Người "mù" đi xem chim

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)

(xem slideshow toàn tập ảnh xin click vào đây)

Những năm gần đây tôi thường để dành ngày lễ mẹ (mother's day - ngày chúa nhật thứ 2 của tháng 5) để đi viếng mẹ thiên nhiên. Mùa lễ năm nay tôi trở về làng "Magee" cách nhà khoảng 200 cây số. "Magee Marsh Wildlife Area" là một thiên đàng cho những người thích chiêm ngưỡng loài chim sơn ca đẹp gọi là "warblers".

Vào dịp nầy hội ái hữu chim ''Friend of Magee Marsh" có tổ chức một tuần lễ "hội ngắm chim" (birding) - đây là một sư cố lớn nhất xứ Mỹ và được gọi là "the Biggest week in American Birding". Trong dịp nầy có nhiều chuyên gia điểu học, hội ái hữu khắp xứ Mỹ đến tham dự với gần 100 volunteers cộng tác. Các băi chim gần đó như "Black Swamp Bird Observatory", "Ottawa National Wildlife Refuge", "Crane Creek State Park" đều mở cửa đón khách phương xa đến viếng. Ngày thứ bảy trước "Mother's day" cũng là ngày "International Migratory Bird Day".

Vài đặc điểm của "Magee Marsh"

Đây là một vùng đất nước đọng nằm sát bên ven hồ Erie - một trong ngũ đại hồ US. Như các vùng nước đọng nói chung, nơi đây có nhiều đầm gọi là "swamp" có nước màu đen do chất "tannin" từ cây cối chết để lại. Trên swamp là rừng cây lá quảng diệp gồm có "cottonwood", "sycamore", "elm", "boxelder", birch v.v. Sycamore và cottonwood là loài cây chính của vùng nầy, cao to như cây dầu và sao trong Nam nước ta. Loài cây nầy là những "canopy" (tán dù) che những cây nhỏ hơn, tạo ra một môi trường tốt cho loài chim muông sinh sống.

Khách viếng nơi nầy phải đi trên những cầu ván gọi là boardwalks len trong rừng để xem chim. Mỗi lối đi kéo dài khoảng một cây số, thỉnh thoảng có chỗ nghỉ chân và tháp đài ngắm chim.

 

Mùa đông năm nay vùng Midwest không lạnh như mọi khi. V́ thế có người lo rằng cây sẽ trổ lá sớm, chim sẽ về trước ngày lễ mẹ rồi bay qua hồ Erie (1). Nhưng sau khi đến Magee Marsh th́ tôi rất an tâm v́ tuy lá có sum sê hơn tí nhưng vẫn c̣n non mướt, chim đầy rừng không khác mọi năm. Th́ ra cây cối vẫn c̣n giữ đúng theo luật "quang chu tính" (photoperiodism) - ie. họ hoạt động theo số giờ và chu kỳ của ánh sáng mặt trời chớ không để cái ấm hay lạnh nhất thời làm lay chuyển. Loài chim cũng thế. Theo tôi nghĩ th́ chim khi di động sẽ bay theo luồng gió của mùa, số giờ của ánh sáng ban ngày, hay phương giác của sao đêm.

Người xem chim kinh nghiệm thường mang theo ống nhồm, quyển "guidebook" (sách hướng dẫn) có h́nh về chim để so sánh hay iPod với tài liệu tham khảo download sẵn. Ngoài ra mỗi người đều có một quyển nốt cầm tay để ghi lại chim ḿnh đă thấy ngày đó. Xong báo cáo với ban tổ chức và hội "audubon" để làm thống kê nhân số chim bay sang vùng nầy. Đương nhiên người thấy phải nhận và biết tên chim, việc nầy cần nhiều thời gian học hỏi trao giồi.

Cá nhân tôi v́ "công tu" c̣n kém nên phải dùng máy ảnh ghi lại, khi về nhà mới tra cứu sau.

Chim warblers có nhiều màu nhiều cỡ, tiếng hót và bài ca khác nhau. Có thứ thích ăn sâu, nhện, trùng hay hoa quả. Loài cây của sở thích cũng khác nhau. Có lẽ v́ đó mà tướng dạng của chim biến hóa như Charles Darwin đă từng nhận xét chăng?

Ngày hôm đó tôi nhận ra một số chim quen thuộc như con "Tennessee warbler", "yellow warbler", "wilson's warbler", "magnolia warbler", “yellow throated vireo”, v.v. Nhưng có 1 con chim đang hót trong bụi t́m măi chẳng ra và chưa biết tên ǵ. Đang ngơ ngác th́ có người lên tiếng "chim Prothonotary...". Tôi liền hỏi ngay "ở đâu ở đâu?" th́ cách nơi tôi đứng khoảng 2-3 mét có người đàn ông chỉ về hướng phải. Tôi nh́n theo ngón tay ông ta th́ thấy trên cành cây "boxelder" xanh tươi có con chim vàng óng ánh như bông g̣n đang nhảy tung tăng và ca hót. Tôi mới quay lại cám ơn người giúp ḿnh. Trong chốc lát tôi cảm thấy phân vân về điều ḿnh đă thấy. Người đó đeo kính đen lại có cây gậy. "Ông nầy là người mù sao?" - tôi tự hỏi. Thế rồi sau đó tôi tiếp tục lắng tai nghe sự chỉ dẫn của người mù dù rằng trong đầu c̣n có nhiều thắc mắc...

