TẾT QUÊ NGOẠI BUỒN

Cô Ba Tokai

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ để lại cho con
Gia tài của mẹ là nước Việt buồn
(1)

Phú Lang Sa, danh từ nầy đă nằm trong kư ức tôi hơn năm mươi năm, gần đây được khơi dậy. Đối với gia đ́nh tôi, người Pháp và Tết Nguyên Đán gợi lại một kỷ niệm đau buồn xảy ra vào những năm binh lửa. Lúc ấy tôi chỉ được vài tuổi, tuy cố gắng ghi lại những ǵ c̣n nhớ nhưng có lẽ vẫn thiếu sót nhiều. Đây là câu chuyện buồn, phần cuối có những đoạn tang thương, nếu anh chị kiêng cữ không nên đọc bài nầy vào những ngày đầu năm. Vài danh từ trong bài là ngôn ngữ địa phương, v́ muốn giữ tính đặc thù của chúng tôi giữ nguyên văn, nếu không hiểu xin xem chú giải cuối bài. Bây giơ xin mời anh chị cùng tôi trở về quá khứ vào cuối thập niên 1940, khung cảnh một làng quê nhỏ của miền nam nước Việt.

Hai mươi bảy tháng chạp, mọi người đang chuẩn bị đón Tết. Nhà ông bà ngoại tôi cũng uyên náo, v́ là ngày những người đàn ông trong nhà phải chùi sáng tất cả các bộ lư hương đồng chưng bày trên bàn thờ tổ tiên và đàn bà chuẩn bị gói bánh Tét ăn trong những ngày Tết. Ông bà tôi có bảy người con bốn trai ba gái, cậu Hai lớn nhất sống chung với ông bà. Các cậu kế được gởi đi học ở Sàig̣n, sau khi ra trường đă làm việc. Hai d́ lớn theo chồng, mẹ tôi là con út nên được theo các anh lên tỉnh học và sinh sống. Theo thông lệ hàng năm tất cả cậu d́ đều tụ về đông đủ ăn Tết với ông bà.

Căn nhà của ông bà ngoại tôi lợp ngói ba gian hai chái, không lớn lắm, được dưng trên nền bằng đá cao hơn mặt đất độ nửa thước. Con sông chảy ngang phía trước là chi nhánh của gịng Tiền Giang, nước dẫn đến sông lớn chảy ra biển qua cửa bê? G̣ Công. Tôm cá theo luồng nước lớn rồng đến nơi nầy, đă tạo cho dân làng một mối thu nhập khả dĩ mỗi năm. Ven sông những cây dừa nước, bần mọc hoang rải rác, mỗi buổi trưa trẻ con thường ra đây tắm sông quậy phá. Trên bờ con đường đất nhỏ, được che mát bởi hàng dừa cao, ông tôi đă trồng khi cất nhà nầy. Ngăn chia con đường với căn nhà là hàng tre cao quá đầu và cửa tre dẫn vào hiên. Trước nhà có cái bàn thiêng, nơi bà tôi cúng vái trời đất vào những ngày mùng một, rằm âm lịch. Đây cũng là nơi cây nêu (2) được dựng vào ngày ba mươi tháng chạp đến mùng tám tháng giêng. Sau bàn thiêng, cây mai trồng đă lâu cao hơn hai thướt mỗi năm vào đầu tháng chạp ông tôi cắt bỏ tất cả lá để cây ra nụ non và nở hoa vào những ngày đầu năm. Nếu hoa mai đầu tiên nở vào ngày mùng một Tết tức báo trước điềm may mắn sẽ đến trong năm. Ông tôi tin màu chín vàng của cây quít biểu hiệu cho điềm cát lợi, nên nó được trồng cạnh cửa chánh, vào dịp Tết cây xum xuê đầy trái vàng ửng. Bên phải nhà một ao rau muống có cá, pḥng khi khách đến bất ngờ, bên trái vài giàn trầu, vài cây cau cao vút và những luống rau thơm xanh mướt đủ loại, có đàn gà con nương náu. Xát bên vách nhà một hàng lu lớn dùng hứng nước mưa để uống quanh năm. Phía sau một bồ lúa lớn đầy thóc, vừa gặt xong vào tháng mười. Sau hè vườn cây ăn trái đủ loại me, mít, soài, nhản, mận., ổi ....... và vài bụi chuối. Ngoài con sông phía trước, đồng ruộng bao bọc quanh nhà, vào mùa nầy lúa đă gặt xong đất khô ráo, chỉ c̣n lại những đóng rơm rạ dùng cấy nấm (3) và cho trâu ḅ ăn.

