Trở Về Từ Cơi Sáng

 

 

 

Trong thời gian gần đây có rất nhiều sách viết về hiện tượng người chết sống lại" kể chuyện thế giới bên kia (Near Death Experiences) nhưng không cuốn nào gây sôi nổi bằng cuốn "Embraced By The Light" (tạm dịch: Trở về từ cơi sáng) của Betty Eadie.

§1 - Bên kia cửa tử

§2 - Trở Về Từ Cơi Sáng

§3 - Những Người Chết Sống Lại

§4 - Áp Lực Vật Chất Đối Với Những Người Vừa Từ Trần

§5 - Tử Thư Tây Tạng

Nguồn : http://www.dunglac.org

§3 - NHỮNG NGƯỜI CHẾT SỐNG LẠI

Một Vài Trường Hợp Đặc Biệt Khác

Lời dịch giả:

Sau cuốn "Embraced by the Light" dẫn đầu về số bán, lại có các cuốn "Saved by the Light", "Closer to the Light", "Into the Light", "Life after life", "Reflection on the after life", "Life at Death", "Return from Death",... Cuốn nào cũng bán rất chạy, phá kỷ lục trong các loại sách tâm linh và lôi kéo theo nhiều cuộc tranh luận hết sức sôi nổi. Chi tiết các cuốn sách trên không khác nhau bao nhiêu, ai cũng kể rằng sau khi chết họ thấy ḿnh được bao trùm trong một luồng ánh sáng êm dịu, tinh khiết, và được hướng dẫn về tinh thần. Tất cả đều kết luận rằng chết không phải là điều ghê gớm đáng sợ như mọi người vẫn nghĩ mà chỉ là một sự "chuyển tiếp" giữa các kiếp sống, một kinh nghiệm tâm linh mà những ai trải qua sẽ không thể quên được. Mặc dù những cuốn sách trên ghi nhận hàng trăm những trường hợp người chết sống lại, chúng tôi chỉ lựa chọn một vài trường hợp đặc biệt để cống hiến quư vị độc giả... Cuối tháng 4 năm 1987, người ta chở bà Hary Houghton, 68 tuổi, vào bệnh viện Boston v́ chứng đau tim. Bệnh nhân ngưng thở lúc 6 giờ tối, mọi cứu chữa đều vô hiệu và bác sĩ tuyên bố bệnh nhân đă chết. Xác bà được tạm đặt trong một căn pḥng riêng chờ thân nhân đến làm giấy tờ tẩm liệm. Khoảng 11 giờ đêm, bà Houghton tỉnh lại bấm chuông gọi y tá. Bác sĩ trực đến khám va xác nhận bà lăo đă hồi sinh. Trường hợp bệnh nhân đă tắt thở vài giờ sau lại sống dậy không có ǵ lạ lùng với y giới nhưng bà Houghton đă nhớ lại những diễn tiến sau khi chết và kể lại như sau:

"Tôi đang ngồi nhà đọc báo th́ thấy choáng váng, xây xẩm mặt mày và tự nhiên hôn mê. Khi tôi tỉnh dậy tôi cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thoát, chung quanh tôi là một lớp sương khói dày đặc khiến tôi bỡ ngỡ không biết ḿnh đang ở đâu. Tôi lên tiếng kêu gọi nhưng vô hiệu. Tôi ṃ mẫm đi trong lớp sương mù đó được một lúc th́ nhận thức rằng có lẽ ḿnh đă chết. Tôi biết ḿnh mắc chứng đau tim đă lâu, bác sĩ nói rằng tôi chẳng c̣n sống được bao lâu nữa nên tôi không lấy thế làm buồn. Điều bất ngờ là khi vừa chấp nhận điều nầy th́ tôi thấy ḿnh đang đứng ngay bên cạnh giường quan sát thân thể của tôi nằm bất động trên đó. Sau một lúc úc động tôi cố gắng tự trấn tĩnh và tự nhủ rằng ḿnh sống như thế cũng là đủ rồi. Trong khi xúc động th́ luồng ánh sáng bao quanh tôi trở nên đen tối, khó chịu, tôi có cảm giác như bị lôi kéo vào một vũng bùn nhầy nhụa, hôi hám. Tôi bèn lên tiếng cầu nguyện th́ thấy ḿnh dễ chịu lạ thường, lớp ánh sáng bao quanh dần dần trở nên quang đăng hơn.

"Một lúc sau tôi thấy thân thể nhẹ hẫng như có thể bay bổng lên được. Tôi bèn để cho nó tự nhiên và thấy ḿnh lơ lửng trên không nh́n xuống phía dưới. Lúc đó ở trên cao nh́n xuống, tôi thấy một chùm ch́a khóa màu đỏ của ai để trên nóc tủ thuốc. Tôi thầm nghĩ ai lại để ch́a khóa trên đó làm chi? Đang suy nghĩ vẩn vơ th́ tôi thấy ḿnh đă đi xuyên qua trần nhà để lên lầu trên và thấy hai người y tá đang xem một trận bóng rổ trên tivi, trận đấu vừa kết thúc khi đội Los Angeles Lakers thắng Boston Celtics và một người y tá đánh cuộc thua phải trả cho bạn đồng nghiệp 20 mỹ kim. Tôi thong thả đi dọc theo hành lang bệnh viện và gặp rất nhiều người như tôi cũng đang lướt đi, không ai nói với ai lời nào. Đa số có vẻ vội vă, có người hoảng hốt là đàng khác. Tôi thấy một thanh niên đang đứng cạnh xác ḿnh một cách đau khổ, tôi lên tiếng an ủi nhưng có lẽ anh không nghe được lời khuyên bảo của tôi. V́ một lư do ǵ không rơ, tôi hiểu ngay sự bạn tâm của anh ta v́ không hoàn tất được một số việc. Anh ta cố sức chui lại vào cái xác đă lạnh cứng nhưng vô hiệu. Anh ta đâm ra hoảng hốt khiến tôi cũng mất b́nh tĩnh theo nên tôi đành bỏ anh ta ở đó mà đi ra chỗ khác. Tôi nghĩ đến các con của tôi và lập tức thấy ḿnh đang đứng trước mặt đứa con gái lớn. Con gái tôi đang khóc. Tôi muốn ôm lấy nó nhưng tiếng khóc của nó làm tôi thấy khó chịu. Mỗi khi trong người khó chịu th́ lớp ánh sáng bao quanh tôi lại chuyển sang một màu đen tối, nhầy nhụa khiến tôi sợ hăi. Tôi cố gắng trấn tĩnh tâm hồn và nghĩ đến hai đứa con trai th́ thấy ḿnh đang đứng cạnh chúng. Hai đứa con đang bàn việc tôi đă không chịu mua bảo hiểm nhân thọ... Cả hai chỉ nghĩ đến số tiền mà chúng sẽ phải chi ra hơn là nhớ thương đến mẹ của chúng. Tôi không hiểu tại sao tôi lại đọc rơ tư tưởng của các con tôi như vậy. Càng đứng đó lâu tôi càng bực bội và hai đứa cứ căi nhau măi về việc chôn cất và việc phân chia gia tài nên tôi lại bỏ đi. Tôi không biết sẽ đi đâu. Tôi chẳng có thân nhân hay bạn bè nào cả. Đến lúc đó tôi lại nghĩ đến cuộc đời ḿnh. H́nh như tôi đă sống một cách ích kỷ, không giao thiệp với ai và cũng không có ai là bạn thân thiết. Cả một quá khứ bỗng hiện ra trước mắt tôi như người đang xem phim chiếu bóng. Tôi thấy rơ những quyết định của ḿnh, những lỗi lầm mà tôi đă tạo. Những việc mà tôi nghĩ là tầm thường, không đáng kể đều hiện ra rơ rệt và phản ảnh tâm trạng của tôi khi đó, v́ sao tôi đă hành động như vậy, tại sao tôi lại làm việc đó... Hơn bao giờ hết tôi thấy mọi sự việc một cách khách quan vô tư chứ không chủ quan như trước. Tôi không hiểu tại sao ḿnh lại có thể b́nh tĩnh nhận xét như thế được. Tôi bắt đầu cầu nguyện và tự nhiên thấy lớp ánh sáng bao quanh bỗng sáng chói một cách lạ lùng. Tôi thầm nghĩ phải chăng tôi có thể hành động khác khi xưa khi biết rơ những nguyên nhân, hậu quả việc làm của ḿnh. Tất cả có thể quy về một điều duy nhất. Tôi là một người quá tự hào về ḿnh, quá hănh diện về những giá trị viển vông, tạm bợ mà không hề biết rằng nhiều điều đó hoàn toàn vô giá trị khi người ta từ bỏ cơi sống nầy. Chính v́ tự hào mà tôi đă khoác lên ḿnh những mặc cảm tự tôn, coi thường người khác, bất chấp dư luận và nghĩ rằng tôi luôn luôn có lư trong mọi công việc. Hậu quả là tôi có một đời sống khô khan, không bạn bè thân thiết, ai ai cũng muốn xa lánh tôi, ngay cả những đứa con của tôi nữa. Phải chăng tôi có thể chuộc lại những điều đă làm? Chưa bao giờ tôi lại có ư nghĩ lạ lùn như vậy và tự nhiên tôi lên tiếng cầu nguyện. Tự nhiên tai tôi bỗng ù đi, luồng ánh sáng bao quanh tôi trở nên sáng chói một cách lạ lùng, tôi thấy b́nh tĩnh như có một sự an ủi lớn lao nào đó vừa đến với tôi, và tôi cương quyết rằng tôi sẽ chuộc lại lỗi lầm khi xưa. Tôi chắp tay cầu nguyện Thượng Đế hăy cho tôi một cơ hội nữa và luồng ánh sáng chung quanh tôi tự nhiên sáng chói một cách mănh liệt khiến tôi phải nhắm mắt lại và bất chợt tôi nghe được cá âm thanh quen thuộc. Tôi thấy minh đang nằm trên giường bệnh viện... Tôi đă tỉnh lại"

Lời khai cua ba Houghton đă được bác sĩ Elizabeth Kubler Ros kiểm chứng rất kỹ. Hai nhân viên trực trong bệnh viện xác nhận họ có đánh cuộc với nhau về trận bóng rổ, kết quả trận banh xảy ra đúng như lời bà Houghton đă thuật lại. Hai đứa con của bà Hughton cũng xác nhận họ đă căi nhau về việc mua bảo hiểm và tiền bồi chôn cất. Điều bất ngờ nhất là một bác sĩ đánh mất chùm ch́a khóa xe hơi màu đỏ từ mấy tuần trước, nhờ lời khai của bà Houghon mà ông nhớ rằng rong lúc vội vă, ông đă ném đại nó lên nóc tủ thuốc. Chiếc tủ nầy rất cao, gần chạm đến trần nhà, một người đứng dưới đất không thể nh́n thấy nó được nên mặc dù t́m kiếm măi mà vẫn không ai thấy..trừ khi họ đứng trên trần nhà mà nh́n xuống.

Điều bà Houghton kể lại cũng trùng với rất nhiều bệnh nhân đă chết rồi lại hồi sinh như vậy. Đa số đều xác nhận một trạng thái nhẹ nhàng, thanh thản trong một bầu ánh sáng trong suốt như pha lê. Tuy nhiên thế giới bên kia không phải chỉ là những bầu ánh sáng rực rỡ mà c̣n có sự tiếp xúc với những vong linh khác như trường hợp của Steve Buckley sau đây mà chúng tôi trích từ Comment la vie continue après la motr của Prentiss Tucker.

Steve Buckley là một tân binh vừa nhập ngũ. Anh được huấn luyện tại một căn cứ quân sự tại tiểu ban Carolina. Trong buổi thực tập cách gài ḿn, gỡ ḿn th́ một quả ḿn đă nổ ngay gần chỗ anh đứng. Tuy thân thể không bị thương nhưng anh bị sức chân động làm ngất đi và trút hơi thở cuối cùng trên đường đến bệnh viện. Mọi phương pháp làm hồi sinh đều vô hiệu. Khi đến bệnh viện một y sĩ khám xác nhận là anh đă chết. Xác anh được quàn tạm trong nhà xác chờ thông báo cho thân nhân. Khoảng vài giờ sau đó, anh tỉnh dậy trước sự ngạc nhiên của mọi người. Sau đó anh đă thuật lại câu chuyện như sau:

"Tôi không hề ư thức ǵ về quả ḿn nổ, tôi chỉ biết rằng bỗng dưng tất cả đều im lặng, một thứ im lặng, một thứ im lặng tuyệt đối. Tôi lên tiếng gọi lớn nhưng không nghe ai đáp lại, cả sân tập bỗng trở nên vắng hoe, bao nhiêu bạn đồng ngũ bỗng dưng biến đâu hết. Tôi đang phân vân chưa biết phả lam ǵ th́ thấy có một người mặc thường phục, tay cầm một cây dù đang đứng giữa băi ḿn. Tôi tự hỏi tại sao giữa quân trường lại có một thường dân đứng khơi khơi như vậy? Lúc đó trời rất quang đăng mà tại sao người nầy cầm dù? Người lạ nh́n tôi mỉm cười và rảo bước đến bên tôi. Tôi bèn la lớn để cảnh báo ông rằng ông ta đang đi trên một băi ḿn nhưng chưa kịp nói ǵ th́ ông ta đă đến sát cạnh. Ông lên tiếng bằng một giọng thân mật:

- Có phải cháu Steve đó không? Tôi là cậu Jules đây.

