Lời mở đầu

Bây giờ chính là lúc học lịch sử

 

   Nhật Bản hiện đang ở thời kỳ đổi mới lớn.

   Trong thời kỳ đổi mới này, cái ǵ sẽ thay đổi và cái ǵ sẽ không thay đổi? Nếu thay đổi th́ thay đổi như thế nào, yếu tố cũ nào nên giữ lại, yếu tố mới nào nên tiếp thu thêm?

   Nghĩ như trên, trước hết phải hiểu thấu cái ḍng lịch sử đă biến thành xương, thành thịt, thành con tim, thành “ḷng” người Nhật.

   Trong những cái coi là "có tính Nhật Bản," có cái đă h́nh thành sau cuộc chiến tranh Thái B́nh Dương[1], cũng có cái mới chỉ lan truyền rộng ra từ những năm chót của thập niên 1980, tức là khi "cơn thịnh vượng kinh tế bong bóng" hay là khi "xă hội ít con" đă xuất hiện, song cũng có cái đă được vun trồng trong sự kế thừa liên miên của lịch sử. Phần lớn những cái đó đă trở thành "tính dân tộc," "tính quốc dân" khó có thể thay đổi được.

   Xưa nay, Nhật Bản có đủ loại h́nh văn hóa du nhập vào. Tổ tiên người Nhật đă tiếp xúc bằng con mắt kinh hoàng những văn hóa về h́nh thức sinh hoạt, từ quần áo, thức ăn, nhà ở tới kỹ thuật, học vấn, nghệ thuật, đạo đức, tôn giáo, chính trị, v.v., rồi đă chọn lọc kỹ càng, cái th́ bỏ đi, cái th́ tiêu hóa đi rồi cải tạo và vun đắp thành "tính Nhật," "kiểu Nhật." Đây chính là một đặc trưng lớn của Nhật Bản và của người Nhật.

   Hiện nay, Nhật Bản đang ở thời kỳ biến chuyển mạnh. "Chiến tranh lạnh" kết thúc đă làm cho thế giới đổi mới, đồng thời cái "thể chế hậu chiến[2]" dễ thở ở Nhật Bản cũng đă băng hoại luôn rồi. Chính lúc này mới là lúc cần phải nh́n lại lịch sử, đi t́m cái lai lịch của Nhật Bản, t́m hiểu và nắm cho vững cái đặc sắc của xă hội và nền văn hóa mà người Nhật đă vun đắp lên.

   Những vấn đề thời sự như cục diện chính trị, biến động thị trường từng ngày từng giờ th́ đều dễ hiểu, dễ kể lại. Ai ai cũng ngóng nghe, và báo chí cũng loan truyền rộng răi. Tuy nhiên, nếu nghĩ tới tương lai nước Nhật và người Nhật, tới cái mối quan hệ của nước Nhật và người Nhật với thế giới, th́ cần phải nh́n thấu suốt lịch sử cùng bản chất của nước Nhật và người Nhật.

   Trong những căn nguyên đă làm thành cái đặc trưng của nước Nhật Bản và người Nhật Bản, cái đặc sắc của xă hội Nhật Bản, th́ có "vật" và "người," tức là "phong thổ" và "nhân vật."

   Nói về phong thổ, Nhật Bản quả có một địa thế đặc biệt trên thế giới.

   Thứ nhất, Nhật Bản nằm trong vùng gió mùa châu Á, có khí hậu tương đối ấm áp và ẩm ướt. Trạng thái này rất thích hợp cho việc trồng lúa. V́ thế, nền nông nghiệp trồng lúa đă phát triển rộng lớn. Lật lại những trang sử của Nhật Bản, người ta thấy rằng ngay sau thời đại bắt cá, gọi là thời "hoa văn dây thừng[3]," thời đại canh tác thóc lúa đă xuất hiện rồi. Thời đại "du mục, chăn nuôi" vốn chiếm vị trí quan trọng trong lịch sử thế giới, th́ lại không thấy có ở Nhật Bản. Núi non hiểm trở và b́nh nguyên nhỏ hẹp của lănh thổ Nhật Bản không thích hợp cho việc xua đuổi chăn nuôi những đàn súc vật đông đảo. V́ vậy, người Nhật chỉ có những quan hệ rất mỏng manh với gia súc, và như vậy so với những nước khác vốn đă có kinh nghiệm của thời chăn nuôi gia súc, th́ người Nhật tỏ ra yếu kém về thuật chế ngự những con vật có trí khôn.