Sau buổi ăn sáng tất cả mọi người trong gia đ́nh bắt đầu công việc. Nhà sau bà, d́ và mẹ tôi người xếp lá chuối, tước dây lạc (4 ), kẻ đải đậu xanh, ngâm nếp.. sẳn sàng để gói bánh và nấu hơn mười tiếng ngày hôm sau. Bánh tét là món ăn thuần túy của người dân Nam bộ vào dịp đầu năm v́ nếp, đậu xanh là sản phẩm "cây nhà lá vườn". Phần lớn nông dân ngoài việc trồng lúa gạo, thường gieo một hay hai công đất gạo nếp dùng trong nhà quanh năm. Đâu xanh là thứ đậu rất dễ trồng, với khí hậu của miền nam chỉ cần rải hạt giống và tưới nước, ba tháng sau có đậu để dùng.

Tháng Giêng ăn Tết ở nhà
Tháng Hai trồng đậu, tháng Ba trồng cà
Tháng Tư th́ đậu đă già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô (
5 )

Ở nhà trước cậu Hai chia mỗi người em trách nhiệm chùi sáng vài món lư hương, chân đèn hoặc các dụng cụ bằng đồng, mọi người lănh phần rồi bắt tay vào việc. Chỉ dùng một loại dầu hoá học xoa đều lên mặt của món đồ đồng xong phơi ngoài nắng độ hai tiếng đến lúc chất dầu khô, dùng khăn hay quần áo cũ lau hết chất dầu và đánh bóng, việc nầy cần sức, cọ xát càng mạnh món đồ đồng càng bóng sáng.

Vọng lại từ xóm trên tiếng quết bánh phồng pha lẫn tiếng giă cớm dẹp, đây là tập tục người trong làng chuẩn bị vài món bánh mứt để biếu nhau trong dịp đầu năm. Thỉnh thoảng vài tiếng pháo nổ lưa thưa tạo ra không khí náo nức của những ngày cận Tết. Mọi người làm việc nói cười vui vẻ, ông tôi nằm trên chiếc vơng treo giữa hai cột nhà, kể con cháu nghe những chuyện lúc ông c̣n trẻ. Là con giữa của gia đ́nh với người chị lớn và em trai, cha mẹ chết sớm họ đă đùm bọc nhau. đến làng nầy định cư lập nghiệp vào cuối thế kỷ thứ 19. Chuyện ông kể làm thời gian qua mau, chẳng bao lâu đă hoàn thành mọi việc. Khi mặt trời đứng bóng, những bộ lư hương, chân đèn, ô trầu, thau và nồi... đồng đă từ màu teng (6 ) tối thành màu vàng sáng như mới.
.
Trong bếp bà ngoại chuẩn bị xong bữa cơm trưa, mọi người đă đói nên ăn rất ngon lành, nói cưới vui vẻ. Ông bà tôi nh́n đàn con cháu khỏe mạnh rất măn nguyện. Ông là người đọc sách thánh hiền, từ ngày c̣n trẻ đă làm việc đồng áng, khi rảnh nghiên cứu thuốc ta, những người trong làng khi cảm cúm hay t́m ông xin thuốc. Những ngày nước lớn ông ra sông giăng lưới rồi bà đem tôm cá bắt được ra chợ bán. Hai người đă nuôi các con trong hoàn cảnh không dư giả. Cuộc sống cơ cực đến khi cậu Hai lớn lên, đă từ chối không đi học, ở nhà phụ việc ruộng vườn. Nhờ vậy ông bà có thể gởi những đứa con kế lên Sài G̣n học. Hôm nay con, dâu, rể, cháu nôi, ngoại tụ hợp đông đủ, đây cũng là h́nh ảnh gia đ́nh đoàn tụ chỉ mỗi năm một lần vào dịp Tết.

