Ảnh chuyện*: "Urashimataro đi thăm xứ Huế"

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)

"Bách bát hồng thanh tiêu bách kết. Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên"*

 

 Đại Nôi 

Rời Hà Nội khoảng  8 giờ đêm chiếc máy bay của Air Vietnam bay nhẹ nhàng theo duyên hải chở tôi về Huế. Nơi đây sông Hương núi Ngự đang chờ đứa con đất nước ra đi gần nửa thế kỷ về thăm miền đất Thần Kinh. Về đêm từ trên không nhìn xuống Huế  không diễm lệ như Saì Gòn,  đồi núi xung quanh gửi sương đêm về ru ngủ thành phố. Đối với tôi phong cảnh đêm của Huế rất an bình và tôi rất thích như thế.... 

Chiếc máy bay hai chong chóng ATR 72-500  do Pháp Ý chế bay rất êm, thiết bị bên trong không kém gì Airbus hay Boeing. Hai cô tiếp viên  trẻ đẹp (trẻ hơn t.v. các hãng hàng không Úc hay Mỹ nhiều) "thảy" cho mỗi người hành khách  một chai nước suối, xong rồi  biến mất như..."Tiên". Ngày nay trong nước hình như không còn dùng phi cơ của hãng Tupolev hay Sukhoi, Nga. Qua kinh nghiệm của quá khứ, dù là thương anh em xã hội chủ nghĩa, nhà nước nhân dân ta rất biết chú trọng đến an toàn sinh mạng. Ai muốn nói gì thì nói, đây là một sự chọn lựa có chất xám và con tim. Sau khi xuống máy bay tôi được người quen đón ở cửa ra phi trường xong chúng tôi lấy taxi về khách sạn.   

 

Đường Lê Lợi 

Hotel Thanh Lịch nơi chúng tôi ở hai đêm nằm trên đường Hai Bà Trưng cách khu phồn hoa thành phố không xa lắm. Từ đây đến đường Lê Lợi nơi có trồng nhiều hoa phượng vĩ như nữ sĩ MN (Exryu) tả trong thơ văn khoảng chừng  2-3 ngã tư. Nhưng vì đã khá tối thay vì đi ra phố tìm quán cơm tôi ghé quán ngồi chèm bẹp trên vỉa hè ăn hột vịt lộn. Ô cha đơn giản thế vậy mà ngon. Đây là món ăn của đất nước. Hôm mới đến HN chị Lữ có mua chục trứng luộc sẵn mang tới nhà anh Phú để đãi tôi. Nhưng khi biết chị Midori  ăn không được chị Lữ cất luôn không đưa ra, mỗi lần nhớ tới làm cho tôi chảy nước dãi.  

Sáng ngày hôm sau chúng tôi thức sớm. Hotel nầy thuộc hạng 3-sao nhưng đến khi cho ăn điểm tâm thì tôi muốn tăng cho lên 5-sao. Đồ ăn thực thịnh soạn, có búng bò Huế và bánh đặc sản địa phương như bánh bột lọc nhân tôm, bánh Huế, bánh bèo chén, ngay cả mấy người Tây (Pháp)  cũng thích. Trong khi ăn cô tiếp viên trẻ mặc áo dài trắng đến trò chuyện với chúng tôi. Cô nầy thật dễ thương, tuổi chắc bằng con gái tôi, ăn nói lễ phép nhã nhặn. Lâu ngày toàn  nghe con cái đối thoại bằng “you-and-me” nghe cô con gái Huế xưng con xưng cháu sao mà dễ mết quá. Ước gì tôi có đứa con gái như thế nầy. Trước khi chúng tôi ra đường đi tham quang thắng cảnh cô gái chạy theo nhắc đi nhắc lại: "nầy bác phải nhớ cho cháu nhé..., nếu bác ra phố mua đồ người ta nói mười thì bác phải trả bốn thôi nhé. Nếu họ không chịu thì bác nhít lên năm. Lúc đó bác giả đò bỏ đi thì họ kêu bác trở lại để bán đấy. Bác nhớ cho nhé....". Dzời ơi, ngoài Hà Nội hay trong Sài Gòn mà trả giá rồi bỏ đi sẽ bị người ta chửi, xong họ đốt vàng bạc xua đuổi cho c-ú-t đi. Trong Huế "khôn" sao à, chừ lạ quá... 

