NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG KHẢ NĂNG SẢN XUẤT BẰNG PHÁT MINH CỦA MỖI QUỐC GIA

Đặng Hữu Thạnh (Exryu San Diego)

 

Trong tuần vừa qua (May 15th 2010) trên diễn đàn WW có những cuôc trao đổi ư kiến về một report của anh Vu Ho liên quan đến "Băng xếp hạng số bằng phát minh - International Patent Filings Dip in 2009 amid Global Economic Downturn". Trong đó anh Đặng Hữu Thạnh có chia xẻ bài viết này với nhiều thông tin rất hữu dụng. ERCT xin phép anh Thạnh được post lên đây để chia xẻ với gia đ́nh Exryu khắp nơi. (ERCT)

 

 

Xin được phép góp ư về bằng phát minh đă được trao đổi trên diễn đàn mấy ngày qua.

Năng suất ra bằng phát minh của một quốc gia rất tùy thuộc vào sự hợp tác giữa nhiều đoàn thể trong một quốc gia: chính phủ, hăng xưởng, đại học, v.v. Năng suất bằng phát minh cũng tùy thuộc nhiều vào chính trị , giáo dục và văn hóa. Một đoàn thể hay một yếu tố một ḿnh không thể nào làm gia tăng số bằng phát minh.

Chính Phủ

Chính phủ phải có những chính sách tài chánh khuyến khích công việc nghiên cứu (R&D) như cho thuế tín dụng rộng rải (generous tax credit), khai bỏ (easy write off) dễ dàng những chi phí cho R&D và quan trọng nhất, thuế thấp cho những lợi tức (income) từ những đầu tư lâu dài (long term capital investment) .

Chính phủ phải có chính sách hiệu quả ngăn cấm việc vi phạm bản quyền trong nội địa. Chính phủ phải sẵn sàng dùng áp lực với chính phủ nước khác để ngăn cấm việc vi phạm tương tự ở xứ ngoài. Phát minh kỹ nghệ hay văn hoá trong những nước như Trung Quốc, Việt Nam không được tiến triển mạnh v́ những chính phủ nầy không ngăn cản hiệu quả việc trộm cướp sở hữu trí tuệ. Sự mất mát tài chánh làm nhiều hăng trong chính nước Trung Quốc không dám đầu tư vào những chương tŕnh nghiên cứu dài hạn. Singapore, 15-20 năm trước, cũng là nơi bán đủ thứ đồ giả. Khác với Trung Quốc, chính phủ Singapore đă quyết định trừng phạt nặng những hăng và cá nhân vi phạm bản quyền và đă tạo ra những chính sách khuyến khích viện nghiên cứu. Hôm nay, Singapore là một trung tâm nghiên cứu sinh vật học (biotech) và điện tử quan trọng trên thế giới.

Chính phủ cũng phải có chính sách di dân thu hút những nhân tài từ xứ khác. Hoa Kỳ là nơi thu hút nhiều nhân tài từ trên thế giới. Trung Quốc cũng có một chương tŕnh thu hút những nhân tài gốc Hoa về. Nhưng Trung Quốc không được thành công so với số tiền chính phủ Trung Quốc bỏ vào đầu tư v́ có những yếu tố khác ảnh hưởng đến môi trường nghiên cứu ở Trung Quốc.

Chính phủ cũng là một đoàn thể đầu tư rất nhiều tài chánh vào công việc nghiên cứu. Chỉ có chính phủ mới có đủ tài chánh để làm những việc nghiên cứu vĩ đại với chi phí 100-1000 tỷ đô la. Chương tŕnh Apollo của Mỹ là một điển h́nh. Bên ngoài đó là cuộc đua lên cung trăng với Sô Viết cho niềm tự hào quốc gia. Nhưng bên trong, chương tŕnh là động cơ tạo ra nhiều phát minh kỹ nghệ làm cho Mỹ tiến triển trong phương diện kinh tế. NASA, White Sands Labs, Army Research Labs,..., chính phủ Mỹ có rất nhiều cơ quan nghiên cứu về khoa học căn bản, điện tử, hóa học, y khoa, quân sự, …Chính phủ Mỹ cũng cho cho tiền (grants) các trường đại học và hăng tư để các đoàn thể nầy nghiên cứu cho chính phủ.