Rồi ông ta thân mật hỏi thăm về mọi người trong gia đ́nh tôi như một người thân thuộc. Không những ông ta biết rơ gia đ́nh tôi mà c̣n biết đến cả con chó Basette mà mẹ tôi rất cưng nữa. Linh tính báo cho tôi biết một sự chẳng lành. Tôi nhớ mang máng rằng mẹ tôi có một người em ruột tên là Jules nhưng ông ta đă chết từ lâu rồi kia mà. Ông Jules thong thả nói,

- Nầy cháu Steve, mẹ cháu nhớ cháu lắm đó. Hôm nay bà làm món lassagna, một món mà cháu rất thích ăn.

Tôi đâm ra bối rối:

- Làm sao ông biết được? Ông Jules mỉm cười một cách bí mật:

- Thế cháu có muốn về thăm nhà không?

Tôi ấp úng đáp:

- Làm sao có thể về được? Nhà tôi ở tận New York kia mà... Hơn nữa tôi đang thực tập quân sự, phải sáu tháng nữa mới được về phép.

Ông Jules mỉm cười nắm lấy tay tôi xiết chặt:

- Không sao đâu, cháu chỉ cần nghĩ đến mẹ cháu là được.

Tôi luống cuống không biết phải làm ǵ th́ vừa vặn thấy thượng sĩ York đang đi gần đó, tôi bèn lên tiếng gọi nhưng ông nầy không nghe, cứ cắm cúi đi thẳng. Tôi vội chạy đến chặn đầu ông thượng sĩ York nhưng dường như ông ta không trông thấy tôi mà cứ tiếp tục đi. Đến lúc đó ông Jules bước lại ôn tồn khuyên:

- Ông ta không nh́n thấy cháu đâu. Cháu có muốn về thăm nhà không? Sau một hồi thuyết phục, tôi bằng ḷng và nghĩ đến mẹ tôi. Tự nhiên cảnh vật chung quanh đều thay đổi, tai tôi vẫn nghe giọng ông Jules ôn tồn:

- Cháu cứ b́nh tĩnh và tập trung tư tưởng để nghĩ đến mẹn cháu là được rồi.

Tôi thấy ḿnh đang đứng trong nhà trước mặt mẹ tôi. Bà đang làm món lassasgna thơm phức. Các em tôi đang ngồi xem tivi, chúng nói chuyện ồn ào và không chú ư đến sự hiện diện của tôi cả. Trong lúc xúc động tôi chạy đến ôm chầm lấy mẹ tôi nhưng bà vẫn thản nhiên nấu nướng, không hề biết đến sự hiện diện của tôi. Đến lúc đó tự nhiên tôi thấy lạnh ḿnh. Lúc năy thượng sĩ York cũng không hề thấy tôi. Phải chăng tôi đă chết? Tôi vừa hoảng hốt th́ chung quanh bỗng như tối sầm lại, dường như có một sức mạnh nào đó kéo tôi vào một lớp sương khói màu xám đục... Tôi chưa biết phải phản ứng như thế nào th́ ông Jules đă đến bên cạnh. Khi đó tôi thấy ḿnh như đang đứng cạnh ông, tôi thấy ḿnh b́nh tĩnh hơn.

- Chuyện ǵ đă xảy ra cho tôi vậy? Tôi đă ra sao?

Ông Jules nắm lấy tay tôi trấn an và ôn tồn:

- Cháu đă về nhà rồi, có đúng không? Phải chăng đó là điều mà cháu ao ước trong suốt thời gian học tập quân sự?

Tôi thắc mắc:

- Nhưng tại sao mọi người không ai nh́n thấy tôi hết? Tại sao tôi không thể nói chuyện với ai được?

Ông Jules thong thả giải thích:

- Cháu phải hiểu rằng cháu đă về nhà nhưng không bằng thể xác mà bằng một thể xác khác... Chính cái tư tưởng mong muốn trở về nhà trong suốt thời gian cháu học tập quân sự đă khiến cậu t́m đến gặp cháu để giúp cháu hoàn tất tâm nguyện trên.

Tôi thút thít khóc:

- Như vậy là cháu đă chết rồi phải không?

Ông Jules thong thả:

- Rồi cháu sẽ hiểu. Hiện nay cậu chỉ có thể cho cháu biết rằng cháu không c̣n ở cái thế giới quen thuộc của cháu nữa... Nhưng cháu không nên phí thời giờ vô ích, cháu chẳng mong trở về thăm nhà hay sao?

Tôi định thần nh́n quanh, cả nhà đă bắt đầu ngồi vào bàn ăn. Cha tôi vừa rót một ly rượu chát lớn, thong thả thưởng thức mùi vị trước khi ăn. Các em tôi đang cười đ ùa bàn tán về chương tŕnh tivi mà chúng vừa xem. Mẹ tôi vừa cắt đĩa lassagna vừa lẩm bẩm: "Phải chi có thằng Steve ở đây, nó vẫn thích món nầy lắm!" V́ một lư do thầm kín nào đó, tôi đọc rơ tư tưởng của mẹ tôi và xúc động mạnh. Ông Jules giải thích:

- Ở cơi trần, người ta có thể nhận thức được mọi vật bằng năm giác quan thông thường như nghe, nh́n, ngửi, nếm và sờ mó nhưng ở cơi nầy, các giác quan trên không c̣n sử dụng được nữa mà chỉ có tư tưởng mà thôi. Nếu cháu muốn tiếp xúc với mẹ cháu, cháu hăy tập trung tư tưởng gửi đến mẹ cháu những niềm yêu thương tốt đẹp nhất th́ mẹ cháu sẽ nhận được.

Tôi cố gắng dần tất cả ḷng yêu thương đến cho mẹ tôi, tự nhiên tôi thấy bầu ánh sáng chung quanh tôi bỗng trở nên sáng chói, một cảm giác lạ lùng, thanh thản như thấm khắp người tôi. Chưa bao giờ tôi cảm thấy thoải mái, sung sướng dễ chịu như lúc đó. Tự nhiên mẹ tôi bỗng dừng tay lại, h́nh như bà cảm thấy điều ǵ, mắt bà rơm rớm nước mắt và bà thốt lên một câu rất khẽ, tôi biết mẹ tôi thầm gọi tên tôi. Ngay lúc đó tôi thấy rơ t́nh thương của mẹ tôi dành cho tôi, một cảm giác ấm áp, hạnh phúc tràn đầy khiến tôi như gia tăng sức mạnh.

Ông Jules mỉm cười nói:

- Cháu thấy không, những người quá cố đâu có đi xa, họ vẫn hiện diện chung quanh những người thân đấy chứ. Họ hiểu biết mọi sự việc xảy ra trong gia đ́nh và có thể giúp đỡ người nhà một cách giáp tiếp mặc dù không thể liên lạc, nói chuyện hay báo tin cho người nhà biết sự hiện diện của họ được.

Tôi thân mật hỏi cậu Jules:

- Phải chăng cậu vẫn đến thăm gia đ́nh cháu luôn?

Ông Jules khẽ lắc đầu cười:

- Đối với cậu th́ tất cả mọi người đều là gia đ́nh cả, một thời gian nữa cháu sẽ hiểu rơ hơn. Có những liên hệ cá nhân mà qua luật thiên nhiên, họ trở thành thân thiết như cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè nhưng c̣n biết bao liên hệ trước đó nữa chứ kiếp sống nầy chỉ là một giai đoạn ngắn trong một đời sống kéo dài bao la vô tận...

Tôi thắc mắc ngắt lời:

- Như vậy cậu t́m đến cháu làm ǵ?

Ông Jules thân mật:

- Cháu đă có nhiều liên hệ với cậu từ lâu, hiện nay cháu chưa nhớ đâu nhưng một thời gian sau cháu sẽ hiểu. Chúng ta đă từng là bạn bè, đă làm việc chung với nhau trong nhiều kiếp sống...

Tôi ngạc nhiên:

- Như vậy cháu đă làm ǵ?

Ông Jules mỉm cười:

- Rồi cháu sẽ biết nhưng hiện nay có một người nữa mà cháu muốn gặp.

Ông giơ tay chỉ phía sau và tôi thấy một bầu ánh sáng chói lọi trong không trung khiến tôi phải nhắm mắt lại cho khỏi loá. Tôi nghe một giọng nói êm dịu:

- Nầy anh Steve, anh c̣n nhớ em không?

Tự nhiên tôi nhận ra ngay giọng nói của Marjorie, một người bạn gái ngày trước nhưng cô ta đă cheest v́ một tai nạn khi c̣n ở trung học kia mà. Tôi mở mắt ra và thấy Marjorie đang đứng trước mặt tôi, toàn thân bao phủ trong một lớp ánh sáng chói lọi. Cô bật cười:

- Anh đừng ngạc nhiên, em vẫn như xưa chứ đâu có khác ǵ... Ơ ḱa! Tại sao anh lại nghĩ rằng em là một thiên thần?

Tôi bối rối:

- Nhưng... nhưng tại sao cô lại biết như vậy?

Marjorie bật cười liến thoắng:

- Em biết chứ! Em đọc được tư tưởng của anh... anh ngạc nhiên v́ màu sắc hào quang ư? Anh cũng có hào quang đấy chứ, anh không thấy sao?

Chưa lúc nào tôi lại bối rối như lúc nầy. Sự có mặt của ông Jules và bây giờ là Marjorie, một người bạn gái đă qua đời từ nhiều năm, khiến tôi mệt mỏi muốn ngồi xuống đất. Tuy nhiên Marjorie không để tôi yên, cô vẫn liến thoắng như hồi nào:

- Nầy anh Steve, anh không hề mệt đâu, anh chỉ mệt v́ anh tưởng anh mệt đó thôi. Lúc năy anh đâu có mệt, anh đang vui vẻ, khỏe khoắn kia mà. Anh nghĩ nhiều quá... Chuyện đă qua rồi anh nghĩ làm chi!

Quả thật tôi đă nghĩ đến cái chết của Marjorie năm xưa, chính tôi đă đi đưa đám tang nàng và ngồi bên cạnh mộ nàng rất lâu. Marjorie dường như cảm động, mắt cô chớp chớp một lúc rồi vui vẻ hồn nhiên trở lại:

- Anh Steve thân yêu, em biết điều đó. Hồi đó em biết hết, thấy hết và nghe hết những điều anh nói bên mộ em. Sau đám tang, em thấy anh đi thơ thẩn ngoài nghĩa địa một ḿnh, em thấy anh khóc nhiều. Anh c̣n đi theo con đường dẫn đến trường mà trước kia chúng ta thường dạo mát. Lúc đó em vẫn đi cạnh anh mà anh đâu có biết.

Tôi kêu lên thất thanh:

- Thật sao, em vẫn ở bên anh hay sao?

Marjorie thản nhiên gật đầu:

- Đúng thế. Em thấy anh buồn quá nên quàng lấy vai anh để an ủi nhưng anh nào có hay. Em biết ḿnh đă chết nên không thể nào tiếp xúc với anh được nữa, nhưng thật ra danh từ "chết" không đúng đâu. Sự thật th́ chúng ta không bao giờ chết cả. Đúng vậy, em và anh cũng như mọi người khác chẳng bao giờ chết. Anh thấy không, hiện nay chúng ta vẫn linh động, thoải mái, sống mạnh mẽ hơn khi nào hết kia mà! Chúng ta đang tiến về nguồn, nguồn sống yêu thương tràn đầy ân phước của Đấng Tối Cao. Dĩ nhiên lúc nầy anh c̣n đang bán tín bán nghi nhưng em mong anh tin em. Nhiều người không tin em mặc dù em cố gắng thuyết phục họ, nhưng anh th́ phải khác chứ. Anh biết không, em đă gặp rất nhiều người bị tai nạn xe cộ như em vậy. Họ than khóc quá nhiều, kẻ th́ oán hận người đă gây ra tai nạn, người th́ tiếc đă không làm được những việc khi c̣n sống. Em đă đến bên họ, khuyên can họ không hề chấm dứt như họ nghĩ mà là một sự chuyển tiếp. Trong giai đoạn nầy họ được sống trong t́nh thương yêu tuyệt vời nhưng chẳng mấy người chịu nghe.

Càng nói bầu ánh sáng bao quanh Marjorie càng sáng chói, bao phủ quanh thân nàng khiến nàng trông càng đẹp, một vẻ đẹp thanh cao, đáng kính khiến tôi phải lùi lại. Marjorie nheo mắt nh́n tôi và thong thả:

- Đó là công việc mới của em, một công việc quan trọng. Trước khi giao việc nầy cho em, ngài đă căn dặn em phải suy nghĩ kỹ. Em đă đắn đo rất cẩn thận trước khi nhận lời. Công việc thật nặng nhọc nhưng em rất sung sướng đă an ủi, giúp đỡ cho những người vừa từ trần. Em ở kề cận bên họ, nhắc nhở cho họ rằng đời sống thật sự chỉ có sự yêu thương chứ không có sự hối tiếc, giận hờn.

Tôi ngạc nhiên:

- Em nói ngài đă giao việc cho em, vậy ngài là ai?