Trong khi bữa ăn chưa kết thúc, chúng tôi nghe tiếng chân chạy dồn dập trước cửa, ông Tư ở xóm dưới dừng trước nhà nói một cách hối hả " Tây bố (7) anh Ba ơi, tụi nó đang ở làng trên" rồi ông chạy nhanh sang nhà bên cạnh. Vào năm 1941, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh được thành lập chống lại chính quyền Pháp, họ len lỏi trong dân làng hoạt động nhiều năm, quân đội Pháp thường hành quân lùng bắt người của hội nầy. Khi lính Pháp đến làng gặp đàn ông thanh niên đều nghĩ họ là Việt Minh nên bắt hoặc bắn tại chỗ. Đàn bà con gái nếu gặp những người lính thô bạo có thể bị cưỡng bức. Chúng vào nhà dân, làm hư hại ruộng vườn, khi đi bắt gà, vịt về đồn lính ăn nhậu, người dân không làm ǵ được chúng.

Ngay tức khắc mọi người trong nhà nhôn nhao, lo sợ từ xa tiếng súng vọng lại, ông tôi ra cửa xem xét t́nh thế, tiếng xôn xao càng lúc càng to hơn. Cậu Hai thông thạo đường lối trong làng nên ông bảo dẫn ba người em trai xuống xóm dưới lẩn trốn. Bốn người lập tức ra cửa sau chạy băng đồng mất dạng. Các d́ và mẹ tôi lấy khăn đội đầu, nhai trầu rồi dùng nước cổ trầu bôi đỏ quanh miệng giả như người già xấu xí, che mắt những người lính Pháp. Bà tôi bảo tất cả vào nhà trong nằm im lặng dưới sàn bộ ván gỗ. Nhà trên chỉ c̣n bà thu dọn chén đĩa và ông trở lại nằm trên chiếc vơng chờ đợi.

Không lâu sau ba người lính Pháp trẻ mặc đồng phục, đầu đội nón xếp kaki vàng mang giầy ống đen dính bùn, bước vào sân nhà trên tay cầm súng Cabin dài. Thấy ông tôi đang nằm trên vơng, chúng hỏi bằng tiếng Pháp, ông ra dấu không hiểu và cho biết đang bệnh không đứng dậy. Bọn lính không vào nhà chỉ đi ṿng quanh, lục xét các bụi cây sau hè xong trở lại hiên trước ngồi ở gốc cây quít nghỉ chân. Họ lấy thuốc trong túi ra hút, khi tàn điếu thuốc một người đứng lên bẻ quít ăn nhưng v́ chua nên nhăn mặt quăng trái quít đang ăn dở xuống đất. Đằng xa bỗng một loạt súng nổ vang ở hướng bờ sông, ba người người lính vội vàng đứng lên chạy ra khỏi nhà. Tiếng chân đuổi ḥa cùng tiếng súng, độ năm phút sau tiếng súng thưa dần rồi im lặng. Trời đă xế chiều, ánh tà dương đă ngă về phía Tây, nắng hoàng hôn loé những tia chói sáng sau cùng để sẽ tắt sau hàng tre khóm trúc cuối trời.

Mồng một Tết năm ấy là ngày đầu năm khó quên của gia đ́nh ông tôi. Trẻ con thay v́ mặc áo mới vui cười chạy tung tăng với bao ĺ x́ trên tay đi khoe hàng xóm, chúng không được phép ra khỏi nhà. Không tiếng cười, không lời mừng tuổi đầu năm, cũng không có bàn bầu cua cá cọp chơi trong nhà. Bên cạnh bàn thờ tổ tiên, một bàn thờ nhỏ thấp hơn được đặt thêm, trên bàn là bức h́nh của cậu Hai tôi mới chụp không lâu, cùng bộ lư hương nghi ngút khói, và cặp chân đèn chính tay cậu đă chùi sáng cách ba ngày trước.

Hôm ấy sau khi dẫn ba người em trai xuống xóm dưới, không muốn các em ẩn trốn cùng một chỗ nên cậu đă dẫn đến ba nơi khác nhau. Sau cùng cậu t́m chỗ trốn cho chính ḿnh, nhưng không kịp, quân lính Pháp đă đến đầu xóm. Thấy người đàn ông mặc bộ đồ bà ba đen đang chạy, với phương châm " thà giết lầm hơn tha lầm ", chúng đă nổ súng. Thi thể cậu được t́m thấy giữa đám dừa nước ven sông, v́ cận Tết nên đám tang tổ chức rất đơn sơ đă hoàn tất ngày ba mươi tháng chạp. Cậu Hai tôi sanh và lớn lên ở làng nầy, suốt đời làm việc cực nhọc, hy sinh cho cha mẹ, anh em, vợ con đă mất mạng một cách oan uổng. Cậu chết bỏ lại người vợ mới hơn ba mươi tuổi và sáu con, đứa lớn mười bốn, đứa nhỏ nhất vừa giáp thôi nôi. Đây cũng là số phận của những người dân đen Việt Nam phải chịu trong thời kỳ Pháp thuộc.