   Đặc điểm thứ hai là lănh thổ Nhật Bản do bốn ḥn đảo lớn h́nh thành và ngăn cách với những nước khác bằng một "vùng biển không hẹp." Điều này có nghĩa là việc vượt biển vào Nhật Bản bằng số đông có tổ chức tập thể, có mục đích quân sự hoặc mục đích chính trị, th́ rất khó. Tuy nhiên, vùng biển này lại không rộng đến nỗi không thể vượt qua được, dù chỉ bằng kỹ thuật thô sơ của thời cổ xưa. V́ vậy, sự ghi chép về người Nhật xuất hiện trong triều đ́nh Trung Hoa đă có từ thế kỷ thứ nhất sau công nguyên.

   Nói cách khác, quần đảo Nhật Bản vừa có tính cách cô lập về mặt quân sự và chính trị, song mặt khác lại có tính giao lưu văn hóa từ cổ xưa. May mắn thay, ở bờ bên kia vùng biển không quá hẹp cũng không quá rộng này, có bán đảo Triều Tiên và đại lục Trung Hoa, tức là một trong những vùng mở mang tiên tiến nhất trong lịch sử văn minh nhân loại.

   Ở xa đại lục một quăng cách tương tự như Nhật Bản c̣n có Cuba và Madagasca. Song trong trường hợp những nước này, th́ châu lục Mỹ hoặc châu lục Phi ở bờ bên kia, lại chỉ có nền văn minh cổ đại không lấy ǵ làm phát triển cho lắm. Bởi vậy, những đảo quốc này đă không được sự du nhập liên tục của những văn hóa cao độ từ đại lục vào. Ở điểm này, có thể nói cái vị trí địa lư của Nhật Bản, vừa cách xa không để cho các thế lực quân sự vượt qua được, nhưng lại vừa đủ gần để cho văn hóa văng lai được, th́ quả là độc đáo trên thế giới.

   Đặc điểm thứ ba là bốn ḥn đảo chính của Nhật Bản làm thành một nhóm rất gọn. Hokkaido phát triển muộn hơn, chứ Kyushu, Shikoku và Honshu th́ đă hợp lại thành một nước và có điều kiện thiên nhiên để phát triển. V́ vậy, khi có cùng một nền văn hóa đă phát triển, nên nếu có một thế lực chính trị ṇng cốt ra đời, th́ toàn thể dễ trở thành một quốc gia.

   Chính v́ vậy mà kể từ khi lịch sử viết thành chữ ra đời, tức là từ tiền bán thế kỷ thứ VII, cho tới nay, một quăng thời gian khoảng chừng 1400 năm, ở Nhật Bản đă có nhiều cuộc tranh chấp chính trị, nhiều vụ nội loạn, song trong tất cả những bè phái tranh giành nhau như vậy, không thấy có ai tự ḿnh tuyên bố rằng "ta đây là một nước khác không phải là Nhật Bản." Phần lănh thổ chủ yếu th́ chưa bao giờ bị nước ngoài cai trị lâu năm cả, quốc gia cũng chưa bao giờ bị phân cắt.

