Nguyên tác của : Sakaiya Taichi     Người dịch : Đặng Lương Mô

Chương III : Minamoto Yoritomo 

- Người sáng chế ra cấu trúc quyền lực hai tầng

 

"Chính quyền kỳ lạ" chưa hề thấy

   Minamoto Yoritomo sinh năm 1147 mất năm 1199, sau khi bị ngă ngựa nhân đi xem cầu dịp cuối năm trước đó, năm 1198. Tính tuổi đếm, ông thọ 53 tuổi. Thời ấy như vậy không phải là chết yểu v́ đó là tuổi thọ trung b́nh.

   Minamoto Yoritomo đă để lại trong lịch sử và dân tộc tính Nhật Bản một dấu ấn rất lớn. Nhất là nếu xét ảnh hưởng đối với Nhật Bản ngày nay, th́ dấu ấn đó càng sâu đậm.

   Công lao lớn nhất của Minamoto Yoritomo là sáng lập ra "phủ chúa" ("mạc phủ[1]") làm nền tảng cho chính quyền "vơ gia" (tức là "samurai"). Để đạt được mục đích này, ông đă phát minh ra một phương thức kỳ diệu. Nghĩa là, ông đă khéo léo sáng chế ra một "cấu trúc quyền lực hai tầng," triển khai ra toàn quốc nền chính trị "vơ gia" trong khi đó vẫn duy tŕ chế độ luật lệnh cũ sẵn có từ thời Nara.

   Nói Minamoto Yoritomo là nói người đă được phong Chinh Di Đại Tướng Quân, đă lập ra "mạc phủ" Kamakura, đă nắm quyền thống trị thực sự Nhật Bản. Điều này mọi người đều biết rơ.

   Vậy, Chinh Di Đại Tướng Quân mà Minamoto Yoritomo đă nhiệm chức là ǵ và "mạc phủ" do ông lập ra, là ǵ? Quyền lực bởi đó Yoritomo thống trị Nhật Bản có cơ sở pháp lư như thế nào? Nói cách khác, ông đă được ai đứng trên lập trường nào trao cho quyền hạn ǵ? Nghi thức và lập pháp ra làm sao? Lạ lùng thay là những chi tiết này lại ít ai biết tới.

   Nói Yoritomo làm Chinh Di Đại Tướng Quân, mở ra mạc phủ, người ta thường nghĩ ngay tới mạc phủ gần ngày nay nhất, tức là mạc phủ Tokugawa thời Edo[2] (1603-1867). Do đó, người ta tưởng tượng ngay rằng mạc phủ do Yoritomo lập ra thời Kamakura là cơ cấu thống trị giống như mạc phủ Tokugawa vậy.

   Tuy nhiên, cũng gọi là mạc phủ, song cơ cấu do Yoritomo lập ra ở Kamakura khác xa với mạc phủ Tokugawa cả về tổ chức lẫn chức năng. Từ nguồn gốc của quyền lực, từ cấu trúc thống trị tới con mắt nh́n vào đó của thế gian, tất cả đều khác nhau lắm. Mạc phủ do Yoritomo lập ra chưa từng có cho tới lúc đó, và như vậy với cảm giác của chúng ta ngày nay, th́ đó quả là một "chính quyền kỳ lạ." Song, chính đó là chỗ tiềm tàng tính sáng tạo đáng sợ của ông ta.

   Trải qua trước đó là thời đại Heian khá dài. Vua Kanmu thiên đô từ kinh thành Nagaoka sang kinh thành Heian năm 794. Từ đó, nếu kể khi Minamoto Yoritomo nhậm chức Chinh Di Đại Tướng Quân lập ra mạc phủ Kamakura năm 1192, cũng là lúc thời đại Heian chấm dứt và thời đại Kamakura bắt đầu, th́ thời đại Heian đă kéo dài 398 năm.

   Thành phố Tokyo đă trở thành trung tâm hành chính, tức là đă bắt đầu có chức năng của thủ đô, là kể từ khi mạc phủ Tokugawa được mở ra ở thành Edo năm 1603. Nếu tính liên tục th́ năm 2002, Tokyo sẽ phá kỷ lục của kinh thành Heian để trở thành đô thị có chức năng thủ đô lâu đời nhất trong lịch sử Nhật Bản. Với thời gian lâu như vậy, đô thị thường trở nên quá đông dân cư, hết nơi này đến nơi khác sinh ra t́nh trạng bất hợp lư. V́ vậy, cuộc thảo luận vấn đề dời đô đă diễn ra gần đây ở Nhật Bản, là chuyện đương nhiên. Trong cuộc thảo luận này, sự kiện Kamakura của Yoritomo tuy có chức năng của thủ đô, song trung tâm văn hóa và kinh tế vẫn c̣n là Kyoto, đă được đem ra tham khảo.

   Kinh thành Heian đóng vai tṛ kinh đô, và như thế đă tạo ra một thời đại có hệ thống hẳn hoi, tức là "thời đại Heian," một thời gian dài ngang với từ khi Tokugawa Ieyasu lập ra mạc phủ ở thành Edo cho tới Thành phố Tokyo ngày nay.

   Dĩ nhiên, trong 398 năm này đă có biết bao lần quyền lực được luân chuyển, bao nhiêu đổi thay rồi. Thời kỳ đầu của thời đại Heian th́ ít nhiều vẫn c̣n ảnh hưởng tàn dư của thể chế quốc gia luật lệnh thời Nara. Cái thể chế lúc đó hăy c̣n là tập quyền trung ương với vua làm trung tâm. Nhưng dần dần thể chế này băng hoại, để đến khoảng giữa thời kỳ Heian, th́ cả nước thành những trang viên, trang ấp do các nhóm quư tộc chia nhau cai quản.

   Thể chế quốc gia luật lệnh của thời đại Nara, là rập y theo khuôn mẫu của nhà Đường bên Trung Hoa. Do đó, thể chế tập quyền trung ương được tổ chức nề nếp ngăn nắp, gọi là "nhị quan bát tỉnh[3]."

   Nhị quan gồm có Thần Kỳ quan, tức là quan tôn giáo lo việc tế lễ, và Thái Chính quan tức là quan lo việc chính trị, tương đương với thủ tướng ngày nay. Dưới quyền chỉ huy của Thái chính quan có tám b (gọi là "tỉnh"), với các chức quan đại thần như là Dajodaijin, Sadaijin, Udaijin, Naidaijin, v.v., và các chức phó đại thần như Dainagon, Chunagon, Shonagon, v.v. Chế độ quan chức thật là chỉnh tề. Chế độ địa phương cũng được chỉnh đốn, xếp đặt gọn gàng.

   Đồng thời, phép "ban điền thu thụ" được thực thi.Theo phép này th́ tất cả đất trồng trọt đều thuộc sở hữu nhà nước. Mỗi người dân được cho mượn một khoảnh nhất định. Phép tắc như vậy trên thực tế đă được thực thi bao lâu và trên quy mô bao lớn, c̣n là vấn đề nghi vấn. Song, thực sự là chế độ như vậy đă được nỗ lực áp dụng một thời kỳ nhất định. Nghĩa là, thể chế của triều đ́nh nhà Đường đă được du nhập y nguyên, được tổ chức quy củ để xác lập chế độ tập quyền trung ương.

   Đến thời đại Heian, th́ thể chế trên dần dần băng hoại, chế độ trang viên, trang ấp sinh ra và quyền thống trị trang viên của bọn quư tộc trở nên mạnh mẽ. Đến nỗi, quyền lực trung ương không c̣n có ảnh hưởng tới những trang viên này, tức là lănh địa của bọn quư tộc nữa, khiến phát sinh ra cấu trúc phân quyền địa phương. Ngoài ra, đất đai của chùa chiền, của đền đài, do nhà vua hoặc quư tộc tặng cho, cũng chiếm diện tích khá lớn. Quản lư những lănh địa của quư tộc hay đất đai của đền chùa này, là đám vơ sĩ (samurai) ở địa phương. Đó chính là những quản gia kiêm vệ sĩ.

