Tuyến đường hỏa xa Durango - Silverton

và chuyến đi về dĩ văng...

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)

(Xem toàn tập ảnh xin click vào đây)

Phần I

Sau 2 ngày đi chơi trong vườn quốc gia Arches [1] và Canyonlands [2] của Utah, tôi hướng về Durango, Colorado để nghỉ chân.

Nơi đây cách Grand View point  của "Islands in the sky" khoảng 230 miles. Đường highway 2 lanes US 191-S dẫn đến Monticello rất dễ chạy. Từ đây đổi sang đường 491-E đến Cortez, xong vào 160-E đưa ta đến Durango.

 

Coro_Utah trips 149Pana_FZ[1]

 

 

Durango: Với dân số gần 17 ngàn, Durango là thành phố lớn nhất phía Nam của tiểu bang Colorado. Durango là tên mượn từ "Urango" - tiếng vùng  Basque của xứ Tây Ban Nha, có nghĩa là "water town" (thành phố nước). Xưa kia muốn đến đây ta phải dùng đường hỏa xa hay xe ngựa. Đây là căn cứ trọng yếu cho các mỏ quặng của quận San Juan do công ty hỏa xa Denver - Rio Grande Railroad (D&RG) thiết lập vào năm 1879. 

Tuy là thành phố có nhiều hoạt đông thể thao ngoài trời như chạy xe đạp mountain bike, golf, chèo thuyền canoe, kayak, leo núi, câu cá, skii v.v., Durango thường được người ta biết đến hơn là chỗ có đường xe lửa với đầu máy chạy than đá đến Silverton - một trong 10 đường hỏa xa đẹp nhất thế giới!. Đây cũng là lư do tôi lặn lội 7-8 trăm km đến đây.

 

DurangoSilverton 815Sep_1[1]

 

Silverton: Là một làng được dựng lên v́ có quặng bạc (silver). Xưa kia khi mới thành lập dân lao động từ khắp nơi đổ về đây để t́m cơ hôi làm giàu, trong đó có cả dân Âu Châu và Trung Quốc. Vào năm 1874 ước lượng có khoảng 2000 người. Hai năm sau số dân c̣n lại là 500 v́ cuộc sống quá kham khổ. Chỉ cần ghé sang nghĩa trang của làng nầy ta thấy ngay được cái lư do giảm thiểu dân số: 117 chết v́ bị tuyết chôn, 143 chết v́ mỏ chôn, 161 v́ sưng phổi, 138 v́ cúm, 202 v́ tai nạng mỏ. Ngày hôm nay (năm 2000) dân số c̣n lại khoảng 531. Mỏ bạc đă phế thải và dân cư nơi đây sống chính là dựa vào kỹ nghệ du lịch do đường hỏa xa mang đến

Tuyến đường hỏa xa D&SNG                                                                           

D&S là chữ tắc cho Durango và Silverton, NG là "narrow gauge" (tuyến lộ khổ hẹp) giống như đường rầy VN ta trong thời Pháp thuộc. Đây là loại đường rầy thích hợp cho vùng núi, cần ít tài chính để thiết kế và bảo quản. D&SNGR là công ty hỏa xa vận hành tuyến nầy sau khi được D&RG ủy nhượng (từ năm 1981). 

 

Coro_Utah trips 148Pana_FZ[1]

 

Hiện nay tàu hỏa phục vụ cho tuyến nầy có đầu máy 2-8-2 class K28 và K36 do hảng Baldwin chế. "K" là chữ tắc cho "Mikado" [3] c̣n 28 và 36 là sức kéo của động cơ vào khoảng 27,500 và 36,00 pounds-force. Con số "2-8-2" dùng để chỉ số bánh, tức là 2 phía trước, 2 phía sau và 8 ở giữa và là phần cơ động để kéo cả chuyến tàu.  Xe có 12 toa, trong đó 3 toa là "gondola" ngồi bên ngoài không có kính che. Giá cho chuyến tour (72 km) là 83 đô-la ngày thường. Ngoài ra có toa thượng hạng đắc hơn.

All aboard! Let's travel back in time. ...

(xin mời lên tàu! chúng ta sẽ bắt đầu đi về dĩ văng.....)

