Những ngày lễ mùa Hè của Nhật Bản và một giấc mơ...

 Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)

 

Mùa hè của Nhật Bản, trừ đảo Hokkaido phía Bắc, có thể bắt đầu từ tháng 5. Nhưng cái dấu hiệu "Vào Hạ" thực sư được nhắc nhở bằng mùa mưa mà người Nhật thường gọi là “Tsuyu” (つゆ) hay "Bai-u" 梅雨(mai vũ) .

“Tsuyu” giống như mưa ngâu, không mưa lớn hay có sấm sét như trong Nam xứ ta. Đây là lúc mà mọi sự "phiền toái" của cuộc sống được khởi đầu - V́ là mùa thích hợp cho loài meo mốc nẩy mầm và tăng trưởng nhanh chóng. Người Nhật thường bị "trúng thực" và "bịnh lở da" là v́ thế. Cho nên người xưa rất dè dặt với mùa nầy.

"Bai-u"(梅雨) là một Hán từ được nhập vào nước Nhật vào thời Edo (江戸) - nhưng mưa th́ đă có tứ xưa(! ). Về sau chữ nầy thường được đọc qua âm "Tsuyu" (つゆ) . Chữ "Bai-u" vốn viết là "黴雨". Chữ "黴" đồng âm “méi”“ với chữ 梅(Mai) trong Hoa ngữ, đọc là "mi"hay "kabi" trong Nhật ngữ - có nghĩa là nấm (fungus) hay "meo mốc" (mold). Chữ"雨" (vũ) là mưa. Đó là mưa sanh ra meo mốc. Nhưng nếu dùng chữ "黴" (mi) th́ hơi " kỵ " nên người TQ đổi sang chữ "梅". Có thuyết cho là v́ mưa rả rích vào mùa quả "mai" (梅) chín nên gọi là thế. C̣n cách phát âm "つゆ/tsu-yu" thực ra là mượn từ chữ 露(lộ), tức "sương" hay “mưa phùng” mà ra.

Cô dâu tháng sáu...

Tháng 6 - cũng được gọi "khéo" là "Minazuki" (水無月・thủy vô nguyệt*) - là tháng không có ngày nghỉ lễ và là mùa mưa "râm râm" liên tục nhiều ngày. Tuy nhiên ngày nay giới trẻ Nhật dùng tháng 6 để cử hành hôn lễ rất nhiều, có lẽ v́ mấy cô gái mới rất thích đóng vai “Rokugatsu no Hanayome (六月の花嫁・June Bride) như Âu Mỹ. Mọi cuộc lễ lớn náo nhiệt phải chờ đến tháng 7 và 8.

Lễ "Sao", "Khất xảo" và "Tanabata"

Vào đầu tháng 7, ngày mồng 7 là lễ "Sao" từ Trung Quốc truyền sang từ thời Heian - và thường được người Tây phương xem như ngày Valentine của Á Đông. Đây là ngày mà nàng Chức nử “Orihime” (織姫/Chức Cơ) được phép tái ngộ với chàng Ngưu Lang “Hikoboshi” (彦星**/Ngạn Tinh) bên kia của dải sông "Ngân". Người TQ cũng gọi ngày nầy là lễ "Khất xảo"(乞巧) để mấy cô con gái cầu trời được "kỹ năng" (khéo tay) trong việc may dệt như nàng "Chức Nữ" xưa kia.

Khi tục lễ hội 7/7 truyền sang Nhật Bản, ngày lễ nầy được gọi là lễ "Shichiseki"(七夕・Thất tịch) trong Hoàng Cung, nhưng sau đó th́ lại được đổi thành lễ "Tanabata" trong dân gian.

Về ngữ vựng, "七/thất" là "bảy" c̣n "夕/tịch" là "buổi chiều tối". Ở Nhật Bản, ngày 7/7 có tính chất tôn giáo hơn nhiều xứ Á Đông khác cùng cử lễ nầy. Nhưng lư do tại sao - thay v́ gọi ngày nầy là "Shichiseki", người Nhật lại dùng "Tanabata"?- Đây cũng có vài nguyên do cho nó.