   Ba điều kiện kể trên, tức là "địa thế và khí hậu," "vị trí quốc tế" và "sự tóm gọn của lănh thổ," quả thật đă có ảnh hưởng quan trọng và lớn lao tới lịch sử Nhật Bản. Có lẽ cũng v́ vậy mà người Nhật ưa luận về "phong thổ," bất cứ sự việc ǵ cũng thuyết giải từ phong thổ. Tuy nhiên, nếu chỉ chú trọng vào phong thổ không thôi, th́ đó cũng có khi nguy hiểm.

Thí dụ vơ tướng Oda Nobunaga là người có tính t́nh rất phóng đạt, th́ thường được giải thích rằng đó là bởi v́ ông sinh trưởng ở vùng b́nh nguyên Mino-Owari rộng lớn. Song le, thời đại Nobunaga sinh ra, th́ b́nh nguyên đó toàn là đồng lầy, có sông ng̣i chi chít và rất ít quăng rộng cho ngựa chạy ṿng quanh. Nghĩa là khó có thể nói rằng nhờ sinh trưởng ở vùng đồng bằng mà Nobunaga đă có tính t́nh phóng đạt như vậy được.

Nói cách khác, từ luận về phong thổ, rồi đi đến giải thích tính t́nh con người, hay có khi cả t́nh trạng của một chính quyền, là việc làm g̣ bó. Phong thổ Nhật Bản quả có ảnh hưởng rất lớn tới nước Nhật và người Nhật, song cái ǵ cũng chứng minh bằng sự xuất phát từ đó, th́ e dễ sinh ra nhầm lẫn.

   Ngược lại, ảnh hưởng của một "nhân vật" đặc thù nào đó, hoặc của một giai tầng hay tập thể mà nhân vật đó là tượng trưng, th́ không nhỏ. Có không ít những cái mà nay ta coi là đương nhiên, th́ một lúc nào đó trước đây đă do một người nào đó làm và từ đó đẻ ra tính độc đáo, tạo ra tính dân tộc riêng biệt của Nhật Bản.

   Dĩ nhiên cái đó không phải chỉ do năng lực của cá nhân đó hay sự ngẫu nhiên mà xẩy ra được. Có lẽ nên nói rằng người đó, giai tầng người đó đă làm công việc tất yếu lịch sử, th́ đúng hơn. Thế nhưng để cho dễ hiểu, nếu coi sự việc như vậy chẳng qua là đă được tượng trưng hóa bởi một nhân vật đặc thù nào đó, th́ đây không phải là phương pháp dở.

   Sách này chọn 12 "nhân vật" tượng trưng đă để lại ảnh hưởng sâu đậm đối với nước Nhật cho tới ngày nay.

   Những người này đă hành động như thế nào trong giai đoạn nào của lịch sử? Điều mà họ  đă làm c̣n tồn tại trong người Nhật ngày nay như thế nào? Nó đă ḱm hăm ư nghĩ của người Nhật, của xă hội Nhật như thế nào? Thế rồi từ nay về sau, trong sự giao tế với thế giới, nó sẽ ảnh hưởng ra sao?

   Cuốn sách này chính là muốn luận về những "nhân vật" này từ quan điểm như vậy.

   Trong luận cứ như vậy, cả những "sự thật" đă được thần thoại hóa trong lịch sử cũng sẽ được đề cập, chứ không riêng ǵ sự nghiệp lịch sử của người đó, lai lịch xác đáng của người đó, h́nh ảnh đúng của người đó trong thời đại người đó thực sự sống. Tuy nhiên, cái tổng thể, kể cả những điều như vậy, đang có ảnh hưởng như thế nào tới nước Nhật và người Nhật ngày nay, sẽ để lại cái ǵ cho Nhật Bản sau này, và sẽ tiếp tục có ảnh hưởng như thế nào, chính là điều chúng tôi có chủ ư t́m hiểu ở đây.



[1] Chiến tranh Thái B́nh Dương là nói mảng Thái B́nh Dương của trận Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

[2] “Thể chế hậu chiến” cũng gọi là “thể chế năm 55.” Xem chú 104 (Chương VII).

[3] Jomon Jidai.