Tôi mua vé ngồi trong "gondola" số 2, khoảng giữa của con tàu. Đúng 8 giờ 30 AM, tiếng c̣i hú làm cho tôi giật ḿnh tuy trong ḷng rất hân hoan như đứa trẻ được leo lên lưng ngựa lần đầu tiên. Toa tàu bắt đầu rụt rịt rồi những bộ phận móc nối (couplers) tạo ra tiếng nghiến ken két của sắt thép. Tiếp theo đó là tiếng ma xát của bánh xe lăn.

 

Sigma-Coro_Utah 307Edited JPEG[1]

 

Coro_Utah trips 251Pana_FZ[1]

 

DurangoSilverton 886Sep_1[1]

 

Tàu rời nhà ga gần khu đông dân cư, khách đi dưới đường vẫy tay chào đưa khách đi trong đó có cả tôi. Khách trên tàu vẫy tay chào lại...Rồi tôi quên là ḿnh đang ở xứ nào, vừa mĩm cười vừa thốt lên tiếng nho nhỏ "sayonara...". Hai vợ chồng già người Texas ngồi cạnh tôi ngó sang rồi nói nhỏ với nhau "anh chàng nầy chắc là Ute?" [4].

 

DurangoSilverton 820Sep_1[1]

 

DurangoSilverton 904Sep_1[1]

 

Sau khi ra khỏi thành phố, con tàu chạy dọc theo sông "Animas" hai bên có nhiều đồng cỏ nuôi ngựa và là nơi loài "prairie dogs" sống  tự do v́ được chính phủ bảo vệ. Khác với vùng lân cận phía Tây (Utah), nơi đây không c̣n đất cát đỏ. Đá nơi đây thuộc loại đá "mácma" (igneous) và đá "trầm tích" nên có màu tối hơn. Xa xa là những dăy núi hùng vĩ do "đột khởi" (uplift) tạo ra từ mấy trăm triệu năm trước. Colorado có đến 53 "fourteeners (núi cao hơn 14,000 ft, ie. 4000 met; vs. 12,389 ft cho núi Fuji).

Nước sông "Animas" rất trong xanh. Tên sông nầy vốn mượn từ "Rio de las Animas Perdidas" (ie., River of the Lost Souls/con sông của những người mất linh hồn) do những nhà thám hiểm Spanish đặc cho. Sông "Animas" đổ vào sông San Juan, một nhánh của đại-hà Colorado.

Từ Durango đến Silverton chỉ có chạy lên cao. Thỉnh thoảng ta đi ngang qua những "ghost towns" (làng phố ma) không c̣n ai cư ngụ. Bên sườn núi nếu may mắn ta sẽ thấy những con nai, elks và gấu đen ra ăn gần bờ sông. Những cây "aspen" (Populus tremuloides) có da trắng lá vàng vào mùa Thu, thường đứng đó run rẫy theo gió nên được gọi là "quaking aspen". Khi nh́n cây nầy làm tôi nhớ đến cây "shirakaba"(白樺・Betula platyphylla) trên núi miền cao nguyên "Shiga" ( 志賀高原) và vùng Hokkaido (北海道) - NB.

 

DurangoSilverton 891Sep_1[1]

 

DurangoSilverton 845Sep_1[1]

 

V́ tôi ngồi phần chính giữa của 12 toa xe trong một "gondola" nên mỗi khi đến khúc "cua" đây là lúc "đă nhất" v́ ḿnh nh́n được đầu máy và đuôi xe khi con tàu uốn cong như một con trăn. Bên những vách núi cheo leo, xe chạy chậm lại bên miệng hố. Đây là lúc tôi vừa lo sợ - nếu không may xe sẽ nhào xuống hố, vừa hứng thú - v́ đây là nơi ta sẽ chụp được những tấm ảnh bất hủ.

Dưới hố sâu con sông Animas kia có lúc chảy nhanh trở thành thác nước trên những tảng đá hoa cương. Nơi nào nước chảy chậm hay ngưng lại sẽ trở thành hồ nhỏ phẳng lặng. Trong một ngày đẹp trời màu nước phản chiếu ánh sáng mặt trời như màu "ngọc lam" (turquoise), nó ḥa điệu với màu xanh lục của những cây Colorado spruce đứng trên sườn núi, tạo cho ta một  cảnh đẹp tuyệt vời như trong bức tranh sơn dầu vùng Alps. 

