Đi du lịch Tokyo trong một ngày

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)

(Xem photo album – xin click vào)

http://picasaweb.google.com/ohiobhuynh/TokyoTripOf2010# 

Về đến Nhật vào ngày cuối tuần của đầu tháng 8. Ngoài phi trương Narita (成田・Thành điền)trời thật nóng và ẩm ướt làm cho tôi và bà xă càng mệt mỏi sau chuyến bay hơn nửa ngày từ JFK, New York.

Ngày hôm sau tôi lấy xe Kôsoku bus (xe đ̣ cao tốc) từ nhà quê Chiba lên Shinjuku. Chuyến đi chỉ mất gần 2 tiếng so với nửa buổi bằng xe điện xưa kia. Nơi đây tôi có hẹn gặp với senpai (đàn anh ) Vơ ngọc Phước v́ trước khi đi về Nhật anh P. có email cho tôi và muốn đăi tôi một bữa ăn "yakitori".

Hai anh em gặp nhau trước cầu thang của tiệm sách "Kinokuniya" rồi tôi và anh P. cùng lên lầu 5 để tôi mua 1 chục cuốn tiểu thuyết của Kawabata Yasunari mang về Mỹ. Anh Phước là đàn anh sang Nhật trước tôi khoảng 3-4 năm. Ngày xưa anh học trên Hokkaido v́ thế có biệt danh là "Phước Hoku" (vs. Phước Q). Xong anh dẫn tôi đi dạo phố Shinjuku rồi đến quán cơm Vietnam Garden do anh Nguyễn Vĩnh Trường làm chủ. Nơi đây tôi được anh P. đăi cho ăn một bửa cơm VN rất thịnh soạn thay ǵ món Yakitori như anh hứa trong email (arigatou!).

 

Trong quán cơm tôi ngồi lắng tai nghe anh P. kể chuyện gần 2 tiếng đồng hồ. Những chuyện vui buồn sau khi anh về phục vụ đất nước, rồi đi học tập sau 75, đi vượt biên sang Nhật, trở về VN làm việc, v.v. Trong đó tôi rất cảm động khi học được một từ mới sau nầy là "hiện tượng xấu nhưng ư nghĩa tốt" lúc người ta đề cập đến cái "abuse" từng xăy ra trong trại ở phía bên kia bờ Đại Dương. Từ ngữ Việt Nam ta sau nầy rất là phong phú!

Sau khi chia tay với anh Phước (và hứa có ngày gặp lại senpai đáng kính!) tôi liền "dzọt" lên xe điện đi về ga Harajuku để viếng Meiji-jinguu, sau đó là Yurakuchô, Ginza và qua Kôkyo (hoàng cung).

Vài quan sát sau 30 năm rời Nhật

Tokyo ngày nay sạch sẽ hơn xưa kia dù rằng thời đó xứ Nhật đă nổi tiếng là "clean and neat". Trên nhà ga ngày nay không c̣n thùng chứa rác và trên xe điện không ai bỏ lại báo chí sau khi đọc xong như xưa. Đây có lẽ là do luật mới sau khi Subway Tokyo bị bọn phá hoại Aum Shinrikyo (オウム真理教) xả hơi độc "sarin" và al qaeda tấn công New York (Semptember 11). Người công dân nước nầy rất nhẫn nại. Đi đâu ta cũng nghe hay thấy những khẩu hiệu kêu gọi mọi người mang rác của ḿnh về nhà hoặc bỏ chai vào thùng recycling sau khi dùng xong.

Xe điện xe bus Nhật không c̣n như thời Showa 4-50 (1960-70's) nữa. Hầu hết xe đều có máy lạnh rất thoải mái, trong nhà ga cũng thế.

Ngày tôi đến Nhật cũng đúng vào mùa Obon (1). Người Nhật bắt đầu nghĩ lễ để về quê hay đi du lịch. Buổi chiều tối các làng xa thường có hội vũ "bon"(お盆・bồn, tức Du Lan bồn)hay hội "Gion"(祇園・kỳ viên)trong đó trai gái cùng tham gia trong việc khiêng đỡ mấy cái "O-mikoshi"(おみこし・portable shrine) và Taiko (太鼓・thái cổ - trống). Ngày nay giới trẻ Nhật rất hâm mộ những lễ hội xưa nầy. Họ theo dơi tin tức các nơi qua internet để đến đó tham gia như đi du lịch. Đây là một tinh thần muốn phục hưng truyền thống cổ truyền của quê hương, đồng thời đóng góp vào hoạt tính kinh tế đất nước.  