   Tóm lại, ở thời Heian th́ giới quư tộc xem vơ sĩ samurai là lớp người ti tiện. Quư tộc thường chỉ sinh hoạt ở kinh đô, như Hikaru Genji đă nói đến ở Chương II. Mà nếu họ có nhậm chức quan địa phương đi chăng nữa, họ cũng chẳng làm ǵ thật sự cả. Việc bắt nông dân hay đám nô bộc lao động gia tăng hoa màu để thu thuế ("niên cống") là công việc của vơ sĩ samurai. Công việc của vơ sĩ là dùng bạo lực đàn áp nông dân, thay cho giới người quư tộc không muốn nhúng tay vào việc này. V́ vậy, trong thời kỳ giai cấp vơ sĩ samurai mới h́nh thành như vậy, họ thường bị gọi là "bọn thầy chùa sát sinh."

   Tuy nhiên, ai đă được trao cho việc làm bạo lực như vậy, cũng dần dần mạnh lên rồi độc lập. Giai cấp vơ sĩ thời đại Heian không phải là ngoại lệ. Họ trở nên mạnh, qua việc đè nén nông dân ở hiện trường, trực tiếp quản lư sản xuất. Cùng với thời đại, họ mạnh lên, biết bớt xén niên cống đóng cho quư tộc, và nhờ đó có thể tự lập được về mặt kinh tế. Vơ sĩ samurai tự lập được như vậy quay ra đánh lẫn nhau để mở rộng thế lực. Trong một thời gian dài, giới quư tộc đă lợi dụng bọn vơ sĩ samurai trong cuộc tranh giành này để duy tŕ quyền lực của ḿnh trên thế cân bằng. Song, tới cuối thời đại Heian, người ta đă thấy xuất hiện những "cột trụ vơ sĩ," tức là những người lôi kéo được đông đảo vơ sĩ thần phục ḿnh. Đó là những vơ tướng, những sứ quân, như Genji, như Heike vậy.

  

Yoritomo xuất hiện

   Quư tộc nước nào cũng dẻo dai, bền bỉ. Nhất là quư tộc thời đại Heian lại càng dai dẳng, không dễ ǵ tiêu diệt họ được. Họ khiến bọn vơ sĩ đánh lẫn nhau để duy tŕ quyền uy của ḿnh. V́ vậy đă có loạn lớn. Năm 1147, tức là năm Minamoto Yoritomo ra đời chính là lúc bắt đầu của thời kỳ tao loạn này.

   Cha và ông nội Yoritomo, tức là Yoshitomo và Tameyoshi đă chia thành hai phe bạn và thù, đối địch với nhau trong cơn loạn năm 1156. Đám quư tộc thuộc ḍng họ Fujiwara, tuy lúc đó chỉ là làm cảnh, song đă nghiễm nhiên ngồi trên hai phe. Với bọn quư tộc, nếu không có sự ủng hộ của giới vơ sĩ samurai, họ không thể đánh nhau được. Mặt khác, đám vơ sĩ th́ không có đủ uy quyền đứng làm thủ lănh. Nói cách khác, vơ sĩ samurai th́ dùng quư tộc làm cảnh, quư tộc th́ lợi dùng samurai làm b đội chiến đấu.

   Minamoto Yoritomo thuộc ḍng chính của họ Seiwa Genji. Họ này xuất phát từ con vua Seiwa, được phong tên họ là Minamoto. Trong hàng vơ gia, họ này là danh giá nhất. Yoritomo sinh ra trong ḍng chính của họ này, cho nên năm mới 12, 13 tuổi đă được phong quan tước là "Tùng ngũ vị hạ ni tàng nhân[4]."

   Tùng ngũ vị hạ là tước vị thấp nhất trong hàng quan được vào chầu vua. Nhưng, ngay sau đó, năm 1159 lại có loạn Heiji. Cha Yoritomo, tức là Yoshitomo, đă thua Taira no Kiyomori. Yoritomo đă bị bắt giải về Kyoto và sắp bị chém th́ được ni cô Ikenozenni, người vợ thứ của Taira no Kiyomori lúc đó đă xuất gia, xin cho khỏi chết. Sau đó Yoritomo bị đày ra đất Izu.

   Sau đó khoảng 20 năm, tức là cho tới năm 33 tuổi, ông bị quản thúc dưới quyền quan địa phương. Trong khoảng thời gian này, h́nh như ông vẫn không ngừng thu thập tin tức, t́m hiểu t́nh thế. Sau này, từ một nơi chỉ đáng gọi là vùng quê hẻo lánh của nước Nhật, tức là Kamakura, ông đă trở thành một con người tinh tường tin tức, chính là v́ đă có năng khiếu từ thời bị lưu đày vậy.

   Taira no Kiyomori nổi loạn Heiji, nắm được quyền bính, nên tầng lớp vơ sĩ, cho đến lúc đó vẫn bị coi là giai cấp thấp hèn, th́ nay trở nên mạnh, và ngay trong việc chính trị, cũng bày tỏ được ư kiến mạnh bạo. Năm 1167, Kiyomori đă leo lên tới quan chức tối cao, tức là Dajodaijin. Tuy nhiên, chỉ ba tháng sau, ông từ chức để đi tu, song trên thực tế vẫn nắm thực quyền.

   Taira no Kiyomori là con người hào phóng li lạc, giống như vơ tướng Oda Nobunaga sau này, nên đă có tư tưởng cải cách. V́ thế, nên ông đă bị các thế lực cũ, đại biểu là pháp hoàng Go-Shirakawa, phản đối kịch liệt. Cái quan hệ giữa Taira no Kiyomori và pháp hoàng[5] Go-Shirakawa này cũng tương tự như quan hệ giữa Oda Nobunaga và mạc tướng (Shogun) Ashikaga Yoshiaki vậy.

   Thế rồi, thời toàn thịnh của Heike kéo dài được 10 năm. Vào khoảng năm 1180 (niên hiệu Trị Thừa năm thứ tư) th́ cả nước Nhật Bản bi nạn đói hoành hành. Trận đói này làm một yếu tố quan trọng trong cuộc phân tranh Genpei[6]. Nhân trận đói này, ḷng dân phẫn uất trước quyền cai trị của Heike, và loạn lạc bùng ra tứ phương. Việc Minamoto Yoritomo đă khởi quân chống lại nhà Heike, không phải là duy nhất. Trong t́nh trạng đói kém đó, những đám phản loạn tương tự đă phát sinh ra ở khắp nơi.

   Tháng 4 năm 1180, Yorimoto đă được mật chiếu chinh thảo họ Taira của vua Mochihito. Tháng 8, ông dương cờ phản ở Izu. Trong trận đánh với các tướng của Heike như bọn Oba Kagechika ở Ishibashiyama, thuộc Sagami, nay là thị trấn Odawara, tỉnh Kanagawa, ông bị thua, suưt bị bắt, song đă thoát nạn nhờ ẩn náu trong hang ở Sugiyama. Ngày hôm sau, quân Heike lùng soát hang động, ông sắp bị bắt th́ may được tướng của Heike là Kajiwara Kagetoki v́ t́nh mà tha cho chạy thoát[7]. Cảnh này đời sau thường được ca ngợi trong những màn kịch cổ.

   Thoát nạn, Yoritomo theo đường biển thoát sang đất Awa (nay là địa phận tỉnh Chiba). Ở đây, nhờ được sự tiếp viện của các tướng như Kazusanosuke Hirotsuke hoặc Chibanosuke Tsunetane của ḍng họ Miura, lănh chúa[8] vùng Joso Kaso (nay cũng thuộc tỉnh Chiba), ông đánh ngược lên chiếm các vùng đất Kanto[9]. Trong khi đó, t́nh trạng xă hội trở nên vô cùng bất ổn v́ trận đói hoành hành. Tập thể vơ sĩ samurai hạ cấp do Heike thống suất đă tan ră.

   Trong khi Yoritomo đánh lên phía bắc, th́ tháng 10 cùng năm đó đă có trận đánh ở Fujikawa. Viên đại tướng tổng chỉ huy quân chinh phạt Yoritomo, là Taira no Koremori, mặc dầu trong tay có đại quân, mà nửa đêm chỉ v́ nghe thấy tiếng v cánh bay của đàn vịt trời, bỗng kinh hồn bỏ chạy về mất. Theo sách Sơn Hoè Kư (Sankaiki) th́ viên tướng này "nghe thấy tiếng vỗ cánh của bầy vịt trời, tưởng lầm là bị địch đánh úp ban đêm." Tuy nhiên, về mặt số lượng th́ quân Taira đông hơn nhiều, nên hẳn phải có nguyên nhân khác nữa làm cho viên tướng này khiếp sợ. Có lẽ đây là v́ đám vơ sĩ hạ cấp thuộc hạ thiếu ăn bất măn nên dám làm loạn bất cứ lúc nào.