Một năm trước đây trong chuyến chạy "tour" xe đạp trên miền núi "Allegheny" - Pennsylvania đoàn chúng tôi có ghé sang tham quan ṭa nhà "Fallingwater" do Frank LLoyd Wright thiết kế (1935). Đây là một kỳ quan về kiến trúc "hữu cơ" của thời đại. Ṭa nhà nầy là một biệt thự cất trên thác nước, bên trong có nhiều đồ "interior design" vô giá của F.L.Wright. Ngày hôm đó trong nhóm khách "tour" ṭa nhà có một người mù. Bên trong khách viếng cấm không được ngồi lên, dựa vào hay sờ bất cứ món đồ nào. Trong suốt 1 tiếng đồng hồ người khách mù lúc nào cũng tỏ vẻ vui sướng thú vị. Khi ra khỏi nhà bạn tôi là Rick mới hỏi tôi "ông nầy mắt nh́n không thấy, lại bị cấm dựa và sờ th́ vào đây để làm ǵ?".

Qua sự quan sát của tôi ông nầy có lẽ vào đây để thưởng thức mùi gỗ c̣n lại trong đồ built-in furniture, mùi "thời gian" lắng đọng gần một thế kỹ như hồn ma, và nghe tiếng gió mang đến do những cánh cửa sổ nhỏ bài trí một cách khéo léo. Nó tạo ra tiếng sáo du dương ḥa hưởng với tiếng suối róc rách, tiếng thông reo tiếng chim hót ngoài vườn và tiếng nhă nhạc do mấy trụ "wind chimes" mang đến.

Không như người điếc từ nhỏ thường trở nên "câm", người mù có thể bù trừ cho sự thiếu thốn của ḿnh bằng cách phát triển những giác quan c̣n lại như thính, xúc, vị và khứu giác. Trên đời có nhiều người mù rất tài ba như Biwa Hoshi (Tỳ Bá Pháp Sư) xưa kia của Nhật, Sĩ Khuông đời Tam Quốc, ca sĩ Ray Charles và Andrea Bocelli ngày nay.

Ngày hôm đó tôi đi lang thang trong rừng đến gần chiều tối. Người xem chim dần dần vắng đi...Trong lúc tôi nghĩ vẫn vơ bỗng có ai gọi lớn tiếng: "Nầy anh kia...ngừng lại!". Tôi hướng mắt về phía tiếng gọi và thấy có một người nam đang đưa gậy cản đường tôi đi. Tôi phân vân sửng sốt không biết cớ sự là sao. Ông ta bảo "coi chừng coi chừng... cứt chim trên đường đi đấy!". Tôi toát mồ hôi rồi ú ớ: "Bác Hổ ơi về cứu cháu đi (2). Thằng cha nầy đúng là Zatoichi...."(3).

Naruhodo! (aka. Huỳnh văn Ba)

------

(1) Click vào đây xem thêm: "Đi xem chim trong ngày của mẹ..." qua link:

http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/XemChim-05212010.htm 

(2) Bác Hai Hổ là người làm tài công và tài phú cho ông Tư em bà ngoại tôi. Xưa kia ông Tư buôn bán lớn, có ghe bầu đi Chợ Lớn và khắp lục tỉnh. Một hôm trên đường lên Nam Vang ghe bi cướp chận trên sông. Tên tướng cướp cầm mă tấu nhảy lên ghe đe dọa. Thế th́ bác Hổ liền cầm cây tầm vông đánh vào ống chân tên cướp làm cho nó ngă quỵ và té xuống sông. Đám lu la thấy thế bỏ chạy hết. Về sau con cháu khi có chuyện ǵ khiếp sợ thường gọi bác Hổ cầu cứu.

(3) "Zatoichi" là tên của một gă giang hồ mù rất giỏi trong nghiệp cờ bạc, có tài đoán biết vị trí trên dưới của các mặt "xí ngầu lắc" thời Edo, NB. Ông nầy cũng rất giỏi vơ và kiếm pháp. Từ những năm 60 đến 80 có nhiều cuốn phim diễn lại cuộc đời của "Zatoichi" do "Katsu Shintaro" đóng. Ở Việt Nam ta thời đó thường gọi là "người hiệp sĩ mù nghe gió kiếm".

Mời xem thêm vài h́nh ảnh

(xem slideshow toàn tập ảnh xin click vào đây)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

P10906211.jpg image by bonsai_bhuynh

© "Khi phát hành lại bài này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

Cảm tưởng xin gởi về