Chính phủ nước khác cũng đầu tư rất nhiều vào việc nghiên cứu. Singapore đă đầu tư 10 tỷ đô la vào chương tŕnh “One North” để hỗ trợ công việc nghiên cứu cho kỹ nghệ tương lai trong ngành sinh vật học (biotech), vật liệu (advanced material), y khoa. Korea sẽ xây thành phố gọi là “Media City” trong một khu đường rầy xe lửa dọc theo sông Hán với 120,000 nhân viên và 2000 hăng vào năm 2015. Trung Quốc cũng xây cất nhiều khu nghiên cứu (Research Park).

Chính quyền địa phương cũng đầu tư nhiều qua việc xây dựng cầu cống (infrastructure) và giảm thuế địa phương để thu hút hăng xưởng và pḥng nghiên cứu. Triangle Research Park, San Jose, Masschusette và những địa phương với kỹ nghệ cũ (tobacco, textile, etc.) đă gia tăng và thay đổi để chuẩn bị cho kỹ nghệ tương lai.

Do đó, nói là chính phủ và chính quyền địa phương, nhất là chính phủ và chính quyền địa phương ở Mỹ, không đầu tư vào việc nghiên cứu là không đúng. Chính phủ liên bang Hoa Kỳ là một chủ đầu tư vào R&D lớn nhất ở Mỹ và có lẽ thế giới. Nhưng đó là tiền xài đúng chỗ. Không có liên hệ v́ về đến tiền nợ quốc gia (national debt).

Đại Học

Đại Học, nhất là những đại học ở xứ cấp tiến như Mỹ, Âu Châu, Nhật,...là nơi sinh ra nhiều phát minh. Đại học nào cũng có pḥng thí nghiệm với ngân quỹ riêng. Những phát minh to lớn ở Mỹ không phải chỉ là từ những đại học như MIT, Havard, Princeton, Standford, John Hopkins mà c̣n từ những đại học khác như University of Texas, University of Arizona, …

Đại học Mỹ thu hút những hăng kỹ nghệ tạo thành những khu kỹ nghệ cao như Route 128 gần MIT và Harvard, Silicon Valley gần Standford, Silicon Hill gần University of Texas,v.v.

Giáo sư đại học Mỹ chỉ dạy học, soạn và chấm bài 25-30% th́ giờ của họ. Phần đông th́ giờ c̣n lại là làm việc trong pḥng nghiên cứu và viết bài đăng trên những đặc san chuyên nghiệm. Giáo sư không thu hút đủ tiền (grant) của chính phủ hay hăng tư để nghiên cứu hay không viết bài chuyên nghiệm hay không có phát minh để xin bằng (patent filing) sẽ không được lên chức hay là bị đuổi. Nhiều giáo sư đại học dùng phát minh của ḿnh ra lập hăng riêng. Giáo sư tiến Sĩ Irwin Jacobs dạy và nghiên cứu về truyền thông ở University of California San Diego dùng bằng phát minh về kỹ thuật truyền thông CDMA cùng với vài giáo sư khác lập hăng Qualcomm.

Trong năm thứ nhất và nh́, sinh viên đại học Mỹ làm thí nghiệm cơ bản trong pḥng thí nghiệm nhưng lên năm thứ tư và nhất là trên cao học, sinh viên Mỹ nghiên cứu với những vấn đề và sáng kiến mới và duy nhất (new and unique) dưới sự hướng dẫn của giáo sư đỡ đầu. Nhiều phát minh và hăng mới ra từ những việc nghiên cứu của những sinh viên đại học như là Google và Yahoo từ Stanford, Dell Computers từ University of Texas, Facebook từ Harvard, v.v.

Lối giáo dục từ chương của đại học Việt Nam sẽ khó có tạo được những phát minh đột phá (breakthrough inventions). Nghiên cứu của đại học Việt Nam là t́m kiếm bài vở trên mạn rồi viết lại thành bài của ḿnh theo lời của một sempai tiến sĩ về lập hăng ở Việt Nam. Đó không phải là nghiên cứu để phát minh. Đó là nghiên cứu để viết tiểu sử.

Nói tóm lại, đại học, đường lối giáo dục, và kỳ vọng (expectations, requirements) cho giáo sư và sinh viên cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đào tạo ra những phát minh.

Hăng

Trung b́nh, một hăng phải đầu tư 10-15% tiền bán (revenue) vào R&D. Việc đầu tư vào R&D là tương lai của hăng. Hăng không đầu tư đủ hay đầu tư không đúng chỗ sẽ không thể tồn tại dài hạn được.

Ban quản lư cao cấp (executives) của hăng Mỹ lúc nào cũng dưới áp lực lời lỗ ngắn hạn nên có nhiều hăng không chú ư nhiều về R&D.