Xưa kia khi diễn hành theo O-mikoshi, họ thường la ḥ "wasshoi, wasshoi" hay "essa, essa". Gần đây qua ảnh hưởng của hội "Mikoshi Dôkôkai" (神輿同好会)v.v., họ đổi ra "Oisa" "Seiya" "Oisa" rất hứng thú.

 

Khu phố Harajuku không c̣n loạn như thời Showa (昭和・chiêu ḥa - niên hiệu vua Nhật) 5-60. Ngày nay giới "Annon" đă biến dạng. Họ ăn mặc "chic" hơn xưa, thường có vẽ theo thời trang của Âu Mỹ như Parisien hay New Yorker.

Mùa hè là mùa của Koshien Kokoyakyu (甲子園高校野球・i.e. National High school baseball tournament) . Mỗi ngày ta nghe tin tức trên máy radio và TV, trong đó lẫn lộn với tiếng kèn, tiếng hét, tiếng trống "ooen" (応援・ứng viện -cổ vơ) của fans trong lúc đổ mồ hôi đầm đề. Đội nào thua th́ khóc mếu máo đầy nước mằt...Nhưng tinh thần thể thao của học sinh Nhật cũng rất đáng phục, nào có khác ǵ tinh thần vơ sĩ đạo đâu?!.

Chuyến về Nhật lần nầy ngoài Tokyo tôi c̣n để thời giờ đi thăm mấy người bạn Nhật xưa, đi viếng Kawagoe, Kamakura và Nikko (2). Trong Tokyo c̣n có vài nơi tôi rất muốn t́m đến nhưng không đủ th́ giờ để thực hiện - trong đó có: chợ điện Akihabara (秋葉原), phố sách củ "Kanda" (神田古本店街) và ga "Hongo sanchome" (本郷三丁目)để đi về thăm trường xưa cùng với quán "yakitori" gần ngă tư Hongo-dori và Kasuga-dori.

Trên đường dạo buổi chiều gần nhà ga Yurakucho, tôi đột nhiên nghe văng vẵng bên tai có tiếng ca sao quen thuộc quá từ một tiệm Pachinko, trong đó có mấy câu như sau:

Ai anata to futari hana anata to futari
Koi anata to futari yume anata to futari
Futari no tame sekai wa aru no
Futari no tame sekai wa aru no

Sora anata to aogu michi anata to aruku
Umi anata to mitsume oka anata to noboru
Futari no tame sekai wa aru no
Futari no tame sekai wa aru no

Naze anata to iru no itsu anata to au no
Doko anata to iku no ima anata to watashi
Futari no tame sekai wa aru no
Futari no tame sekai wa aru no

(Lập lại)

Ai anata to futari hana anata to futari
Koi anata to futari yume anata to futari
Futari no tame sekai wa aru no
Futari no tame sekai wa aru no

 

Th́ ra đó là bài "Sekai wa futari no tame ni"(世界は二人のために・Thế giới nầy là của 2 chúng ta)(3) do cô ca sĩ dễ thương Sagara Naomi (相良直美)tŕnh diễn - và được "hit" vào năm 1968 khi tôi mới sang Nhật. Đây là một bài ca rất được người Nhật yêu chuộng thuở đó, đă từng được tuyển làm bài "tiến hành khúc nhập trường" cho "Senbatsu Kotogako yakyu taikai" (a.k.a. 全国高校野球選手権大会・National High school baseball tournament) kỳ thứ 40. Hồi đó sinh viên VN ta cũng hay ca bài nầy trong dịp Tết ḿnh và những buổi tiệc hội do cụ Đại sứ Vĩnh Thọ mời chẳng hạn.

Dưới đây là tóm tắc địa lư và lich sử nơi tôi đă đi chơi trong chuyến nấy:

Yuurakuchô (有楽町・Hữu lạc đinh):

Đây là một nhà ga của đường xe Yamanote, Keihin-Tôhoku và Yuurakuchô nằm giữa Ginza và công viên Hibiya. Tên của khu phố nầy đă có từ thế kỹ thứ 16 do sự liên hệ đến Oda Nagamasu (織田長益・Chức điền Trường ích, 1547–1622), người em út của Oda Nobunaga (織田信長・Chức điền Tín trường - một quan Daimyô của chính phủ Edo). Oda Nagamasu là một đệ tử lừng danh của trà thánh Sen no Rikyuu (千利休・Thiên lợi hưu), có biệt danh là Yurakusai (有楽斎・Hữu lạc tề).