Theo tục lệ Phật Giáo, chiều ngày mồng 7 là lúc sắp đặt bàn thờ gọi là "Tanabata" (棚幡) (như bàn hương án của ta) để chuẩn bị lễ Cúng Dường (Dàng) cho cha mẹ đă qua đời (tức lễ O-bon). V́ thế khi đến ngày "Shichiseki/Thất Tịch" th́ lại thường liên tưởng đến "Tanabata".

Chữ "棚”(Tana/bằng) có nghĩa là cái "gác" hay "bàn", c̣n chữ "幡" (hata/phiên) có nghĩa lá lá cờ hiệu v́ khi lập bàn thờ người Nhật có tục dựng cây "sasa" (笹・trúc) như biểu tượng cho cờ. Ngoài ra "Tanabata" c̣n được viết qua 2 chữ khác là "棚機" (bằng cơ)-tức là cái khung cửi hay "máy dệt".

Tục truyền rằng, xưa kia mỗi năm đến dạo nầy, có một cô "Miko" (巫女/Vu Nữ - cô ni phục vụ trong Thần cung・神宮) thường dệt tấm gấm rất đẹp để dâng cúng Trời Phật cầu mong cho nông gia được mùa và vạn chúng luôn được an lành. Về sau cô Miko được nhắc đến qua cách gọi khác là “Tanabatatsume” (棚機津女) - tức "Cô gái dệt lụa" v́ nó ngẫu nhiên lại trùng hợp với nàng "Chức Nữ" trong truyện xưa của ngày Thất Tịch.

Có người lại cho rằng v́ nhà nông có ngày lễ “rảy hạt” gọi là "Tanabatamatsuri" ( 種播祭り) đồng lúc với ngày 7/7, nên dân gian sáp nhập vào cách gọi nầy.

Thêm một thuyết nửa là - ngày xưa có một thanh niên tên là Mikera, một hôm t́m được một chiếc áo choàng (có một version khác bảo là chàng ngư phủ giấu áo của tiên khi đi tắm dưới trần). Liền sau đó có một nàng tiên tên là Tanabata đến nhà Mikera hỏi thăm coi anh có thấy cái áo của nàng không. Anh thanh niên trả lời là không biết nhưng hứa là sẽ giúp nàng trong việc t́m cái áo. Về sau 2 người thương yêu và lấy nhau. Một hôm nàng tiên t́m thấy cái áo của ḿnh được giấu trên gác nhà của chồng. Nàng giận và bỏ Mikera. Nhưng v́ chồng tỏ vẻ ăn năng hối hận nên nàng Tanabata hứa là sẽ tha lỗi cho anh với một điều kiện là anh đan cho nàng 1000 đôi dép rơm. V́ cần quá nhiều th́ giờ để hoàn tất 1000 đôi dép rơm nên chàng không gặp lại được vợ tiên. Sau đó vợ chàng nghĩ lại và cho phép gặp mỗi năm một lần vào ngày sao Chức Nữ gặp lại sao Sao Ngưu Lang.

Th́ ra người Nhật cũng giống như dân ta, khi t́m được truyền thuyết thú vị từ nước ngoài bao giờ cũng t́m cách đồng-hóa nó vào chuyện có sẵn trong nước ḿnh. Không biết chuyện "Tấm Cám" nước ta có liên quan với chuyện "Cô bé Lọ Lem (Cinderella) ra sao?

Xưa kia trong Nam (trước 75), ông bà ta hay cúng hoa quả vào ngày 7/7, và đặt một chậu nước với mảnh kiếng (gương) dưới đáy ngoài trời dưới bầu trời đom đầy muôn sao. Xong rồi kể cho con cháu nghe chuyện "Ngưu Lang Chức Nử" trong khi ngó xuống mặt nước phẳng lặng để nh́n "Sao Ngưu Lang"(Altair), "Sao Chức Nữ" (Vega) và dải "Ngân Hà"(Milkyway).