   Thêm nữa cái bất hạnh cho phe Heike là năm 1181, Kiyomori đă chết v́ bị cảm sốt.

   Yoritomo thắng trận Fujikawa, nhưng sau đó hầu như không ra trận nữa. Những trận đánh chinh thảo Heike sau này là do Minamoto Yoshinaka ở Kiso. Từ Kiso khởi binh, Yoshinaka đă phá quân Heike ở đèo Gurikara, rồi men đường Hokuriku đánh tới kinh đô Kyoto. Ông quét sạch quân Heike sau khi đoàn quân này đă mất chủ soái Kiyomori, rồi lên làm Chinh Di Đại Tướng Quân. Nắm được quyền bính ở kinh đô, thanh thế Yoshinaka lớn lắm, đến nỗi người đời đó đă gọi ông là "tướng quân mặt trời mọc." Thế nhưng, một mặt ông bị sự đối lập của phe muốn bảo tồn quyền lực của quư tộc ở kinh đô, một mặt quân đội của ông cũng gây nhiều nhũng nhiễu làm mất ḷng dân, có lẽ v́ lương thực không đủ để nuôi quân.

   Tháng 10 năm 1183, Yoritomo được sắc phong tổng lĩnh binh quyền khu vực miền Đông. Yoshinaka không bằng ḷng việc này, đă quản thúc pháp hoàng Go-Shirakawa. Do đó, pháp hoàng đă cho Yoritomo mật chiếu chinh phạt Yoshinaka.

   Được mật chiếu, Yoritomo phái hai em là Noritomo và Yoshitsune đi đánh Yoshinaka. Yoshitsune đă phá Yoshinaka ở Ujikawa, kéo quân vào kinh thành Kyoto. Sau đó, ông đuổi quân Heike ở Ichinotani, nay là thành phố Kobe, thuộc tỉnh Hyogo, bao vây địch quân ở Dannoura hơn một năm mới phá tan được. Như thế là cuộc phân tranh Gempei chấm dứt, và từ đó quyền độc tài quân sự bởi họ Minamoto đă được thực hiện.

  

"Chinh di đại tướng quân" chỉ là một chức tư lệnh quân đội

   Trong khoảng thời gian cuộc chinh phạt diễn ra như trên, th́ Yoritomo làm ǵ? Ông đóng quân ở Kamakura, giữ vững quyền cai quản miền Kanto. Chẳng hạn, ông đem quân quét sạch vùng đất của họ Satake, nay là tỉnh Ibaraki, vốn cũng thuộc ḍng họ Genji, lúc đó mưu toan độc lập. Ấy đại để ông chỉ có chiến công như vậy thôi, chứ không có những chiến công hiển hách như Yoshitsune. Như vậy kể cũng lạ đối với một vơ tướng đă b́nh định được thiên hạ như Yoritomo.

   Yoshitsune sau khi chinh phạt xong Yoshinaka, chiếm được kinh đô Kyoto rồi th́ tiếp tục đánh tới bờ biển phía tây, quét sạch họ Heike. Song, như vậy sao tránh khỏi giữa Yoshitsune và Yoritomo, hoặc giữa Yoshitsune và pháp hoàng Go-shirakawa có sự bất ḥa. Yoritomo chỉ chờ như vậy để xua quân thảo phạt các em ḿnh. Thêm nữa, Yoritomo lại chinh phạt luôn cả Fujiwara Yasuhira, lănh chúa đă được bốn đời của đất Hiraizumi, thuộc địa phương Oshu, v́ đă che dấu Yoshitsune khi ông này bị lùng bắt đă chốn sang đất ấy. Tóm lại, Yoritomo đă dùng vơ lực trong thế chờ đợi an nhàn, nên đă dễ dàng đắc thắng, chiếm được quyền chi phối toàn nước Nhật. Thật là khôn ngoan, song không được quần chúng hâm m.

   Bây giờ, ta thử t́m hiểu xem Yoritomo lúc ấy chính thức giữ địa vị ǵ? Ta sẽ thấy vô cùng thú vị.

   Như đă nói ở trên, lúc 12, 13 tuổi, Yoritomo đă được phong tước Tùng ngũ vị hạ, rồi lănh chức Hyoe no Suke, tức là chỉ huy phó của một đội bảo vệ, ngày nay tương đương với vụ phó ở cơ quan trung ương. Tuổi mới 12, 13 cho nên đây chỉ là chức vụ tượng trưng. Sau đó, v́ loạn Heiji, Yoritomo đă bị cách khỏi chức vụ này và bị đày ra miền Đông.

   Sau khi dẹp xong họ Heike, Yoritomo đă được đền đáp công lao như thế nào? Ông đă được pháp hoàng Go-Shirakawa ban cho "quyền sa thải" ở miền Đông. Theo ngôn ngữ ngày nay, th́ quyền này tương đương với quyền của một tỉnh trưởng. Nói cách khác, Yoritomo đă nắm được quyền ni chính của miền đông nước Nhật. Năm 1184 (niên hiệu Nguyên lịch nguyên niên), dẹp xong Yoshinaka, và năm sau (niên hiệu Văn trị nguyên niên) th́ diệt xong họ Heike. Tháng 11 năm đó, Yoritomo được lănh quyền chỉ định các quan trấn thủ, quan cảnh vệ các châu quận toàn quốc. Như thế ông đă tạo ra được một cơ chế khiến samurai trong cả nước đă mặc nhiên phải trở thành thuộc hạ của ông. Nghĩa là, ông mới chỉ nắm được quyền quân sự và quyền cảnh sát trên toàn quốc, chứ chưa hẳn đă được giao phó toàn quyền cai trị. Hơn thế nữa, người trao quyền như vậy cho Yoritomo lại chỉ là pháp hoàng Go-Shirakawa (một ông vua đă thoái vị đi tu), nên sự việc này không có cơ sở pháp lư nào cả.

   Trong khoảng thời gian ngắn trước sau những diễn biến trên, Yoritomo đă đặt ra ở Kamakura cái gọi là "sở công văn" và "sở vấn chú[10]." Hai sở này thật ra chỉ là "sở tư," "xí nghiệp tư" để quản lư tài sản riêng của Yoritomo mà thôi. Mặc dầu có quy mô lớn hơn, chúng không khác ǵ những cơ cấu tương tự đă được giới quư tộc lập ra để quản lư trang viên của họ.

   Tuy nhiên, nhờ nắm được thực quyền trong tay, Yoritomo đă đưa được người quư tộc của phe phái ḿnh vào địa vị trọng yếu. Chẳng hạn, ông đă đề nghị thành công cho Kujo Kanezane vào chức Nairan, quan chức tương đương với "chuẩn quan bạch[11]" có quyền duyệt xét mọi sắc sớ trước khi tâu vua, nghĩa là, ông đă đưa được vây cánh của ḿnh vào địa vị quyết đoán chương tŕnh nghị sự để thao túng triều đ́nh.

   Khoảng 5, 6 năm sau, tức là vào năm 1190, Yoritomo mới lần đầu tiên được yết kiến pháp hoàng Go-Shirakawa và được phong Gon Dainagon U-Konoe Taisho (Quyền Đại Nạp Ngôn Hữu Cận Vệ Đại Tướng). Chức đó, sau này Oda Nobunaga cũng giữ lâu năm, chỉ là chỉ huy trưởng cảnh sát trấn giữ cung vua, tương đương với một bộ trưởng thường. So với Taira Kiyomori đă lên tới Dajodaijin (tướng quốc) th́ chức vị của Yoritomo hăy c̣n khiêm nhượng lắm, song dù sao như vậy ông cũng đă lên tới địa vị đáng nể trong thể chế luật lệnh đương thời.

   Thế nhưng, ngay năm sau, ông từ chức đó. Như vậy là trong thể chế luật lệnh ông đă trở thành vô vị vô quan. Năm 1192, ông được phong Chinh Di Đại Tường Quân và lập ra "mạc phủ" ở Kamakura.