 

 

Chúng tôi tản bộ ra phố vì có nắng tương đối đẹp. Buổi sáng không khí khá trong lành so với Hà Nội hay Sài Gòn, xe cộ cũng ít hơn. Đến đường Lê Lợi và đầu cầu Trường Tiền định leo lên cầu nhìn xuống sông Hương chụp hình và tìm dấu tích nhịp cầu "bất hạnh" bị ma vương trong rừng ra giựt sập ngày tết linh thiên của dân ta xưa kia. Nhưng vì giao thông xe gắng máy bắt đầu rộn rịp nên tôi trở lại góc đường nơi có cây “da” (sung?) và cái bót cảnh sát. Ông bán chim cảnh góc đường bắt đầu đem chim ra bán. Tôi hỏi giá chim bao nhiêu và đùa là định mua rồi "phóng sinh" làm bác ta ngạc nhiên trợn mắt,  chắc nghĩ trong đầu là ông nầy "ở nể" rồi sinh ra "ba trợn"? Sau đó chúng tôi đón xe taxi đi vào Đại Nội. 

Xe taxi chúng tôi mướn thuộc hãng "Mai Linh" xe màu xanh lá cây - "green". Người từ ngoài về nếu bỏ thì giờ thăm hỏi trên internet hay người quen biết thì chắc sẽ nghe lời khen về hãng nầy. Khách chỉ trả tiền theo đồng hồ. Đây là sự chứng minh cho nguyên lý kinh tế thị trường trong đó sự thành thật và phục vụ tốt sẽ gặt hái thành công - chớ không qua giành giựt và gian dối như ta thường thấy ngoài "ới" hay trong HCM. Người tài xế lái xe cho chúng tôi rất nhã nhặn lễ phép, nó gợi lại hình ảnh của một "senpai" (tiền bối/đàn anh) khả kính người Huế nhu mì đẹp trai (nay là exryu Texas) của tôi khi mới đến Nhật xưa kia.  

Đại Nội là tên gọi chung cho Hoàng Thành và  Tử Cấm Thành - là nơi vua ở và làm việc,   được vua Gia Long nhà Nguyễn cho xây từ năm 1804 nhưng mãi đến đời Minh Mạng mới hoàn chỉnh. Để vào trong tôi phải mua vé cho "người lớn tuổi" rồi đi ngang Ngọ Môn phía Nam, qua hồ Thái Dịch bằng cầu Trung Đạo đến điện Thái Hòa. Bên trong còn nhiều cung điện khác, trong đó cửa Hiển Nhơn và Miếu Môn có nhiều trang trí rất đẹp mắt - nó gợi lại hình ảnh của Yomeimon, Nikko Toshogu, NB. Hiển Lâm Các có cái đẹp như các lâu đài Nhật hay Hoa. Nếu ai tò mò sẽ thấy trên nhiều nóc nhà có rồng phụng, đa số là đồ cẩn bằng gốm sứ xuất xứ từ Bát Tràng - Hà Nội. Kiến trúc cung điện của Việt Nam vừa dùng gỗ, gốm, gạch, vôi và ximăng, không hoàn toàn giống TQ hay Nhật tuy rằng trên luật phong thủy và chiến lược có nhiều chỗ tương cận với nhau. Cách chọn lựa vật liệu xây cất như thế có lẽ để phù hợp với khí hậu và địa lý của Huế chăng. Có đến đây ta mới thấy được một thời an trị của Nguyễn triều.  

Như các cung thành xưa có lúc thịnh lúc suy, khi gặp tai biến chiến họa cung thành sẽ đổ nát. Nghĩ đến Hoàng Thành Huế tôi thường nhớ đến biến cố Mậu Thân, một sự cố lịch sử bất hạnh của đất nước - mặc dù tôi không có mặt trên quê hương lúc đó. Đại Nội cũng đã từng ngút cháy như thành Hàm Dương (咸陽) , đổ vỡ như  thành Tsuru (鶴ヶ城; or Aizu Wakamatsu-jo) hay thành Oka (岡城) . Không cần phải là Nhã Ca,  Vi Trang (韋荘)  hay Doi Bansui (土井晩翠), là con người có trái tim ai lại không cảm thấy đau lòng?  