Yurakuchô là môt khu phố ăn chơi b́nh dân từ xưa, nhất là sau thế chiến thứ II. Nhà ga nầy chỉ cách Ginza 5 phút đi bộ. Dọc theo hai bên đường thiết lộ có rất nhiều Izakaya (居酒屋・cư tữu ốc) hay Akachôchin (赤提灯・xích đê đăng, đèn lồng đỏ) - tức là chổ ăn nhậu của nam giới trong đó có nhiều quán Yakitori (焼き鳥 - thịch gà nướng).

Lúc đang học Nhật ngữ ở trường Kokusai Gakuyuukai (国際学友会・Quốc tế học hữu hội), thỉnh thoảng tôi được một anh "senpai" (先輩・tiền bối - đàn anh) ngưới Việt gốc Hoa (Tiến sĩ Sầm quốc Quang) dẫn đi ăn cơm Tầu kế bên hầm cầu nhà ga nầy. Trong các món ăn có món "ngầu bín thoáng" (canh đuôi ḅ) thật béo. Theo anh Quang giải thích đây là món ăn bổ dưỡng cho những người đàn ông đă có vợ. Đối với tôi v́ c̣n độc thân nên anh Quang bảo: "chú cứ ăn đi v́ nếu không bổ "cái kia" th́ nó sẽ bổ óc đấy, chú sẽ nhớ "Kanji" (漢字)nhiều hơn"...Tôi gật gù và cảm phục "Dai Senpai".

Ginza (銀座・ngân tọa)

Đây là một khu phố hoành tráng lich sự nhất của Tokyo. Cái tên Ginza đă có từ thời Edo. Xưa kia đây là nơi chính phủ lập ra sở đúc chế hóa tệ gọi là Ginza Yakusho (銀座役所) như ngân khố ngày nay. Đối với du khách nước ngoài những danh từ như "Fujiyama", "Kimimoto", "Geisha", "Akasaka", v.v. thường được nhắc khi đến viếng Ginza. Ngày nay khu phố nầy được xem như khu Fifth Avenue (Manhattan, New York) của Tokyo. Nơi đây có rất nhiều boutiques sang trọng danh tiếng, trong đó có Chanel, Louis Vuitton và Gucci.

Du khách từ xa đến Ginza thường không thể bỏ qua Kôkyo (皇居・Hoàng cư (cung)) nơi Thiên Hoàng ở. Đây là một cung thành nằm bên cạnh công viên Hibiya (日比谷公園), ngó qua phía bên kia là Ginza Skyline trông chẳng khác ǵ Manhattan khi nh́n từ phía sông Hudson hay Chicago khi nh́n dọc theo ven hồ Michigan. V́ luật cấm không cho buildings cất cao hơn Hoàng cung, v́ thế phố cao lầu Ginza không đồ sộ khi so sánh với New York, Chicago hay Shinjuku.

Xưa kia lúc mới sang (1968 - lại chuyện củ nữa - xin lỗi!) tiếng Nhật chỉ biết bập bẹ. Một hôm có bác đại thương gia dưới tỉnh Bến Tre (bác Ba Lạc Thành, là người quen biết với gia đ́nh) sang Nhật du lịch. Bác Ba đi với bác Sáu thương gia Sài G̣n, hai người mướn khách sạn lớn ở Ginza. Bác Ba được ba tôi giới thiệu nên khi sang đến Nhật bác điện thoại thăm và muốn gặp tôi. Khi tôi đến Ginza, bác Ba và bác Sáu tỏ ư muốn đi xem Show kiểu "Moulin Rouge" của Paris. Tôi không biết

 

 

đó là show ǵ th́ bác Sáu đưa ra cái pamphlet có h́nh của Nichigeki Music Hall (日本劇場・Nhật Bản Kịch trường) rồi bảo cho tôi biết là ở tầng thứ 5. Tôi tỏ vẻ e ngại th́ bác Ba hỏi "cháu có xem chưa?". Thấy tôi lắc đầu bác liền nói nhỏ nhẹ: "Vậy th́ đi xem cho biết đi. Cháu cũng lớn rồi...đừng có lo, 2 bác "dề bễn hỗng" có nói chuyện nầy với ba má cháu đâu". Thế rồi tôi an tâm dẫn 2 bác đi.