Marjorie chỉ về phía sau tôi:

- Chính cậu Jules đă đưa em đến gặp ngài. Ngài là Thượng Đế chứ c̣n ai nữa! Quả thật tôi bối rối. Tôi đưa mắt nh́n ông Jules và Marjorie không biết phải nói như thế nào nữa. Phải chăng tôi đang mê ngủ? Phải chăng đây chỉ là một giấc chiêm bao? Ông Jules âu yếm:

- Cháu không chiêm bao đâu. Hiên nay cháu đang ở một cơi giới khác với cơi trần. Ở đây thời gian và không gian không c̣n chi phối nữa, cũng không có các ràng buộc vật chất. Khi muốn đến đâu người ta có thể đến đó ngay, lúc nầy cháu đă chẳng trở về nhà đó sao? Bây giờ cháu hăy đi theo cậu, chúng ta có việc phải làm, sau nầy cháu sẽ có dịp gặp Marjorie sau.

Tôi ngạc nhiên:

- Nhưng cậu muốn đưa cháu đi đâu?

Ông Jules từ tốn trả lời:

- Có lẽ cháu đă quen ít nhiều với đời sống bên nầy rồi nên cậu sẽ giải thích cho cháu về những việc đă và sẽ xảy ra. Trước hết nhân loại đang trải qua một cuộc chiến tranh lớn. Tại sao lại có cuộc chiến tranh nầy và trong cuộc chiến cháu cháu sẽ được giao phó nhiệm vụ ǵ. Cuộc chiến hiện tại là một điều không thể tránh được mặc dù nó có vẻ phi lư và dă man. Con người không thể tránh được hiểm họa chiến tranh v́ đă có nguyên nhân th́ phải có hậu quả. Mặc dù những người gây chiến tranh phải chịu trách nhiệm về việc họ đă làm nhưng mọi người, v́ những nguyên nhân sâu xa trong quá khứ, cũng đều chia phần trách nhiệm và phải học lại bài học mà họ cần phải học. Đời sống là một trường học mà trong đó chiến tranh là một bài học quan trọng. Trong hoàn cảnh đau khổ, tang tóc, nhiều người nghĩ rằng thế giới đă đến lúc suy tàn, sức mạnh của bạo lực sẽ đàn áp tất cả, điều ác sẽ thắng điều thiện, kẻ áp chế sẽ đạt được điều họ muốn. Điều nầy hoàn toàn không đúng. Một khi Thượng Đế đă điều khiển th́ trước sau mọi sự sẽ đều tiến đến chỗ tốt đẹp, toàn thiện. Một côn trùng nhỏ bé chết ngài cũng biết, va cũng do ư ngài th́ cuộc chiến dù tàn khốc đến đâu th́ cũng không xảy ra ngoài ư muốn của ngài được. Tuy nhiên dù sao chăng nữa, những kẻ góp phần gây ra cuộc chiến vẫn phải chịu trách nhiệm về hành động của họ.

Vẻ mặt của ông Jules bỗng trở nên dịu dàng, đôi mắt ông như đắm ch́m trong một cơi giới nào đó, h́nh như ông đang ôn lại những kinh nghiệm tranh đấu, đau khổ mà rồi nhân loại sẽ phải trải qua trước khi biết nhận thức về hành động của họ và thay đổi để trở nên thánh thiện, hiền lành. Ông mỉm cười bảo tôi:

- Bây giờ chúng ta sẽ ra mặt trận v́ một người bạn cũ của cháu sắp từ giă cơi trần, cháu hăy t́m cách an ủi và giải thích cho anh ta hiểu các sự kiện diễn ra ở cơi giới bên nầy, như vậy cháu sẽ quen với công việc mà cháu sẽ đảm nhiệm từ nay.

Tôi theo ông Jules đến một khu rừng rậm, có tiếng súng nổ khắp nơi, tôi biết ḿnh đă ra đến mặt trận. Tôi nh́n thấy các chiến sĩ ẩn núp dưới giao thông hào, có một số đang chuẩn bị cho một cuộc xung phong. Có tiếng đạn rít bên tai khiến tôi hoảng sợ, bảo ông Jules nên t́m chỗ ẩn tránh đạn th́ ông mỉm cười lắc đầu:

- Cháu không phải lo, bom đạn không là ǵ được cháu đâu. Hiện nay cháu đâu c̣n thể xác nữa mà sợ!

Ông Jules chỉ cho tôi thấy một binh sĩ đang ḅ dưới đất. Anh nầy định ṿng ra phía sau một mô đất lớn để đánh tập hậu nhóm lính Đức đang trấn giữ ổ súng liên thanh gần đó. Điều anh không ngờ là vị trí của anh đă bị phát giác, một người lính Đức giơ súng lên nhắm anh bóp c̣. Tôi chưa kịp la lên th́ anh đă bật ngửa ra sau, đầu bị một viên đạn bắn trúng. Ngay lúc đó tôi nhận ra anh là Andrew, một người bạn láng giềng đă nhập ngũ trước tôi ít lâu. Tôi thấy Andrew từ từ thoát ra khỏi thể xác và vẫn tiếp tục ḅ mà không hề biết rằng anh ta đă trúng đạn, bỏ lại cái xác nằm sóng sượt phía sau. Ông Jules thúc nhẹ vào hông tôi như ra giấu, tôi vội bước về phía Andrew. Anh nầy ngạc nhiên la lớn:

- Ủa Steve đấy ư? Anh làm ǵ ở đây vậy?

Tôi chưa kịp trả lời th́ Andrew đă kéo tôi nằm sát xuống đất:

- Cẩn thận kẻo bọn lính Đức nh́n thấy!

Nhưng không kịp nữa, ba người lính Đức đă ở sau g̣ đất xông ra. Andrew hoảng hốt giơ súng lên nhưng đến lúc đó anh nhận ra anh không hề cầm súng. Trông điệu bộ luống cuống của anh tôi bật cười:

- Nầy Andrew, anh đă chết rồi c̣n đâu!

Nhưng Andrew không nghe câu tôi vừa nói, anh bận nh́n sững ba tên lính Đức đang khám xét cái xác của anh. Một người lục túi áo của anh lấy ra bao thuốc lá trong khi hai người kia tháo súng và bao đạn trên vai anh. Andrew nổi giận xông đến đấm đá túi bụi nhưng ba người lính kia vẫn thản nhiên như không có chuyện ǵ xảy ra. Andrew giận dữ kêu la om x̣m cho đến lúc ba người lính thu thập xong chiến lợi phẩm, rút vào sau g̣ đất th́ anh mới xúc động ôm lấy xác của ḿnh khóc oà. Tôi lúng túng nh́n anh không biết phải an ủi thế nào cho đến khi anh ngửng lên nh́n tôi:

- Nầy bạn Steve, anh cũng chết rồi sao? Tôi gật đầu. Andrew im lặng như suy nghĩ, bất chợt anh thốt lên:

- Thôi thế là hết. Bạn chết trước tôi vậy bạn có thấy thiên đàng ở đâu không?

Từ trước đến nay tôi chưa hề suy nghĩ về điều nầy nên thoạt nghe cũng hoảng hốt, tôi nh́n quanh nhưng không thấy cảnh vật có ǵ khác lạ. Andrew cũng lên tiếng.

Tôi chẳng thấy có ǵ khác lạ hết, ở đây giống hệt như cơi trần chỉ khác ở chỗ tôi nói mấy tên lính kia cũng không nghe, tôi đánh chúng cũng không được. Bây giờ chúng ta phải làm sao đây? Nếu lính Đức đến, ḿnh có đánh nữa không?

Tôi lắc đầu:

- Anh quên rằng chúng ta đă chét rồi sao?

Andrew gật đầu đồng ư, rồi theo thói quen anh móc túi lấy thuốc lá ra hút nhưng dĩ nhiên không thể hút được. Anh lẩm bẩm chửi một hồi rồi than:

- Trời ơi, tôi không hút thuốc được nữa, có ǵ khổ bằng không được hút thuốc được nữa, như vậy là chết tôi rồi...

Tôi đập nhẹ lên vai anh nhắc nhở:

- Nhưng chúng ta đều đă chết rồi kia mà.

Andrew giật ḿnh sờ tay lên trán và la lớn:

- Trời ơi, làm sao đầu tôi lại lủng một lỗ lớn như thế nầy! Có ai băng bó dùm cho tôi, làm ơn gọi y tá cho tôi... Thôi chết rồi, lủng lỗ to như thế vầy th́ mất hết máu rồi c̣n ǵ...

Ngay lúc đó ông Jules bước đến bên Andrew. Ông vừa băng bó vừa thoa thuốc:

- Thuốc nầy thần diệu lắm, chỉ thoa vào là khỏi ngay, bảo đảm không có thẹo... Anh nh́n xem, vết thương lành rồi đó.

Andrew sờ tay lên trán. Vết thương đă hoàn toàn biến mất. Anh bật cười sung sướng:

- Hay thật! Hay thật! Làm sao lại có thứ thuốc kỳ diệu như vậy. Nầy bác sĩ, thuốc nầy chế tạo ở đâu vậy?

Ông Jules mỉm cười từ tốn:

- Nầy anh bạn, không phải thuốc nầy công hiệu đâu, tôi chỉ bày tṛ ra vậy thôi. Chính anh đă chữa lành cho anh đó. Bên nầy cơi của tư tưởng và do sức mạnh cua tư tưởng mà anh thấy ḿnh b́nh phục. Dù có mất cả tay chân nhưng khi nghĩ rằng ḿnh lành lặn th́ tự khắc sẽ lành lặn ngay. Điều đáng tiếc là nhiều người không biết vậy. Họ cứ nghĩ ḿnh đang đau đớn, khổ sở v́ cụt tay, cụt chân, cụt đầu và sống măi trong t́nh trạng khủng hoảng như vậy rất lâu. Chính cái tâm trạng đau khổ kéo dài đó sẽ tạo ra những nỗi ám ảnh trong tiềm thức, ảnh hưởng vào những kiếp sống mai sau. Cùn như thế, một người chết v́ nước, v́ lửa thường bị ám ảnh bởi những yếu tố nầy và sau đó thường sợ lửa hay nước. Điều anh cần biết là chính cái tâm trạng khi chết sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống ở kiếp sau, làm sao có thể chết một cách thoải mái, an lành, chấp nhận sự chết mà không chống lại nó. Nghệ thuật chết là làm sao không mong cầu kéo dài thêm đời sống, không hối tiếc về những điều có thể làm nhưng đă không làm, không giận hờn oán ghét bất cứ ai mà thanh thản bước qua cơi tư tưởng nầy một cách ung dung tự tại. Bây giờ anh đă biết cách chữa lành bệnh rồi, tôi nghĩ anh có thể giúp đỡ cho các bạn bè anh cũng vừa từ trần, họ rất đông và đang đau đớn, khổ sở cần được giúp đỡ. Các anh cần biết rằng, ở cơi nầy không có chiến tranh nữa, chúng ta có thể giúp đỡ nhau, d́u dắt nhau mà không sợ bị ngộ nhận hay hiểu lầm v́ các giá trị ở cơi trần qua đến bên nầy không c̣n nghĩa lư ǵ nữa. Tất cả mọi thứ như tiền bạc, địa vị, danh vọng, quyền lực đều có thể trở nên vô giá trị vĩnh cửu mà thôi. Andrew rụt rè đặt câu hỏi:

- Thưa ông, vậy gặp lính Đức th́ tôi phải làm sao? Ông Jules mỉm cười:

- Quân Đức cũng là bạn của anh và anh nên giúp đỡ họ.

Andrew nhăn mặt tỏ vẻ không đồng ư nhưng anh cũng cố gắng:

- Nhưng họ đâu biết tôi là bạn, nếu tôi gặp họ xông lại đánh th́ sao? Tôi cũng cần phải tự vệ chứ.

Ông Jules lắc đầu:

- Anh nên tránh đi. Ở cơi trần anh phải tự vệ chứ ở bên nầy th́ họ không thể làm ǵ được anh đâu. Dù họ có bao vây hay bắn anh cũng vô ích thôi. Anh vừa qua đây chưa hiểu hết mọi việc, anh nên nghe theo lời khuyên của tôi. Hiện nay chúng ta đang ở cơi tư tưởng, tất cả mọi hiện tượng vật chất hay đều không thể làm hại chúng ta được, v́ chúng ta đâu c̣n thân xác nữa. Nầy các bạn, những người vừa từ trần chưa biết điều đó. Họ đang đau khổ cần được an ủi, và anh hăy coi họ như một con người đang cần được giúp đỡ. Đừng nghĩ rằng họ là người Đức, người Mỹ hay người Pháp, sự phân biệt đó không có ư nghĩa ǵ ở cơi bên nầy cả. Cũng đừng nghĩ rằng họ là thù hay là bạn và các danh từ đó hoàn toàn vô giá trị mà chỉ nên nghĩ rằng có những người đang đau khổ cần được cứu giúp. Khi anh hàng động với cái tâm trong sạch, đầy bác ái, thương yêu th́ không một mănh lực ǵ có thể hại anh được. Nếu anh không oán ghét, giận hờn mà chỉ một ḷng thương xót, giúp đỡ người khác th́ luồn hào quang bao quanh anh sẽ trở nên sáng chói, kẻ hung á sẽ không dám nh́n anh chứ đừng nói ám hại anh. Dù anh ở bất cứ nơi đâu, anh cũng sẽ được Thượng Đế che chở v́ anh đang làm việc đúng với thiên ư.

Andrew vội vă đứng thẳng người lên theo thói quen của một quân nhân và nghiêm giọng:

- Xin tuân lệnh ngài.

Ông Jules mỉm cười quay về phía tôi:

- C̣n cháu Steve, công việc của cháu khác với Andrew. Thời gian cháu ở bên cơi nầy không c̣n lâu nữa, vậy cháu hăy cố gắng quan sát, học hỏi những ǵ cháu có thể học được. Cháu sẽ trở lại cơi trần.