   Vậy th́ Chinh Di Đại Tướng Quân là ǵ? Thói thường, nghe Chinh Di Đại Tướng Quân, người ta nghĩ ngay rằng đó là quan chức tố cao của mạc phủ, đương nhiên có quyền cai trị thiên hạ. Nhưng đó là kể từ sau nhà mạc phủ Tokugawa. Chứ thời Yoritomo nhậm chức đó th́ không phải như vậy.

   Không phải Yoritomo là người đầu tiên nhậm chức Chinh Di Đại Tướng Quân. Đầu tiên là Otomo Otomaro. Ông này được phong chức đó đúng năm kinh đô Heian được lập ra, tức là năm 794.

Thời đó, miền đông Nhật Bản, tức là từ vùng Kanto tới vùng Tohoku ngày nay, c̣n có người Ezo chưa chịu thần phục triều đ́nh Yamato, cư ngụ. Theo nhân chủng học, th́ trong đám người này có lẽ có người thuộc dân tộc Ainu. Tuy nhiên, thời ấy, tất cả những người ở miền đông không chịu tuân theo triều đ́nh Yamato, đều bị gọi là Ezo. Cũng như vậy, những người ở miền nam Kyushu thời đó không chịu thần phục triều đ́nh Yamato, th́ gọi là Kumaso.

Chinh Di Đại Tướng Quân là chức quan đánh dẹp người Ezo, đối lại với chức quan đánh dẹp miền nam là Trấn Tây Đại Tướng Quân. Nói cách khác, Chinh Di Đại Tướng Quân là tổng tư lệnh quân đội miền Đông, chẳng qua là một chức vơ quan lâm thời.

Người thứ hai nhậm chức Chinh Di Đại Tướng Quân, tổng tư lệnh quân đội miền Đông, là Sakanoue no Tamuramaro, người đă khai khẩn vùng Tohoku, biến vùng đất giá lạnh đó thành rung cấy lúa được.

Người thứ ba là Fun’yano Watamaro, không nổi tiếng lắm. Từ đó, vùng Tohoku đă đặt dưới quyền cai trị của triều đ́nh Yamato, nên chức Chinh Di Đại Tướng Quân bị bỏ đi.

Rồi một thời gian sau, Yoshinaka vào kinh đô, thành Chinh Di Đại Tướng Quân như đă kể trên. Đúng ra, người ta cho rằng chính Yoshinaka đă tự phong cho ḿnh chức đó. Thế rồi, sau khi Yoshinaka mất, chức này lại bị bỏ trống tám năm nữa. Đến năm 1192 mới lại thấy Minamoto Yoritomo thụ phong chức này.

Xem như trên, ta thấy rằng chức vơ quan lâm thời tổng tư lệnh quân đội miền Đông, Chinh Di Đại Tướng Quân, chỉ là một quan chức nhỏ, nhất thời trong thể chế luật lệnh. Thế nhưng, Minamoto Yoritomo đă lợi dùng quyền chỉ định và sa thải các tư lệnh địa phương mà trước kia pháp hoàng Go-Shirakawa đă ban cho ông bằng một bức thư riêng, khiến samurai toàn quốc phải nghe theo chỉ thị của ḿnh sau khi được phong tổng tư lệnh quân đội miền Đông.

Tóm lại, cái cơ sở pháp lư cho Yoritomo nắm quyền thống trị toàn quốc thật là kỳ lạ.

  

Bề ngoài là thể chế luật lệnh, thực chất là cơ chế "mạc phủ"

   Thêm nữa, cái khôn ngoan đáng sợ của Minamoto Yoritomo là giữ nguyên thể chế quan lại "nhị quan bát tỉnh," không đụng chạm ǵ đến các quan chức ở kinh đô từ Dajodaijin, Sa-Udaijin trở xuống.

   Cấu trúc hai tầng về quyền hạn, quyền lực: Đây mới là điểm sáng tạo độc đáo, đồng thời là điểm đáng ngại của Yoritomo.

   Tổng tư lệnh quân đội miền Đông (Chinh Di Đại Tướng Quân) không những đă chỉ nắm quyền quân sự của quân đội miền Đông, mà c̣n lần lượt đặt ra và phong thêm nhiều quan chức khác nữa. Đây là những "quan chức ngoài luật lệnh," tức là những quan chức không có quy định trong luật lệnh. Người ta nói, người Nhật quen xử sự theo hai cách: "vỏ ngoài (h́nh thức)" và "mặt trong (thực chất)." Yoritomo biết phân biệt thể chế luật lệnh (h́nh thức) và cơ chế mạc phủ (thực chất), làm thành một cấu trúc quyền lực hai tầng, không phải đă không có liên quan mật thiết với điều đó.

   Tư tưởng "dịch tính (hoặc dịch thế) cách mạng" phát sinh ra ở Trung Hoa thời cổ xưa, như đă nói ở trên, coi thiên tử là người nhận thiên mệnh (mệnh trời) trị thiên hạ. Nhưng nếu đức cạn khiến sinh ra trong nhà một kẻ thất đức, th́ họ này không c̣n tư cách làm thiên tử nữa, và một họ khác có đức hơn sẽ nhận thiên mệnh lập ra ḍng vua khác, nghĩa là đổi đời, đổi họ  vậy. Đây là tư tưởng chính trị nh́n nhận cách mạng. Tư tưởng này lan ra khắp vùng đông châu Á: Trung Hoa th́ đương nhiên, cả Mông Cổ, Hàn Quốc (và Việt Nam nữa), đâu đâu cũng có nhiều lần thay đổi triều vua. Ở châu Âu hay Ấn Độ cũng vậy, hể có thay đổi người nắm quyền lực th́ có thay đổi triều vua.

   Thế nhưng, duy có Nhật Bản là nước "vạn thế nhất hệ (muôn đời một ḍng họ)." Ở đây, kể từ Thái tử Shotoku, người Nhật đă thấm nhuần khái niệm một người có thể tin một lúc nhiều tôn giáo, cho nên sau khi Đạo Phật đă truyền vào rồi mà Đạo Thần (tức là Shinto, Thần đạo) vẫn sống c̣n. Lại thêm có Yoritomo nghĩ ra phương pháp thành lập chính quyền samurai trong lúc vẫn duy tŕ triều đ́nh với thể chế luật lệnh giữ nguyên vẹn. Với hai việc như vậy, người ta thấy rằng cái tuyệt đối, cái duy nhất, cả về tinh thần lẫn về chính trị, đều không c̣n ở xứ này nữa. Có chăng chỉ c̣n loại người biết thực tế, biết thỏa hiệp khéo léo, mà thôi.

   Đúng ra, "mạc phủ" thời Kamakura không phải đă cai trị được đất đai cả nước Nhật Bản. Mạc phủ Kamakura với tư cách tổng tư lệnh quân đội miền Đông, tuy đă thu hút được samurai trên toàn quốc vào dưới trướng của ḿnh, song trên thực tế, đất đai do samurai cai quản mới chỉ được một nửa trên toàn quốc. Một nửa c̣n lại là trang viên của quư tộc hay của đền chùa. Những nơi này v́ không thuộc quyền quản lư của samurai, nên quyền hành của b tổng tư lệnh quân đội miền Đông không ảnh hưởng tới được.

   Thêm nữa, mạc phủ Kamakura cũng không có quyền chỉ định các quan chức của thể chế luật lệnh, từ Dajodaijin trở xuống. Quyền này vẫn là thuộc triều đ́nh ở Kyoto. Duy, các quan chức như vậy trên thực chất đều không có quyền hành ǵ tương xứng cả.

   Triều đ́nh có quyền cai trị đất đai và quyền phong quan cai trị, song mạc phủ Kamakura lại có vơ lực, nên khi cần có thể bắt giữ lưu đày quư tộc hay hoàng tộc. Việc đó đă xẩy ra sau chính biến Thừa Cửu năm 1221, khi quan phụ chính Hojo Yoshitoki và người con kế nghiệp là Hojo Yasutoki hành sử quyền đó.

   Yoritomo c̣n học thêm được một bài học sau cái thất bại của Taira no Kiyomori. Ông đă tách chức năng thủ đô đem ra Kamakura, một nơi xa hẳn kinh đô để tránh ảnh hưởng của bè phái và quyền lợi. Ông đă, bằng sự cách ly về địa lư và h́nh thái của hai đô thị, thực sự cho người ta cảm thấy rơ rệt cái cấu trúc hai tầng của quyền lực, một h́nh thức và một thực chất.