Khi tôi c̣n bé tôi mê nghe chuyện đời xưa của ông bà kể lại. Tôi c̣n nhớ có một lần trong khi chờ cho "Sao Ngưu Lang" đến gần "Sao Chức Nữ" như bà tôi kể, khi vầng mây đen che khuất dải sông Ngân, tôi ngỡ là đàn ô thước đang chắp cánh để bắt cầu. Nhưng rồi v́ đến giờ khá khuya, tôi ngă xuống ngủ say sưa trên cái ghế mây của bà tôi. Sáng ngày hôm sau khi thức dậy tôi hỏi bà là 2 "sao" đă gặp lại chưa?- Bà tôi mỉm cười và bảo "phải chi cháu cố thức thêm tí nữa... Thôi chờ đến sang năm sẽ biết!". Âu đây cũng là một trong những kỷ niệm đẹp của thời ấu thơ trong lúc đất nước ta c̣n thanh binh...

Như đă đề cập phía trên, ngày Tanabata là ngày lễ có tính chất Phật Giáo. Đây là ngày chuẫn bị cho lễ O-bon của Nhật Bản. Theo Âm lịch của Tàu, tháng 7 là tháng đầu tiên của mùa Thu và được gọi là "Mạnh Thu" (孟秋) và trăng mồng 7 là trăng khuyết "Thượng Huyền" (上弦). Khi bước vào ngày nầy mùa mưa "ngâu" của Nhật Bản cũng đă chấm dứt và thường được gọi là "Tsuyu ake" (梅雨明け).

Đối với Exryu (i.e., cựu sinh viên du học Nhật), chắc chắn là mọi người c̣n nhớ đây là lúc mà anh em ta phải trải qua nhiều đêm thâu khó ngủ v́ cái nóng bức và ẩm rích của mùa hè xứ Hoa Anh Đào. Nhưng đây cũng là lúc mùa nghỉ hè sẽ bắt đầu. C̣n đối vời dân thích leo núi như tôi hay anh Nguyễn Quang Lữ (Shikoku), tháng 7 là tháng đáng nhớ nhất v́ đó là tháng "Khai Trương" cho mùa "leo núi mùa hạ" (本格的な夏山シーズン). Đây là lúc mà những chuyến "Ya-kô Densha" (夜行電車・tàu chạy đêm) vào ngày thứ bảy chở đầy nghẹt anh (chị?) "Yama Otoko" (山男・dân leo núi) trong những toa tàu "thiếu dưỡng khí" ở nhà ga Shinjuku (新宿) để đưa họ lên miền núi vùng Nagano (長野) hay Yamanashi (山梨) vào buổi sáng hôm sau.

Ngày nay tùy theo địa phương lễ Tanabata được cử hành vào ngày 7/7 , 7/8 Dương lịch hoặc ngày 7/7 Âm lich. Sư chênh lệch nầy tạo ra bởi sự đổi sang dùng lịch mới trong nước Nhật sau thời Meiji (明治・Minh Trị). Theo Âm lịch, ngày 7/7 đă sắp gần "Lập Thu" (立秋) trong khi đó ngày nầy trong lịch mới c̣n là mùa hè với "Tsuyu". Lại nữa đêm "Thất Tịch" theo Âm lịch th́ trăng c̣n khuyết và lặng sớm nên dăi "Ngân Hà" thường xuất hiện rất rơ trên bầu trời đêm, c̣n theo lịch mới th́ dạng của trăng không theo chu kỳ nhất định có lúc quá sáng nên làm cho sông Ngân bị lu mờ ...

Người Nhật gọi mưa rơi vào đêm 7/7 là "Sairui-u" và viết là 催涙雨(thôi lệ vũ) hay 酒涙雨(tửu lệ vũ), có nghĩa là mưa buồn như nước mắt. Họ thường cầu nguyện cho trời đừng mưa vào đêm nầy - v́ nếu mưa nước sẽ làm cho sông Ngân ((天の川/Amanogawa) ngập lũ và đoàn Ô thước không kết được cầu nên "Orihime" (織姫/ Chức nữ) và "Hikoboshi" (彦星/ Ngưu Lang) phải chờ đến sang năm mới gặp lại đươc...

Gần đây trên Internet có rất nhiều informations đăng về đề tài "Tanabata" của nhiều blogs trẻ bằng tiếng Anh, Nhật và cả tiếng Việt. Nhiều bài viết khá lư thú nhưng cũng có nhiều sự sai lạc hay bẻ cong***. Đó cũng là lẽ thường t́nh v́ ngay cả chuyện xưa khi được truyền từ nước nầy sang nước khác cũng có sự sai biệt (như người xưa thường nói: "Tam sao thất bản" là thế!). Nhưng nếu ta thích nghe chuyện xưa th́ tốt hơn là t́m những nguồn do người xưa viết để lại.

