BÓNG CÂU QUA CỬA

Cô Ba Tokai

Cầu Golden Gate - San Francisco Ảnh : Sandra Sanders

Hành khách đến San Francisco bằng hàng không, trước khi phi cơ hạ cánh xuống phi trường, từ trên cao nh́n thấy cảnh một thành phố nằm thu gọn trên ngọn đồi ba mặt bao bọc bởi Thái B́nh Dương và cái vịnh khá to, chiếc cầu Golden Gate màu đỏ lẩn trong sương mù. Đây là h́nh ảnh đẹp quyến rủ của Cựu Kim Sơn ở miền bắc tiểu bang California, có biệt danh là thành phố sương mù với nhiều đường dốc. Là nơi du lịch và văn hóa, người dân ở đây sinh sống bằng dịch vụ ngân hàng, thương xá, khách sạn, tiệm ăn và những sinh hoạt nghệ thuật. Vào thập niên 1850, nhiều người Trung Hoa từ tỉnh Quăng Đông được mướn đến California làm phu khai mỏ, phu lập đường xe lửa. đă không hồi hương. Sau hơn một thế kỷ cộng đồng nầy lớn mạnh, họ sống tụ hợp tại khu vực gọi là phố Tàu. Nơi đây tên đường, bản hiệu các cửa tiệm được viết bằng chữ Hán, ngôn ngữ là tiếng Quăng Đông. Ngoài con đường chính có nhiều cửa hàng bán quà kỷ niệm cho du khách, c̣n lại là những con đường toàn quán ăn và tiệm tạp hóa bán sản phẩm thuần túy Trung Hoa. Sinh hoạt ở khu phố nầy quanh năm ồn ào náo nhiệt từ sáng sớm đến tối, không khác một thành phố ở Trung Quốc.

Từ năm 1975 người Việt tỵ nạn gốc Hoa định cư tại Mỹ một số đă đến vùng nầy mưu sinh, v́ ở đây họ cảm thấy như t́m về cội nguồn và không bị khó khăn ngôn ngữ. Những gia đ́nh rời Việt Nam có của cải, đă mở những cửa hàng, nhờ khả năng thương mại và sự cần cù họ đă hội nhập vào thương trường. Những gia đ́nh không vốn phải đi làm công để sống, ông Văn là một người trong số nầy. Do định mệnh đưa đẩy ông rời Việt Nam vào ngày cuối tháng tư, một ḿnh đến Hoa Kỳ với vỏn vẹn một bộ quần áo và một trăm dollar, rồi cũng do định mệnh ông đến thành phố nầy. Tuy không phải người Việt gốc Hoa, chỉ biết bập bơm vài tiếng Quăng Đông nhưng ông thích sống ở đây v́ giống Chợ Lớn của Việt Nam. Ông ngụ tại lầu ba của một tiêm ăn b́nh dân ngay trung tâm náo nhiệt, ṭa nhà cũ kỷ có lẽ đă xây cất vào đầu thế kỷ hai mươi. Những người sống trong ṭa nhà nầy là thanh niên độc thân từ Hong Kong hay Trung Hoa lục địa đến Mỹ làm việc lao động kiếm tiền, có những người cư trú lậu làm việc bất hợp pháp. Ban ngày họ dậy sớm đi làm hai hoặc ba việc khác nhau đến khuya về ngủ. Ông thuê căn pḥng bề dài độ ba mét ngang hai mét đủ kê cái giường, cái bàn nhỏ, một cái ghế cũ, nhà vệ sinh, pḥng tắm chung cho mọi người cuối hành lang, giá một trăm dollar mỗi tháng. Tất cả vật dụng của ông dưới gầm giường, quần áo chỉ vài bộ treo trên tường, ngoài khi ngủ cái bàn là nơi duy nhất ông sinh hoạt trong pḥng, vừa là nơi nấu cơm pha trà, bàn ăn bàn viết và đọc sách báo.. Mỗi ngày ông ra cửa khoảng sáu giờ sáng đi bộ đón bus đến trạm xe điện ngầm, đổi xe điện chạy độ ba mươi phút, ông làm việc tại một garage sửa xe hơi ngoại biên thành phố Oakland. Trung tâm t́m việc cho người tỵ nạn Việt Nam đă giới thiệu công việc nầy, có kinh nghiêm nhưng v́ tuổi cao và khó khăn sinh ngữ nên họ trả công ông rất khiêm nhường so với người bản xứ. Việc làm không cực nhọc, chỉ phụ việc cho người thợ chánh, v́ tánh t́nh vui vẻ cởi mở nên đồng nghiệp ai cũng thích, những người thợ trẻ đôi lúc hỏi ông về kinh nghiệm sửa chữa các bộ phận trong xe hơi. Bốn giờ chiều rời chỗ làm, về phố Tàu ông thường ăn cơm tối ở tiệm dưới nhà hoặc mua thức ăn nấu sẵn, ban đêm đi tản bộ hoặc đọc sách báo trong pḥng. Cuối tuần ông thường chơi cờ tướng, tập thể dục Tai Chi với các cụ người Hoa ở công viên và đi dạo thành phố xem những điều hay lạ, hợp đêm của phố Tàu là nơi ông hay tới tiêu khiển.