   Từ đó cho tới thời Minh Trị, triều đ́nh nước này luôn luôn đóng ở kinh đô, song trung tâm hành chính th́ đổi chỗ từ nơi này sang nơi khác. Nhờ thế, thể chế chính trị có thể đổi khác, song văn hóa vẫn được kế thừa. Yoritomo, v́ có tính đa nghi, nên đă cảm thấy cần cách ly công khanh với vơ sĩ samurai phần v́ sợ sức thẩm thấu văn hóa của triều đ́nh và công khanh vào vơ sĩ samurai, phần v́ e ngại sức mạnh của ḷng hâm mộ của vơ sĩ samurai đối với văn hóa công khanh.

   Minamoto Yoshitomo đă tránh không đối đầu toàn diện với thể chế cũ, và bằng một thủ đoạn hiện thực khéo léo đă lập ra một chính quyền trong t́nh trạng mập mờ về mặt pháp lư. Có thể nói, ông đă đả phá cái quan niệm thường thức là "một nước chỉ có một chính phủ."

   Tuy nhiên, thấy làm như vậy được th́ hết người này tới người khác bắt chước làm theo. Có người sẽ nghĩ rằng: Nếu những quan chức như Dajodaijin hay Sa-Yudaijin mà chỉ có danh không có thực quyền cũng được, th́ ngay Chinh Di Đại Tướng Quân, tức là tổng tư lệnh quân đội miền Đông, cũng có thể đôn lên làm v́ để cho kẻ dưới nắm lấy thực quyền chứ ǵ?

   Thực hành điều đó chính là vợ Yoritomo, tức là Hojo Masako và người cháu ruột tên là Hojo Yasutoki. Khi con cháu Yoritomo tranh giành sát hại lẫn nhau không c̣n ai nữa, th́ hai người này bèn lựa trong hàng ngũ công khanh ở kinh đô một người xứng đáng để đôn lên làm tướng shogun, c̣n thực quyền th́ giao cho nhân vật đứng ngay dưới shogun, gọi là Chấp quyền ("phụ chính") do ḍng họ Hojo nắm giữ. Nghĩa là một người chỉ tương đương với chức tham mưu hoặc chánh văn pḥng của bộ tổng tư lệnh quân đội miền Đông, đă nắm được thực quyền, thao túng bộ tổng tư lệnh này vậy.

  

Bắt đầu truyền thống "thực quyền thuộc kẻ dưới"

   Sự việc trên vừa đúng là cái mặt trái của h́nh tượng quư phái kiểu Hikaru Genji đă nói ở chương trước. Nó c̣n có ảnh hưởng tới h́nh dạng cơ cấu quyền lực của Nhật Bản ngày nay nữa. Trong xă hội Nhật Bản bây giờ, th́ thủ tướng hay bộ trưởng các bộ không nắm thực quyền bằng một giám đốc trực thuộc, hay đúng hơn, có nhiều trường hợp không bằng một vụ trưởng. Không phải chỉ có thế, cái suy nghĩ cơ bản là, người ngồi trên th́ không nên "chi li" quá, không nên tỉ mỉ quá. Người có trách nhiệm tối cao chỉ nên ngồi làm tượng trưng, c̣n thực quyền th́ trao cho các cấp thực thi ở dưới. Như thế mới là cách làm việc đúng.

   Chính phủ Nhật Bản ngày nay đă kế thừa trung thực truyền thống ấy. Bộ trưởng chỉ đọc cái ǵ quan liêu (công chức) đă viết ra thôi. Nếu đọc sai th́ bị chê là "bậy."

   Chẳng hạn, thời nội các Kaifu[12] đă xẩy ra "vụ tê-ta" như sau. Đảng đối lập đặt vấn đề "nên cải cách thuế tiêu thụ." Họ lư luận rằng những mặt hàng như thực phẩm th́ nên áp dụng thuế suất nhẹ.

   Lúc ấy, Thủ tướng Kaifu, được đám quan liêu (công chức) Bộ Kho bạc đưa cho tờ ghi chép viết rằng: "sẽ mạnh dạn xem lại thuế tiêu thụ[13]," song không biết có phải cố ư hay không, ông đă đọc sai thành: "sẽ (có những) xem lại mạnh dạn thuế tiêu thụ[14]." Nghĩa là, ông đă nói sai chữ "tê" thành chữ "ta", nên mới gọi là "vụ tê-ta."

Cùng là một tiếng Nhật (omoikiru), song nói "omoikitte" (ô-môi-kít-tê, thể tiến hành hiện tại) hay nói "omoikitta" (ô-môi-kít-ta, thể quá khứ), th́ ư nghĩa khác nhau nhiều lắm. Đám công chức Bộ Kho bạc viết "sẽ mạnh dạn xem lại thuế tiêu thụ" là ư nói "nên sửa lại thuế tiêu thụ hay không là vấn đề c̣n lưỡng lự, song xin hứa sẽ mạnh dạn xem để sửa lại." Cũng có thể hiểu là sẽ xem lại song không hẳn sẽ có cải cách lớn. Song, như Thủ tướng Kaifu nói "sẽ xem lại mạnh dạn..." th́ như vậy nghĩa là "sẽ làm những cải cách mạnh dạn."

Đám công chức Bộ Kho bạc nổi giận. Một người trong đám họ dám nói: Một tên thủ tướng mà dám đọc sai câu viết của cơ quan chủ quản, là ư ǵ?

Đúng ra, y định nói "một tên quan lại" song đă buột miệng ra thành "một tên thủ tướng." Đây chẳng qua là cái cảm nghĩ thường ngày của một cán bộ cao cấp đă ngẫu nhiên vuột ra không kiềm chế được.

Ở Nhật, không cứ ǵ đám quan liêu Bộ Kho bạc, mà ngay ở các xí nghiệp cũng vậy, có rất nhiều khi người ta muốn xổ ra "một tên tổng giám đốc!"

Dù là thủ tướng, nhưng cũng phải để cho ư kiến của chuyên gia thuộc hạ được thông qua. Ở xí nghiệp cũng vậy, tổ chức càng lớn th́ người ngồi trên chóp bu càng nên nghe theo ư kiến của cấp dưới sau khi những người này đă nghiên cứu kỹ càng rồi. Điều này là chuyện đương nhiên. Không làm ngược lại cấp dưới:"Chí lư! Tụi bay đă làm tốt lắm. Tao sẽ đọc y hệt như vậy. Hiểu rồi. Hiểu rồi." Nói như vậy mới đáng gọi là thái độ của kẻ cả, của người làm lớn, được trọng vọng ở Nhật Bản vậy.

Nhờ Minamoto Yoritomo sáng lập ra chế độ thao túng chính trị bằng cách đẻ ra rất nhiều "quan chức ngoại lệ," nên một tiền lệ đă h́nh thành, theo đó cơ cấu thượng tầng được bảo tồn trên h́nh thức, nhưng thực quyền đă được chuyển giao cho cơ cấu hạ tầng. Kết quả là đám quư tộc sống dựa vào thể chế luật lệnh ở kinh đô vẫn duy tŕ được tư thế danh gia thế phiệt. Nhờ vậy mà đă chỉ có rất ít máu chảy, một sự phân công nghiệp vụ đă h́nh thành: Vơ sĩ samurai th́ đảm đương quân sự chính trị, c̣n quư tộc th́ đảm đương văn hóa.

Cũng v́ vậy mà nền văn hóa do quư tộc ở kinh đô đảm đương đă thiếu sinh khí, thiếu thực cảm sinh hoạt. Tuy nhiên, phải nh́n nhận rằng nó có hiệu quả giữ được nhân tài bảo h văn hóa.

Phải chờ đến 300 năm sau, tức là tới hậu bán của thời Muromachi mới thấy tầng lớp vơ sĩ samurai bắt đầu sáng tạo ra văn hóa mới. Lúc ấy, vơ sĩ samurai lớp trên của nhà mạc phủ Ashikaga, tức là hàng quận thú, thái thú th́ lần lần quư tộc hóa, nên bị đám lănh chúa mới nổi lên dần dần chiếm đoạt mất thực quyền. Đến thời vơ tướng Oda Nobunaga th́ quư tộc Heian suy đồi đến nỗi không c̣n năng lực đảm đương văn hóa nữa. Sang tới xă hội ổn định của thời Tokugawa th́ văn hóa quư tộc Heian lại phục hưng. Do đó, những nghề nghiệp như công nghệ cổ truyền ở vùng quanh kinh đô đă hưng thịnh lên nhờ tiếp nhận thêm kỹ thuật sản xuất mới.

