Ko-Edo Kawagoe

子江戸川越

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA

Click vào đây xem toàn tập h́nh ảnh

Edo là tên của một kinh thành xưa nước Nhật, ngày nay nơi đó được gọi là Tokyo hay Đông Kinh (東京).

Edo (江戸・giang hộ) do shogun (将軍・tướng quân) Tokugawa Ieyasu (徳川 家康・đức xuyên gia khang) dựng lên sau khi dẹp hết nội chiến (1603). Edo có tầm vóc rất lớn, lớn hơn cả cố đô Kyoto (京都・kinh đô) nơi Thiên Hoàng Nhật ngự. Đây là một "de-facto capital" chính trị lẫn quân sự được lập ra để khỏi đối chọi trực tiếp với nhà vua. Edo có hơn một triệu dân trước thế kỷ thứ XIX, đông dân hơn cả Paris, London và Rome.

Kawagoe (川越・xuyên việt) là một thị tứ hậu vệ của Edo. Nó nằm ở mạch đường chính ra vào Edo ở phương Tây Bắc, có đủ đặc sắc của Edo về văn hóa, thương mại, kiến trúc. V́ thế có người gọi Kawagoe là "ko-Edo". "Ko" (子) có nghĩa là "little" hay nhỏ bé.

Nằm trong tỉnh Saitama (埼玉), Kawagoe cách Tokyo khoảng 30 km. V́ có đường giao thông tiện lợi phục vụ bởi xe điện lẫn xe bus, ngày nay Kawagoe trở thành tổ ấm cho rất nhiều gia đ́nh có người đi làm việc ở Tokyo. Người Nhật hay gọi nó là "beddo taun" (bed town - a Japanese-made English) là thế. Ngày nay Kawagoe có đến gần 350 ngàn dân cư cho một diện tích là 109.16 km2, mọi tiện nghi cho cuộc sống thời hiện đại đều có cả.

Để đi đến đây ta có thể dùng tàu điện của hăng Tobu Tojo line ở ga Ikebukuro hay Seibu line ở ga Shinjuku, cả 2 đều có chuyến express từng giờ.

So với 30 năm trước Kawagoe phát triển rất nhiều. Hồi đó lúc tôi c̣n đi làm ở Saitama, thành phố nầy rất nhỏ, ít được người Tokyo biết đến. Phía cửa Tây của ga Kawagoe (Tobu Tojo line) toàn là vùng đất trống, đa số là những mảnh ruộng nhỏ nông gia thường trồng rau cải cung cấp cho Tokyo. Ngày nay vùng nầy trở nên khu có nhiều nhà cao ốc chung cư với lối xây cất rất tân kỳ, điều đó cho thấy cuộc sống của dân xứ nầy rất là cao.

Bên cái bóng hào nhoán hoa lệ của "Edo mới" (i.e.,Tokyo) sau những năm phục hưng và phát triển kinh tế cực độ, người ta tưởng đă quên mất một đứa em của "Edo"(i.e., Kawagoe). Măi cho đến gần năm 2000, qua những scenes trong Taiga Drama (大河ドラマ) của đài truyền h́nh NHK Nhật Bản, người Nhật bắt đầu t́m lại được đứa con yêu thất lạc sau bao nhiêu năm. Kawagoe quả là một "hoàn châu cát cát" trong ḷng dân Nhật.

Đặc điểm của Kawagoe ko-Edo

Kawagoe có một phố cổ. Phố nầy không nằm cạnh nhà ga xe điện Kawagoe (Tobu Tojo line) hay Hon Kawagoe (Seibu Shinjuku line), ta phải đi bộ khoảng 15 phút mới đến đó. Thường người đến đây chọn đi ngang "Kurea mall" và con đường "Taisho Roman Yume Dori" (大正浪漫夢通り) để làm tí window shopping vừa để nh́n thấy sự đổi thay của thời đại từ cựu sang tân. ... Đối với tôi đây là con đường để ḿnh trở về hiện thực sau khi đi viếng ko-Edo.

Di tích thành cổ

Đi ngược ḍng thời gian vào thế kỷ 17 Kawagoe đă từng là một Jokamachi (城下町), có nghĩa là thôn làng dưới thành. Tuy nhiên thành Kawagoe không có "tenshukaku" (天守閣・thiên thủ các, i.e., tháp đài). Sau khi Edo được trả về cho thiên hoàng Meiji, thành lũy của phiên (藩) nầy đă được phá hủy (1870's). Ngày nay di tích thành c̣n lại trong khuôn viên của Honmaru goden (本丸御殿).