 

 

Ngày nay Hoàng Thành Huế bắt đầu được trùng tu. Mong rằng nó sẽ ghi lại một bài học về lịch sử cho con cháu đời sau. 

Sau khi ra khỏi Ngọ Môn anh tài xế taxi chờ chúng tôi bên ngoài rồi đưa đi thăm lăng Minh Mạng, Tự Đức và Khải Đinh. Theo anh thì đặc điểm của ba lăng nầy là cái qui mô dành cho lăng Minh Mạng, cái đẹp về khuôn viên và kiến trúc cho lăng Tự Đức và cái cận đại cho lăng Khải Định vì có nhiều ảnh hưởng của Pháp Quốc. Đến thăm ta sẽ thấy sự di dời của thời gian qua vật liệu. Trong lăng cuối của nhà Nguyễn gốm Bát Tràng không còn dùng nhiều nữa và thay vào là sắt thép.  

Lăng Minh Mạng và Tự Đức có nhiều công trình mộc tạo xen với gốm sành, gạch vôi. Bên trong có hồ sen, nhà thủy tạ và hoa viên, qui  mô rất lớn như các "Jingu" (神宮・thần cung)  của Nhật. Trước cửa vào có quần tượng đá - quan, binh, mã, tượng, long, lân. Không hiểu sao quan binh ngựa voi mình thời đó chỉ bằng phân nửa của "quốc tế" - chẳng lẻ vì thiếu dinh dưỡng hay sao? 

 

Lăng Khải Định nằm trên trái đồi khá cao, từ đó nhìn ra xa là một khung cảnh  núi non  thơ mộng nhưng đầy nghiêm cách thuận theo luật phong thủy đế vương. Lăng có nhiều điêu khắc tinh vi, đến nay ý nghĩa của hình thù chưa được giải mã hết. Kiến vật còn nguyên vẹn như  lúc xây, lăng sẽ là đối tượng nghiên cứu cho giới hàn lâm tương lai. 

Người ngoài đến đây nên mướn "tour guide" để được nghe giải thích về chi tiết của kiến trúc, nghệ thuật phía sau và lịch sử của một thời. Tôi rất ngạc nhiên trong lăng tẩm Huế có rất nhiều "guide" – người hướng dẫn - biết nói tiếng Anh, Pháp, Hoa, Nhật, Hàn, Đức, Nga v.v. rất giỏi. Họ là Việt Kiều khắp xứ hồi hương chăng?  

Ngày nay lăng tẩm Huế  là di tích văn hóa lịch sử quan trọng của VN vừa là công viên nơi thư giãn cho mọi người tuy rằng giá vào cửa không được hợp lý lắm cho người nghèo. Ước gì nhà nước thương dân giảm giá cho nhóm  nhà lá một tí.

Lăng Khải Định 

Rời lăng Khải Định chúng tôi trở lại thành phố ăn cơm xong rồi lên taxi đi viếng chùa Thiên Mụ (天姥寺) cách thành phố khoảng 5 km về hướng Tây.

Chùa nằm bên tả ngạn của sông Hương, ngó ra xa là núi Ngự. Trước khi được xây cất nơi đây đã có ngôi chùa của đồng bào Chiêm Thành gọi là chùa Thiên Mỗ hay Thiên Mẫu. Khi chúa Nguyễn Hoàng  vào Đàng Trong (塘中),  ông có lần đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, xây dựng giang san cho ḍng họ Nguyễn sau này. Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ  sông Hương lên đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên ḍng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như h́nh một con rồng đang quay đầu nh́n lại, ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê - về sau cũng gọl là Thiên Mụ Sơn.