Nếu những người có tiền bạc, có sức mạnh, có thực quyền đứng ra xúc tiến hoạt động văn hóa như ở Anh, ở Pháp, th́ hạng người vơ biền như Nobunaga, như Hideyoshi, cũng có thể đă làm bén rễ ở Nhật Bản những văn hóa đồ sộ từ lâu rồi.

Những công tŕnh kiến trúc như thành Azuchi, thành Ozaka, cung Jurakudai[15], đều đă làm cho các nhà truyền giáo đạo Cơ đốc kinh ngạc và thán phục, bởi v́ thời đó chúng đồ sộ, tráng lệ hơn những thành quách, cung điện của Tây Âu. Thế nhưng, quư tộc Nhật Bản ở kinh đô thời đó, vừa không có thực quyền, vừa không có tiền, nên đă phải đi t́m cái đẹp trong những loại h́nh nhỏ bé, ai ai cũng có thể làm ra được.

Minamoto Yoritomo, với sự xây dựng cấu trúc quyền lực có thực chất, tránh xung đt quyết liệt với thế lực bảo thủ bảo cựu, đă mặc nhiên lưu lại ở Nhật Bản một cấu tạo văn hóa gồm hai loại h́nh khác nhau từ người đảm đương đến h́nh thái. Đó là văn hóa công khanh (quư tộc) và văn hóa vơ gia (samurai).

Dù chỉ với ư nghĩa rằng đó là người đă lần đầu tiên lập ra nền chính trị vơ gia, xă hội vơ sĩ, th́ Minamoto Yoritomo cũng đáng là người vô cùng quan trọng trong lịch sử Nhật Bản. Cũng không thể bỏ qua sự thật là ông cũng đă tách rời hẳn quyền hành chính khỏi quyền tôn giáo. Nghĩa là theo thể chế luật lệnh th́ phải có "nhị quan," với "quan tôn giáo" là một, song mạc phủ Kamakura đă không đặt chức quan tôn giáo này. Ở điểm này, ông cũng là nhà cải cách rất lớn.

 

Yoritomo mở ra nền chính trị "vơ gia"

Minamoto Yoritomo, với tư cách một "cột trụ vơ sĩ," là một chính khách đồng thời là vơ tướng đă gây dựng nên nền chính trị vơ gia. Ông hầu như chỉ ở Kamakura, chứ ít khi ra chiến trường. Cả đời ông chỉ vào kinh có hai lần.

Là vơ tướng sáng lập ra chính quyền, song Yoritomo không có những truyền thuyết hùng tráng. Cho nên ngay thời nay, sự hâm m ông cũng nhạt nhẽo. Trái lại, các em ông, những người đă thực sự chiến đấu, nhất là Yoshitsune th́ có rất nhiều đề tài để nói đến và rất được người ta hâm mộ. Thế nhưng, nếu nh́n vào sự thực rằng, sau khi đă định Kamakura làm đất đóng mạc phủ, ông giữ vững ở đó, nuôi dưỡng thực lực trong lúc sai khiến người khác, để sau này triển khai nền chính trị vơ gia mới mẻ, th́ ta thấy chính Yoritomo mới thật là nhân vật lớn. Một nhân vật lớn như vậy lại có thêm tính nghi kỵ và ḷng tàn nhẫn nữa. Ông đă giết hai em, là Noritomo và Yoshitsune, cũng như nhiều người họ hàng thân thích khác nữa.

Kết quả là Yoritomo có rất ít con cháu và thân thích. Đến đời thứ ba th́ máu mủ ruột thịt bị đứt đoạn. Thêm nữa, ông đă tru diệt nhiều công thần đă đóng góp vào sự nghiệp xây dựng mạc phủ Kamakura. Đó cũng là thêm một lư do khiến cho họ Hojo đă thành phụ chính, tức là nắm được quyền chấp chính vậy.

Là một nhân vật lịch sử, Yoritomo tính t́nh mờ ám, âm hiểm. Đó là điểm giống những bậc anh hùng đă lập ra vương triều trên khắp thế giới. Có lẽ tính t́nh đa nghi, âm hiểm chính là điều kiện để duy tŕ quyền lực lâu dài chăng.

Yoritomo nắm được quyền lực, lập ra mạc phủ ở Kamakura. Ông sát hại các tướng đă thực sự chiến đấu thành công như Yoshitsune. Sự việc này đă uất tích thành ḷng thương tiếc kẻ anh hùng bạc mệnh, hay như Yoshikawa Eiji[16] nói "anh hùng hoại diệt[17]" vậy. Xem như vậy th́ cái bản chất của người Nhật hay ca tụng những người nỗ lực mà không thành công, có lẽ cũng bắt nguồn từ ảnh hưởng của Yoritomo đối với nền văn hóa Nhật Bản.

Sau Yoshitsune c̣n có nhiều "anh hùng hoại diệt" trong lịch sử Nhật Bản. Điển h́nh là Sanada Yukimura và các nghĩa sĩ Ako (Ako Roshi) trong tích Chushingura. Nhất là những nghĩa sĩ này, sau khi trả được thù cho chúa rồi th́ đều phải tự mổ bụng, và ḍng họ Asano, chúa của họ , cũng không phục hưng được. Nghĩa là, họ đă làm cho mọi người càng thêm bất hạnh. Đúng là những "anh hùng hoại diệt."

Minamoto Yoritomo đă làm nên sự nghiệp vĩ đại, mà từ xưa đến nay ít được người ta hâm m. V́ vậy mà bậc anh hùng hoại diệt như Yoshitsune mới sinh ra.

C̣n một điểm nữa không thể bỏ qua được đối với vai tṛ lịch sử của Yoritomo, là ảnh hưởng lớn ông đă để lại đối với quan niệm giai cấp của Nhật Bản. Như đă nói ở đầu chương, ở thời Heian, vơ sĩ samurai bị gọi là bọn "thầy chùa sát sinh." Đám vơ sĩ như vậy, sau khi đă nắm được quyền lực, đă hoàn thành sự nghiệp "hạ khắc thượng[18]" rồi, đă không tự ḿnh trở thành quư tộc, mà trái lại đă để nguyên triều đ́nh và công khanh. Nói cách khác họ đă phân tách rơ rệt "địa vị" và "quyền lực" vậy.

Sự việc này tương tự như tư tưởng "cánh mạng vinh dự[19]" ở Anh hay tư tưởng độc lập của Mỹ, tức là tư tưởng cách mạng theo đó những người nắm hiện trường sản xuất, giữ quyền chính trị. Nếu coi vơ sĩ samurai đương thời là những người kinh doanh nông trại, th́ sự tương đồng vừa nói không phải là vô căn cứ.

Nakagawa Yatsuhiro viết rằng: Trong b luật điển "Go-Seibai (Joei) Shikimoku[20]" của thời Kamakura có tư tưởng giống như bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ. Nếu chỉ nh́n vào sự kiện là hiện thực đă được phản ánh trong cơ cấu thống trị, th́ lời viết này cũng có phần chí lư; nghĩa là, muốn triệt để phản ánh hiện thực, th́ nên bảo lưu toàn bộ trạng thái phi hiện thực của h́nh thức cũ. Cái khôn ngoan có tính cách Nhật Bản đó đă sinh ra từ Minamoto Yoritomo.

 

Người nắm quyền lực lớn Hojo Masako xuất hiện

Nh́n từ Yoritomo th́ chuyện sau đây là dông dài. Nhưng không thể không nói sơ qua về Hojo Masako, vợ Yoritomo.

Khi Yoritomo bị Heike bắt, đày ra Izu, th́ người giám thị ông, là Hojo Tokimasa, trông ông có tương lai nên đă đem con gái gả cho. Đó là Masako. Thật ra, theo sách Gempei Seisuiki th́ chính Masako đă theo Yorimoto mặc dầu bi cha phản đối. Song có lẽ v́ nhiệm vụ, sợ bị Heike nḥm ngỏ, nên bề ngoài đă phải làm như vậy chăng. Cho rằng v́ yêu Yoritomo nên Masako đă chạy theo chàng, th́ sự kiện Tokimasa phản đối là không đúng sự thật, xét quan hệ giữa Yoritomo và Tokimasa sau này.