Sau khi qua lại con sông "Animas" 5 lần và 3 tiếng 15 phút từ khi rời Durango, con tàu vượt ra khỏi khe núi. Qua một khúc cong, trước mắt ta là một làng nhỏ với nhiều căn nhà trệt sơn đủ loại màu, phía sau là một quả núi to như ông thần hộ quốc - Tàu đă đỗ vào Silverton.

 

DurangoSilverton 925Sep_1[1]

 

Nhà ga nơi đây rất nhỏ, chẳng c̣n hoạt động ǵ ngoài việc nhắc nhở hành khách đây là nơi để xuống xe. Hầu hết người đến đây đă có vé trở về. Nơi đây khách nghỉ chân 2 tiếng 30 phút, t́m nơi ăn trưa và mua quà souvenirs trong phố.

Silverton nằm 9,305 feet (2,836 m) trên mặt biển, cao hơn Durango gần 1 cây số. Ngoài một con đường chính nơi có nhiều cửa bán hàng và restaurant, mặt đường trong làng nầy đều được trải cát thay ǵ asphalt (có lẽ để tránh nhiều hư hại v́ mùa đông có nhiều tuyết?). Giữa phố là "Old town square", "Jail" (nhà tù) xưa và một bảo tàng viện về mỏ. Nơi đây c̣n lại những căn nhà mục nát có lẽ đă có mặt hơn 1 trăm năm trước. Phía trong cùng là một tiệm bán service "vệ sinh" (WC) do người native american làm chủ. Trước old town square có chiếc xe ngựa "horse carriage" sang trọng chờ du khách đến mướn. Những cửa tiệm nhậu (bars) cũ kỷ có màu sơn khác thường gợi lại h́nh ảnh của thời vàng son lúc các thợ mỏ và cowboy c̣n tới lui. Biết đâu nơi đây cũng là nơi các tên cướp ngân hàng đă bị xử h́nh bằng cách treo cổ?  

 

Coro_Utah trips 220Pana_FZ[1]

 

DurangoSilverton 975Sep_1[2]

 

Buổi trưa trong khi nghỉ chân ở Silverton, tôi t́m nơi ăn v́ c̣n khá nhiều th́ giờ. Lúc dạo trên phố tôi nghe người chủ tiệm giftshop đề nghị cho 2 người du khách: quán "Brown bear caffe" (quán gấu nâu) là quán ngon nhất trong làng. Thế là ḿnh đi theo 2 người kia. Nơi đây tôi gọi món cheeseburger với chai bia nhẹ xong nhăm nhi cho qua th́ giờ. Sau 30 phút lúc trả tiền người con trai trẻ vừa chạy bàn vừa làm quản lư thấy mặt tôi say đỏ cười rất tươi rồi hỏi "ông có cần nước uống không?". Tôi bảo "không...nhưng có lẽ sẽ cần trên đường về v́ trời hơi nóng". Anh ta thấy tôi có cái bi-đông mang theo trên người nên đề nghị là sẽ đổ nước trà đá vào trong đó cho tôi. Tôi cám ơn khi anh ta bảo là "free of charge...!".

Đường về Durango là đường "hạ san". Cảnh vật vẫn đẹp như lúc đến đây tuy nhiên nó diễn ra như ta lật xem cuốn sách h́nh từ trang cuối ngược lại. Nhiều đoạn trở nên quen thuộc nên không c̣n phấn chấn như buổi sáng. Trên xe nhiều hành khách có vẻ mệt mỏi và im lặng. Khách trong toa xe có kính không c̣n chạy "càng" ra toa "gondola" của chúng tôi để chụp h́nh. Rồi tôi cũng muốn ngồi xuống ghế để nghỉ chân một tí sau hơn nửa buổi đứng ngồi không yên với cảnh đẹp. Tôi có cảm giác như chiếc tàu lần lần chạy vào trong bóng tối của đường hầm hay lúc phim cinê fade-out.

 

Phần II

…Ngày đó lúc P mới lên 5 hay 6, vừa cắp sách đi học.  Má P sinh em mới nên không có th́ giờ trông nôm P như trước. Nhơn dịp nghỉ hè và để giúp P đ buồn, ba dẫn P theo trong một chuyến đi bổ  hàng ở Saigon. Sáng ngày đó, hai cha con dùng xe xích lô máy từ Bến Tre qua Rạch Miễu, rồi sang sông Tiền bằng phà. Đây là lần đầu tiên P qua sông lớn. Sóng to làm cho mọi người trên phà lo âu, có người ói mửa khi phà chạy tránh mấy chiếc tàu Tây bị Nhật đánh ch́m giữa sông và cù lao "Rồng" [5].