Tôi ngạc nhiên kêu lớn:

- Cậu nói sao? Cháu sẽ trở lại cơi trần?

Ông Jules gật đầu:

- Đúng thế. Cháu chưa chết. Lúc trái ḿn nổ, cháu bị sức ép dồn ngay ngực nên tắt thở, cháu đă hôn mê mấy giờ liền nhưng t́nh trạng nầy sắp chấm dứt. Nhiệm vụ của cháu quan trọng hơn của Andrew, cháu sẽ tiết lộ cho nhân loại biết về những điều cháu đă họ hỏi được ở cơi nầy.

Tôi bối rối một lúc rồi rụt rè:

- Thưa cậu Jules, nếu cháu không chết, phải chăng đây chỉ là một giác mộng? Làm sao cháu có thể giải thích cho mọi người biết rằng cháu không chiêm bao? Làm sao cháu không bị mọi người lên án là bịp bợm hay điên loạn?

Ông Jules mỉm cười gật đầu:

- Không đâu! Đây không phải là một giấc mộng. Sự trở về của cháu rất quan trọng và hữu ích cho nhân loại, nhất là trong giai đoạn nầy. Cháu cứ làm hết sức ḿnh và nên nhớ c̣n có ơn trên phù hộ cho cháu nữa. Không bao lâu nữa cháu sẽ tỉnh lại và cậu sẽ giúp cháu nhớ lại những điều ở cơi nầy.

Tôi ngạc nhiên:

- Nếu cậu không giúp th́ khi tỉnh lại cháu sẽ quên hết sao?

Ông Jules gật đầu:

- Thông thường th́ người ta không nhớ được nhiều những chuyện xảy ra trong giấc ngủ. Trí óc con người sẽ thu xếp những dữ kiện nầy một cách lộn xộn vô trật tự và đầu óc phán đoán của con người sẽ không chấp nhận nó nên đa số đều loại bỏ những kư ức nầy. Cháu nên biết ngoài thể xác, c̣n có những thể khác nữa, mỗi thể đều có những giác quan riêng của chúng. Nếu không biết kiểm soát các thể nầy, các dữ kiện ở cơi tư tưởng sẽ bị ghi nhận một cách sai lạc, méo mó và trở nên mơ hồ lộn xộn, vô lư... Do đó con người ta sẽ không thể nào suy luận nó một cách hữu hiệu. Một lúc khác cậu sẽ giảng cho cháu nghe sau, bây giờ chúng ta hăy lên đường v́ thời gian không c̣n nhiều lắm đâu.

Tôi đi theo ông Jules đến một căn nhà nhỏ, trong nhà có một người đàn bà và hai đứa con nhỏ. Hai đứa bé đang đùa nghịch một cách vô tư nhưng người đàn bà th́ đang đau khổ. Bà vừa khóc hết nước mắt v́ nhận được giấy báo chồng bà vừa tử trận. Ngay lúc đó một quân nhân quần áo dính đầy máu bước vào. Ông nói với vợ:

- Nầy Emma, anh đă về đây.

Dĩ nhiên người đàn bà không nghe thấy ǵ vẫn ngồi khóc, nhưng hai đứa bé ngừng chơi kêu lên:

- Cha! Cha đă về!

Người đàn bà đưa tay bồng hai đứa bé và khóc lớn:

- Cha các con chưa về đâu.

Ông Jules nói với tôi:

- Cháu thấy không, hai đứa bé c̣n nhỏ, đầu óc vô tư và nhạy cảm nên chúng nhận ra ngay được sự sự hiện diện của cha chúng mặc dù mắt không nh́n thấy.

Ông quay ra nói với người quân nhân:

- Nầy anh bạn, chị nhà không thấy anh đau nhưng anh hăy đợi một lúc nữa khi chị ngủ, khi tâm hồn của chị thoải mái, không bận bịu hay bị chi phối bởi các tư tưởng tiêu cực th́ chị có thể tiếp xúc được với anh. Dĩ nhiên khi thức dậy chị sẽ không nhớ ǵ hết nhưng nếu anh khéo léo khuyên bảo th́ chị sẽ cảm thấy được an ủi rất nhiều. Anh đă hiểu và chấp nhận số phận nên anh không c̣n đau khổ bao nhiêu nhưng anh có thể giúp cho chị bớt đau khổ...

Người quân nhân cung kính nghiêng ḿnh trước ông Jules.

- Xin cám ơn ngài. Ngài đă giúp đỡ tôi và các anh em trong binh chủng của chúng tôi rất nhiều. Thay mặt các anh em, tôi xin cảm tạ ngài.

Ông Jules chỉ tay về phía tôi:

- Đây là thanh niên mà tôi đă nói với anh trước đây.

Người quân nhân bắt tay tôi một cách nồng nàn:

- Nhờ anh nói dùm với nhà tôi rằng "Bông hồng dù ở đâu cũng là bông hồng và lúc nào cũng đẹp hết". Anh cứ nói như vậy là nhà tôi hiểu. Sau đây là địa chỉ của nhà tôi...

Cậu Jules chờ tôi nói chuyện với người quân nhân kia xong rồi mới ra hiệu cho tôi đi theo. Lần nầy đă quen nên tôi lướt đi một cách nhẹ nhàng, hai chân tôi không hề đụng đất và chỉ thoáng giây chúng tôi đă đến căn nhà khác. Trong nhà có hai người già đang ngồi than khóc dưới ngọn đèn leo lét. Họ vừa nhận được điện tín báo tin người con trai của họ đă tử trận. Tuy nhiên họ không biết rằng anh nầy cũng đang có mặt trong nhà, dĩ nhiên dưới một dạng thể khác. Anh mặc bộ quân phục dính đầy máu, cố gắng tiếp xúc với cha mẹ nhưng không được nên rất đau khổ. Anh kêu lên:

- Trời ơi, mẹ tôi không nghe thấy tôi. Mẹ tôi tưởng tôi đă chết nhưng tôi vẫn c̣n sống kia mà. Làm sao tôi có thể nói cho mẹ tôi hiểu được đây!

Cậu Jules vỗ vai người quân nhân, an ủi:

- Anh hăy b́nh tĩnh. Tôi sẽ giúp anh nhưng trước hết anh hăy nghe tôi nói đă. Anh hăy nh́n bức h́nh chụp khi anh vừa tốt nghiệp trường vơ treo trên tường kia, khi đó anh mặc bộ quân phục mới và sạch sẽ, người không bị một vết thương nào, anh hoàn toàn khỏe mạnh, vui vẻ. Bây giờ anh hăy tưởng tượng rằng hiện nay anh cũng y hệt như thế.

Người quân nhân làm theo lời ông Jules. Lạ thay chỉ trong một thoáng giây sau anh đă mặc một bộ quân phục mới tinh. Gương mặt anh hết đau khổ, nhăn nhó mà trở nên sáng sủa, tươi tắn. Các vết thương trên thân thể anh hoàn toàn biến mất. Chính người quân nhân cũng ngạc nhiên về sự kiện nầy nên anh sững người một lúc rất lâu trước khi quay nh́n về phía cha mẹ. Cậu Jules nói tiếp:

- Anh hăy nghĩ đến tâm trạng của anh trong ngày tốt nghiệp đó. Anh đă hănh diện và sung sướng biết bao, phải không? Bây giờ anh hăy hồi tưởng hoàn cảnh tốt đẹp lúc đó rồi đến bên cạnh cha mẹ anh, chia sẻ sự sự sung sướng đó với họ. T́nh thương có một sức mạnh an ủi phi thường, anh hăy làm như tôi nói đây...

Người quân nhân làm y hệt như lời khuyên, và tôi thất rơ một luồng hào quang từ thân thể anh ta lan tỏa ra, lan rộng khắp pḥng, bao bọc cả hai người già đang ngồi đó. Tự nhiên bà mẹ bớt khóc và trở nên b́nh tĩnh hơn. Bà nói với chồng:

- Henri, tôi có cảm giác rằng con ḿnh không đến nỗi nào, chắc nó được ơn trên phù hộ... Tôi chắc nó thế nào cũng được ơn trên phù hộ.

Ông già cũng ngưng khóc. Ông nh́n vợ một lúc rồi nhẹ nhàng:

- Có lẽ bà nói đúng. Chúng ta hăy cầu nguyện Thượng Đế.

Cả hai bước đến bên thánh giá treo trên tường và quỳ xuống cầu nguyện. Người quân nhân cũng bước đến quỳ bên cha mẹ. Tự nhiên căn pḥng bỗng bừng sáng lên một thứ ánh sáng chói lọi, tinh khiết khiến tôi cũng cảm thấy sung sướng, thoải mái lây. Cậu Jules nói với tôi:

- Cháu thấy không, sự đau khổ của người chết có thể ảnh hưởng đến người sống và ngược lại, nếu người sống đau khổ, than khóc th́ họ cũng ảnh hưởng rất nhiều đến người chết. Điều quan trọng lúc nầy là phải làm sao để giúp cho họ b́nh tĩnh trở lại, sáng suốt ư thức về sự việc đang diễn ra. Một phương pháp rất hữu hiệu là gợi lại cho họ những kỷ niệm đẹp nhất, những cảm giác sung sướng nhất, để giúp họ thoát khỏi th́nh trạng hoảng hốt kia. Chỉ khi nào họ thoải mái an lạc và sáng suốt th́ cháu mới có thể giúp đỡ họ được. Người quân nhân nầy là sĩ quan trường vơ bị, từ nhỏ đă say mê binh nghiệp, ngày tốt nghiệp là ngày anh sung sướng nhất v́ đă thỏa măn được niềm mong ước từ trước. Biết cách nhắc nhở anh ta hồi tưởng lại kỷ niệm đó để anh b́nh tĩnh trở lại, thoát khỏi ảnh hưởng đau khổ của cái chết, giảm bớt sự giằng co quyến luyến với gia đ́nh th́ anh mới có thể siêu thoát được.

- Nhưng siêu thoát là thế nào?

Ông Jules mỉm cười:

- Con người là một thực thể phức tạp gồm có nhiều thể khác nhau chứ không phải chỉ có thể xác mà thôi. Điều nầy khoa học không thể giải thích rơ rệt v́ đối tượng của khoa học chỉ xây dựng trên căn bản của các giác quan thuộc về thể xác, vốn hết sức giới hạn. Khi xác thân không c̣n sử dụng được nữa, các thể khác cần được giải phóng ra khỏi xác thân càng sớm chừng nào càng hay chừng đó, đó là sự siêu thoát. Cháu nên biết rằng tâm trạng con người khi từ trần hết sức quan trọng v́ nếu có sự quyến luyến th́ sự giải phóng nầy sẽ bị tŕ hoăn lại rất lâu, gieo các ấn tượng đau khổ lên các thể kia, và ảnh hưởng đến các kiếp sống mai sau. Đó cũng là lư do người ta cần tránh than khóc, kêu gọi kể lể trong các đám tang mà phải b́nh tĩnh đặt hết tâm hồn vào sự cầu nguyện cho người quá cố được siêu thoát. Cháu nên biết rằng tâm trạng con người khi từ trần hết sức kinh khủng đối với những ai tin rằng chết là mất hết tất cả. Đa số đều bám vào sự sống một cách tuyệt vọng. Có người cho rằng có một thế giới khác, một cảnh âm ty địa ngục ghê sợ, đang chờ đón họ nên họ nhất định không chịu từ bỏ cơi trần. Do đó có một sự phấn đấu mạnh mẽ giữa phần thân xác sắp tan ră và phần tâm linh cố gắng giữ nó lại. Đó cũng là lư do nhiều người cứ hấp hối măi mà không chết được, họ ở t́nh trạng không sống mà cũng không chết (comatose). Sau khi chết, nhiều người cứ quanh quẩn bên cái xác thân của ḿnh, dù thấy xác thân đó đă rữa ra, bị gịi bọ đục khoét cho đến khi xác thân hoàn toàn tan ră th́ mới siêu thoát được. T́nh trạng nầy có thể kéo dài nhiều năm, gieo vào tâm thức người đó những ấn tượng hết sức ghê gớm, đau khổ và sự ám ảnh nầy sẽ ảnh hưởng nhiều đến cá tính của người đó trong kiếp sau.

Sau khi cầu nguyện xong, người quân nhân bước đến cạnh cậu Jules:

- Cám ơn ngài đă giúp cho tôi và cha mẹ tôi. Bây giờ tôi phải làm ǵ?

- Anh hăy đợi khi cha mẹ anh ngủ say, khi các giác quan thể xác của cha mẹ anh tạm thời yên nghỉ th́ anh có thể tiếp xúc được với hai ông bà ở một b́nh diện khác. Điều cần nhất là chính anh phải có sự thoải mái, b́nh an đă rồi anh mới có thể an ủi được cha mẹ anh, giúp họ bớt đau khổ.

Người quân nhân gật đầu như hiểu lời khuyên bảo:

- Xin cám ơn ngài. Nếu cha mẹ tôi bớt đau khổ th́ tôi có thể yên tâm được rồi.

- Anh cứ yên tâm. Tôi biết cha mẹ anh sẽ được thoải mái. Ông bà đă biết chấp nhận và đặt tất cả vào bàn tay Thượng Đế. Một khi đă để cho Thượng Đế hành động th́ mọi sự sẽ tốt đẹp. C̣n về phần anh, chút nữa có một thiếu nữ tên là Marjorie sẽ đến gặp anh. Cô ta sẽ giúp đỡ và hướng dẫn anh. Anh nên nghe theo lời khuyên của cô ấy.