Ngày nay ở những xứ văn minh như Nhật Bản, Đại Hàn hay Đài Loan, sự chiêm ngưỡng bầu trời đêm của ngày lễ "Sao" trở nên "Imposssible". Đây là do vấn đề công hại tạo ra bởi ánh sáng đèn điện trong thành phố. Xưa kia dân gian thường ngẩn đầu nh́n lên trời hay thiên đàng để xem sao đêm và tỏ ḷng kính cẩn với đấng thiên liên. Ngày nay Ngọc Hoàng Thượng Đế khi nh́n xuống thế gian chắc phải ngạc nhiên và sẽ tự hỏi: “sao mà loài người nhỏ bé kia tạo ra nhiều "Sao" lắm thế? ....”- hay lo âu v́ sợ rằng có ngày người dưới thế gian sẽ lên trời bằng phi thuyền và cất cây cầu treo qua ngang sông Ngân như cầu "Akashi Kaikyo" (明石海峡大橋) th́ thiên đàng sẽ rối loạn mất đi....

Đa số người Nhật đều biết về truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ như dân ta hay người TQ. Trong anh chị em du học Nhật chắc có người c̣n nhớ bài về "Tanabata" trong quyển "Nihon go doku hon". Trong bài nầy có nhắc lại chuyện "...xưa kia, mỗi năm vào ngày Thất Tịch, Orihime (織姫) - tức cô công chúa dệt, được phép gặp lại người yêu là Hikoboshi (彦星) - tức “Ngưu Lang” anh chăng trâu bên kia dăi Ngân Hà (天の川・amanogawa) bằng chiếc cầu do đàn ô thước kết cánh trên sông...”.

Ngày nay lễ Tanabata hay Thất Tịch được cử hành rất là náo nhiệt ở Nhật. Lễ hội nầy (và O-bon) cũng được cử hành ở những nơi có nhiều người di dân Nhật như tại Săo Paulo - Ba Tây (Brazil), Singapore - Tân gia ba, San Jose - California, US, Toronto –Canada, v.v.

 

Trong ngày lễ “tanabata” gia đ́nh người Nhật thường dựng trước chính môn những cây trúc hay tre xanh. Xưa kia họ dùng sương sáng đóng trên lá tre hoặc lá khoai đễ viết chữ và ghi lời ước nguyện của ḿnh trên đó. Ngày nay dân thành thị treo những điều ước nguyện về tài năng gia chính cho các cô hay kỹ năng cho các cậu viết trên những mănh giấy "tape" gọi là "Tanzaku" (短冊). Cách viết như xưa không c̣n nữa - thực là "zannen" (đáng tiếc)!

 

Trên những phố xá thương mại, dọc ngang theo lối đi họ cho treo những dải phướng màu sắc rất vui mắt, cùng với những lồng đèn hoa giấy và ribbons ngũ sắc gọi là “fukinagashi” (吹き流し) tượng trưng cho những sợi chỉ của nàng Chức nữ dùng để đang áo cho Tentei (天帝・Thiên Đế -Ngọc Hoàng), hay những con hạt giấy "Oritsuru" (折り鶴) cầu nguyện cho được sống lâu, và những h́nh nộm hoạt họa, v.v.

Trước sân đền thờ “Shinto” (神道・Thần Đạo) - tức Jinza (神社・thần xă) hay chùa - tức Otera (お寺) thường có hội chợ tấp nập. Các bác tiểu thương đặt bày những quán ăn đồ vặt gọi là “yatai” (屋台) để bán "dango"(団子・bánh chuỗi bột), "Takoyaki"(たこ焼き・tuộc nướng), "wataame"綿菓子・kẹo bông g̣n), "yakitori" (焼き鳥・thịt gà nướng xâu), v.v. Ngoài ra có tṛ chơi câu cá vàng với cái bánh pḥng gọi là “kingyo sukui” (金魚すくい) rất là lư thú đối với trẻ con Nhật. Rốt lại thương nhân cũng có lợi và ngư phủ tí-hon cũng hài ḷng v́ câu được vài con cá vàng đem về cho bố mẹ “mendô miru” (nuôi)....