Toki no kane

Khi bước vào Kawagoe ko-Edo vật mà ta thấy trước hết là cái tháp chuông gọi là "Toki no kane" (時の鐘/bell of time) - một "symbol" của làng nầy. Tháp nầy được phiên chúa Sakai Tadakatsu (酒井 忠勝) cho xây cất khoảng 1624-1644 bằng gỗ. Đây là một "Big ben" của ko-Edo. Suốt mấy trăm năm "ko-edokko" (dân ko-Edo) nhờ nó mà biết được giờ giấc để thức dậy đi cày, đi buôn, làm công, v.v. Cũng chính v́ sự quan trọng của nó trong xă hội, chánh phủ Meiji đă cho xây cất lại "Toki no kane" sau khi Kawagoe bị đại hỏa hoạn vào năm 1894. Ngày nay ta có thể nghe chuông ngân 4 lần một ngày vào lúc 6 AM, 12, 3 và 6 PM.

Kashiya Yokochō

Trong 6 triệu du khách đến viếng Kawagoe mỗi năm chắc cũng phải có 3 triệu phụ nữ, trong số đó đa số là các cô gái Nhật trẻ. Họ là những người đến đây với mục đích là t́m món đồ "ngọt" trong phố "Kashiya Yokochō" (菓子屋横丁). "Kashiya" có nghĩa là tiệm bánh kẹo, c̣n "Yokochō"" là ngơ hẻm (như Ameyoko-chō gần ga Ueno, Tokyo). Đến đây vào mùa du lịch ta sẽ thấy người ta đông như "kiến". Đối với đám "gaki" con nít th́ không ǵ bằng ghé qua mấy tiệm kẹo vài xu "dagashi" (駄菓子) rẻ tiền để có dịp xài tiền như nước!...

Nông dân Kawagoe trồng rất nhiều khoai lang (gọi là satsumaimo) và từ đó họ biến chế thành mứt rất được ưa chuộng khắp các vùng Kanto. Xưa kia Edo có câu rao dạo "kuri yori umai jusanri"(栗(九里)よりうまい十三里) - có nghĩa bóng là "khoai lang của vùng jusanri ngọt hơn hạt dẻ đấy"(1).

Ngày nay trẻ em trong vùng thường có ngày "field trip" gọi là "imo hori ensoku" (藷掘り遠足- "imohori" là đào khoai, "ensoku" là field trip).

Lúc c̣n ở bên Nhật tôi thích ăn "yaki-imo" nướng do mấy bác tiểu thương đẩy xe cut-kít đi bán dạo trong hẻm nhất là vào mùa đông. Những trái khoai lang được nướng trong cát hay đá sạn, mở ra thơm phức thật ngon và ngọt. Gần nhà ga xe điện th́ có mấy bác bán "ama kuri". Đó là những hạt dẻ thường được nhập cảng từ Trung Quốc. Không ngờ 2 loại thức ăn vặt nầy có lúc đă tranh giành sự yêu chuộng trong ḷng dân Nhật xưa kia. Người dân Edo đă tạo ra những cách chơi chữ rất là văn hoa cho nó.

Kurazukuri no Machinami

Từ nhà ga khi đi hết con đường Taisho Roman Yume, xuyên qua đèn xanh đèn đỏ ta sẽ bước vào phố cổ gọi là "Kurazukuri no Machinami" (蔵造りの町並み) - đây là một khu phố tạo cho ta cảm tưởng như đang ở Hội An xưa kia. Nơi đây cái ǵ cũng cũ kỹ. "Kurazukuri" có nghĩa là lối kiến trúc dùng đất sét "clay", xong trét sơn có ḅ hóng lên mặt - là lối xây cất thường thấy trong thời Edo dùng cho nhà kho hay vựa hàng v́ có thể chống lại được hỏa hoạn. Năm 1893 một phần ba của Kawagoe bị thiêu hủy v́ hỏa hoạn nhưng lửa đă dừng chân ở đầu phố "kurazukuri no machinami".

Dọc theo phố cổ nầy là những cửa tiệm buôn hàng kỷ niệm, bánh trái, quán ăn, một nhà bưu điện, bảo tàng viện về lễ hội và về kiến trúc "kurazukuri", nhà của ông bá hộ Osawa (大沢), v.v. Ta sẽ thấy người đi trên phố rất chậm răi không hối hả như người Nhật ḿnh thường thấy trên Tokyo hay những phố khác. Người ta đến đây để sống lại như một "ko-edokko"(子江戸っ子)...

Tự viện

Như một chứng cứ địa lư có nhiều di tích lịch sử văn hóa, nơi đây có nhiều tự viện không kém ǵ Sawara (2) - một ko-Edo du lịch ḱnh địch của Kawagoe. Xung quanh "Kawagoe fudanotsuji" (川越札の辻)( 3) đông tây nam bắc bốn hướng có hơn 30 tự viện và 2 nhà thờ công giáo.