Cậu Jules giới thiệu tôi với quân nhân kia và nói rơ về trường hợp đặc biệt của tôi. Người quân nhân mừng rỡ xiết chặt tay tôi:

- Nếu anh có thể ghé thăm cha mẹ tôi và nói với ông bà rằng "Robbie vẫn khỏe mạnh như thường". Tên tôi là Robert, bạn bè thường gọi là Rob nhưng cha mẹ tôi lại thích gọi tôi là Robbie, đây là một tên riêng chỉ cha mẹ tôi biết mà thôi. Đây là địa chỉ của cha mẹ tôi...

Sau khi giă từ người quân nhân đó, ông Jules và tôi tiếp tục đi nữa. Vừa ra đến đường chính, tôi nh́n thấy một xe chở lính Đức đi ngang. Tôi giật ḿnh kêu lớn:

- Cậu ơi! Lính Đức ḱa!

Cậu Jules mỉm cười:

- Phải rồi chúng ta đang ở tại nước Đức nhưng cháu đừng lo, họ không trông thấy chúng ta đâu. Cháu quên rằng chúng ta đâu c̣n thể xác nữa.

Chúng tôi thấy một ông già gầy g̣, quần áo nhàu nát, đầu đội nón nỉ, vẻ mặt đau khổ đang đứng trước một căn nhà. Cậu Jules nói:

- Đó là Lebowitz, một thương gia giàu có đă qua đời từ mấy năm nay nhưng không siêu thoát v́ c̣n quyến luyến tài sản, sự nghiệp.

Ông già ngước cặp mắt lờ đờ nh́n cậu Jules rồi nói một cách buồn bă:

- Thưa ông, căn nhà nầy do chính tôi xây cất, chính tôi đă lựa chọn từng ḥn gạch, từng khúc gỗ. Hăy nh́n cái cửa bằng gỗ sồi kia, chính tay tôi đă chọn từ bên Đan Mạch, c̣n chiếc cửa sổ bằng kính màu nữa, nó đă được hoàn tất bởi những thợ giỏi nhất miền Florence... Căn nhà nầy của tôi và tôi không thể bỏ nó được.

Cậu Jules nh́n ông già bằng cặp mắt thương hại rồi nói với tôi:

- Năm trước, chính quyền Đức ra lệnh cho người Do Thái phải rời bỏ khu nầy để tập trung vào một khu biệt lập. Ông Lebowitz Không chịu nên bị họ đánh trọng thương. Tuy mang thương tích trầm trọng nhưng ông nhất định không vào bệnh viện điều trị mà cứ bám riết căn nhà nên vài hôm sau bị nhóm SS giết chết. Từ đó ông cứ quanh quẩn bên căn nhà nầy. Tôi bèn hỏi:

- Như vậy ông ấy sẽ ở đây đến bao giờ?

- Ông ta sẽ tiếp tục ở t́nh trạng nầy cho đến khi nào ḷng quyến luyến kia tiêu tan hết. Có thể là một vài năm, chục năm hay có khi lâu hơn thế nữa.

Cậu Jules nói với ông già:

- Nầy ông bạn, ông bạn đă chết rồi, đă rời bỏ thế giới nầy rồi th́ c̣n quyến luyến căn nhà đó làm chi nữa! Hiện nay căn nhà đó đă thuộc về người khác rồi...

Ông lăo khăng khăng lắc đầu:

- Không... Không... đây là nhà của tôi, sống tôi ở với nó, chết tôi cũng ở với nó. Không ai có thể buộc tôi rơi bỏ nó được.

Ngay lúc đó có một nhóm người từ đâu bước tới mở cửa bước vào nhà. Ông Lebowitz xông ra cản lại nhưng không được. Ông vừa xô đẩy họ vừa quát lớn:

- Quân ăn cướp! Đồ sát nhân! Bọn ngươi hăy cút khỏi nhà của ta!

Dĩ nhiên là những người đó đâu hay biết, họ vẫn thản nhiên bước vào mặc cho ông già la hét om ṣm. Cậu Jules thở dài:

- Một ngày nào đó ông ta sẽ hiểu và sẽ hối tiếc cho sự điên rồ nầy.

- Phải chăng người chết nào cũng thế?

Cậu Jules lắc đầu:

- Không hẳn như thế. Sau khi chết, người ta bước vào một giai đoạn chuyển tiếp (transition period), khi các điều kiện vật chất mà họ thường bám víu vào đang từ từ tan ră và một thế giới mới lạ bắt đầu hiện rơ dần. Cái thế giới của ánh sáng, nhiều người gọi đây là "cơi sáng" cũng không sai. Đây không phải là thứ ánh sáng như là ánh sáng mặt trời, mà là một thứ ánh sáng rọi khắp cũng mọi nơi, không một cái ǵ có thể che khuất được nó. Một người có tâm trạng xấu xa, hèn kém th́ không dám nh́n thứ ánh sáng nầy và thường tránh né nó, nhưng một người hiền lành thánh thiện th́ thoải mái hơn v́ họ biết chấp nhận sự thật. Dù sao chăng nữa khi từ giă xác thân, ai cũng thấy bầu ánh sáng nầy và nó soi rơ tâm thức họ, cho họ thấy rơ các diễn tiến vừa xảy ra trong cuộc đời vừa qua. Họ sẽ thấy ḿnh thành công chỗ nào, đă học hỏi được những ǵ. Họ sẽ thấy lại những cảnh đổ máu do chính họ gây nên hay những đau khổ mà họ đă gây cho người khác. Họ cũng ư thức được các hành vi nhân đức, hy sinh, quả cảm của ḿnh và rút tỉa kinh nghiệm học hỏi. Dần dần họ ư thức rằng các hành động trong quá khứ đă đưa đẩy họ đến hoàn cảnh trong cuộc sống của họ trong kiếp nầy và hành động của họ trong kiếp nầy sẽ quyết định số kiếp tương lai của họ. Sau khi đă duyệt xét lại tất cả mọi hành động cua ḿnh, họ sẽ ó những quyết định riêng, dù đó là quyết định ǵ chăng nữa đó cũng la bước đầu quan trọng của sự tự biết ḿnh. Chính sự tự biết ḿnh nầy là khởi điểm cần thiết cho sự tiến hóa của con người.

Một người hiền lành nhân ái, biết sống thuận theo thiên ư khi qua đời sẽ thấy một biển ánh sang bao bọc quanh họ. Lớp ánh sáng nầy thâm nhập vào người họ khiến họ cảm thấy lâng lâng sung sướng dường như được gia tăng thêm sức mạnh. Thật ra khi đó các nguyên tử nặng trược trong thể vía của họ đang tan ră nên họ thấy trẻ trung hơn, thoải mái hơn, b́nh an hơn và không c̣n sợ sệt lo lắng nữa. Chính sự không sợ hăi lo lắng nầy giúp họ tiến dần vào nguồn ánh sáng, ḥa hợp được với các tư tưởng thanh cao tốt lành và đem nguồn tư tưởng an lành đó gieo rắc cho những người thân đang than khóc, đau buồn để an ủi họ. Tuy nhiên, người chết như vậy ít khi nào lưu lại cơi trần lâu, v́ một khi nhăn quan của họ đă mở rộng, đă thấy một thế giới khác tốt đẹp hơn, huy hoàng hơn, an lành thoải mái hơn th́ đâu c̣n ai muốn trở về cái thế giới đầy phiền muộn lo lắng ngày trước làm ǵ. Tuỳ theo sự tiến hóa và khả năng phát triển mà họ được dẫn dắt, học hỏi chân lư một cách rơ ràng. Họ sẽ không c̣n ngờ vực điều ǵ nữa, những giác quan mới của họ được thức động và một gian đoạn sống mới sẽ bắt đầu.

Một người b́nh thường, đời sống không có ǵ đặc biệt, không làm điều ǵ quá xấu hay điều thiện đáng kể th́ khi từ trần sẽ không được như thế. Mặc dù cũng nh́n thấy ánh sáng huy hoàng của Thượng Đế nhưng đa số lại do dự, rụt rè, không ư thức rằng họ có thể ḥa nhập vào đó để tiến lên cơi trên mà cứ quanh quẩn ở trong các cảnh giới quen thuộc với họ. Một người khi c̣n sống không biết chăm lo phát triển về tinh thần mà chỉ lo những chuyện vẩn vơ tầm thường, sống không có mục đích rơ rệt, th́ sẽ thấy thời gian bên nầy trôi qua rất chậm, ngày giờ dài đăng đẳng, bởi v́ những chuyện giải trí bằng vật chất xa hoa kia không thể thực hiện được nữa. Họ sẽ t́m cách quanh quẩn bên những môi trường quen thuộc nhưng rất đau khổ v́ không thể tiếp xúc với người thân hay thỏa măn các dục vọng được nữa. Họ sống vất vưởng trong một bầu không khí ảm đạm, buồn chán không thể siêu thoát được và luôn luôn bị ám ảnh bởi cái chết hay tâm trạng lúc chết. Nếu được một người nào đó giúp đỡ hướng dẫn th́ họ có thể từ bỏ sự lưu luyến nầy để tiến lên cơi trên, nếu không họ có thể sống một cách bất động trong hoàn cảnh nầy rất lâu.

- Như vậy người ta sống tại đây lâu mau như thế nào?

- Thời gian lưu tại đây tùy theo các nguyên tử vật chất tích tụ trong thể vía của họ. Nếu các nguyên tử vật chất tiêu biểu bằng sự ham muốn, đam mê, cảm xúc và tập quán của xác thân thu hút những nguyên tử của vật chất tương ứng. Tâm thức của con người chẳng qua chỉ là những rung động của những nguyên tử và sự rung động nầy tương ứng với những cảnh giới khác nhau. Một người hoàn toàn sống buông thả, mặc cho dục tính lôi cuốn, không phát triển chút nào về trí thức hay tinh thần th́ sẽ thu hút các nguyên tử nặng trước, có sức rung động khít khao, rất khó tan ră, do đó họ sẽ phải trải qua thời gian rất lâu tại những cảnh giới ô trược, xấu xa. Trái lại, một người đă chủ trị được dục vọng, ít ham muốn th́ thể vía trong sạch, thanh nhẹ, không cần phải tinh luyện ǵ nữa, phần nặng trược sẽ mau tan ră và họ có thể tiến bước lên những cơi giới cao hơn. Cậu Jules đặt tay lên vai tôi một cách thân ái.

- Cháu Steve, cậu đă chỉ cho cháu thấy một vài khía cạnh của đời sống bên kia cửa tử. Một số người tưởng rằng chết là hết, là sự vĩnh viễn chia ĺa và bây giờ cháu thấy rơ đó là một sự sai lầm rất lớn. Chúng ta là con của Thượng Đế, được tạo ra từ ngài nên dĩ nhiên là không bao giờ chúng ta có thể chết được. Kiếp sống của chúng ta trên thế gian nầy thật ra chỉ là một phần nhỏ của một đời sống lớn lao, cao cả hơn. Xuyên qua những kiếp sống, chúng ta học hỏi và tiến hóa để trở về với nguồn gốc, với Thượng Đế. Mục đích của đời người là hướng thượng và mỗi kiếp sống phải là một bước tiến trở về nguồn. Nếu con người có thể hiểu được các định luật bất biến của vũ trụ hay luật trời th́ họ sẽ biết rằng chẳng có một hung thần hay ác quỷ nào tạo ra các nỗi khổ đau cả mà chính là con người thiếu hiểu biết đă vi phạm các định luật nầy. Hiểu được luật trời, biết tuân theo luật trời, biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau th́ con người có thể tránh được bao nhiêu đau khổ, bao nhiêu phiền năo.

Trong lúc ông nói, vầng hào quang bao phủ quanh ông phát ra những tia sáng chói lọi, lấp lóe như kim cương. Cậu Jules mỉm cười:

- Sắp đến lúc cháu trở lại cơi trần và Marjorie cũng muốn nói với cháu vài lời từ biệt nên cậu chỉ vắn tắt thôi. Cháu nên nhớ những điều cháu được chứng kiến và học hỏi nơi đây không phải là một giấc mộng hăo huyền mà là sự thật. Điều cháu học hỏi không phải là một đặc ân nào đâu nhưng chính nhờ đức hạnh của cháu. Cháu và cậu đă làm việc với nhau từ lâu, từ nhiều kiếp sống trong quá khứ, hiện nay cháu không nhớ được bao nhiêu nhưng sẽ có lúc cháu biết được những điều cháu đă làm cũng như những hạnh nguyện của cháu. Ư thức được điều nầy, nhiệm vụ của cháu sẽ c̣n quan trọng hơn trước rất nhiều. Chúng ta tạm thơi chia tay ở đây, trong một thời gian không lâu nữa chúng ta sẽ gặp lại nhau và sẽ làm việc chung với nhau.

Cậu Jules vừa dứt lời th́ tôi đă thấy Marjorie từ xa đi đến. Cô lướt đi nhẹ nhàng như một người khiêu vũ. Quanh cô có một bầu ánh sáng chói lọi khiến tôi không khỏi ngây ngất. Marjorie liến thoắng:

- Nầy anh Steve, anh hiểu điều cậu Jules nói rồi chứ?

- Đại khái anh cũng hiểu được đôi ba điều nhưng cậu Jules nói là anh sắp phải trở về... Như vật làm sao anh có thể gặp lại cậu Jules hay em đây?