Sau khi phà cặp bến Mỹ Tho, P cùng ba đi bộ đến nhà ga xe lửa (Ga nầy được sửa lại thành vườn hoa Lạc Hồng sau nầy). Đường từ phà đến nhà ga có nhiều quán ăn, quán cà-phê, quán bán trái cây tươi và khô v.v. Ba mua vé xe rồi cả hai đến ngồi trên băng ghế trước ga chờ đến giờ cho lên tàu. Trước nhà ga có mấy lời quảng cáo tiếng Tây:"Pour aller loin, pour payer moins, pour être bien - Prenez le Train".  Đối với P, đầu tàu hỏa là một con quái vật khổng lồ đen đúa, lúc nào cũng xịt ra hơi khói, thỉnh thoảng lại thét gầm lên làm cho cậu bé điếc tai...Trong khi lo âu trong ḷng P lại rất hiếu kỳ, mắt thỉnh thoảng liếc nh́n những bộ phận cơ động dầu mỡ của đầu máy.  

Trên toa tàu P ngồi ghế ngang như thấy trong phim "Xứ tuyết" (của Kawabata) khi Shimamura đi về vùng Etsugo Yuzawa (越後湯沢) để gặp lại người yêu Komako [6]. P ṭ ṃ với những tiếng c̣i và lời hô si-nhan (signal) của ông sếp nhà ga. Thế rồi chuyến tàu chuyển bánh lao đi.

Sau khi ra khỏi châu thành Mỹ Tho hai bên đường rầy toàn là ruộng lúa, thỉnh thoảng có vài căn nhà lá lụp sụp với con trâu đứng nhơi c chờ đến giờ đi cày. Xe lửa thời đó chạy rất chậm chắc không nhanh hơn xe "mô-bi-lết" (xe gắng máy) bao nhiêu. Có lúc xe lại ra gần đường lộ (quốc lộ 4 nay QL1) chạy song song với xe đ̣ lục tỉnh. Các bác tài xế thường hay chạy đua với xe lửa, nhất là biết sắp đến cầu lớn như ở Tân An và Bến Lức v́ họ sợ bị "kẹt cầu". Xe lửa lúc nào cũng có quyền ưu tiên. 

Khi đến ga Tân An xe ngừng lại để cho khách xuống và rước thêm hành khách mới. Có người quảy gánh hành lư nặng nề trong đó có cả gà vịt. Hai bên cửa sổ xe, các bà bán hàng vặt ùa đến t́m cách làm ăn. Buổi sáng đó v́ thức sớm với lại nôn nao bởi chuyến đi P không muốn ăn dù rằng chị ở đă làm cho P tí xôi mặn có tôm khô và lạp xưởng. Bây giờ P thấy đói nên ba P mua cho cậu gói b́ cuốn  có thịt ram trong lá chuối và một chai xá xị hiệu "con nai". Cậu ta khoái chí tủm tỉm cười vui. Ăn uống xong rồi P bỏ cái nút ve vô túi quần như một vật kỷ niệm để mang về nhà cho em ḿnh…

 

http://i179.photobucket.com/albums/w288/sakura_2505/lichsuVN/032gaSaigon.jpg

 

Tàu hỏa từ Mỹ Tho lên Saigon ghé sang 12 ga dọc đường, trong đó nơi có người lên xuống tấp nập nhất phải kể Tân An, Bến Lức và An Đông. P rất ngạc nhiên khi tàu vào đến Phú Lâm sao mà người đâu đông quá kể. Rồi nào là xe buưt, xe tắc xi, xe xich lô, xe lam, xe ngựa, v.v.V́ ba P phải đi bổ hàng ở chợ An Đông nên 2 cha con xuống tàu ở ga nầy. Buổi trưa ba lại dẫn P đến "chợ củ" mua thêm một số hàng Tây. Sau đó th́ đi ăn cơm trưa quán tàu rồi lấy xe tắc xi ra sở thú và bến sông Saigon cho P xem tàu vượt hải dương. Đây là những dấu in đậm trong kư ức P măi cho đến về sau.

