Con chim “Chài” Belted Kingfisher

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)

 

(Click vào link dưới đây để xem slideshow)

https://photos.app.goo.gl/s7xuqifjiWBk6Ucx6

Thời còn bé vì sống ở vùng quê miền Nam nên tôi có nhiều dịp tiếp xúc với giới thiên nhiên. Đi bộ khỏi nhà 5-10 phút là thấy đồng ruộng, sông rạch. Sân chơi của trẻ con chúng tôi thời đó cũng là những nơi nầy. Thời đó làm gì có công viên hay sân vận động. Trong những thú chơi tôi thích có câu cá, bắn chim bằng ná, bắt dế và lội sông.

Miền Nam thời đó có nhiều đầm nước đọng trong mùa mưa. Người ta thường nói “nơi nào có nước là có cá”. Dĩ nhiên không phải cá nào cũng “bán” được có giá. Thường câu được là “lòng tong”, “cá chốt”. Những thứ nầy chỉ để cho chim ăn và bọn con nít câu chơi. Trong lúc chờ cá cắn mồi chúng tôi thỉnh thoảng gặp con chim xanh tí teo bay xuống nước bắt cá – Đó là con chim chài. Chúng tôi dùng ná bắn nhưng chẳng bao giờ trúng được.

Khi sang bên Nhật tôi cũng có lần gặp lại con chim chài trong công viên có hồ nước. Chim thường đậu trên cành cây ve ra hồ để tìm cá. Chim chài của Nhật cũng gần giống như chim của Miền Nam ta – nói chung là có màu lông cánh xanh biếc.

Từ khi sang định cư ở Mỹ gần 40 năm tôi không có cơ hội gặp con chim nầy. Chỉ gần đây khi đi săn ảnh con chim “bald eagle” và con chim “lun”, tình cờ gặp một con chim săn cá hơi giống loài chim “chài” của xứ ta.. Đó là con chim “Belted Kingfisher” và tôi xin giới thiệu về nó.

Belted Kingfisher có tên khoa học là Megacerylel alcyon - là một loài chim trong gia đình Alcedinidae, bà con với con chim “chài” hay “bói cá”, “bồng chanh” của Việt Nam ta. Loài chim “Kingfisher” có mặt trên khắp địa phận của trái đất ngoại trừ vùng cực địa, nhưng tập trung cao nhất là ở Á, Phi và Đại Dương Châu. Ở Âu Châu và Bắc Mỹ Bắc của Mexico tuy có loài chim nầy nhưng không được đa dạng như các nơi vừa kể, đa số là “common kingfisher” và “belted kingfisher” (ở Bắc Mỹ ).

Chim “Belted Kingfisher” có kích thước từ 28-35 cm, nặng từ 113 –178 g, được sếp vào hạng “nặng” của gia đình “kingfisher” chỉ sau con “ringed kingfisher”. Đặc điểm của chim nầy là có đầu to, mỏ to và dài, cứng chắc, mắt tinh sáng. Long cánh và lưng màu xanh xám, cổ trắng, có vòng đai trên ức. Đuôi và chân hơi ngắn nên dễ nhận diên.

“Belted” của “belted kingfisher” có nghĩa là “có vòng đai”. Chim mái có thêm một vòng màu nâu hồng và kích cỡ hơi to hơn chim trống. Chim không biết “hót” nhưng thường hét vang vội “lạch cạch lạch cạch....” lúc bay rượt chim “kingfisher” khác hay để quảng cáo quyền sở hữu vùng đất nước của mình.

So với chim “chài” vùng nhiệt đới “belted kingfisher” không được trời cho bộ long xanh màu “ngọc lam” diễm kiều làm mê muội kẻ nhìn. Tuy nhiên về tài nghệ săn mồi nó không kém gì chim đồng loại.

“Belted kingfisher” chuyên săn các loài cá bé như “minnows” (giống như lòng tong), “stickleblack” (như cá bóng), cá trê, bọ nước, “crayfish” (tôm càng), ....Họ thường đậu trên cành cây ve ra bờ sông để chờ mồi. Loài “kingfisher” có thể đập cánh dừng một nơi giữa trời như chim “hummingbird”để chuẩn bị tấn công cá dưới nước. Cái mỏ của chim được dùng như lưỡi lê để hạ sát đối thủ.