- Anh đừng lo. Em sẽ đến gặp anh mỗi khi anh ngủ. Nếu cần anh cứ tập trung tư tưởng trước khi anh ngủ để nghĩ đến em th́ em sẽ đến gặp em ngay. Thôi, đă đến lúc anh phải trở về rồi...

Tự nhiên tôi thấy mệt mỏi một cách lạ lùng, ngực tôi đau nhói và hơi thở trở nên khó khăn khiến tôi đưa tay ôm lấy ngực. Tai tôi c̣n nghe văng vẳng tiếng Marjorie:

- Tạm biệt anh Steve, chúng ta sẽ gặp lại nhau...

Khi tỉnh dậy, tôi biết ḿnh đă hôn mê gần một ngày. Cô y tá trực kể rằng tưởng tôi đă chết, người ta đă đem tôi xuống nhà xác để tẩm liệm nhưng may thay tôi tỉnh dậy kêu la om ṣm. Bác sĩ khám nghiệm, xác nhận tôi c̣n sống và cho chuyển lên pḥng hồi sinh. Cô y tá kể lại rằng tại sao tôi không có hào quang. Tưởng tôi c̣n mê sảng nên cô nhẹ nhàng hỏi tôi muốn nói hào quang nào. Tôi trả lời rằng tại sao cô ta không toát ra hào quang giống như Marjorie. Nghi rằng tôi muốn t́m một người tên Marjorie nên cô trả lời rừng cô là Louise Clayton, và ở đây không có ai tên là Marjorie hết, phải chăng tôi muốn t́m một người tên là Marjorie. Tuy nhiên tôi lại nói rằng Marjorie đă chế từ lâu rồi nhưng tôi đă gặp lại cô ta, quanh người cô ta toát ra hào quang và lúc nào cũng lướt đi như khiêu vũ vậy. Cô y tá cho rằng tôi đă nói mê nhưng tôi nhấn mạnh tôi không mê sảng chút nào cả. Tôi gặp cậu Jules và Marjorie mặc dù cả hai đă chết từ lâu. Tôi c̣n thấy Hạ sĩ AnDrew Shaw bị trúng đạn ở trán trên chiến trường Âu châu, gặp Thượng sĩ Lawrence Sorgen và trung úy Robert Stevenson, cả hai đều tử trận hôm đó. Thấy vậy người y sĩ trực ra lệnh cho cô y tá trích cho tôi một liều thuốc ngủ.

Hai hôm sau, khi tôi hoàn toàn tỉnh táo th́ Louise Clayton bước vào:

- Hôm trước trong lúc mê sảng ông nói rằng ông thấy Andrew Shaw, Lawrence Sorgen và Robert Stevenson bị trúng đạn và tử trận ở Châu âu...

- Đúng thế.

Louise Clayton im lặng nh́n tôi và đưa ra một bản báo cáo mới nhất của bộ Quốc Pḥng thông báo tên những quân nhân tử trận và dĩ nhiên có cả ba người nầy. Việc một người bị hôn mê bất tỉnh tại North Carolina biết được những sự kiện xảy ra trên chiến trường Châu âu quả là một việc kỳ lạ. Tôi bèn kể lại những diễn tiến một cách chi tiết từ khi tôi bị ngất đi cho Louse nghe. Mặc dù cô y tá nầy không lấy ǵ làm tin tưởng cho lắm nhưng cô cũng không thể giải thích v́ sao tôi lại biết tên ba người quân nhân đă từ trần kia. Thật ra lúc đó trong thâm tâm tôi cũng không lấy ǵ làm chắc chắn, phải chăng tôi đă tưởng tượng hay mê ngủ? Không hiểu v́ sao tự nhiên tôi lại nảy ra một ư nghĩ lạ lùng:

- Nầy cô Clayton, xin cô hăy đợi đến sáng ngày mai rồi tôi sẽ nói chuyện với cô rơ hơn về việc nầy. Tôi biết cô không tin và tôi cũng không chắc là tôi đă nói đúng nhưng tôi nghĩ nếu tôi không tưởng tượng ra việc nầy th́ ngày mai chúng ta có thể nh́n nó dưới một khía cạnh khác.

Ngày hôm sau tôi rủ Louise ra ngồi ở chiếc ghế bên ngoài sân bệnh viện. Tôi nói:

- Nầy cô Louise, hôm đó khi vừa tỉnh dậy tôi có nói với cô về hào quang chi đó. Dĩ nhiên cô nghĩ rằng tôi đă nói mê sảng nhưng khi lên pḥng bà y tá trưởng để phúc tŕnh về bệnh t́nh của tôi, cô kể lại chuyện nầy cho bà đó nghe. Lúc đó v́ đang xem một hồ sơ bệnh lư nên bà y tá trưởng không hề ngước mắt lên nh́n cô mà chỉ nói: "Chắc ông đó c̣n mê sảng chứ làm ǵ có ai có hào quang". Sau đó cô rời pḥng trở về, trên hành lang cô gặp một quân nhân ngă trẹo chân ở sân tập nên cô bước phụ giúp việc băng bó cho anh ta. Liệu tôi nói có đúng không? Louise Clayton hoảng hốt không sao trả lời được:

- Ông Buckley, tại sao ông biết được chuyện đó? Khi ấy tôi đă chích cho ông một liều thuốc ngủ và ông đă ngủ li b́ kia mà!

- Đúng thế, tôi không biết ǵ về chuyện đó cả, nhưng hôm qua khi chúng ta đang nói chuyện với nhau th́ cô tỏ ra không tin. Phần tôi cũng thế, tôi đă suy nghĩ rất nhiều về chuyện nầy và không biết rằng tôi đă mê hay tỉnh đây. Tôi nhớ lại lời dặn của Marjoire nên đêm qua trước khi đi ngủ tôi đă tập trung khi nghĩ đến cô nầy. Tôi nghĩ rằng điều tôi đă kinh nghiệm thật mơ hồ, không có bằng chứng va chắc nói ra cũng không có ai tin, không chừng người ta c̣n cho tôi là loạn trí. Tuy nhiên sáng nay th́ tôi chắc rằng tôi không mê nữa, tôi đă gặp lại Marjoire trong giấc ngủ và cô ta đă dặn tôi kể lại điều nầy cho cô nghe.

Louise Clayton im lặng một lúc rồi nói:

- Marjoire c̣n nói ǵ nữa?

- Marjoire nói rằng được cô chăm nom săn sóc là một việc rất quư. Đây không phải là một việc ngẫu nhiên đâu mà có sự thu xếp để cô săn sóc tôi. Cô là một người có ḷng từ ái, làm việc thoải mái, chân thành và có những rung động thanh cao, rất tốt cho việc phục hồi sức khỏe của các bệnh nhân. Từ nhỏ cô thích âm nhạc và muốn trở nên một nhạc sĩ dương cầm, nhưng lúc chiến tranh xảy ra, cô t́nh nguyện trở nên một y tá để góp phần vào việc chăm sóc, an ủi các thương bệnh binh... Marjoire nói rằng cô sẽ giúp tôi rất nhiều nếu cô tin rằng điều tôi kể không phải là do tưởng tượng.

Louise Clayton giật ḿnh. Cô suy nghĩ một lúc rồi hỏi:

- Theo như ông nói th́ Marjoire có một nhiệm vụ ở cơi bên kia?

- Đúng thế. Marjoire được giao phó nhiệm vụ giúp đỡ những người vừa từ trần c̣n đang hoang mang, hốt hoảng. Cô ấy giúp họ b́nh tĩnh, thoải mái để chấp nhận sự thật là họ đă bước qua thế giới khác, rồi khuyên họ hăy xả bỏ những ràng buộc với cơi nầy để siêu thoát.

- Thế c̣n nhiệm vụ của ông?

- Cậu Jules nói rằng nhiệm vụ của tôi là giúp đỡ những người sống v́ những người đă chết không giúp được người sống, chỉ những người c̣n sống mới có thể khuyên bảo được người sống mà thôi.

- Như vậy ông sẽ làm ǵ?

- Tôi sẽ giúp những người sống hiểu biết về thế giới bên kia, biết rằng chết không phải là hết như mọi người thường nghĩ. Kiếp sống của chúng ta thật ra chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi của một tiến tŕnh rất dài. Mục đích của cuộc đời không phải là tranh dành, chém giết để đoạt lấy một địa vị, tài sản nhưng để học hỏi về thương yêu. Chúng ta được tạo ra trong t́nh thương của đấng sáng tạo và bản chất thật sự của chúng ta là thương yêu nhưng v́ không ư thức được điều nầy nên càng ngày chúng ta càng hành động trái với mục đích được tạo ra từ ban đầu. Cũng v́ thế cuộc đời thường có những biến động để nhắc nhở chúng ta rằng cai mà chúng ta tưởng là những giá trị lớn lao thật ra chỉ là những bọt nước hời hợt, chóng thành chóng hoại. Sự chết là một giai đoạn cần thiết trong tiến tŕnh của sự sống để con người duyệt xét lại những việc làm của ḿnh, rút kinh nghiệm để học hỏi, rồi chuẩn bị cho sự tái sinh. Sở dĩ chúng ta không thấy được cơi chết v́ giác quan thể xác của chúng ta rất giới hạn, nếu biết nâng cao tâm thức, khai mở được những giác quan của thể vía, v́ chúng ta có thể tiếp xúc được với cái thế giới bên kia cửa tử nầy. Thật ra các giác quan thể vía vẫn hoạt động âm thầm nhưng v́ chúng ta đă quen sử dụng các giác quan của thể xác nên chúng ta ít chú ư đến các giác quan kia. Tuy nhiên khi giác quan của thể xác tạm thời yên nghỉ, như lúc chúng ta ngủ chẳng hạn, th́ các giác quan của thể vía sẽ hoạt động mạnh mẽ hơn. Nó có thể đi khắp đó đây, giao thiệp, tiếp xúc và học hỏi trong thế giới riêng của nó. Dĩ nhiên khi thức dậy người ta không nhớ ǵ hết và cây cầu tâm thức nối giữa thể vía và thể xác chưa được khai mở nên ta chỉ có các ấn tượng mơ hồ, không rơ rệt. Nhờ cậu Jules nhắc nhở, tôi được biết trong tiền kiếp tôi đă từng tập luyện và khai mở được cây cầu tâm thức nầy, nhưng v́ tôi đă không ư thức ǵ đến nó cho đến khi quả ḿn nổ, gây chấn động đến những trung tâm huyền bí trong cơ thể tôi và thức động khả năng nầy. Qua sự chỉ bảo và hướng dẫn của cậu Jules, tôi có thể tiếp xúc với cơi giới vô h́nh trong giấc ngủ và khi tỉnh dậy vẫn nhớ được mọi sự một cách rơ rệt vi cây cầu tâm thức đă được khai mở.

- Nhưng làm sao người ta có thể tin được điều nầy khi họ không thể nh́n thấy hay tiếp xúc được với cơi giới bên kia.

- Sở dĩ mọi người không thấy được cơi giới nầy v́ họ chỉ quen sử dụng các giác quan thông thường của thể xác, vốn cấu tạo bằng nguyên tử của cơi vật chất, không đồng chất với cơi giới bên kia. Tuy nhiên chúng ta không nh́n được, sờ được, nghe được ngửi được hay nếm được th́ không hiện hữu. Biết bao nhiêu thứ vẫn hiện hữu mà các giác quan nầy đâu có thấy đâu. Chúng ta đâu có nh́n thấy không khí mà không khí vẫn hiện hữu. Khoa học đă chứng minh có những sinh vật rất nhỏ bé như vi trùng nhưng nếu không có kính hiển vi th́ đâu ai nh́n thấy chúng. Tóm lại, nếu chấp nhận rằng sự hiểu biết dựa trên ngũ quan của chúng ta c̣n thiếu xót th́ con người sẽ khiêm tốn hơn và có thể học hỏi được nhiều điều mới lạ.

- Anh đă học hỏi được những ǵ?

- Sự học hỏi của tôi c̣n nhiều thiếu sót nhưng đại khái thoạt đầu tôi thấy cơi giới bên kia nhưng không có ǵ khác biệt so với cơi mà chúng ta đang sống. Theo lời Jules th́ đây cũng là cảnh giới đối phần (mirror image) của cơi trần, do đó người chết vẫn có thể thấy rơ tất cả mọi sự xảy ra chung quanh họ như nhà cửa, đường xá, bạn bè, thân quyến. Ty nhiên tất cả những thứ nầy đều là ảo ảnh v́ cái mà họ thấy chỉ là h́nh ảnh chứ không phải là thực, do đó tuy có thể cảm thấy mọi sự vật nhưng vẫn không thể liên lạc hay tiếp xúc được với những người thân. Dĩ nhiên họ vô cùng khổ sở hay đau đớn trong một thời gian, tùy theo t́nh cảm nhiều hay ít, nhưng dần dần họ sẽ dứt bỏ được các ràng buộc nầy để biết rơ hơn về sự liên hệ giữa họ và những người thân đó. Một khi đă hiểu được nguyên nhân sâu xa của những liên hệ nầy th́ họ sẽ ư thức rơ rệt hơn các định luật bất biến của vũ trụ, từ đó sự học hỏi thực sự bắt đầu...

- Nhưng... nhưng c̣n địa ngục?

- Đó là một tin tưởng sai lầm đă tạo ra nhiều nỗi lo sự một cách vô ích, nếu một kẻ ác xuống địa ngục bị quỷ sứ hành hạ, thiêu đốt thân thể, đánh đập tan xương nát thịt th́ xin hỏi khi chết thịt xương đă thối nát rồi, c̣n đâu mà hành hạ?