Ngày qua tháng lại ông Văn đă ở thành phố nầy hơn ba năm. Hôm nay là thứ sáu trước Giáng Sinh, sau một ngày làm việc và buổi tiệc liên hoan cùng đồng nghiệp, trên đường về ông cảm thấy cô đơn vô cùng. Thành phố San Francisco lên đèn đón ngày Sinh Nhật Chúa, cũng là ngày đoàn tụ gia đ́nh và Tết dương lịch rất rực rỡ. Những cây thông cao to giăng đèn đủ màu, âm thanh những bài ca giáng sinh khiến cho thành phố khác thường. Các cửa hàng, thương xá trên đường Market, người người mua sắm tạo thêm tấp nập. Đối với những người xa quê hương, xa gia đ́nh đây là lúc cảm thấy lẻ loi nhất. Không muốn trở về căn pḥng nhỏ hiu quạnh, ông đi dọc theo khu Broadway cạnh phố Tàu. Ở đây ban đêm quanh năm đèn các cửa tiệm sáng choang, khách " t́m hoa " đi bộ dọc theo đường mắt nh́n các bảng quảng cáo cố t́nh lựa chọn, hy vọng với số tiền sắp bỏ ra có thể mua vài giờ tiêu khiển thích thú. Rải rác trên lề đường những người vô gia cư nằm quấn người trong những chiếc túi ngủ cũ kỷ. Đi bộ khá lâu, ông vào hợp đêm Paradise quen thuộc, vũ trường nầy có ban nhạc do nhạc sĩ Huỳnh Anh "chơi" trống và cô ca sĩ học tṛ duyên dáng Phương Hoài Tâm của Sài G̣n độ nào. Cũng như ông và những người tỵ nạn Viet Nam khác họ phải dùng sở trường của ḿnh kiếm sống nơi xứ người. Gọi ly nước ngồi nghe nhạc, ông cố t́nh uống thật chậm để qua thời giờ. Rời vũ trường, sương mù bao phủ ánh đèn vàng của những cột đèn đường không đủ soi sáng suốt cuối phố, ông cảm thấy lạnh lấy từ túi áo khoát dầy chiếc khăn quàng của vợ ông đă dùng ngày trước, quấn cho ấm cổ chậm chậm đi bộ về pḥng trọ. Phố đêm giờ nầy vắng người đường xá im ĺm, chỉ một vài tiệm mỳ c̣n mở cửa chờ khách khuya. Thỉnh thoảng một chiếc xe lướt qua, ở góc phố tối tăm vài người bất hạnh đang bươi t́m trong thùng rác lớn trước các tiệm tạp hóa những vật có thể dùng hay bán lại. Lên cầu thang dưới ngọn đèn mờ, bước vào căn pḥng lạnh vắng, không mở ḷ sưởi ông chui vào giường phủ chiếc mền điện vỗ giấc ngủ. Chung quanh im ĺm, tất cả ch́m trong bóng tối. càng cố gắng ông càng không thể ngủ, tuy mắt nhắm nhưng trí ông lại suy nghỉ bâng quơ, rồi h́nh ảnh người thân, gia đ́nh, quê hương và quá khứ lần lượt hiện ra.

