Tập ảnh

“Giữa hè đi t́m hoa dại dưới bóng mát của Bashō…”

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)

(Click vào đây để xem photo slideshow)

Cuối tuần qua chạy xe đạp lang thang trong công viên Battel Darby Creek. Trời nắng đổ lửa lúc tôi đi t́m những băi hoa dại. Chợt nghe có tiếng chim Indigo bunting (loài chim oanh áo xanh) thót giọng rất thanh. Tôi dừng xe lại dưới bóng mát của cây oak sau khi vô t́nh lăng qua đóa hoa b́m bịp mới nở bên ven đường.

Hoa b́m bịp là loài hoa dại thường leo lên thân cây khác hay hàng rào để khoe sắc đẹp. Hoa nầy có nhiều màu. Người Tàu gọi nó là hoa "Khiên ngưu" (牽牛-chăng trâu) trong khi tiếng Anh gọi là "Morning glory" và tiếng Nhất gọi là "Asagao" (朝顔・triều nhan/mặt đẹp buổi sáng) v́ hoa nở ban sáng và khép lại buổi chiều.

Trong khi hối tiếc cho sự thiếu cẩn thận của ḿnh, tôi chợt nhớ đến bài thơ "Haiku" của Matsuo Bashō (松尾 芭蕉):

道のべの (Michi no be no)
むくげは (mukuge wa)
馬に食はれけり (uma ni kuwarekeri)

Xin tạm dịch:

Bên ven đương
Đóa hoa dâm bụt nở
ô cha con ngựa nầy…

Đương nhiên một Thi hào như Bashō đâu bao giờ dùng từ "cha" tục tằn như thế. Đây chẳng qua là cái đùa của phàm nhân "tôi" thôi.

Khi dịch bài thơ Haiku trên Sam Hamill (Shambala xuất bản - năm 1999) dùng hoa "Rose" (hồng, tức Bara trong tiếng Nhật).

Along the roadside
blossoming wild roses
in my horse’s mouth

Đây không phải là "ngộ dịch"(誤訳- dịch sai), nhưng do sự cố t́nh mỹ hóa và kịch hóa bài thơ của tác giả: "Hoa (Hồng) là một cái đẹp của thiên nhiên nhưng sao ta lại để cho con ngựa ăn mất? ".

Tôi nghĩ trong bụng: "nếu Bashō để cho ngựa của ông ta ăn đóa hoa Mukuge c̣n tôi để cho con ngựa sắt của ḿnh cán qua đóa hoa b́m, th́ 2 "tội" chắc cũng tương đương với nhau". Rồi như t́m được một lối thoát tội tôi vui vẻ trở lại và tiếp tục lên đường - chẳng khác ǵ như được bóng mát cây "Bashō" (ba tiêu - tức cây chuối) (1) che chở cho dưới cái nắng gắt (punishment - trừng phạt ) của mùa Hạ.

Nói tí về cây "Mukuge"( dâm bụt - Hibiscus syriacus) - Đây là loài cây thấp (cao 1-2 m) như bông "bụp". Thật ra bụp hay dâm bụt đều cùng họ “Hibiscus” trong giới thực vật với nhau.

Từ thời Nara (奈良・Nại lương), "Mukuge" thường bị nhầm lẫn với hoa "Asagao"(b́m bịp) do cách viết bằng Hán tự là朝顔(triều nhan). Giữa thời Edo (江戸・Giang hộ) về sau, "mukuge" được viết lại là槿 (cận), 木槿(mộc cận) hay 無窮花 (vô cùng hoa). Tiếng Anh dịch hoa Mukuge là "Rose of Sharon" và có lẽ v́ thế Sam Hamill dùng từ "wild rose" chăng?