Nơi cửa sổ bán vé tôi bảo cô bán là: "Otona futari, kodomo hitori" (hai người lớn và một trẻ em). Cố bán vé nh́n tôi rồi mĩm cười: "Kodomo wa miccha-ikemasen yo" (trẻ em không được xem!). Tôi bối rối một hồi rồi đổi cách thương lượng: "Gomen...Ja- otona futari to gakusei hitori"( xin lỗi...2 người lới và một học sinh). Cô bán vẽ lại cười:"anata wa nansai - nijuu ni natta?" (anh mấy tuổi, đă được 20?). Tôi mừng quá vội gật đầu: "hai. Mô nijussai desu" (vâng, tôi đă 20). Thế rồi tôi bảo bác Ba trả tiền. Sau đó 2 bác ṭ ṃ "cháu nói ǵ với cô bán vé sao mà vui thế?". Tôi trả lời: "cháu trả giá với cô ta đấy. Không th́ ḿnh phải trả nhiều hơn...". Hai bác gật gù thán phục, chắc trong bụng nghĩ rằng "thắng cháu nầy đúng là con của thương gia có khác....".

Shinjuku (新宿・Tân túc)

Đây là khu phố thương măi phồn thịnh nhất Tokyo, chẳng khác ǵ khu Times Square của New York. Nơi đây có rất nhiều tuyến tàu điện trên và dưới mặt đất, mỗi ngày có trên một triêu người đi sang nhà ga Shinjuku. Cửa ra ga phía Nam là cửa lớn nhất, kế đến là cửa Tây và Đông.

 

Phía cửa Đông là lối đi qua vùng Kabukichô (歌舞伎町・Ca vũ kỹ đinh) nơi có nhiều vũ trường, hí viện và rạp hát bóng. Xung quanh nhà ga có rất nhiều tiệm bán máy ảnh như Yodobashi, Big Camera và Yoshida Camera. Nhà bán sách Kinokuniya (紀伊国屋・Kỷ y quốc ốc)là nơi sinh viên ta ngày xưa hay đến mua sách giáo khoa để học. Chính nơi nầy tôi và anh Vơ ngọc Phước đă hẹn gặp với nhau sau gần 40 năm xa cách. Đi về phía sau là vô số kể tiệm ăn và tiệm Pachinko (máy búng đạn ăn tiền).

Phía cửa Tây có 2 department stores lớn là Odakyu (小田急・tiểu điền cấp) và Keio (京王・kinh vương), đi thêm tí nữa là Takashimaya (高島屋・cao đảo ốc)- rất gần quán ăn Việt Nam của anh Nguyễn Vĩnh Trường.

Ngày nay Shinjuku là khu có nhiều nhà chọc trời nhất Tokyo hay Nhật Bản. Xưa kia đây là lămh địa của daimyô Naitô (内藤・Nội Đằng) dọc theo Koshuukaidô (甲州街道・giáp châu nhai đạo - đường cái Koshuu) nằm ở ngoại vi của thành Edo (江戸・giang hộ). Đây là trạm (宿・”shuku”- cũng đọc là "juku") kiểm soát giữa Nihonbashi (日本橋・Nhật tân kiều của Edo), qua Kôfu (甲府・giáp phủ) đến Shinanonokuni (信濃国・Tín nông chi quốc). Di tích của dinh Naitô ngày nay là công viên Shinjuku Gyoen (新宿御苑・Tân túc ngự uyển).

Harajuku (原宿・Nguyên túc) và Meiji Jinguu (明治神宮・Minh trị Thần cung)

Harajuku là một nhà ga trên tuyến Yamate (山手・Sơn thủ), nằm giữa ga Minami Shinjuku (南新宿・Nam Tân túc) và ga Shibuya (渋谷・Sáp cốc), có cửa ra phía Omote-sandô (表参道・Biểu tham đạo) và Takeshita-dôri (竹下通り・trúc hạ thông).