Nhật Bản là nước có truyền thống vợ chồng khác họ, cho nên Masako không thành Minamoto Masako mà vẫn là Hojo Masako. Bà Masako này đă bắt đầu hoạt động và được gọi là "Nữ tướng shogun" là kể từ sau khi Yorimoto mất.

Khi Yoritomo c̣n sống, bà đă ra lệnh cho thủ hạ đốt nhà vợ bé của Yoritomo. Ngay Yoritomo cũng không ngăn nổi việc ấy, th́ đủ biết bà là người vợ không vừa, song lúc đó bà chưa ra mặt làm chính trị.

Chỉ có một lần trong sinh thời Yoritomo, bà đă làm chính trị. Đó là năm 1195, nhân Yoritomo vào kinh để làm lễ ở chùa Todai-ji, Masako cũng đồng hành. Bà đă gặp bà ái phi của pháp hoàng Go-Shirakawa (bà này sau khi pháp hoàng mất rồi, vẫn nắm quyền hành ngấm ngầm), bày kế đưa con gái trưởng của bà và Yoritomo, là Ohime vào làm vợ vua Go-Toba. Taira Kiyomori cũng đă t́m cách kết hợp công khanh với vơ sĩ song không thành.

Tiếc rằng Ohime đă mất năm 1197, nên kế hoạch không thành. Sau đó, cũng c̣n nhiều kế hoạch khác nữa, song năm 1199 Yoritomo mất và Masako xuất gia đi tu. Thật ra, sau đây mới là thời kỳ Masako hoạt động mạnh.

Trước nhất, cùng với cha là Hojo Tokimasa, bà đă đưa con trai của Yoritomo và bà, tên là Yoriie lên làm mạc tướng. Bố vợ Yori’ie tức là họ Hiki dần dần có thế lực, nên hai bên, một bên là họ Hojo bên kia là họ Hiki, đă đối lập với nhau kịch liệt.

Lấy cớ để tránh sự độc tài của mạc tướng, bà đă lập ra chế độ "hợp nghị" gồm có 13 người, kể cả cha là Hojo Tokimasa, em là Yoshitoki, và những người khác như Oe Hiromoto, Hiki Yoshikazu, tức là những người có thế lực lớn. Bằng cách này, Masako đă đoạt được quyền của con trai, là mạc tướng Yoriie, người mà vợ nói sao cũng nghe vậy. Nghĩa là bà đă tước cái quyền ngoài luật của mạc tường bằng một nội quy của 13 người bất kể luật lệnh đă có. Một lần h́nh thức và thực chất đă được tách riêng ra rồi, th́ quyền lực sẽ được phân tán vô hạn định xuống hạ tầng. Masako là người đầu tiên thực hành điều này.

Năm 1203 khi Yoriie mắc bệnh nặng th́ bà chia đôi quyền hành ra cho con trai của Yoriie, tức là Kazuhata và con trai thứ của ḿnh, là Sanetomo. Việc này làm phẫn nộ Hiki Yoshikazu, tức là cha ruột của người con dâu bị Masako ghét, tức là mẹ đẻ của Kazuhata. Masako chỉ chờ có thế để kết hợp với gia đ́nh cha ruột của ḿnh tức là họ Hojo, tiêu diệt ḍng họ Hiki.

Tiếp theo, bà giết luôn cả cháu nội của ḿnh (Kazuhata), bắt con trai trưởng là Yoriie lúc ấy đă khỏi bệnh, xuất gia đi tu, rồi giam lỏng ở chùa Tu thiền tự (Shuzenji). Việc này về sau đă trở thành cốt truyện của bản kịch nổi tiếng "Sự tích Tu Thiền Tự" của Okamoto Kido (1872-1939). Bà cho con thứ là Sanetomo lên làm mạc tướng, cho cha là Tokimasa làm phụ chính. Nghĩa là bà yêu quyền hành hơn con cháu, hoặc là bà coi họ hàng ḿnh trọng hơn cả chăng.

Thêm nữa, bà mưu đồ với người vú nuôi thượng hoàng Go-Toba, là Fujiwara Kenshi, (tước Khanh nhị vị[21]), hứa hẹn với nhau sẽ đưa hoàng tử Yorihito, con thượng hoàng Go-Toba lên làm mạc tường kế vị Sanetomo. Nghĩa là hai bà xúc tiến vấn đề kết hợp giữa triều đ́nh và mạc phủ vậy.

V́ vậy mà tuy đă xuất gia đi tu, song Masako đă được phong tước "Tùng nhị vị." Bà được gọi là "Nữ mạc tướng," chính là v́ bà đă có tước vị ngang hàng với chồng làm Chinh Di Đại Tướng Quân[22] vậy.

Thời ấy việc phụ nữ mưu đồ với nhau là chuyện thường, nhưng trong số những phụ nữ như vậy th́ Masako là người thành công nhất, đáng mặt là thủy tổ của "bà mẹ ngoáo ộp."

Sách Gukansho có câu viết mỉa mai rằng: "Con gái Tokimasa, mẹ Sanetomo và Yoriie có sống sót mới có đời nay!" Rồi cùng với bà Khanh nhị vị có thế lực to lớn ở kinh đô, th́ sách viết: "Nhờ có đàn bà tô điểm cho, th́ nước Nhật mới thành." Ư nói nước Nhật phải nhờ nữ giới giúp cho th́ nền chính trị mới được hoàn chỉnh.

Masako đ̣i được một hoàng tử từ kinh đô hạ ḿnh xuống làm rể ḿnh, song sự thế đổi thay khiến điều đó bị khước từ. Kết cục, thượng hoàng Go-Toba đă đề cử Yoritsune, một người trong ḍng họ Minamoto bà con xa của Yoritomo lên làm mạc tướng, tức là khác với lời hứa. Yoritsune lúc đó mới lên 2 tuổi, nên quyền hành đă do Masako và cha ruột là Hojo Tokimasa nắm giữ.

Sau khi Tokimasa mất th́ em Masako tức là Yoshitoki lên làm phụ chính. Sau đó, lại là con Yoshitoki lên làm phụ chính. Cứ như vậy, người họ Hojo liên tiếp lên làm phụ chính nắm giữ thực quyền.

Hoạt động nổi bật nhất của Hojo Masako là lúc thượng hoàng Go-Toba bực ḿnh với quyền thế của Kamakura, đă khởi loạn Jokyu năm 1221.

Masako diễn thuyết kêu gọi vơ sĩ samurai: "Chớ quên ơn của họ Minamoto. Chớ theo vua, hăy theo mạc phủ." rồi gửi quân vào kinh đô bắt tất cả từ thượng hoàng Go-Toba trở xuống, đem đày ra hải đảo. Sự việc này đă làm cho quyền thế mạc phủ không thể lay chuyển được nữa. Thực quyền như vậy đă vào tay Masako và ḍng họ Hojo. Đó là h́nh ảnh Masako đă được lưu truyền lại.

Mặc dù nói là Hojo Masako đă nắm giữ thực quyền ghê gớm, song Masako đă thực sự lèo lái chính trị, hay cha bà (Tokimasa) và em bà (Yoshitoki), hay cháu bà (Yasutoki) đă nắm quyền ấy, th́ hăy c̣n là một nghi vấn. Duy, có một điều chắc chắn là, v́ có Masako nên Tokimasa hay Yasutoki mới chiếm được vị trí trung tâm của quyền lực. Lại nữa, cứ nh́n vào tư thế của ba đời phụ chính từ Tokimasa qua Yoshitoki tới Yasutoki, rồi chuyện âm mưu với bà Khanh nhị vị, rồi diễn thuyết khi có loạn Jokyu, người ta có cảm tưởng rằng quả thật Masako là vai chính. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa là sau khi Yoritomo chết, người đàn bà này đă nắm quyền lớn, đă có quan hệ tới lịch sử nước Nhật vậy.

 

Quan chức ngoài luật lệnh đă sinh ra cấu trúc hai tầng

Ở đây, điều quan trọng là tại sao Masako đă có thể làm như vậy được?

