi. An Tiêm bèn ăn thử, thấy vị thơm ngọt, bèn lấy dưa đổi lấy thóc để ăn, lại c̣n giữ giống để năm sau trồng lại. Tiếng lành đồn xa, mọi người khắp nơi t́m đến để mua dưa của An Tiêm, rồi tùy thời tán hạt trồng ở khắp nơi. Sau vua biết chuyện bèn sai sứ giả đi mời An Tiêm về kinh, phục cho chức cũ, ban cho vợ con, thê thiếp nô t́ và ruộng đất.  

Giáo sư Nhật Bản Komine Kazuaki , khi nghiên cứu về motip "thủ thuật lấy cắp dưa" trong thuyết thoại Nhật Bản (18) có dẫn câu chuyện tương đồng trong Băo Phác tử , sách Nghệ văn loại tụ của Trung Quốc. GS. Komene cho rằng, việc ông già dùng thủ thuật để lấy trộm dưa trong Kim tích vốn bắt nguồn từ truyện kể dân gian Trung quốc. Tuy nhiên, việc ông già xuất hiện khi mọi người dừng chân nghỉ dưới gốc cây to, sau đó dùng phép lạ để lấy dưa lại liên quan đến motip "cây thiêng" là motip mang tính thế giới. Theo tín ngưỡng cổ đại, thần linh thường trú ngụ trên các cây lớn, cây cổ thụ. Cây là tụ điểm trung tâm của cộng đồng, đồng thời là nơi giao tiếp giữa trời và người, giữa thần và người. Nếu trên cây xuất hiện thần linh nắm giữ và bảo hộ sinh mệnh th́ cũng có lực lượng ma quỷ, trấn áp và làm hại sinh mệnh. Trường hợp ông già xuất hiện ở dưới gốc cây làm cho tính thiêng của không gian cây đă cụ thể hóa bằng nhân vật của truyền thuyết.

So sánh hai truyện kể về dưa ở Nhật Bản và Việt Nam, chúng tôi thấy ở truyện Dưa hấu của Việt Nam, hầu như không xuất hiện yếu tố kỳ lạ như t́nh tiết ông già dùng phép lạ lấy dưa như trong truyện kể của Trung Quốc và Nhật Bản. Việc chim tha hạt t́nh cờ rơi trên băi cát, sau đó mọc thành cây, cho quả chín vào mùa thu là cả quá tŕnh phát triển của cây dưa theo tự nhiên, không có sự trợ giúp của thần thánh. Câu chuyện như thật, khiến người ta tin theo, ư nghĩa giáo huấn nhờ đó được đề cao, đúng như lời Tựa sách viết : "khuyên điều thiện, răn điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục" (Tựa sách Lĩnh Nam chích quái) .

Tuy t́nh tiết cốt truyện có khác nhau, song sự xuất hiện cốt truyện về dưa trong truyện kể dân gian giai đoạn đầu của mỗi nước cho thấy cách đánh giá về loại hoa quả đặc biệt này có nét chung. Giáo sư Komine cho rằng dưa là loại hoa quả đặc biệt có giá trị, thậm chí có thể nói nó mang một hương vị đặc biệt, khó loại hoa quả nào có thể so sánh được. V́ thế dưa thường được người dân dâng lên cúng các vị thần tiên, hoặc bản thân dưa cũng là nơi trú ngụ của thần tiên nên được người xưa tôn lên là vật thánh (19). Sùng bái tự nhiên, gán cho các vật trong tự nhiên những giá trị tinh thần là cách nhận thức của con người cổ đại, và đó là điểm chung dễ thấy trong truyện kể dân gian của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Liên quan đến không gian thiêng "dưới cây", trong Lan tŕ kiến văn lục của Việt Nam có truyện "Dốc đầu Sấm (Lôi thủ pha) kể câu chuyện hai vợ chồng đi bán vàng mă, giữa đường gặp mưa to, đường xa, trời tối, không c̣n nhận ra lối đi bèn nghỉ lại dưới một gốc cây đa. Trong ánh chớp họ thấy có một ṭa biệt thự liền đi tới xin ngủ trọ. Đến đêm, họ nghe thấy chủ nhân ngôi nhà nói chuyện về việc làm sổ cho những người chết trong đại dịch. Đến sáng nh́n ra, họ thấy ḿnh đang nằm trên hai tàu chuối, có đệm rơm, bên cạnh một g̣ đất. Hai người kinh hăi trở về quê quán. Đến năm sau, nạn dịch nổi lên, người chết đầy đường, đúng như điều họ đă nghe thấy trong đêm hôm đó.