Trong những năm 54-55, P thỉnh thoảng thấy h́nh trên báo chí người ta đổ xô lên tàu hỏa chạy từ Bắc vào Nam. Tuy không hiểu lắm nhưng P cũng c̣n nhớ những bộ mặt hoảng hốt có vẻ rất bi đát đau thương... Rồi một hôm ngoại P từ quê Ba Tri lên tỉnh, vai mang túi gạo tay xách gà quay và cơm nếp. Ngoại bảo là lên đây để sáng mai đưa cậu ba lên xe lửa. P không có hỏi cậu sẽ đi đâu nhưng rồi qua nhiều năm P không c̣n có dịp gặp lại cậu ḿnh. Đó là chuyến xe lửa làm ngoại khóc nhiều khi nhắc đến sau nầy.  

 

Phần III

 

H́nh như có ai nói bên tai: "Excuse us". Tôi mở mắt nh́n th́ ra 2 ông bà người Texas muốn bước ngang qua nơi tôi ngồi v́ tàu đă về đến ga Durango. Tôi đứng dậy và chúc họ "Have a nice trip home" rồi giụi mắt - "ḿnh đă ngủ mất rồi?". Chiều hôm đó tôi ghé qua "the Palace restaurant" - một quán ăn khá sang gần nhà ga. Nơi đây tôi gọi món "filet mignon" với phần phụ là rau cải tươi "garden salad" cùng ly "red wine" như mọi khi tôi có điều ǵ măn nguyện. Người phục vụ bàn tôi c̣n rất trẻ và dễ thương. Cô ta mặc áo thun tay ngắn quần đen từ trên xuống dưới, để lộ cánh tay và cái cổ trắng mịn như tuyết như bông. Cứ 5-10 phút cô ghé sang bàn tôi hỏi thăm xem có cần thêm chi. Cử chỉ ân cần lễ phép làm cho tôi nhớ đến nàng "Komako" của xứ tuyết Echigo Yuzawa (越後湯沢).... Trong quán nh́n ra ngoài là đường rầy xe lửa dưới ánh nắng chiều vàng c̣n sót lại. Chuyến xe đưa chúng tôi đến Silverton cũng bắt đầu thụt lùi trở về nhà kho để qua đêm. Nó mang theo bao nhiêu giấc mơ đi về dĩ văng của hành khách quên c̣n để lại, trong đó có cả tôi?!....  

 

Coro_Utah trips 264Pana_FZ[1]

 

Ngồi trong Restaurant, tôi nhớ lại những ngày c̣n ở Việt Nam. Lúc đang học ở bậc Trung học đệ nhất cấp tôi có dịp đi chơi trên Đà Lạt với mấy người bạn của chị tôi. Ngoài việc du ngoạn nơi có thắng cảnh đẹp mấy anh lớn c̣n dẫn chúng tôi đi xem đường xe lửa kéo lên từ Songpha (hay Krongpha). Đường nầy có đoạn xe chạy bằng bánh răng - gọi là "cogwheel" dùng cho đường rầy đặc biệt v́ dốc rất cao. Đầu máy xe lửa do Thủy sỉ chế cho Pháp mang sang Đông Dương [7]. Đây là loại xe rất hiếm trên thế giới.  

Sau khi sang Nhật du học, khoảng 1968-70 tôi hay ra nhà ga Shinjuku (新宿) vào cuối tuần để đón những chiếc xe lửa từ vùng Kofu (甲府) về. Vào mùa Đông trên mui xe thường c̣n một lớp tuyết trắng rất dầy. Đây là những chuyến tàu hỏa chạy bằng hơi nước cuối cùng của vùng Thủ đô Đông Kinh.

Đầu năm 1972  cùng với anh bạn thân chúng tôi theo anh Matsuoka cùng lớp về quê ở Kumamoto (熊本) miền Nam Nhật Bản trong dịp nghỉ Xuân. Từ Tokyo chúng tôi dùng tàu Shinkansen (bullet train của NB) đến Osaka, đổi sang tàu đêm chạy bằng điện có giường ngũ (sleeping car hay voiture-couchette)[8] đi đến Fukuoka - Kyushu (福岡九州). Nơi đây lại đổi tàu hỏa đi về Yatsushiro (八代) của Kumamoto. Đó cũng là chuyến đi để từ giả chiếc tàu hỏa sẽ được về hưu sau khi chúng tôi trở về Tokyo. Trong những năm c̣n độc thân ở Tokyo tôi tiếp tục đi ra vùng nhà quê NB để lùng xem xe lửa nếu họ c̣n dùng.