Đó là v́ chính Yoritomo, với tư cách tổng tư lệnh quân đội miền Đông (Chinh Di Đại Tướng Quân), tức là một quan chức đứng ngoài quy định của b luật lệnh Đại Bảo[23], đă chế ra một phương pháp nắm quyền chính trị bất thường bằng cách tự xưng ḿnh là "cột trụ của samurai" toàn quốc. Cái phương pháp bất thường này lại được Masako phát triển thêm một bước nữa, đưa quyền hành của mạc tướng xuống hàng chánh văn pḥng, tức là phụ chính. Nghĩa là, mặc dù quyền hành vốn dĩ thuộc vua và dưới vua c̣n có "nhị quan bát tỉnh" nữa, song cơ chế này vẫn được giữ nguyên vẹn và thực quyền đă được trao vào tay tổng tư lệnh quân đội miền Đông qua b tư lệnh của người ấy, gọi là "mạc phủ," làm thành một chính phủ thực chất (de facto). Thế rồi, chánh văn pḥng bộ tư lệnh lại nắm lấy thực quyền bằng cách đưa một đứa bé mới hai tuổi vào địa vị tổng tư lệnh quân đội miền Đông để h́nh thức hóa địa vị này đi. Làm cho sự việc này có thể xẩy ra được không ai khác hơn là chính Minamoto Yoritomo vậy.

Điều trên đă ảnh hưởng lớn tới lịch sử Nhật Bản, đă biến thành truyền thống là chánh văn pḥng lại nắm thực quyền hơn bộ trưởng mà không ai coi sự việc ấy là kỳ lạ nữa. Không cứ ǵ các cơ quan chính phủ đâu, cả xí nghiệp tư nhân cũng vậy, những câu nói cửa miệng như: "Ông tổng giám đốc th́ dẫu có nói cũng chẳng hiểu đâu! Phải nói với ông phó nọ, ông phó kia cơ!" hoặc "Không, ông phó đó cũng chẳng hiểu đâu mà chính phải nói với ông trưởng pḥng tổng giám đốc ngồi bên cạnh kia!" không c̣n ai coi là kỳ lạ nữa.

Minaamoto Yoritomo là người đă mở màn cho lịch sử "Cấu trúc quyền lực hai tầng" kiểu Nhật Bản. Sau đó Masako cùng những người của họ Hojo đă phát triển cấu trúc đó thêm một bước nữa. Với ư nghĩa này, Hojo Masako cũng là một diễn viên phụ không thể nào quên được vậy.

 



[1] Mạc phủ: Bakufu. Mạc phủ vốn chỉ là chỗ quây màn, dựng lều làm bản doanh tại trận tiền của một tướng lănh. Song, ở Nhật Bản, từ mạc phủ được dùng để chỉ cơ chế quyền lực chính trị toàn quốc đứng đầu bởi một vị tướng (trong sách này thường viết là mạc tướng, hoặc tướng shogun hoặc shogun) được vua phong cho, thường là Chinh Di Đại Tướng Quân. Ở Nhật Bản trong thời kỳ có mạc phủ, Nhật hoàng thực chất chỉ là làm v́, mà tướng quân shogun mới thực sự thống trị toàn quốc như là một ông vua. V́ thế, có nhiều sách do người phương Tây viết về Nhật Bản thời kỳ có mạc phủ, mạc tướng thường được dịch là King (vua), trong khi đó Nhật hoàng dịch là Emperor (hoàng đế), mặc dù chỉ là một vị hoàng đế vô quyền.

[2] Edo, là nói thời kỳ ngót 300 năm (từ 1603 tới 1867) ḍng chúa Tokugawa mở mạc phủ ờ thành Edo (tức Tokyo ngày nay) tiếm quyền cai trị nước Nhật của Nhật hoàng.

[3] Nhị quan bát tỉnh, tức là chế độ gồm có hai chức quan và tám "tỉnh", tức là tám bộ. Hai chức quan là "thần kỳ quan," trông coi vấn đề tế lễ, và "thái chính quan," đảm đương việc trị nước. Tám "tỉnh" gồm có Trung Vụ tỉnh (lo việc chiếu sớ, nhân sự, hộ tịch, tô thuế,...), Thức Bộ tỉnh (nghi thức, điển lễ, tặng thưởng,...), Trị Bộ tỉnh (hôn lễ, tang tế, ngoại giao,...), Dân Bộ tỉnh (dân chính, tài chính, thuế khóa,...), Binh Bộ tỉnh (quân chính, binh mă, binh khí,...), H́nh Bộ tỉnh (tư pháp), Đại Tàng tỉnh (kho bạc) và Cung Nội tỉnh (việc cung đ́nh).

[4] Quan tước chia làm 8 "vị". Mỗi "vị" c̣n chia ra Chính và Tùng, Thượng và Hạ.Tùng Ngũ Vị Hạ là tước vị phong cho đích tử của công hầu khi tới tuổi thành niên. Thời xưa, tuổi thành niên thường thấp hơn thời nay. Nội tàng nhân là một chức quan coi kho của vua.

[5] Thái thượng hoàng đă đi tu. Trong bản NXB CTQG lời chú này để ở sau trang này.
[6] Cuộc phân tranh giữa họ Minamoto và họ Taira.
[7] Kiểu Quan Công tha Tào Tháo ở Hoa Dung Tiểu Lộ chăng?
[8] Lănh chúa là từ gọi chung những chúa tể hoặc sứ quân cai trị một vùng đất nhỏ, một tiểu quốc.

[9] Kanto, là khu vực gồm Thành Phố Tokyo và sáu tỉnh bao quanh, tức là Ibaraki, Tochigi, Gunma, Saitama, Chiba và Kanagawa.

[10] Sở công văn là cơ quan tương với văn pḥng hành chánh, và sở vấn chú là ṭa án. Đặt ra những công sở như vậy là chứng tỏ đă nắm được quyền cai trị chính thức.
[11] Quan bạch, là chức quan được phép xem trước sớ sắc rồi mới tâu vua. Tên quan chức này là từ sách Hán Thư (truyện Hoắc Quang): "chư sự giai tiên quan bạch quang, nhiên hậu tấu ngự thiên tử," nghĩa là mọi sự việc đều được xem trước cho rơ, rồi sau đó mới tâu lên thiên tử.
[12] Nội các của thủ tướng Kaifu, từ 8/10/1989 tới 5/11/1991.
[13] Việc xem lại (sửa lại) thuế tiêu thụ, sẽ được làm một cách mạnh dạn. Nghĩa là chưa hứa sửa chữa ǵ cả.
[14] Sẽ có những xem lại (sửa lại) mạnh dạn cho thuế tiêu thụ. Rơ ràng là hứa sẽ có những cải cách mạnh dạn về thuế tiêu thụ. Bản NXB CTQG không có 2 từ trong ngoặc “(có những).”
[15] Cũng gọi là Jurakutei.
[16] Một nhà tiểu thuyết lớn, chuyên viết tiểu thuyết lịch sử.
[17] Nguyên văn tiếng Nhật là Hametsu no Eiyu, đọc âm chữ Nho là Anh hùng Phá diệt.
[18] Hạ khắc thượng (Gekokujo), tức là kẻ dưới khắc phục người trên.

[19] Cánh mạng vinh dự (Glorious Revolution): Sự kiện lịch sử Anh theo đó khi vua James II độc đoán định cho cựu giáo phục hưng, những lănh tụ quốc hội cầu cứu công chúa Mary theo tân giáo và quận công William năm 1688. Năm sau, Mary II và WIlliam III lên ngôi vua, ban hành Hiến chương nhân quyền (Bill of Rights).

[20] Luật điển nói ở đây là của niên hiệu Joei (Trinh Vĩnh, năm 1233) gồm có 51 điều.
[21] Tước gồm có tám vị. Thường ra, tam vị trở lên là hàng Công, Khanh.

[22] Chinh di đại tướng quân là "chức vị", trong khi đó "Tùng nhị vị" là tước vị. Chẳng hạn, trong quân đội, một đại úy trung đội trưởng, th́ đại úy là tước vị c̣n trung đội trường là chức vị.

[23] Đại Bảo luật lệnh, soạn ra năm Đại Bảo nguyên niên (701), gồm 6 quyển luật và 11 quyển lệnh.

 


® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của dịch giả
 và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com "

 

..........

 

Trở về Mục Lục