Trong sự nghiệp của tôi, tôi được may mắn làm cho 5 hăng hi tech: NCR, Microchip, Motorola, Qualcomm và hiện tại LG. Hai hăng Motorola và Qualcomm rất chú trọng về R&D và bằng phát minh.

Thông thường, trong hăng công kỹ nghệ Mỹ, kỹ sư khởi đầu là Junior rồi senior engineer rồi chief engineer. Muốn tiến thân thêm th́ phải nhảy sang quản lư (management). Nhưng chức vụ quản lư th́ ít nên nhiều kỹ sư kẹt không tiến chức. Hăng Motorola có hai đường sự nghiệp (career tracks): kỹ thuật và quản lư. Kỹ sư cũng có thể có chức director, vice president làm việc kỹ thuật nhưng không điều khiển chỉ huy người làm. Chức kỹ thuật cao nhất trong Motorola là Noble Fellow đặt tên của Dr. Noble người sáng lập semiconductor business của Motorola. Người được chức nầy phải có trên 40-50 bằng phát minh. Lương của Noble Fellow rất cao. Người có chức Noble Fellow có quyền tự lựa chương tŕnh nghiên cứu. Ở Motorola-Austin, có một chị Việt Nam (không phải là Exryu) được chức nầy. Chị có cộng tác với nhóm VIETA của sempai Đào Trung Giang có lẽ v́ biết sempai Giang khi sempai làm COO cho Sematech ở Austin.

Nhân viên Motorola mang thẻ trắng. Những nhân viên có hơn 10 bằng phát minh th́ được mang thẻ vàng để cho thấy người nầy là một trong những nhà phát minh giỏi của Motorola. Khi phát minh của nhân viên được cho xin bằng (patent filing) nhân viên được thưởng 1000 đô la. Khi được chấp nhận, th́ được thưởng thêm 2000 đô la. Khi được đủ 10 bằng th́ nhân viên được thêm 10 ngàn đô la. Mỗi năm, nhân viên được xin và được cho bằng phát minh được mời dự tiệc banquet với Chairman of The Board, CEO và COO của hăng.

Motorola dùng tiền thưởng, chức vụ kỹ thuật cao và công nhận (public recognition) để khuyến khích nhân viên trong công việc nghiên cứu và phát minh. Motorola và nhiều hăng khác cũng hợp tác với các trường đại học ở Mỹ, Nga, Trung Quốc, Âu Châu,... trong những chương tŕnh nghiên cứu quan trọng.

Có nhiều bằng phát minh mà không biết thương mại hoá (làm ra tiền) th́ cũng chỉ là mảnh giấy treo trên tường cho vui. Hăng Apple dùng bằng phát minh để tạo ra những đặc sản phẩm rất thịnh hành với thị trường như iPOD, iPHONE, iPAD và bán được tỷ tỷ đô la.

Hăng Qualcomm của tôi không làm sản phẩm cuối cùng (end products). Hăng chỉ chú trọng đến chế tạo bộ phận bên trong (components) của sản phẩm (điện thoại di động). Khách hàng mua bộ phận điện tử chẳng những phải trả tiền bộ phận mà phải trả thêm tiền bản quyền cho những bằng phát minh. Thí dụ, hăng Samsung mua bộ phận điện tử giá 20 đô la đem về gáp lại thành máy điện thoại di động bán 200 đô la. Samsung phải trả bản quyền cho Qualcomm 5% của 200 đô la hay là 10 đô la cho một máy điện thoại. Tổng cộng Samsung phải trả Qualcomm 30 đô la cho mỗi máy điện thoại. Nhiều hăng không mua Qualcomm bộ phận cũng phải trả tiền bản quyền để được dùng bằng phát minh của Qualcomm trong máy điện thoại của họ như hăng Apple và Nokia.

Hăng Qualcomm có hai nhóm chính. Qualcomm CDMA Technologies (QCT) chuyên về làm bộ phận với 10000 nhân viên. QCT có tiền bán khoảng 7 tỷ năm qua và tiền lời khoảng 30%. Nhóm thứ hai là Qualcomm Technology Licensing (QTL) với khoảng 400-500 nhân viên, tiền bán khoảng 4 tỷ và lời khoảng 95%. Nhóm QTL chuyên về thương lượng tiền bản quyền và đi thưa các hăng khác. Chắc quư bạn cũng thấy phần đông nhân viên của QTL là luật sư. Nếu quư bạn nào là kỹ sư và có bằng luật về bằng phát minh Qualcomm sẽ trả lương thật hậu.