Nằm phía Bắc của thành phố bên bờ sông "Shingashi" (新河岸川) là "Hikawa jinza"(氷川神社). Đây là một đền thờ Shinto (神道・thần đạo) sơn son thếp vàng. Vào mùa Tết Nhật hàng trăm ngàn thiện nam tín nữ đến đây để cầu lộc đầu năm gọi là "Hatsumôde"(初詣)(4). Đến mùa xuân khi hoa anh đào nở khách thích hoa lại đổ về đây để xem "Sakura".

Nằm phía Đông của Kawagoe là chùa Kita-in (喜多院) - nơi ra đời (1604) của sứ quân thứ 3 Tokugawa Iemitsu (徳川 家光). Chùa có 500 tượng La Hán. Cạnh bên chùa là "Senba Toshogu"(仙波東照宮) - một copy của Nikko Toshogu.

Ai muốn trừ tà trong lúc lái xe th́ có thể mua bùa hộ mạng nơi đây qua giá phải chẳng là 5000 yen.

5000 yen? – cho…chotto takai ka na....

Người Nhật có tục thờ 7 vị thần gọi là "shichifukujin" (七福神・thất phúc thần)(5). Trong thành phố Kawagoe 7 vị thần nầy được bài trí ở 7 chùa khác nhau để dân chúng đi tham bái trong dịp cuối và đầu năm - và họ gọi là "shichifukujin meguri"(tour). Chuyến meguri kéo dài khoảng 6 đến 7 cây số và cần đến nửa ngày. Trên đường ta đi ngang qua chùa Kita-in, Kurazukuri no Machinami, Kashiya Yokochō, v.v. và cuối cùng là Kurea Mall để trút tiền trước khi quay về nhà.

Dọc theo 2 bên đường của phố cổ Kurazukuri ta có thể ghé sang thăm chùa Hōzenji (法善寺), chùa Chōki-In (長喜院), chùa Renkeji (蓮馨寺) , đền thờ thần Yakushi (薬師神社) . Chùa Chōki-in là một chùa rất thanh nghiêm, trước sân có một hồ sen và tượng kim đồng của Phật Thích Ca lúc ngài đang tu khổ hạnh. Nh́n đó ta mới thấy sự hy sinh của Phật cho muôn chúng sinh.

Kawagoe Matsuri (lễ hội của Kawagoe)

Bất cứ đi nơi đâu trong xứ Nhật Bản vào mùa hè đến thu ta cũng nghe hay thấy những lễ hội của họ. Kawagoe cũng không thiếu điều đó. Lễ lớn nhất và nhộn nhất phải là "Hikkawase"(ひっかわせ, ) - đây là một điểm highlight cho làng nầy. Vào ngày lễ Hikkawase (2 ngày weekend thứ 3 của tháng 10) họ mang ra những chiếc xe kiệu gọi là "dashi" (山車) 2 tầng, to như cái miếu của nước ta, trên đó có ban nhă nhạc, h́nh nộm của danh nhân thần thánh và đồ trang trí rất đẹp mắt. Người ta kéo đẩy nhau trên phố Kurazukuri vừa ca vừa ḥ, hai cái "dashi" gặp nhau th́ đón chào, rồi nghênh chiến, sàng qua sàng lại như long hổ tranh hùng rất hào hứng. Cái vui kéo măi đến đêm thâu và thường được khích lệ bởi những tát nước hay rượu "sake" hai bên ven đường do những người có tiền cống hiến. Ngày hôm sau sau khi quét dọn xong rồi họ sẽ bắt đầu trở lại. Đây là một "Edo tenka matsuri" (天下祭り) đă có từ 300 năm trước và thu hút rất nhiều người từ Edo đến dự.

Naruhodo!

(1) "Ku" của "Kuri" là 9, "ri" là lư (1 lư = 2-3 cây số ), "kuri" là 9 lư cũng đồng âm với "‘栗" (hạt dẻ). Jusanri" là 13 lư - khoảng cách từ Edo đến Kawagoe, cũng để ám chỉ khoai lang Kawagoe.

(2) xem thêm: "T́m lại một tí Edo" qua link:

http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/TimlaimottiEDO.htm 

(3) "fudanotsuji" có nghĩa là giao điểm của đường phố thường cũng là nơi ṭa hành chánh tọa lạc.

(4) xem "Hatsumôde đi lễ đầu năm" qua link:

http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/Hatsumode/Hatsumode.htm 

(5) xem thêm "Ngày tết ở Nhật và shichifukujin" của GS Vĩnh Sính rất hay qua trang ERCT.com. qua link:

http://www.erct.com/2-ThoVan/VinhSinh/NgayTetoNhat.htm 

 

Click vào đây xem toàn tập h́nh ảnh

 

 

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về