 

 

Ảnh : Huỳnh Ngọc

 Cho tôi bước lại con đường làng
Ngày đầu cắp sách đến trường
Bên tai tiếng cười tiếng nói lạ
Dịu dàng mùi thơm giấy mới
Cho tôi hát lại tiếng hát đầu
Như thuở mẹ ru rất yêu
Tay tôi xếp hoài con diều nhỏ
Mà ước mơ vào mây cao
(1)

 

 

Đi học trên đường làng, ca bài Vọng Cổ, thả diều trên ruộng lúa.. là thời thơ ấu của cậu bé Văn ở một xóm nhỏ miền Nam Việt. Sinh ra trong gia đ́nh nông dân đông con, cha cậu là người thức thời biết ích lợi của học vấn, nên dù không khá giả, vợ chồng ông đă cho các con đến trường. Sau khi học hết cấp tiểu học trường làng, cậu được gởi đi học tại trường trung học kỹ thuật gần Vườn Bách Thú Sài G̣n. Trường nầy do chánh phủ bảo hộ lập ra, nhắm mục đích đào tạo thanh niên Việt Nam có kiến thức kỹ thuật làm việc cho người Pháp. Từ thuở thiếu thời đă biểu hiện ư chí cương quyết, chịu học hỏi, vóc dáng cao "đẹp trai", bản tánh vui vẻ, phóng khoáng cậu luôn được sư thương mến của mọi người chung quanh.

Sau khi tốt nghiệp trung học, chàng thanh niên Văn ôm mông viễn du, gia nhập hải quân Pháp, làm việc trong pḥng cơ khí của tàu chiến, v́ vậy anh đă được đi nhiều nơi. Vào lúc nầy chiến trường Âu Châu đă lắng dịu sau thế chiến thứ nhất, tuy nhiên ở Á Châu quân đội Nhật đă hùng mạnh bắt đầu xâm chiếm lănh thổ các nước lân bang như Triều Tiên, Măn Châu đến thành phố Thượng Hải rồi Nam Kinh. Do sự ngẫu nhiên khi tàu cập bến Trung Hoa, anh đă chứng kiến người giành giựt nhau miếng ăn, cảnh người chết đói trên đường phố Thượng Hải và mục kích quân đội Nhật sát hại dân bản xứ tại thủ đô Nam Kinh.

Giải ngũ năm hai mươi hai tuổi, anh vào làm việc cho Sở Hỏa Xa Việt- Miên- Lào ( Indochina ), chức phó ban cơ khí của quăng đường Bảo Lộc - Đà Lạt. Đây là vai tṛ quan trọng v́ đoạn đường nầy có nhiều dốc cao nguy hiểm, nếu không cẩn thận xe hỏa có thể tuột dốc. Thêm vào đó Đà Lạt là thành phố nghỉ mát của người Pháp, nhiều chính khách và gia đ́nh dùng đường hoả xa đến đây, nên sự an toàn của tuyến đường rất được đặc biệt quan tâm.

Chàng thanh niên thuỷ thủ tài hoa, chu du nhiều nơi tiếp xúc nhiều người đẹp đă trải qua những mối t́nh khó quên, nhưng anh vâng lời cha mẹ thành hôn với người cháu nội của một ông hội đồng ở Nhà Bè. Vợ anh là cô gái công ngôn dung hạnh, đôi trai tài gái sắc đă tạo dựng một gia đ́nh hạnh phúc. Ba năm sau anh được bổ nhậm đi Hà Nội làm việc, vợ con anh cùng đi sinh sống ở đất Bắc. Thời gian nầy anh đă chứng kiến nạn đói vào những năm thất mùa, chàng thanh niên Nam Kỳ nhận thức được sự khó khăn của dân chúng miền Bắc về địa lư, chớ không được ưu đăi của thiên nhiên như nông dân ở đồng bằng Nam Bộ.