- Không gian thiêng "trên cây".  

Trong Kim tích có khá nhiều chuyện đề cập đến motip trên cây có vật lạ, cây thiêng. Truyện thứ 3, Quái vật biến thành ông Phật ngồi trên cây, quyển 20 kể rằng:

Xưa nay, vào thời Thiên hoàng Engi, ở ngôi đền thời Saennokami ở Gojo có cây hồng không ra quả. Một hôm, trên cây bỗng xuất hiện đức Phật, tỏa những tia vàng rực rỡ. Đức Phật ngự trên cây thả xuống những bông hoa muôn màu, cảnh tượng thật đáng kính. Nghe tin, người trong Kinh thành nô nức rủ nhau tới xem, xe ngựa nườm nượp, không c̣n chỗ chen chân. Bấy giờ có vị đại thần Hikaru. Ông là con của Thiên hoàng Fukku sa, hiền tài thông minh bậc nhất. Ông không tin đức Phật lại có thể hiện ra ở nơi cây cao như vậy, bèn dùng thuật thôi miên khiến vị Phật đó phải biến thành con diều hâu gẫy cánh, từ trên cây rơi xuống. Ông được mọi người khen ngợi hết lời và câu chuyện được truyền đi như vậy.

Theo các nhà nghiên cứu Nhật Bản, trên cây có vật lạ là motip thường thấy ở thuyết thoại Nhật Bản và truyện kể dân gian Trung Quốc. Trong phần truyện kể Trung Quốc ở Kim tích, có truyện trên cây Hán Cao tổ ẩn nấp, xuất hiện rồng ngũ sắc (truyện 2, quyển 10). Ở Việt Nam, truyện Thiền sư Khuông Việt trong sách Thiền uyển tập anh, cũng đề cập đến truyện trên cây có vật thiêng. Truyện kể rằng: Một lần nhà sư đi ngao du ở núi Vệ Linh, quận B́nh Lỗ, thấy phong cảnh thanh tịnh, muốn lập am để ở. Đêm hôm đó, vua nằm mơ thấy một vị thần đem theo lũ quỷ Dạ Xoa đến thưa theo lệnh của Thiên đế đến giúp bảo vệ biên giới, khiến cho Phật pháp hưng thịnh. Khi sư tỉnh giấc, bỗng nghe trong núi có tiếng la hét ầm ĩ, lấy làm lạ lắm. Đến sáng, nhà sư vào núi thấy một cây to, cao khoảng hơn mười trượng, cành lá sum xuê, bên trên mây ngũ sắc bao phủ, bèn sai thợ chặt đem về khắc tượng như đă thấy trong mộng để thờ.

Liên quan đến không gian thiêng trên cây, truyện 25, quyển 15, Kim tích c̣n có motip, trên cây có tiếng đàn sáo, đó là âm thanh của đoàn rước đưa người có duyên về cơi Cực lạc. Ở Việt Nam, trong truyện Bố Cái Đại Vương, sách Việt điện u linh cũng xuất hiện motip trên. Bố Cái Đại Vương sau khi mất rất hiển linh. Dân các làng thường nghe có tiếng xe, ngựa đi ầm ầm trên các nóc nhà hoặc trên các cây cổ thụ, trông lên thường thấy trong đám mây ngũ sắc có cở, kiệu rực rỡ, lại có tiếng đàn sáo văng vẳng trên không.