Tiền bản quyền rất quan trọng cho Qualcomm. Do đó, Qualcomm rất chịu đầu tư về R&D. Qualcomm đầu tư 20-25% tiền bán vào R&D, cao hơn trung b́nh. Qualcomm có nhóm R&D nhưng Qualcomm kỳ vọng là tất cả nhân viên đều là nhà phát minh. Sổ (notes) của kỹ sư Qualcomm trong và ngoài nhóm R&D phải được xem xét thường xuyên bởi patent department để t́m những sáng chế đáng xin bằng phát minh. Tương lai của Qualcomm vững chắc v́ bằng phát minh của Qualcomm chẳng những về CDMA mà c̣n về WCDMA (3G) và 4G (LTE) cho tương lai.

       

Bức Tường Bằng Phát Minh Của Hăng Qualcomm Tại Bản Bộ

Những Yếu Tố Quan Trọng Khác Có Ảnh Hưởng Việc Sản Xuất Bằng Phát Minh

Quốc gia thiếu tự do có khuynh hướng sản xuất bằng phát minh ít. Những nhà nghiên cứu và phát minh là những nhà suy nghĩ tự do (free thinkers) nên họ không thích bị bảo là phát minh cho sự vinh quang của Chủ Tịch Mao hay Bác Hồ. Chế tạo hay là đi lao động ở Siberia dưới thời Stalin giết chết nhanh chóng những ư tưởng phát minh (creative thinking). Xin lỗi, lời bàn đây có thể xúc phạm đến một số anh chị.

Xứ tư bản với khả năng làm giàu nhanh chóng có khuynh hướng sản xuất nhiều bằng phát minh. Có ai chúng ta không mơ làm Bill Gate, Steve Jobs,...?

Nghiên cứu phát minh không phải lúc nào cũng là thành công. Nghiên cứu là t́m ra được một ư tưởng (idea) và t́m cách chứng tỏ là ư tưởng đó đúng và duy nhất chưa từng được t́m ra trước. Nhiều nhà nghiên cứu thất bại trước khi thành hiệu quả. Xă hội Á Đông có khuynh hướng không chấp nhận thất bại nên không khuyến khích nhiều về chuyện lấy rủi ro (taking risks). Ngoài ra, xă hội Á Đông theo khuynh hướng “Tiền Lăo Hậu Bối” nên khó có thể đào tạo những nhà phát minh trẻ như Mark Zuckerberg , người thànnh lập Facebook, tỷ phú mới 25 tuổi, hay Larry Page & Sergey Brin, thành lập Google khi c̣n đi học đại học, …

Thay đổi trong đời sống cá nhân cũng ảnh hưởng khả năng phát minh. 7 năm xưa, Motorola mất 5 kỹ sư cao cấp ( thẻ vàng – gold badge) người Mỹ gốc Hoa. Họ từ chức để về Trung Quốc tiếp tục nghiên cứu. Chính phủ địa phương trả lương 100-150 ngàn đô la một năm, lương rất to ở Trung Quốc, mỗi nhân viên có xe Audi và tài xế, nhà cửa được cung cấp và có người lo nấu nướng dọn dẹp. Họ để lại vợ con ở Mỹ về Trung Quốc làm việc một ḿnh. Người nào sau đó không lâu đều có bạn gái sống chung. Tối ngày nhậu nhẹt tiệc tùng v́ chính quyền trọng đăi họ như là ngôi sao điện ảnh. Hai năm trước họ bị mất việc làm phải trở về Mỹ. Đó cũng là điều cảnh cáo trước cho quư bạn dự định về Việt Nam nghiên cứu. Quư bạn nghiên cứu sai vấn đề là tan hoang cửa nhà!!!

Nói tóm lại, sự thành công trong khả năng sản xuất bằng phát minh cần phải có sự hợp tác của chính phủ, đại học, hăng xưởng. Cách giáo dục, nền chính trị và văn hóa của mỗi quốc gia cũng có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất bằng phát minh. Cũng xin đừng quên là sản phẩm hóa (productization) và thương mại hóa (commercialization)...hay chính làm ra tiền là mục đích chính (end goal) của những việc nghiên cứu. Làm ra tiền hôm nay và ngày mai là chuyện quan trọng trong sự sinh tồn của một hăng và kỹ nghệ. Bằng phát minh chỉ là một viên gạch quan trọng.

Xin lỗi viết bài dài làm quư bạn đọc mệt. Nhưng vấn đề phát minh bao gồm nhiều yếu tố không thể tóm gọn trong vài câu ngắn.

Thân ái,

DH Thạnh