Sau vài năm làm việc ngành hỏa xa chánh phủ Pháp cấp cho anh một văn bằng danh dự, công nhận kiến thức và kinh nghiệm của anh tương đương với các kỷ sư cơ khí tốt nghiệp tại đại học Pháp. Hai mươi tám tuổi về Sài G̣n, anh được nhận làm việc tại một hăng kỷ nghệ hạng trung của người Pháp đầu tư ở Việt Nam. Đây là xưởng chế tạo vật dụng phụ tùng xe hơi từ nhiên liệu cao su, một số ít sản phẩm làm ra tiêu thụ ở Việt Nam c̣n phần lớn đem bán ở thị trường Âu Châu. Họ mua nhiên liệu cao su rẻ từ các đồn điền, dùng nhân công lương thấp tạo sản phẩm đem về Pháp bán lấy lời cao. Hăng có khoảng 200 nhân viên, ban lănh đạo người Pháp mướn những người Việt Nam có kiến thức chuyên môn làm việc trực tiếp với giới lao động. Anh Văn là một trong những người đứng đầu của nhóm cơ khí, nhận mệnh lệnh của cấp trên truyền đạt cho giới lao công, anh nhận thấy sự bất công, lợi dụng và chèn ép sức lao động người Việt. V́ bất măn nên sau vài năm thu thập kinh nghiệm, tích tụ vốn, anh đă ra riêng lập một xưởng kỷ nghệ tương tự cho ḿnh.

Mọi việc vất vả lúc đầu, từ chọn địa điểm thuận tiện, mướn khu công xưởng, mua chuyên chở gắn ráp máy móc, mua nhiên liệu cao su sống và chất hóa học, thuê công nhân có kinh nghiệm, đào tạo công nhân mới, t́m thị trường tiêu thụ sản phẩm, tất cả đều do anh đảm trách. Ngoài một số công nhân chuyên môn theo anh từ công ty của Pháp, anh đă dùng những người cùng quê và trong gia đ́nh, huấn nghệ tạo việc làm cho họ. Cuối cùng mọi việc hoàn tất như kế hoạch, một cơ xưởng chế tạo vật dụng phụ tùng xe hơi bằng cao su hóa hợp gần cầu Nhị Thiên Đường - Chợ Lớn được khai trương với bảng hiệu mang tên cha anh Văn. Hôm ấy nhiều người cùng quê đă đến chúc mừng cho một sự nghiệp mới bắt đầu. Việc kinh doanh của anh phát triển tốt, mức tiêu thụ khá lớn v́ xe hơi nhập cảng vào Việt Nam thời bấy giờ càng lúc càng tăng và giá cả sản phẩm của anh tương đối hạ. Cơ xưởng với hơn 50 nhân viên phải hoạt đông ban đêm và cuối tuần mới đủ đáp ứng cho thị trường thời bấy giờ..

Trong khi sự nghiệp của anh Văn đang phát triển th́ t́nh h́nh chánh trị thay đổi, Thế Chiến thứ hai đă bắt đầu. Từ năm 1942 lực lương hùng mạnh của quân đội Nhật Hoàng đă đến nhiều nơi vùng Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Miến Điện, Thái Lan, Mă Lai... Tháng 3 năm 1945 quân đội Nhật đảo chánh chánh phủ Pháp chiếm cứ Việt Nam, qua một đêm người Nhật đóng quân toàn thành phố Sài G̣n, họ đă xử dụng cơ xưởng của anh Văn làm căn cứ trú quân. V́ phẫn uất đă phản đối nên bị họ bắt giam lỏng, nhờ người gác xưởng giúp anh tẩu thoát nhưng phải ẩn trốn tại tư gia của người em trai ở Lái Thiêu. Tháng 8, khi Nhật bại trận rút khỏi Đông Nam Á, sự nghiệp của anh không c̣n ǵ cả. Ngoài miếng đất mướn tất cả máy móc, nguyên liệu, sản phẩm đă bị quân đội Nhật tịch thu, công trường ngổn ngang rác rưới, công nhân đă tản mác t́m việc làm khác. Nh́n công tŕnh đă bị phá hủy không khỏi tiếc nuối, nhưng nếu so sánh với những người ở miền Bắc đang đói anh cảm thấy vẫn may mắn hơn.Với nhân sinh quang của người trai trẻ tràn đầy nghi lực anh xem đây như một thử thách, nên đă quyết xây dựng sự nghiệp lại từ đầu.