Trong nhóm truyện có motip "cây" ở Kim tích, c̣n xuất hiện motip độc đáo "thế giới khác trên ngọn cây". Truyện tóm tắt như sau:

Xưa nay, cũng không biết từ bao giờ, có nhà sư sống ở chùa Ni shinoto, chiều chiều trong ánh nắng tà, ông đứng ngoảnh mặt về chùa Higa shi sanmude để tụng kinh. Bỗng có chàng trai khôi ngô tuấn tú không biết từ đâu đi tới, muốn mời nhà sư về nhà để cảm ơn. Nhà sư lấy làm ngạc nhiên, nhưng cũng không có cách nào từ chối bèn đi theo, tới chỗ gốc cây lớn ở chùa Higa shi sanmude, chàng trai bảo nhà sư trèo lên cây. Nhà sư lo lắng, sợ ngă, nhưng chẳng có cách nào từ chối bèn nghe lời chàng trai, trèo lên chỗ cây cao nhất. Khi đến nơi, nhà sư thấy có một cung điện. Nh́n ra phía đông là cảnh ngày Tết, hoa đào nở khắp nơi, chim ca ríu rít. Phía bên kia, dựng b́nh phong, bày toàn món ăn ngon. Nh́n về phía Đông nam, nhà sư thấy có rất nhiều người mặc trang phục đi săn. Ở núi Futaoka bọn trẻ du chơi, nam nữ cùng nhau múa hát. Những cô gái mặc váy áo màu tía, phía dưới rủ xuống những vạt vải màu hoa hồng, trông thật nhă nhặn. Phía Nam là các xe chở lễ vật tới lễ hội Moka đang trên đường trở về đi qua giữa cánh đồng hoa tím, phong cảnh thật diễm lệ. Lại thấy nhà nhà đặt cây xương bồ, túi hoa cỏ thơm tránh tà khí vào lễ hội mồng Năm tháng Năm... (Truyện 33 quyển 19).

Điểm qua sơ lược như thế cho thấy motip "cây" là biểu tượng không gian thiêng của rất nhiều cộng đồng cư dân trên thế giới. Việc xuất hiện với tần số cao các truyện có liên quan đến motip "cây" ở các tác phẩm giai đoạn đầu của văn học các nước trong khu vực văn hóa Hán, chứng tỏ sự sự gần gụi về ư nghĩa của các biểu tượng văn hóa thế giới và sự tương đồng trong nấc thang tư duy của nhân loại.

*

*    *

Từ Linh dị kư và Kim tích có thể nhận ra những nét riêng và nét chung với truyện kể dân gian Trung Quốc và thuyết thoại Hán văn của Việt Nam. Những nét chung thường dễ nhận ra bởi như nhiều nhà nghiên cứu folklore nhận xét, trong văn học dân gian, đặc biệt trong truyện cổ thần kỳ, tính chung nhân loại làm cho người đọc, nhà nghiên cứu dễ nhận ra và t́m thấy hơn tính riêng - tính dân tộc (20). Văn hóa Nhật Bản xét về cơ tầng chiều sâu và bề rộng cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa Đông Nam Á. Nếu xét ở quá tŕnh tiếp biến th́ văn hóa Nhật Bản cũng không tách rời quan hệ giao lưu quốc tế và không nằm ngoài những quy luật nội tại của sự sáng tạo dân gian nói chung.

Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, cái làm nên nét riêng độc đáo của mỗi nước, mỗi dân tộc, lại phụ thuộc vào một thứ "gen di truyền" của cộng đồng, cộng thêm vào đó là đặc điểm địa lư, tâm lư văn hóa, đời sống xă hội, ngôn ngữ dân tộc, truyền thống dân cư... những cái đó đă tạo ra bản sắc riêng của mỗi dân tộc, làm nên những tiêu chí quan trọng để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác (21). Nó góp phần giải thích v́ sao có những tác phẩm bị thờ ơ ở nước mẹ đẻ lại được nồng nhiệt đón nhận ở nước ngoài (21). V́ lẽ đó nghiên cứu văn học so sánh sẽ giúp t́m ra những mảng màu khác biệt, làm cho bức tranh chung trở nên hấp dẫn và lôi cuốn.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Nihon muka shibana shi jiden (Từ điển truyện cổ tích Nhật Bản). Yanada Ko ji , Ooshima Tatehiko , Kawabata Toyohiko , Fukuda Akira , Mihara Yukihisa biên soạn. Nhà xuất bản Kobunto. 1984.

2. Lê Quư Đôn: Đại Việt thông sử. Nxb.KHXH.Ha, 1978, tr.102;

3. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí. Nxb.Sử học, H.1961, tr.41.

4. Nguyễn Văn Ngọc: Truyện cổ nước Nam, Vĩnh Hưng Long thư quán, H.1932-1934, KHXH, H, 1990, 392 tr.

5. Nguyễn Đổng Chi: Việt Nam văn học cổ sử. Hàn Thuyên xuất bản cục, Ha, 1942, 440 tr.

6. Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tan, Mai Cao Chương: Văn học Việt Nam (nửa đầu thế kỷ thứ X đến thế kỷ XVIII). Nxb. Giáo dục, Ha, 1997, tr.117.

7. Tổng tập tiểu thuyết Hán văn Việt Nam. Trần Nghĩa chủ biên. Nxb. Thế giới, Hà Nội, 1997.

8. Phạm Văn Thắm: Nghiên cứu văn bản và đánh giá thể loại truyền kỳ viết bằng chữ Hán ở Việt Nam thời trung đại". Luận án Phó tiến sĩ, 1990.

9. Nguyễn Đăng Na: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.

10. Phạm Văn Hoài: Sơ bộ đối chiếu những mục truyện tương đồng giữa "Nam thiên trận dị tập và "Công dư tiệp kư" tiền biên. Luận án Thạc sĩ, chuyên ngành Hán Nôm,  Hà Nội,1998.

11. Trần Thị An: Đặc trưng thể loại và việc văn bản hoa truyền thuyết dân gian Việt Nam. Luân án Tiến sĩ ngữ văn. Hà Nội, 2000.

12. Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san. Đài Loan Học Sinh cục ấn hành 1987.

13. Kawamoto Kunie : Denkimanroku sanpanko (Khảo về các bản in của Truyền kỳ mạn lục ). Đại học Keio, 1988.

14. Nguyễn Huệ Chi: Khảo luận văn bản. Thơ văn Lư-Trần. Tập I. Nxb. KHXH, Hà Nội, 1997.

15. Từ điển Văn học. Nhiều tác giả, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1984, tr.57-58.

16. Trần Nghĩa: Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam. Sđd, tr.17.

17. Kono Kimiko : Nihon reiki to Chugoku no den sho (Nhật Bản linh dị kư và truyện kể dân gian Trung Quốc). Nxb. Benjyosha, 1987.

18. Komine Kazuaki : Inseiki bungakuron (Bàn luận về văn học thời kỳ In sei)

19. Komine Kazuaki : Konjakumonogatarishu wo manabu hito no tameni (Dành cho người mới học tác phẩm Kon jakumonogata ri shu). Nxb. Sekai shiso. 2003.

20. Tăng Kim Ngân: Cổ tích thần kư người Việt - Đặc điểm cấu tạo cốt truyện. Nxb.KHXH., 1994.

21. Trần Nghĩa: Lược đồ quan hệ tiểu thuyết Hán Nôm Việt Nam và tiểu thuyết cổ các nước trong khu vực. Tạp chí Hán Nôm, 2002, số 2 (35), 1988, tr.3-13.


* Nguồn : Đại học Khoa học Xă hội và Nhân văn. Bài phát biều trong buổi hội thảo : Văn hóa phương đông : Truyền thống và Hội nhập được tổ chức vào ngày 13 tháng 1 năm 2007