Xưa kia người ta nghĩ rằng hoa Mukuge chỉ nở có một ngày rồi tàn. Đây có lẽ do sự hiểu lầm bài thứ 5 của bộ thơ "放言五首" (Phóng ngôn ngũ thủ) của Bạch cư Dị (白居易) trong đó có 2 câu:

松樹 千 年 終 是 朽
Tùng thụ thiên niên chung thị hủ
槿花 一 日 自 成 栄
Cận hoa nhất nhật tự thành vinh

(Nghĩa là: cây tùng sẽ mục lụi sau ngàn năm, hoa dâm bụt chỉ có 1 ngày đă vinh danh - ngụ ư là Phật pháp chỉ cần có một ngày đă lan truyền khắp nơi - trong khi có người hiểu lầm là hoa nở chỉ có một ngày).

Từ thời xưa hoa Mukuge là biểu tượng cho cái "Đức" - một danh xưng cho vua Thuấn (帝舜・Đế Thuấn) trong tư duy Khổng Mạnh. Trong Phật giáo, hoa nầy biểu tượng cho cái khái niệm "一切空" (nhất thiết không) hay "舜若多" (Thuấn nhược đa・zuunyataa).

Mùa hè Mukuge thường được dùng trong "Ikebana" (生け花・thuật cắm hoa) của lễ Sadō (茶道・trà đạo - tea ceremony) bên Nhật. Trong lịch sử trà đạo người ta thường nhắc lại cuộc gặp gỡ giữa Sứ quân Toyotomi Hideyoshi (豊臣秀吉・phong thần tú cát, 1537-1598) và Trà-thánh Sen no Rikyuu (千利休・thiên lợi hưu, 1522-1591) - gọi là "Asagao no Chakai" (朝顔の茶会・triều nhan trà hội) tại trà am của Rikyuu. Trong lễ nầy, cư sĩ Rikyuu dùng một đóa hoa "Asagao" cấm trong cái chậu sành đá mộc mạc để đón khách quí. Trong vườn có trồng cây "Mukuge". Nhưng khi tiếp Sứ quân, Rikyuu tước hết hoa. Đây là câu chuyện tạo cho người đọc một cảm hoài về cái đẹp theo "wabi" (侘びの美) hay "Thiền" rất lư thú...

Ngày nay một số người Nhật trẻ không rơ hoa "Mukuge" là hoa ǵ. Đây là do sự thiếu tiếp xúc với giới hoa dại của dân thành phố, hay không có cơ hội đào sâu vào nền văn hóa xưa. Họ không thể tưởng tượng được là vào thời Edo lúc Bashō c̣n sống, đường đi chỉ có trải đất và đầy hoa dại 2 bên ven đường.

Đương nhiên không cần diễn giải thêm ta cũng biết Asagao trong "Asagao no Chakai" (朝顔の茶会) của cư sĩ Rikyuu là "Mukuge".

Có ai biết hoa Mukuge là quốc hoa của Đại Hàn Dân Quốc? - Ở Đại Hàn họ gọi hoa dâm bụt là "Mugunfa" và từ đó trại ra thành "mukuge" cho tiếng Nhật. "Mugunfa" khi viết bằng Hán tự là 無窮花 (vô cùng hoa), có nghĩa là "hoa bất tận" v́ hoa sẽ nở liên tục nhiều ngày. Qua sự tâng tụng hoa "Mugunfa" làm quốc hoa ta thấy là người Đại Hàn quá khôn ngoan v́ họ muốn quốc gia ḿnh được hưng thịnh lâu dài.

Với tôi hoa b́m bịp hay hoa dâm bụt đều là hoa đẹp của chốn hoang dă. Lúc gặp hoa tôi ngừng lại ngắm trong khi lắng tai nghe tiếng chim kêu.Thế rồi dưới cái nắng gắt của Tiết Hạ… ta thả hồn theo mây như đi về với một giấc mơ xưa…(2)

Naruhodo!

(1) Xin xem thêm “Bashō và cơi thơ haiku ở Nhật Bản”

(2) “Những ngày lễ mùa Hè của Nhật Bản và một giấc mơ...” trên trang ERCT.com

 

Mời click vào đây xem nguyên tập h́nh

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về