Chùa Thiên Mụ 

Chùa được chúa Nguyễn Hoàng  cho khởi công xây cất vào năm 1601, hai năm trước khi thời Edo (江戸) của Nhật Bản bắt đầu. Đến đời Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) chùa được khuếch đại qui mô hơn. Năm 1710 chúa cho đúc một Đại Hồng Chung nặng trên hai tấn. Trong cảnh chùa có điện Thiên Vương, điện Đại Hùng, nhà thuyết pháp, lầu Tàng kinh, v.v. Từ trước nhìn vào ta sẽ thấy bốn trụ biểu phía sau đó là tháp Phước Duyên bảy tầng rất đẹp mắt, xưa kia bên trong có  tượng Phật vàng. 

 

 

Ngày xưa lúc còn sống bên Nhật tôi có nhiều dịp đi đây đó.  Trong lần đến Kyoto và ở trong một "ryokan" (lữ quán) gần chùa "Kiyomizu"(清水寺) buổi tối  mấy sư dọng chuông tạo ra tiếng "g..o..o..n..g..." ngân nga như đưa tâm hồn lên thiên đường. Về sau anh em sinh viên VN ở Tokyo cũng có lần đi lên chùa trên Okutama (奥多摩) rồi ngủ lại đêm. Tiếng "hồng chung" buổi sáng tỉnh mịch trong màn sương trắng như mang đến sự siêu thoát cho con người thật là khó quên.  

Đến Thiên Mụ tự tôi thấy tâm hồn rất yên tịnh, không còn muốn tranh đua. Xung quanh đại Phật Điện, nhà Thiền có trưng bày nhiều cây cảnh, trong đó có hòn non bộ rất đẹp của ông tổ nghề hát tuồng VN là cụ Đào Tấn để lại. Tản bộ trong khung viên chùa, qua ngan cổng Tam Quan, nhìn những bức tượng La Hán khắc trên vách cửa, tượng Thập Vương, tượng Phật Di Lặc...tự nhiên tôi hồi hộp. Rồi trong bụng lầm thầm vang vái "Nam mô A di Đà Phật..." như thuở mới lên bốn lên năm khi bước vào chùa Ông ở  Ba Tri quê ngoại. Chùa sau nầy có tượng ông "Dõng" tay dắt con ngựa. Dân quê đồn rằng ban đêm ổng cưỡi ngựa đi tầm kẻ gian manh nói dối để trừng phạt. Có đêm nằm mơ thấy ông Dõng tôi sợ quá rồi khóc thét lên. Ngoại tôi đến sờ đầu vỗ về "nếu cháu ngoan thì ông Dõng sẽ  phò hộ cháu đó". Tôi nín khóc gật đầu hứa sẽ là cháu ngoan rồi ngủ yên sau đó.... trong khi bên tai nghe tiếng ngoại cầu kinh. 

 

 

Chùa Thiên Mụ là một danh lam thắng cảnh của Huế. Nơi đây còn là gia tài lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và tôn giáo của VN. Chiếc xe hơi Austin A95 Saloon đời 1956 chở hoà thượng Thích Quảng Đức đến nơi tự thiêu được bảo tồn trong chùa nầy. Thiên Mụ Tự là nơi trụ trì của các cao tăng Phật Giáo, là trái tim và khối óc của người theo Đạo Phật. Đã từng dìu dắt tâm linh đạo đức của vua quan cũng như đại chúng. Là niềm tin và nắm lửa hồng cho các cuộc đấu tranh chống bạo lực. Lịch sử đã chứng minh "Thiên Mụ còn thì Việt Nam ta còn". Bè đảng đến rồi sẽ trôi đi như lục bình hay các triều đại trước đây theo dòng thời gian. Vậy ta cần gì cố chấp như lời Phật có dạy?  

Trở lại phố Huế trước khi chiều tà tôi có chút thì giờ đi dạo. Vô tình tôi bước vào công viên 3 tháng 2 có cái tên hơi lạ. Đây có phải là nơi đã từng chôn sống nhiều nhân sĩ Huế vô tội ngày xưa?  Tôi không hiểu lịch sử của nó là cái "rứa" chi nhưng thôi mặc "kẹ". Mình đã đi chùa mới về còn sân si "mần chi đây hè"?  