- Như vậy những kẻ hung ác không phải xuống địa ngục hay sao?

- Các thuyết về sự hiện hữu của một nơi gọi là địa ngục đă gây nhiều tai hại v́ khi nói đến địa ngục, người ta thường nghĩ rằng đó là một thế giới ở giữa ḷng trái đất với một nhóm các quỷ sứ hết sức dữ dằn, chuyên trừng trị những kẻ phạm tội. Thật ra chẳng có ai trừng phạt ai hết v́ địa ngục hay thiên đàng chỉ là một trạng thái của tâm thức. Nếu biết sống một cách thoải mái, yêu thương th́ thế giới nầy vốn là thiên đàng rồi, c̣n ngược lại nếu cứ sống với những khổ đau oán hận th́ nơi đây có khác chi là địa ngục!

Từ đó Louise Clayton thường hay đến gặp tôi để nghe về những kinh nghiệm học hỏi của tôi ở cơi bên kia. T́nh thân ái giữa chúng tôi bắt đầu nẩy nở. Tuy không nói ra nhưng chúng tôi đều hiểu được t́nh cảm của nhau cho đến khi thời gian điều trị chấm dứt, tôi trở lại quân trường và được đưa ra mặt trận Âu châu. Vào lúc đó trận chiến đă tàn, quân đội Đồng Minh đă giải phóng được nhiều nước Âu châu và đang trên đường tiến về Bá Linh. Đơn vị của tôi trú đóng tại nước Pháp, giữ nhiệm vụ tiếp tế cho đơn vị khác. Tuy công việc hàng ngày rất bận rộn nhưng tôi vẫn áp dụng phương pháp của cậu Jules đi an ủi những người vừa từ trần. Hôm đó chúng tôi đi ngang qua một quán rượu, cậu Joles chỉ một đám người đang chen chúc quanh đó.

- Cháu thấy không, đó là vong linh những kẻ nghiện ngập rượu. Khi c̣n sống họ nghiện rượu nên khi chết dục vọng đó vẫn tiếp tục chi phối khiến họ vô cùng đau khổ. Khi c̣n thể xác, uống rượu nhiều quá cơ thể không chịu nổi sẽ lăn ra ngủ, dục vọng tạm thời ngưng hoạt động. Khi chết, dục vọng được tự do biểu lộ, không c̣n thể xác kiềm chế nữ, nó nung nấu tâm can kẻ nghiện khiến lúc nào y cũng thèm khát đến phát điên phát cuồng. Do đó những vong linh nầy thường lân la quanh các trà đ́nh, tửu quán để thưởng thức mùi rượu, nhưng v́ không c̣n thể xác để thỏa măn sự ham muốn đó nên dục vọng càng ngày càng gia tăng dữ dội khiến vong linh hết sức khổ sở.

Tôi thấy một số binh sĩ đang uống rượu trong quán, có người uống nhiều quá, nôn mửa đầy xuống đất. Các vong linh nghiện rượu xô đẩy nhau chạy đến cúi sát xuống mặt đất để được hít những chất rượu thối tha nầy. Họ say mê hít hơi rượu một cách đắm đuối mà trên thế gian chưa thấy ai thưởng thức mùi vị rượu như thế. Thực ra họ không thể ngửi thấy mùi vị ǵ v́ đâu c̣n các giác quan thể xác nữa, nhưng cái ư nghĩ được thưởng thức rượu quá mạnh, đă xui khiến họ hành động như thế. Chỉ nh́n hành động điên cuồng đó mà tôi đă thấy rợn cả người. Cậu Jules chỉ cho tôi thấy một số vong linh khác đang cố gắng nhập vào xác những người say rượu để thưởng thức một vài dư vị của khoái xác thân. Những người say rượu hay sử dụng ma túy thường dễ bị các vong linh nhập vào. Sự nhập xác nầy tuy chỉ có tính cách tạm thời trong chốc lát nhưng nó cũng gây nhiều hậu quả tai hại cho người bị nhập. Càng bị nhập xác, những người nầy càng dễ bị mất tự chủ, và càng mất tự chủ họ càng dễ bị xui khiến làm điều xằng bậy. Theo sự hiểu biết của tôi, khi sự sống th́nh ĺnh chấm dứt như trường hợp chết bất đắc kỳ tử th́ người chết khó có thể siêu thoát được v́ dục vọng và sinh lực c̣n quá mạnh mẽ. Một cái chết bất ngờ luôn luôn tạo ra những chấn động, tán loạn tâm thần khiến cho người chết hết sức hoang mang và đau khổ. Đôi khi họ trở nên thù hằn, oán hận và chính tâm trạng lúc chết nầy sẽ khiến nên họ trở nên một động lực hết sức nguy hiểm, có thể xúi giục người sống làm những việc hết sức ghê gớm như giết người, hành hạ, hiếp đáp người khác,v.v.. Đa số những vụ sát nhân thường xảy ra khi hung thủ mất tự chủ v́ rượu, ma túy hoặc vi quá giận dữ. Những kẻ nghiện rượu, ma túy, tính khí nóng giận bất thường dễ trở nên nạn nhân của những động lực bất hảo nầy.

Đôi khi các vong linh cũng t́m cách xâm chiếm thể xác của những kẻ yếu bóng vía, những người nhạy cảm, hay những trẻ em yếu ớt nhưng trường hợp nầy chỉ có tính cách nhất thời v́ bản ngă con người thường rất mạnh, không dễ ǵ có thể đuổi nó đi để cướp lấy thể xác được. Thường th́ các vong linh lúc quá thèm muốn, bị dục vọng nung nấu, t́m cách chiếm cứ xác thân của một con thú nào đó v́ bản năng con thú thường yếu hơn sự đ̣i hỏi điên cuồng của một vong linh. Các loài thú kém tiến hóa như heo, cừu, dê, trâu, ḅ dễ trở thành nạn nhân hơn là các loài thú khôn ngoan hơn như chó, mèo, khỉ, ngựa vốn có ư chí kháng cự mạnh mẽ. Sự xâm nhập xác thú nầy có thể trọn vẹn hoặc có khi chỉ trong giây lát nhưng nhờ cơ thể con thú làm trung gian mà vong linh gần gũi được với cơi trần, cảm nhận được mọi sự qua giác quan của con thú thú và thỏa măn được một ít dục vọng như ăn uống, đ̣i hỏi xác thịt th́ vong linh cũng cảm thấy đau đớn, khổ sở và khi con thú bị mổ thịt th́ vong linh sẽ hoảng hốt, đau đớn, tuyệt vọng và trạng thái nầy sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến đời sống sau nầy của vong linh. Ngoài ra th́ nhập xác thú sẽ tiêm nhiễm vào thể vía của vong linh nên sau nầy dù có đầu thai lại thành người, nó cũng có khuôn mặt, h́nh dáng của con thú đó, hoặc tính t́nh hung bạo, tàn ác hay ngu si đần độn như con thú kia. Trong trường hợp tuyệt đối hơn, vong linh liên kết chặt chẽ với cái vía của con thú đó đă nhập, hễ con thú đi đâu th́ vong linh đi theo đó, giống như một tù nhân của xác thú. Điều nầy có thể giải thích được trường hợp của những kẻ hung dữ, nhiều dục vọng sẽ đầu thai trở lại thành vật.

V́ tâm trạng khi chết có thể ảnh hưởng rất mạnh đến đời sống về sau nên cậu Jules và Marjorie phải làm việc rất nhiều để giúp đỡ, cảnh tỉnh và an ủi các vong linh. Phần tôi được giao trọng trách giúp đỡ thân nhân của người chết hoàn tất một tâm nguyện nào đó mà họ chưa làm xong, nhờ thế họ có thể cởi bỏ các ràng buộc với cơi trần để siêu thoát. Dĩ nhiên sự hoạt động của tôi chỉ giới hạn trong lúc ngủ nên việc làm nầy không hiệu quả nhiều so với công việc của cậu Jules hay Marjorie, nhưng tôi rất thích công việc nầy. Khi muốn đi đâu hay gặp ai, tôi chỉ cần tập trung tư tưởng trước khi ngủ th́ sẽ đến gặp người đó ngay, nhưng tôi không dám sử dụng năng khiếu nầy để gặp Louise Clayton v́ như thế là lạm dụng quyền năng tâm linh. Cậu Jules đă dặn tôi rất kỹ rằng một người hiểu biết các định luật thiên nhiên không bao giờ làm một việc ǵ đó có tính cách ích kỷ hay riêng tư cho các nhân ḿnh. V́ biết thế, chúng tôi chỉ tiếp xúc với nhau qua thư từ hoặc thỉnh thoảng bằng điện thoại. Sau mấy tháng liên lạc, cảm t́nh của tôi dành cho Louise ngáy càng sâu đậm hơn nên một hôm tôi đă ngỏ lời cầu hôn và cô nhận lời. Chúng tôi dự định sau khi giải ngũ sẽ làm đám cưới.

Thời gian tuần tự trôi, cuộc chiến chấm dứt, quân đội Đồng Minh giải phóng được toàn cơi Châu âu nhưng chúng tôi vẫn chưa được giải ngũ v́ c̣n những khó khăn, rất cần sự hiện diện của một lực lượng quân đội tại đây. Tuy công việc bận rộn nhưng tôi vẫn liên lạc với cậu Jules để học hỏi thêm. Tôi thấy ḿnh thật may mắn v́ đă được giao phó một nhiệm vụ cao đẹp và được d́u dắt để học hổi thêm những kiến thức mới mẻ. Chính nhờ những kiến thức mới mẻ nầy mà đời sống của tôi được nâng lên một b́nh diện rộng lớn hơn, cao cả, tốt đẹp hơn, và từ đó tôi thấy rơ sự tiến hóa trong chương tŕnh vĩ đại mà Thượng Đế đă sắp đặt.

Nếu quan sát một cách kỹ lưỡng và có ư thức người ta sẽ thấy tất cả mọi sinh vật đều có một mối tương quan đặc biệt, điều nầy có thể coi như một thứ t́nh huynh đệ đại đồng v́ vạn vật đều có cùng một nguồn gốc mà ra. Đây không phải là một thứ lư thuyết suông mà là một nguyên lư hiện diện khắp nơi trong vũ trụ. Nên hiểu rằng vũ trụ là một toàn thể mà trong đó tất cả mọi thành phần đều liên quan mật thiết đến nỗi khi một phần tử trong đó biến đổi th́ toàn thể vũ trụ cũng biến đổi theo. Giống như một cái kính vạn hoa (Kaleisdoscope) thay đổi khi một phần tử trong đó thay đổi th́ vũ trụ cũng thế, nó luôn luôn thay đổi để giữ một trạng thái quân b́nh tuyệt đối. Dĩ nhiên trong một thế giới như thế, sự cô lập hay khia rẽ không thể hiện hữu v́ không một cá nhân nào hay một thực thể nào có thể tránh thoát được sự hợp nhất của toàn thể. Sự hợp nhất nầy vượt lên mọi sự khác biệt v́ nó được xây dựng trên căn bản ḥa hợp để giữ sự quân b́nh mà trong đó mọi loài đều tiến hóa dựa theo các định luật bất biến. Trong vạn vật, có một thực tại duy nhất chuyển sinh lực giúp tất cả mọi loài tăng trưởng, nẩy nở, phát triển và sinh sản, đó là sự sống duy nhất sinh hóa muôn loài. Xuyên qua tiến tŕnh sống nầy, cái duy nhất đó phân tán thành vô số tinh chất và h́nh thể khác nhau, và do sự liên quan vô số nầy, các phần tử kết hợp lại với nhau để tạo thành vô số các đơn vị điều ḥa và quân b́nh. Các nguyên tử (căn bản vật chất) được cấu tạo theo nguyên lư đó và rồi phân tử, các tế bào, các cơ quan, và các cơ thể cũng được tổ chức tương tự. Khắp vũ trụ, mọi thành phần đều có khuynh hướng kết hợp để tạo thành các phần tử tốt đẹp quân b́nh và yếu tố chính để bảo tồn sự quân b́nh nầy là t́nh thương. Luật vũ trụ không chấp nhận sự chống đối hay đi ngược lại các mănh lực kết hợp đó v́ nó làm mất đi sự quân b́nh, gây ra các xáo trộn. Để tạo lập lại sự quân b́nh đó, một phản lực phải được tạo ra để tái lập, đó là căn bản của luật nhân quả. Sự chống đối giữa người và người hay giữa người và các sinh vật khác đều là sự đi ngược luật vũ trụ và dĩ nhiên phải chịu hậu quả tùy theo nguyên nhân đă gây ra nó.