Từ hôm cậu mất ông tôi ít nói hơn, nét mặt trầm ngâm v́ đang chịu đựng một nỗi đau khổ, mà ông không ngờ đă đến với gia đ́nh ông quá đột ngột, nếu cậu chết v́ bệnh có lẽ nỗi đau khổ của ông ít hơn. Bà tôi hôm được tin con trai bi. Tây bắn chết ḷng bà quặng đau, người con trai đầu ḷng bà sanh ra nuôi nấng sống chung gần bốn mươi năm, đột ngột bỏ ra đi không từ giả. Ngồi trước bàn thờ con, nước mắt tuông trào, không ǵ bất hạnh hơn tre già khóc măng, ai nh́n cảnh nầy điều không khỏi ngậm ngùi. Cây mai trước nhà đă nở, những cánh hoa vàng sáng vươn ḿnh trong ánh nắng ban mai của buổi b́nh minh. Nếu ở thời điểm khác cả nhà rất hân hoan đón nhận điềm may mắn, nhưng vào lúc nầy mọi người không màng ǵ đến sự hiện diện của những cánh hoa đẹp nầy. Từ làng trên xóm dưới những tràng pháo nổ ṛn đón xuân vọng lại. Tiếng pháo tống cựu nghinh tân, như nhắn nhủ hăy để năm cũ đi qua, nên hướng về mùa xuân mới, đón chào những chồi lộc non đầy sức sống sắp vươn lên.

Người con trai út của cậu Hai hiện đang sinh sống ở Saig̣n. Hè năm 2000 tôi đă cùng anh trở về thăm làng cũ.

Về đây nh́n mây nước bơ vơ
Về đây nh́n cây lá xát xơ
Về đây mong t́m bóng chiều mơ
Mong t́m mái tranh chờ
Mong t́m thấy.. người xưa
( 8 )

Người xưa ! Ông, bà, cậu, d́ tôi..... nay không c̣n nữa. "Vật đổi sao dời", căn nhà ngày nào chỉ c̣n lại cái nền trơ trọi, và gốc cây me già.. Con sông đă ăn ṃn cả con đường, hàng tre..... nước bao bọc sân trước lẩn vườn sau, nhiều bụi ô rô ( 9 ) mọc hoang dại quanh nền nhà.. Xa ở cuối làng những mái tranh lũy tre thân quen ngày nào đă thành xa lạ. Trước mặt tôi, gịng nước vẫn lặng lẽ trôi như năm mươi năm trước, vài đám lục b́nh dật dờ theo gịng không biết sẽ đến bờ bến nào. Đứng trên nền nhà những h́nh ảnh ngày cũ lần lượt hiện về trong trí nào lúc theo bà ra vườn hái rau, khi tắm sông bẻ bần, cảnh gia đ́nh xum hợp vui vẻ, lúc Tây bố vào làng, khi bà ngoại khóc con..... bây giờ tất cả chỉ là kỷ niệm và cũng là hành trang hiếm quư để tôi mang theo trọn cuộc đời.

Ngoại tôi là nguồn nhân ái
Theo dấu bước tôi đi
Lúc tôi mơ về nhà
Ngoại tôi là gịng sông ngát
Chảy qua bao con tim
Yêu muôn đời...quê mẹ
(10 )


Cô Ba Tokai
California, February 2007


Chú giải : (1) Trích từ bản nhạc Gia tài của mẹ của nhạc sĩ  Trịnh Công Sơn ; (2) Cây Nêu : Thân tre cao độ 10 thước, trên chóp treo 1 cái giỏ tre trong có 1 lá bùa, 1gói muối và 1 gói gạo ; (3) Cấy nấm : trồng nấm ; (4) Dây lạc : loại dây tước từ một bộ phận của lá dừa ; (5) Ca Dao ; (6) Màu teng : màu đen pha xanh rêu ; (7) Tây bố : người Pháp đi hành quân ; (8) Trích từ bản nhạc Trở Về của nhạc sĩ Châu Kỳ ; (9) Ô rô : loại cây rể mọc trong nước lá nhô khỏi mặt nước dô. nửa thước ; (10) Trích từ bản nhạc Ngoại Tôi của nhạc sĩ Song Ngọc
 

 

 


® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"