Omote-sandô là một đại lộ có nhiều cây, vào 1970-90’s giới trẻ Nhật Bản thường đến nơi đây để phô trương cái "fashion" rất "unique" và kỳ quái - gọi là "gothic lolita", "visual kei", "decora", v.v. Người Nhật gọi họ là "Harajuku-zoku" (hậu bán 1960), "Takenoko-zoku" (trước sau 1980) và "Ura harajuku" (hay ura-hara sau 1990). Tiếng Việt ḿnh chắc phải là "cḥi cḥi" trước 75, về sau nầy tôi không rơ lắm.

Mỗi cuối tuần khu phố trên Omote-sandô được chận lại không cho xe chạy. Đây là Hokôsha Tengoku (歩行者天国・bộ hành giả thiên quốc - tức thiên đàn của người bộ hành). Các cô gái teenagers hay "annon" thường thay quần áo học sinh tại nhà ga Harajuku trước khi xuất hiện trên phố nầy.

Đi về phía tay phải của nhà ga Harajuku là đường dẫn đến Meiji-jinguu, hội trường Olympic, công viên Yoyogi và trụ sở của đài truyền h́nh NHK.

Meiji-Jinguu là đền thờ cho vua Minh Trị - ngưởi đă canh tân (duy tân) xứ Nhật vào cuối thế kỷ thứ 19 để mang đến sự hùng cường và văn minh nhất châu Á cho đất nước xinh đẹp nầy. Nơi đây là một khu rừng âm u khoảng 700,000 mét vuông với 120,000 cây thường lục gồm 365 loại do dân các nơi trong nước cúng hiến. Đền đài xây cất theo lối "Nagarezukuri" (流造・lưu tạo) bằng gỗ "hinoki" (檜・cối -cypress) không có dùng đến một cây đinh, với cái cổng "Torii" (鳥居・điểu cư - cổng không có nóc) khổng lồ. Vào dịp Tết dân Nhật đổ về đây để tham bái, nhất là ngày "Hatsumôde"(初詣・sơ nghệ) lễ đầu năm (4) có đến khoảng gần một triệu người viếng mong cầu cho được phước lành, quốc gia hưng thịnh.

Huỳnh Văn Ba – Summer 2010

(1) Obon- xin xem thêm: "Những ngày lễ mùa hè của Nhật Bản và một giấc mơ..." qua link:

http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/MuaHe_NhatBan.htm 

(2) Kawagoe, Kamakura và Nikko: tóm tắc và ảnh sẽ được đăng trên ERCT.com

(3) Bài tiếng Nhật:

愛あなたと二人 (T́nh ơi em với anh hai người) 

花あなたと二人 (Hoa ơi em với anh hai người)

恋あなたと二人 (Yêu ơi em với anh hai người) 

夢あなたと二人 (Giấc mộng ơi em với anh hai người)

二人のため 世界はあるの (v́ hai chúng ta thế giới nầy hiện hữu)

二人のため 世界はあるの (V́ hai chúng ta thế giới nầy hiện hữu)

空あなたとあおぐ(Bầu trời ơi em với anh cùng ngắm)

道あなたと歩く(Con đường ơi em cùng bước với anh)

海あなたと見つめ (Biễn cả ơi hai chúng ta cùng nh́n)

丘あなたと登る (Đồi núi ơi em cùng leo với anh)

二人のため 世界はあるの(v́ hai chúng ta thế giới nầy hiện hữu)

二人のため 世界はあるの(v́ hai chúng ta thế giới nầy hiện hữu)

なぜあなたと居るの (Tại sao em lại đến với anh?)

いつあなたと会うの (Lúc nào chúng ḿnh gặp nhau nhỉ?)

どこあなたと行くの (Nơi nào chúng ta cùng đi?)

今あなたと私 (Bây giờ em với anh thôi)

二人のため 世界はあるの (v́ hai chúng ta thế giới nầy hiện hữu)

二人のため 世界はあるの (v́ hai chúng ta thế giới nầy hiện hữu)

Lập lại:

愛あなたと二人 (T́nh ơi em với anh hai người) 

花あなたと二人 (Hoa ơi em với anh hai người)

恋あなたと二人 (Yêu ơi em với anh hai người) 

夢あなたと二人 (Giấc mộng ơi em với anh hai người)

Nghe nhạc qua YouTube

http://www.youtube.com/watch?v=fOv9TBVNRrE 

(4) xin xem "Hatsumôde đi lễ đầu năm" qua link:

http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/Hatsumode/Hatsumode.htm 

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về