Trước khi sinh trứng chim đục hang trong vách đất bên bờ sông hay hồ để làm tổ. Cái mỏ của nó được dùng như mũi giùi khi chim bay thẳng vào vách. Sau đó nó tiếp tục đào đục bằng chân và mỏ. Hang thường vào sâu 1-8 feet với một độ dốc đi lên cao để tránh lục, đường kính chỉ đủ cho chui ra vào vì vấn đề an ninh. Phòng ngủ là nơi có chổ lõm.

Khi nói đến con chim “Kingfisher” người ta thường nghĩ tới cái màu sắc đặc thù của bộ lông loài chim nầy. Bên Nhật họ gọi nó là “kawasemi” và viết là カワセミ, 翡翠 hay翡翆. Chữ 翡翠、翡翆đều là chữ Hán mượn từ TQ, âm Hán Việt là “Phỉ thúy” – Hai chữ 翡 (phỉ) và 翆 (thúy) đều có bộ 羽 (vũ・lông chim, cánh), chữ trước có khi dùng để chỉ chim trống, chữ sau chỉ chim mái. Riêng chữ 翆 (thúy) còn được dùng chỉ “ngọc lam” - “emerald” vì đá nầy có màu xanh biếc như lông của con chim “chài. Ở VN ta thích đặc tên cho con gái với chữ “Thúy” như Thúy Vân, Thúy Kiều dựa vào cái đẹp của đá quí. Người Đức gọi chim chài là hòn kim cương biết bay của dòng sông.

Trong giới nhiếp ảnh thú dã sinh và chim muôn dù là chuyên nghiệp hay tài tử, loài chim “kingfisher” thu hút được sự hâm mộ của nhiều người. Khi có dịp quan sát cách sống của con chim chài nhỏ bé nầy ta sẽ thấy nó cũng có những cái kỳ thú mà loài khác không đạt tới.

Khi bay chim sẽ bay một đường thẳng song song mặt nước như mũi tên bắn đi. Chim có thể lượn một chổ giửa trời như chim “humming bird” để chuẩn bị tấn công mồi. Lúc bắt cá chim có thể dủng mỏ như cái giùi để đâm xuyên qua thân cá, hoặc kẹp cá như cái kềm. Nếu cá lớn nó sẽ “đánh” cho bất tỉnh rồi quay trở lại sau đó để mang lên bờ. Đây là lúc chim lớn như “bald eagle” lợi dụng để cướp mồi của nó.

Từ xưa con người khi quan sát con chim “chài” chắc phải đâm ra thán phục. Mỗi ngày nó bắt cá để ăn bằng hay hơn cả trọng lượng của mình. Chính vì thế nó được phong cho cái tên là “King” (vua) chăng? Bên TQ ngoài cách gọi chim chài là “翡翠” (phỉ thúy, chim xanh), họ còn gọi nó là “魚狗”, “水狗”, “魚虎”, “魚師”, i.e. ngư cẩu (chó bắt cá), thủy cẩu (chó dưới nước), ngư hổ (cọp bắt cá), ngư sư (thầy bắt cá). Đây cũng do sự khâm phục tài bắt cá của con chim chài. 

Đa số chúng ta biết chim chài là loài bắt và ăn cá. Đó là nhóm “River kingfisher”. Nhóm “Tree kingfisher” sống gần rừng cây chuyên ăn côn trùng. Còn lại là một nhóm nhỏ – “Water kingfisher” sống ở Bắc Mỹ. Trong nhóm “River kingfisher” có con “Kookaburra” của vùng New Guinea và Úc có tiếng kêu còn rùn rợn hơn con “lun” tôi có kể gần đây. Ta có thể phân biệt hai nhóm đầu qua màu của cái mỏ – Chim ăn cá có mỏ đen, chim ăn sâu có mỏ đỏ.

Hình dáng của mỏ chim chài đã gợi ý cho kỹ sư Nhật đi đến cách thiết kế cái mủi xe đầu đạn “Shinkansen” serie 500 có thể làm giảm sự khó chịu của hành khách do hiệu ứng “piston” lúc đoàn xe ra vào đường hầm. Cuối cùng các bạn đang sống ở Canada chắc biết là đồng 5 đô-la năm 1986 của xứ nầy có hình con chim “Belted Kingfisher” như tôi chụp gần đây.

 

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA

 

 

® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về

[ Trở về đầu trang ]