 

yatsushiro-21

Allegheny tour-May 2010_094

 

Sau khi sang định cư ở Bắc Mỹ v́ phải tranh đấu với cuộc sống mới nên 2 thập niên đầu tôi ít có dịp đi xem xe lửa. Họa hoằng khi thăm viếng thủ đô Washington hay Chicago với mấy đứa con tôi có ghé sang Museum of Science & Industry để xem lại những chiếc xe xưa. Sau Thế chiến thứ II, ngành hỏa xa hành khách của Mỹ bắt đầu thoái hóa, nhiều đường rầy đă bị phế thải v́ cạnh tranh không lại xe hơi, xe đ̣ và phi cơ hành khách. Cái mộng đến Mỹ để xem những chiếc tàu hỏa và tàu cao tốc "streamlined Pioneer Zephyr", “Big boy” vượt bức tường "vận tốc chim bay" không c̣n nữa.

 

Allegheny C&O trail tour 08 summer_052

 

Măi cho đến đầu năm 2000, trong một chuyến đi chơi bằng xe đạp trên vùng núi Allegheny (Ohiopyle State Park), Pennsylvania, tôi chạy dọc theo con sông Yough trên một đường ṃn trải đá vôi (crushed limestone) dẫn đến Cumberland, Maryland. Đường nầy vốn là đường hỏa xa ngày xưa [9].Trên đường c̣n nhiều di tích của tàu hỏa - những trụ mốc đánh số "miles", tháp nước cho hỏa ḷ, elevator để cất than đá . Cầu sắt chuyên dùng cho hỏa xa nhắc lại h́nh ảnh của cầu Bến Lức trên sông Vàm Cỏ Đông. Rồi những cầu “viaduct” cheo leo bắt ngang thung lũng, những đường hầm (tunnel) tối đen v.v. làm cho tôi sống lại với những giây phút vui buồn của ngày xa xưa. 

Sau chuyến đi đó tôi bắt đầu đi t́m xe lửa ở các tiểu bang khi có dịp đến để chạy xe đạp hay camping. Một hôm tôi đến Cass Railroad State Park của West Virginia để kayaking (chèo thuyền kayak) trên sông Greenbrier. Gần đó có một làng người Amish, họ sống với với nhau như trong một cộng đồng "Utopia". Công viên Cass Railroad có băi đậu cho nhiều chuyến tàu hỏa [10]. Cũng trùng vào ngày nầy một nhóm phó nḥm khoảng 1-200 người mê xe lửa như tôi bao cả chuyến tàu đến đó để xem cuộc diễu hành cùng lúc của 3 chiếc xe mang ra đua. Thế là tôi "nhập cuộc"!  

 

greenbrier river trip 07_077

 

Cái đam mê với đầu máy hơi nước có lúc ch́m lúc nổi trong tôi. Đây có lẽ do cái duyên được đi một lần trên tuyến tàu hỏa thời Pháp thuộc từ Mỹ Tho lên Saigon - nó cũng là chuyến đi xe lửa đầu tiên trong đời. 

Mỗi khi nghe tiếng c̣i hú dù là của đầu máy "diesel" là tôi liên tưởng đến đường sắt, đến những ngày Đông tuyết phủ bên Nhật. Nhớ những chuyến đi thăm bạn học dưới tỉnh Gunma vào dịp nghỉ lễ Tết Nhật, qua những trạm ngừng dọc đường có bán Eki-ben (駅弁/cơm hộp trên ga), trong đó Kama-meshi (釜飯/cơm nồi đất) của ga Koriyama (郡山) đối với tôi là ngon nhất. Nhớ những Oba-san khom lưng g̣ng gánh những bao hàng rau cải đặc sản địa phương nặng trĩu lên Tokyo bán buôn….