Trong lúc t́nh trạng kinh tế quốc gia kiệt quệ, nạn đói ở miền Bắc làm thiệt mạng hằng triệu người. T́nh h́nh chánh trị càng rối ren v́ sự trở lại của người Pháp, phong trào đấu tranh của nhóm Thanh Niên Tiền Phong và vua Bảo Đại thoái ngôi chấm dứt thời đại quân chủ nhà Nguyễn. Với hai bàn tay trắng, anh Văn đă mở một tiệm sửa chữa máy bom nước, máy phát điện, máy xay lúa gạo do chính anh đảm trách với vài người phụ việc. Lợi tức đủ nuôi sống gia đ́nh, lúc nầy anh đă có ba người con trai lớn và hai cô con gái nhỏ, người vợ đảm đang gia đ́nh đă hổ trợ tinh thần khi anh sa cơ, giúp anh gây dựng lại sự nghiệp mới. Lịch sử Việt Nam lại đến khúc quanh quang trọng Hiệp Ước Geneva 1954 chia đôi đất nước chấm dứt đô hộ của Pháp. Ông Ngô Đ́nh Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ nắm chánh quyền miền Nam bắt đầu thời kỳ Đệ Nhất Cộng Ḥa. Chiến tranh lắng dịu, nông dân Nam Bộ phát triển canh tác với kỷ thuật canh nông mới. Họ dành dụm để mua chiếc máy cày cơ khí thay sức trâu, thay chiếc gầu tay tác nước bằng chiếc máy bôm tự đông, những chiếc ghe chèo tay trên sông rạch chằng chịt của đồng bằng sông Cửu Long đă được gắn thêm bộ phận máy đuôi tôm giúp cho sự giao thông nhanh chóng và dùng những máy phát điên thay cho những chiếc đèn dầu loe loét.. Chánh sách cải cách điền địa của chánh phủ đă giúp căn tiệm sửa chữa máy móc của anh Văn thành một cửa hàng lớn bán máy móc canh nông nhập cảng từ Nhật, Đức, Pháp, Mỹ.. tọa lạc trên đường Trần Hưng Đạo trung tâm thương mại của thành phố. Cửa tiệm nầy đă tạo việc làm cho khoảng ba mươi nhân viên, anh được nhiều người trong giới công thương kỷ nghệ Sài G̣n biết đến. Anh cũng là thành viên của ban đại diện nghiệp đoàn Công Thương Kỷ Nghệ Gia Việt Nam dự các buổi hợp quốc tế tại nhiều nước trên thế giới.

Đầu thập niên 1960 chiến tranh hai miền Bắc Nam bắt đầu, chánh biến chuyển miền Nam sang thời kỳ Đệ Nhị Công Hoà nắm quyền bởi một số tướng lănh. Quận đội Hoa Kỳ tham chiến ở miền Nam gia tăng, sự kiện nầy đă làm thay đổi nhiều thành phần trong xă hội. Những người trẻ bắt đầu học Anh văn đi làm các công việc có lương cao, tài xế taxi, phu xe xích lô cũng được trả tiền nhiều hơn khi chở khách ngoại quốc, các quán bar mở ra được nhiều quân nhân Mỹ ủng hô... Tóm lại tất cả những giao dịch với người nước ngoài đều có lợi tức cao hơn mực b́nh thường của xă hội Việt Nam. Ông Văn nắm cơ hội nầy, đă xây lại bất động sản của ḿnh, chiếm cứ một diện tích rộng của gốc phố, thành một ṭa cao ốc mười tầng. Tầng thứ nhất giữ nguyên buôn bán máy móc, gia đ́nh ông cư ngụ ở tầng thứ hai, tầng thứ ba đến thứ mười là những pḥng ốc đầy đủ tiện nghi theo tiêu chuẩn ngoại quốc cho người nước ngoài thuê. Việc kinh doanh của ông đă phát đạt lại càng phát đạt hơn, số người làm việc cho ông gia tăng, lúc bấy giờ họ cũng đă hưởng nhiều lợi tức từ đổi tiền dollar sang đồng bạc Việt Nam và ngược lại theo giá "chợ đen".