Trời mát  trong công viên có nhiều cập tình nhơn trẻ tìm gốc khuất để hun hít với nhau. Già-70 thì biết quá đủ rồi nên chỉ đứng hô hấp sâu theo Dịch Cân Kinh mới học được từ anh bạn Phật tử. Đâu đây có tiếng chim hót. Tai tôi "tune" về nguồn tiếng gọi dẫn  đến một cây da to phía sau một quán ăn. Tìm mãi chẳng thấy chim đâu. Khi định bỏ đi thì nghe tiếng đập cánh gần quán. Tôi ngỡ là người ta sắp giết vịt làm tiết canh. Khi ngó kỹ mới thấy cái lồng trong đó có con chim "chào mào" (Red-whiskered Bulbul) đang bị nhốt. Ôi cha thân chim lồng cá chậu thật tội nghiêp. Nào có khác gì dân đen xứ không có nhân quyền...  

 

Trong công viên đã bắt đầu lên đèn lờ mờ. Tôi đi âm thầm ra cửa để tìm quán ăn tối. Đột nhiên bên tai nghe  có tiếng ai rên than nho nhỏ hình như sau hàng cây. Đây có phải là tiếng than thở của kẻ bất hạnh trong xã hội thiếu công bình? Tôi buồn "rơi nước mắt" và thương cho người không nhà không miếng ăn đêm nay  như những người "homeless" của xứ Hoa Kỳ giàu có. Nếu trong thiên đường xã hội chủ nghĩa không có "homeless" như các bác thường nói thì đây chắc là tiếng than của những oan hồn bị chôn sống ngày trước? Nghĩ đến đó tôi rùng mình bỏ đi nhanh. Rồi lại có tiếng người nữ thống thiết "anh ...ơi..."nghe sao hơi lạ. Lần nầy hình như được đổi đời thoải mái hạnh phúc hơn. Nghe xong tôi choáng váng... rồi tự an ủi:"Một người già trong công viên....Một người điên trong thành phố...Một người nằm không hơi thở. Một Việt kiều nghe ai rên...." 

Về thăm quê hương một mình bỏ vợ ở nhà không biết có sao không. Có lẻ vì nhớ bã nên tai  tôi nghe chuyện hơi lạ kỳ - Hay đây chỉ là tiếng chim cú lợn kêu về đêm? Tôi hồi hộp vô cùng rồi trong lòng chợt ước có được một điều thật đơn giản - "sư ơi....sư trên chùa Thiên Mụ xin dóng cho con 108 hồi chuông để làm tan trăm nỗi oan kết muộn phiền...chuyến đi chơi mau kết thúc an lành để về bên mụ-o con còn thương quá chừng...".

Công viên viên 3 tháng 2 

Hình như có ai đang cười khúc khích...... Mèn đét  ơi đây đúng là công viên ma. Tôi bỏ chạy. Trong công viên có hai con "đồng mã" vô chủ. Nhìn ngựa tôi chợt nhớ đến đấng cứu tinh thuở lên bốn lên năm, bèn gọi 9-1-1 cầu cứu: "Ôn...ôn Dõng ơi ôn đang ở mô?" 

Naruhdo!   

Đầu Hè 2014/ViệtNam Du Ký - trong lúc nhớ người bạn Exryu đang nằm dưỡng bệnh ở Bệnh Viện Đại Học Chiba. Cầu mong mọi sự sẽ an lành với anh. 

 ------------------------------

Chú thích:

*"Ảnh chuyện": Đây là từ mới tôi nhận được  từ nhà văn Lưu An - Exryu Thụy Sĩ gọi những bài viết của tôi gần đây. Có lẻ nó gần với "photojournalism" trong Anh ngữ 

**Theo bài minh khắc trên bia đá trong chùa Thiên Mụ, có nghĩa là: "Một trăm lẻ tám tiếng chuông tiêu tan trăm nỗi oan kết muộn phiền. Ba ngàn thế giới tỉnh ba duyên".  

Xin mời xem tập ảnh Huế và Chùa Thiên Mụ qua hai links sau: 

- Huế và Lăng Tẩm:  

https://plus.google.com/photos/100328723324975578715/albums/5999199259491376337?banner=pwa

- Chùa Thiên Mụ:  

https://plus.google.com/photos/100328723324975578715/albums/5999190551065942129?banner=pwa 

 

 

Hiển Nhân Môn

 

 

 

 

 

 

® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về