 

seirafuku

 

Hồi đó đầu xuân là mùa những cô cậu học sinh nghèo vùng quê vừa học xong Trung học đệ nhất cấp lên đường đi nhận việc tập thể. Có những chuyến tàu hỏa đặc biệt đưa họ từ những ga tỉnh lỵ như Kumamoto (熊本), Fukuoka (福岡) lên vùng Nagoya (名古屋), Osaka (大阪), từ miền Tohoku (東北・Đông Bắc) nghèo khó về vùng Tokyo (東京), Yokohama (横浜), Kawasaki (川崎). Người Nhật gọi đó là "shudan shushoku" (集団就職・tập đoàn tựu chức). Họ mặc đồng phục học sinh - con trai quần áo đen với sơ-mi trắng đội mũ cảnh-sát, con gái áo "sei-ra-fuku" (セーラー服・sailor uniform) má đỏ hồng như trái táo "ringo". Những gương mặt trẻ non 15 mếu máo ước đầy nước mắt trên nhà ga đông đúc người. Những người mẹ, cha, anh [11], chị hay ông bà ra ga để chia tay con em ḿnh. Đây là cảnh "sayonara" (good bye) của con em nhà nghèo không được cái may mắn tiếp tục học lên cao.  Nó làm cho tôi nhớ đến "O-shin" [12] lúc trốn lên Tokyo t́m việc. Họ là những "kin no tama", những "tsuki no ishi" [13] cho nền kinh tế đang phục hưng sau chiến tranh và trên đà phát triển mạnh - như những hồng huyết cầu cần thiết cho một cơ thể đang tăng trưởng. Có phải chăng nước Nhật nhờ đó mà đă đi lên, tạo dựng được một quốc gia phú cường với tầm mức văn minh cao làm cho thế giới phải thán phục sau nầy?  - Naruhodo! (aka Huỳnh Văn Ba)

 

shushoku

 

(Xin toàn tập ảnh xin click vào đây)


 

[1] xem Đi du lịch công viên quốc gia: "Arches National Park" qua link:

http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/Arches-National-Park/Arches_National_Park.htm

[2] xem Đi du lịch công viên quốc gia: "Canyonlands" qua link:

http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/Canyonlands/Congvien-Canyonlands.htm

[3] Mikado"()  có nghĩa là "thuộc về hoàng thất Nhật Bản" - là model tàu hỏa nguyên chế và bán cho hảng Thiết lộ Nhật Bản (Nihon Tetsudo, cũng  được gọi là "Imperial Japanese Government Railways)  sau khi vua Minh Trị canh tân xứ nầy.  Nó có nickname là "Mike". Sau khi Nhật tấn công "Trân châu cảng" trong thế chiến thứ II, người Mỹ đổi "Mike" ra "MacArthur", tức tên của đại tướng MacArthur người chỉ huy quân đội Mỹ vùng Viễn Đông.

[4] Ute" là người native American sống trong vùng nầy giữa Colorado và Utah. Người sống phía Nam gần đó là "Navajo".

[5] ngày xưa Pháp nhốt mấy người cùi trên đảo nầy, họ thường được mấy bà phước và ông cha chăm sóc.
[7] Đến 1968, có lẽ v́ bị đặc ḿn nhiều lần, đường xe lên Đà Lạt không c̣n hoạt động nửa. Đây là tuyến hỏa xa được người Tây Phương gọi là "the forgotten path to the lost Shangri-la". Buồn thay, sau 75 đường và cầu sắt đă bị gỡ để bán sắt vụn cho TQ, đầu máy đă bán lại cho Thủy sĩ nơi muốn bảo tồn những bảo vật văn hóa kỹ thuật của Thế giới!

[8] tiếng Nhật gọi là "yakôressha" (夜行列車) hay "shindairessha"( 寝台列車), cũng dùng tắt là "yakissha"(夜汽車) "shindaisha" (寝台車)

[10] xem tập ảnh "A day in Cass railroad state park" qua link: http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/A_Day_in_Cass.htm
[11] thường trưởng nam ở lại quê để thừa kế việc canh nông
[12] ] Oshin (おしん, Oshin) là một bộ phim truyền h́nh nhiều tập của Nhật Bản. Sinh ra trong nhà nghèo, đi ở đợ, nhờ sự kiên nhẫn Oshin đă lập nên sự nghiệp, làm chủ của nhiều siêu thị NB.
[13] "kin no tama" (金の玉) là "trái trứng vàng" v́ là nguồn lao động rẻ tiền sẽ mang đến lợi ích lớn cho người mướn. "Tsuki no ishi" (月の石) là "đá từ cung trăng"có nghĩa là cái ǵ rất quí.

(Xin toàn tập ảnh xin click vào đây)

 

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về