Thời gian nầy cũng là lúc sung măn nhất của đời ông Văn, sống trong giới thượng lưu Sài G̣n, ông đi xe hơi Hoa Kỳ có tài xế riêng, trong nhà có kẻ ăn người ở. Ông thường được mời dự những buổi tiệc linh đ́nh của giới giàu có sang trọng. Thời khóa biểu thường nhật của ông là kiểm soát công việc kinh doanh buổi sáng, chiều đi xă giao bên ngoài và chơi thể thao, về đêm thường đến các hợp đêm tiêu khiển, vào cuối tuần sinh hoạt ngoài trời với gia đ́nh. Các con ông đă lớn theo học chương tŕnh Pháp, ba người con trai và cô con gái lớn được đi du học ở Pháp. Tuy thành công về sự nghiệp, tiền tài, danh vọng và con cái nhưng người vợ thương yêu của ông lại mang chứng bệnh thấp khớp (Rhumatism) khó trị. Mỗi khi trời trở lạnh các khớp xương xưng, đau nhức đến độ chân tay không cử đông được. Bà đă sang Paris điều trị nhưng v́ không thích ứng với khí hậu buốt giá Âu Châu nên trở về Việt Nam. Sau nhiều năm chịu đựng cơn bệnh bà đă qua đời ở tuổi năm mươi ba, để lại sự thương tiếc cho ông và các con.

Cuộc chiến Nam Bắc càng lúc càng khốc liệt, nơi mặt trận bao nhiêu chiến sĩ hy sinh chốn thị thành người sống vẫn tiếp tục sống. Ngày 25 tháng 4 năm 1975, ông Văn đang dùng cơm trưa tại tư gia người em, cô cháu gái ( kết hôn với một viên chức Hoa Kỳ làm việc tại phi trường Biên Hoà ) hối hả trở về cho biết, do nguồn tin chính thức đáng tin cậy, Việt Nam sắp có biến cố lớn. Ai có liên hệ với người Mỹ, nếu muốn an toàn phải rời Việt Nam lập tức. Giờ phút khẩn cấp ấy ông đă quyết đinh theo gia đ́nh cô cháu đi khỏi Việt Nam. Chỉ thời gian một tiếng về nhà báo cho con gái út, bỏ lại cả sản nghiệp vội vả ra đi, khi thành phố Sài G̣n vẫn bán buôn hoạt động b́nh thường, vẫn xe cộ tấp nập. Mọi người không biết rằng cuộc chiến sắp chấm dứt, lịch sử Việt Nam sắp sang trang mới và ông cũng không ngờ chuyến đi nầy bắt đầu cuộc đời lưu vong viễn xứ.

 

Phố Tàu - San Francisco Ảnh : Sandra Sanders

Tiếng ồn ào của xe giao hàng cho các cửa tiệm tạp hoá mang ông về thực tại, quán cơm b́nh dân dưới đường bắt đầu bán điểm tâm buổi sáng. Ông đă thức trắng đêm, tuổi càng cao càng khó ngủ, mỗi khi trăn trở ông hay nghĩ nhiều về quá khứ, tất cả xảy ra trong đời ông mấy chục năm như chớp mắt, như cái bóng lướt qua rồi vụt mất. Nh́n qua cửa sổ trời đă mờ sáng, ba năm trước lúc ông đến đây cây thông phía sau cao ngang cửa bây giờ đă đến tận mái nhà.