Tại sao con người chống đối, thù hằn nhau? Phải chăng v́ có sự khác biệt giữa màu da, chính kiến, tư tưởng hay tín ngưỡng? Nhưng nếu sự sống là duy nhất th́ tại sao con người lại khác nhau, kẻ thông minh người ngu dại, người hiền lành kẻ hung dữ, hay có những người sinh ra mang màu da khác nhau? Nếu ta có thể hiểu rằng bản chất thực sự của con người vốn không khác nhau nhưng v́ khoác lấy một cái vỏ vật chất để kinh nghiệm thế giới hiện tượng nên sự khác biệt mới có. Chính sự khác biệt nầy tạo ra môi trường để sự học hỏi có thể xảy ra, thúc đẩy sự tiến hóa và nhờ thế vũ trụ mới mang sắc thái "động" thay v́ "tĩnh". V́ tất cả đều phát xuất từ một nguồn sống duy nhất và cái nguồn sống nầy luôn luôn hiện diện khắp nơi, khắp các cơi giới dù h́nh thể đời sống mỗi loài có khác nhau, tất cả vẫn đều liên quan chặt chẽ với nhau trong một tiến tŕnh đời sống. Trong tiến tŕnh đời sống nầy, các sinh vật phải luân hồi trong nhiều kiếp, khi sinh ra ở nơi nầy lúc ở nơi khác, có khi mang thể xác phái nam, khi lại mang thân phái nữ, lúc có màu da nầy khi mang màu da khác nhưng tất cả sự khác biệt đó đều là những môi trường để học hỏi và kinh nghiệm sự yêu thương. Nói cách khác, toàn thể nhân loại kẻ trước người sau, đang dần bước trong một cuộc hành tŕnh rất dài. V́ sự hiểu biết và học hỏi khác nhau nên họ có những tin tưởng, thành kiến và suy luận khác nhau nhưng đây chỉ là yếu tố phụ và ở bên trong họ đều là một: Đó là sự sống duy nhất đang tiến dần đến trạng thái toàn diện, một trạng thái yêu thương bao la vô bờ bến. Cho đến khi đạt đến trạng thái nầy cuộc hành tŕnh của thực thể cá nhân sẽ chấm dứt v́ khi đó họ đă ḥa hợp vào cái nguồn sáng bao la, thiêng liêng bất tận. Đó chính là sự trở về nhà mà các kinh sách tôn giáo thường diễn tả.

Một hôm tôi có việc phải đi công tác xa hơn một tuần lễ, khi trở về căn cứ tôi nhận được một bức thư ngắn của Louise Clayton có nội dung như sau: "Anh Steve, em đă t́m được việc làm ở một nơi xa, xin anh đừng viết thư cho em về North Carolina nữa. Em đă suy nghĩ nhiều về cuộc hôn nhân của chúng ta và thấy rằng chúng ta quyết định một cách hấp tấp. Chúng ta chưa có th́ giờ t́m hiểu nhau nhiều, vậy em nghĩ chúng ta nên dừng lại tại đây th́ hơn. Kính chúc anh mọi sự may mắn"

Đọc xong bức thư ngắn nầy tôi thấy thế giới dường như sụp đổ mộng đẹp đang xây dựng bấy lâu bỗng chốc tiêu tan. Tại sao Louise lại thay đổi ư kiến đột ngột như vậy? Phải chăng cô đă gặp một người nào học thức hơn hay có tương lai hơn? Louise không thể như thế được, cô là người mẫu mực, dịu dàng và có lư tưởng nên không thể quên lời hứa một cách dễ dàng như vậy được. Phải chăng có chuyện ǵ bất thường xảy ra? Phong thư không đề địa chỉ hồi âm nên tôi không thể nào liên lạc với Louise. Suốt ngày hôm đó tôi như người mất trí. Tôi đă điện thoại về North Carolina nhưng người ta cho biết Louise Clayton đă dọn đi và không để lại địa chỉ. Đêm hôm đó tôi cố gắng lắm mới không nghĩ đến Louise. Tôi biết ḿnh có thể tiếp xúc với Louise nhưng tôi cũng biết làm như thế là lạm dụng quyền năng tâm linh. Một người phụng sự không được phép dùng quyền năng của ḿnh vào những công việc riêng nghĩ là vào những mục đích ích kỷ. Sau cùng tôi nghĩ đến Majorie và quyết định t́m gặp cô nầy. Chúng tôi vẫn thường gặp nhau nên chỉ cần tập trung tư tưởng một lúc là tôi thấy Marjorie xuất hiện trong một vùng ánh sáng chói lọi. Cô vui vẻ nói:

- Nầy anh Steve, thật là sung sướng biết bao v́ em có nhiều chuyện kể cho anh nghe. Anh phải mừng cho em v́ em vừa được giao phó nhiệm vụ mới việc nầy khó khăn hơn. Từ nay em nhận lănh trách nhiệm an ủi những tre em vừa từ trần. Ôi chúng dễ thương làm sao! Lúc đầu chúng bơ vơ lạc lơng và rất sợ hăi, nhưng được em hết sức dỗ dành, chúng hết sợ c̣n gọi em bằng mẹ nữa...

- Marjorie liến thoắng nói như không thèm chú ư đến tâm trạng ngổn ngang lo âu, thất vọng của tôi. Cô tiếp tục:

- Anh phải đến gặp mấy đứa bé nầy, chúng dễ thương lắm. Nh́n chung cứ nh́n thấy bông hoa hé nở dưới nắng mai vậy... Ô hay! Anh lo lắng ǵ mà có vẻ khó chịu vậy?

Tôi đau khổ hỏi:

- Dạo nầy em có gặp Louise Clayton không? - Không. Em chỉ gặp cô ấy khi săn sóc anh ở bệnh viện thôi. Công việc của em ở bên nầy rất bận rộn nên em không trở lại cơi trần làm ǵ. Anh và Louise cùng ở cơi trần, gặp nhau dễ dàng, sao anh không đến thăm cô ấy?

Marjorie lặng nh́n tôi một lúc và chợt hiểu. Cô quàng tay vào tay tôi:

- Anh Steve, em hiểu sự đau khổ của anh nhưng đáng lẽ ra anh không nên hỏi em như vậy. Chúng ta gặp nhau để làm việc chung chứ không phải để nói chuyện có tính cách cá nhân. Nếu anh hỏi cậu Jules như vậy th́ cậu ấy sẽ nghĩ sao về anh?

- Marjorie nói bằng một giọng nghiêm trang khiến tôi giật ḿnh như tỉnh mộng. Phải, tôi đă nghĩ về ḿnh nhiều quá. Các nỗi lo lắng nhỏ nhặt, ích kỷ đă làm tôi suưt quên đi trách nhiệm được giao phó. Thật là xấu hổ khi Marjorie hoàn toàn quên ḿnh để giúp đỡ những đứa bé vừa từ trần trong khi tôi chỉ bận tâm đến việc mất người yêu. Tôi tập trung tư tưởng để tự trấn tĩnh rồi nói:

- Nầy Marjorie, anh sẽ đến thăm mấy đứa bé mà em săn sóc. Anh cũng thích chơi với trẻ con và nếu em cho phép anh cũng sẽ hướng dẫn cho chúng...

Khi tỉnh dậy, tôi ư thức rơ khả năng tự chủ của tôi chưa được vững cho lắm. Một việc bất ngờ đă làm cho tôi bối rối như vậy th́ làm sao tôi có thể kham được những việc lớn lao hơn. May thay Marjorie đă nhắc nhở cho tôi biết, từ đó tôi chuyên tâm vào việc phụng sự những người vừa từ trần, giúp họ hoàn tất các việc chưa xong hoặc an ủi thân nhân họ.

Ba tháng sau tôi được giải ngũ trở về Hoa kỳ. Tôi có đến North Carolina t́m Louise nhưng không gặp, những người trong bệnh viện cũng không biết cô dọn đi đâu. Vào lúc chiến tranh vừa chấm dứt, số người giải ngũ di chuyển khắp nơi rất nhiều, việc t́m kiếm một người như Louise rất khó nếu không nói là gần như không có hy vọng. Tôi trở về New York sống với gia đ́nh và t́m được việc làm trong một hăng buôn. Ngoài công việc sinh kế hằng ngày, tôi để hết tâm trí vào việc phụng sự những người vừa từ trần trong lúc ngủ. Hôm đó tôi gặp một vong linh tên là Buster, ông nầy nói:

- Nhờ ông giúp cho tôi. Cách đây mấy năm tôi có ngoại t́nh và có một đứa con rơi. Chúng tôi quyết định giấu nhẹm chuyện nầy nên gửi nó vào một viện mồ côi ở Montana. Đó là viện mồ côi dành cho trẻ em khiếm thị v́ đứa bé bị mù bẩm sinh. Mẹ đứa bé đă dọn đi xa và lập gia đ́nh nên cũng không muốn nh́n nhận nó nữa. Phần tôi sống trong ăn năn, hối hận măi cho đến lúc chết. Trước khi từ trần tôi có viết một bức thư và kể lại chuyện nầy để xin lỗi nhà tôi v́ khi c̣n sống tôi không có can đảm thú nhận. Điều bất ngờ là không những nhà tôi đă tha thứ cho tôi mà c̣n muốn mang đứa bé về nuôi nữa. Tiếc thay v́ tôi không đẻ lại chi tiết nên nhà tôi không biết đâu mà t́m. Phiền ông liên lạc với nhà tôi để mang cháu về dùm, hồ sơ tại cô nhi viện có ghi rơ chi tiết và có lưu lại một bức thư riêng của tôi tại đó.

- Bà Buster quả là một phụ nữ không những giàu sang mà c̣n giàu ḷng trắc ẩn. Sau khi nghe tôi tŕnh bày, bà yêu cầu tôi cùng đi với bà và vị luật sư riêng đến Montana t́m đứa nhỏ. Tất cả mọi chi tiết đều xảy ra đúng như lời ông Buster kể. Chúng tôi t́m được cháu Cheryl dễ dàng. Vị luật sư xem xét giấy tờ và xác nhận Cheryl chính là con ông Buster. Thật ra điều nầy cũng bằng thừa v́ cháu trông giống ông Buster như đúc. Vừa nh́n thấy Chery, bà Buster đă cảm động ôm chầm lấy nó, và có lẽ v́ linh tính sao đó, nó cũng quyến luyến bà Buster không rời. Thủ tục nhận lănh đứa nhỏ tại cô nhi viện diễn ra một cách tốt đẹp và nhanh chóng. Trong khi chờ đợi ṭa án tiểu bang chấp thuận, đứa nhỏ được phép về sống với bà Buster. Cô bé Chery thu tập quần áo theo mẹ nuôi nhưng cô chợt kêu lên:

- Trước khi đi con phải vào từ giă cô giáo dạy nhạc của con đă.

Chúng tôi theo cô bé bước vào lớp học. Một nhóm trẻ đang quây quần chung quanh cây dương cầm để tập hát. Tự nhiên mắt tôi hoa lên. Cô giáo dạy âm nhạc kia đâu ai xa lạ mà chính là Louise Clayton, người mà tôi vẫn có ư định t́m kiếm bấy lâu nay.

Tại sao Louise Clayton lại làm việc tại đây? Th́ ra trong thời gian phục vụ tại bệnh viện, cô mắc bệnh ở mắt, thị giác dần dần suy kém và theo thời gian sẽ bị mù. Biết thế và không muốn cho tôi có một gánh nặng là cưới một cô gái mù, Louise viết thư từ hôn rồi dọn đến tận tiểu bang Montana, nơi mà Louise tin rằng không bao giờ tôi có thể t́m thấy được. Cô xin được việc làm tại viện mồ côi dành cho các trẻ em khiếm thị. Biết được lư do nầy, tôi càng thấy yêu Louise hơn, mọi sự phiền muộn tan theo mây khói. Tôi lặp lại lời cầu hôn một lần nữa và lần nầy Louise chấp nhận một cách hoan hỉ.

Câu chuyện chấm dứt khi Steve và Louise kết hôn. Tác giả, ông Tucker đă kết luận: "Câu chuyện của Steve là một câu chuyện t́nh hay là một câu chuyện về thế giới bên kia cửa tử? Có lẽ cả hai v́ người ta không thể phân chia nó được bởi t́nh thương bắt nguồn từ Thượng Đế và Thượng Đế chính là t́nh thương. Đối với những ai biết sống thuận thao thiên ư th́ vũ trụ nầy chỉ có một điều quan trọng mà thôi: Đó là t́nh thương. Phụ sự người khác là ǵ nếu không phải là ḷng thương yêu, một thứ t́nh cảm êm dịu, vị tha, cao cả và mầu nhiệm. Tất cả những ai đă bước qua cơi sáng ắt phải nhận biết đó là một cơi của t́nh thương rực rỡ, huy hoàng. Điều đáng tiếc là tâm trạng con người khi chết thường quá sợ hăi, đầy quyến luyến và chỉ muốn bám víu vào các quan niệm sai lầm chứ không biết xả đi mọi ham muốn, dục lạc để thực sự kinh nghiệm những ân phước tràn đầy nơi cơi đó. Chính nơi cơi trần đầy xác trộn, bất an của chúng ta hiện nay cũng tràn đầy những tia sáng của t́nh thương nhưng tiếc thay chúng ta quá bận rộn với những ích kỷ nhỏ nhặt của cuộc sống hằng ngày mà quên đi sự màu nhiệm tuyệt với của cuộc sống. Phải chăng những sự đau khổ của chúng ta chẳng qua là sự nhớ nhung t́nh thương đó và có lẽ chính v́ sự đau khổ mà người ta mới phát triển t́nh thương hay học yêu thương?"

Trong trang cuối, tác giả đă kể lại cuộc gặp gỡ giữa ông và vợ chồng Steve Buckley, v́ lư do ǵ mà ông xin phép được kể lại những điều ông nghe kể. Ông kết luận: "Rồi một ngày kia, t́nh thương yêu sẽ tràn ngập vũ trụ khi nhân loại ư thức được t́nh thương của Đấng sáng tạo và biết rằng t́nh thương đó không phải là một điều xa xôi diệu vợi, phải nhọc công tốn sức mới có. Thật ra nó vẫn sẵn có trong mọi chúng ta, v́ chúng ta được tạo ra trong t́nh thương và bản chất của chúng ta chính là t́nh thương".

Tác giả: Nguyên Phong (dịch)