Thời gian thắm thoát qua mau
Tuổi xuân vừa đó tuổi già đến ngay
(2)

Từ thuở thiếu thời đến giờ sắp bảy mươi tuổi, ông đă chứng kiến nhiều cuộc đổi thay của đất nước, của con người. Nếu là người bản xứ đă được nhận trợ cấp cho người cao niên, v́ trong giấy tờ hộ tịch ông chưa tới sáu mươi lăm tuổi, nên đoạn cuối cuộc đời c̣n vất vả v́ sinh kế. Nghĩ đến mẹ, người đă tần tảo sớm khuya bắt từng giỏ tôm, thúng cá, bán từng gánh gạo nuôi đàn con khôn lớn. Người cha nhọc nhằn việc đồng áng, tối đến bên đèn đă dạy các con điều phải lẽ trái, cách cư xử ở đời cho đúng đạo làm người. Nhớ người vợ quá cố, ông cảm thấy có lỗi v́ đă không làm tṛn bổn phận chồng lúc bà c̣n sinh thời, tuy bà không thiếu thốn về vật chất. Đôi khi ông có những mối t́nh bên ngoài, dù biết bà vẫn nhẫn nhịn làm thinh đúng phong cách của người đàn bà Việt Nam gia giáo, giữ thể diện cho chồng. Bà tin tưởng chồng không vất bỏ người vợ thời hàn vi do gia đ́nh hai bên mai mối và mẹ của năm người con ông yêu thương. Bốn người đă thành đạt hiện định cư tại Pháp, chỉ c̣n người con gái út ở Việt Nam, ông mong trở về nơi chôn nhao cắt rún và muốn được nằm cạnh bên bà ở quê nhà Phú Xuân sau khi qua đời.

Thời gian không thể nắm giữ hay quay ngược lại, cuộc đời ông đă trải qua bao thăng trầm, hai lần tạo sự nghiệp đều mất v́ chiến tranh. Trách ai đây ? Đó chỉ là những khúc quanh lịch sử mà ông là một trong những nạn nhân, ông chỉ buồn cho kiếp tha hương. Mỗi lần tạo một sự nghiệp tốn gần ba mươi năm của cuộc đời, giờ đây hai bàn tay trắng ông không c̣n đủ thời gian và sức khoẻ để tạo dựng cơ nghiệp lần nữa. Ông không tiếc danh vọng, tiền tài đă mất v́ đó chỉ là phù du, mà c̣n cảm thấy may mắn hơn nhiều người đă chết tại Việt Nam, những thuyền nhân bỏ mạng trên biển Đông và những người bản xứ kiếm sống qua những thùng rác hoặc vô gia cư ăn ngủ trên lề đường. Tiền tài là vật ngoại thân, lúc ta sanh ra hai bàn tay nắm hư không, khi chết cũng hai bàn tay không duỗi thẳng, cát bụi trở về cát bụi.

Đời người say giấc phù vân
Trăm năm rồi cũng tay không ra về
(3)

Người xưa có câu " Tri túc tiện túc, đăi túc hà thời túc ". Châm ngôn sống của ông Văn là hài ḷng với những ǵ đang có dù ở hoàn cảnh nào, v́ thế ông luôn nh́n đời lạc quan, vui vẻ ḥa đồng với mọi người. Ông c̣n cả một bầu trời cao biển rộng với vầng thái dương rực rỡ, một thế giới có t́nh người, trên mặt đất có cây xanh, hoa thơm, trái ngọt để thụ hưởng. Những điều nầy đă cho ông nghị lực tiếp tục kiếp sống tha hương của một người tỵ nạn. V́ mỏi mệt ông thiếp đi, trong giấc mơ thấy thực hiện được những điều mong ước.

Tôi muốn thành cánh chim trời
Bay về chốn cũ thăm quê hương
Nơi đó tôi có mẹ già
Có người yêu dấu, có trời.. Việt Nam
(4)

Cô Ba Tokai

California, December 1980
Bổ túc thêm October, 2008

 

Ảnh : Huỳnh Ngọc

 

 

Ghi chú :
(1) Trích từ nhạc phẩm Cho tôi lại từ đầu của Trần Quang Lộc
(2) Tục ngữ
(3) Trích từ Thư Pháp không rơ xuất xứ, anh chị biết xin mách dùm.
(4) Trích từ nhạc phẩm Cánh chim trời của Linh Giang

 
 

 


® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"