Mùa hè của Nhật phải nói là mùa O-bon. Đây là lúc mà đa số người Nhật được nghỉ phép để về quê hay đi du lịch. Lễ O-bon và lễ Tanabata không phải là ngày lễ quốc gia qui định như Christmas hay Thanksgiving ở xứ Mỹ. Tuy nhiên nó là 2 lễ hội kéo dài có tính chất tôn giáo và tập quán quan trọng của dân Nhật. Nhiều hăng xưởng ngưng hoạt động trong dịp nầy để công nhân của họ được dễ dăi trong khi nghỉ lễ.

O-bon và lễ tết Trung Nguyên

"O-bon" (お盆) là lễ Vu Lan của Nhật. Chữ "Bon" là chữ tắt cho "Urabon" (盂蘭盆・Vu Lan Bồn) hay "Urabon'e" (盂蘭盆会・Vu Lan Bồn Hội), c̣n "O" chỉ là chữ đệm kính ngữ đi theo chữ "bon". Vu Lan hay "o-bon" có ngữ-nguyên từ chữ Phạn là "Ullambana", có nghĩa là thoát khỏi h́nh phạt treo ngược đầu. Theo gương Tôn Giả Mục Kiền Liên và kinh Phật dạy: Trong mùa Vu Lan mười phương chư Phật có ḷng hỷ xả cho nên "qua sự thành tâm chú nguyện của Thập phương chư Tăng chúng ta có thể cứu được cha mẹ, tổ tiên khỏi cảnh tội đồ, cầu nguyện cho chúng sinh được siêu thoát, khỏi ṿng sinh tử luân hồi...”****.

Lễ O-bon thường bắt đầu khoảng một tuần sau lễ Tanabata, tức vào ngày rằm tháng 7. Người Trung Quốc gọi ngày nầy là lễ tết Trung Nguyên" (中元) cho nên người Nhật cũng dùng từ "Chu-gen" . Giống như lễ Tanabata hay Thất tịch, sự thay đổi từ Âm lịch sang Dương lịch đă tạo cho dân Nhật có đến vài cái lễ O-bon ở nhiều địa phương khác nhau như: "Shin bon" (新盆・Tân Bồn)(15/7 Dương lịch), "Kyu bon"旧盆・Cựu Bồn) (15/7 Âm lịch), "Tsuki okure" (月遅れ・bon trể 1 tháng) (15/8 Dương lịch), hoặc đầu tháng 8 Dương lịch, v.v.

Trong mùa O-bon người Nhật thường gữi hay mang tặng quà cáp cho thân nhân hay ân nhân của ḿnh như "Nakôdo” (仲人・ông bà mai), thầy cũ, bác sĩ gia đ́nh. Trên gói quà (gọi là Chu-gen Gifuto/中元ギフト) thường có kèm miếng giấy "Noshi" (熨斗) hay "Noshigami" (熨斗紙) có chữ "Ochugen"(お中元). Đối với Ryugakusei (留学生) (sinh viên du học) ở Nhật chắc có bạn c̣n nhớ đây là lúc anh em chúng ta hay đi thăm viếng "Hoshô nin (保証人/Ông Bảo Đảm) với món quà trong tay. Đây là một tục lệ nói lên cái ḷng biết "ơn nghĩa" trước sau của con người. Hồi đó v́ c̣n là một sinh viên nghèo, đôi lúc tôi thấy người Nhật hơi rườm rà. Nhưng bây giờ nghĩ lại tôi thấy văn hóa Nhật Bản đă dạy cho chúng ta những cái tục lệ nghĩ cũng rất là hay...Cho nên bây giờ tuy xa xứ Nhật, mỗi năm tôi vẫn bảo vợ con phải nhớ gữi quà "Chu-gen" về cho ông bà bảo đảm của tôi xưa kia, cũng như những ân nhân của bà xă qua những nghiệp vụ gọi là "Takuhai tsuu han" (宅配通販) - tức “Home delivery mail order” của Nhật.

O-bon với phong tục của người Nhật

Như trên đă nói, O-bon là lễ hội có tính cách tôn giáo và có liên quan đến lễ Tanabata. Hai lễ hội nầy được biết và cữ hành ở nhiều nước Á Đông như TQ, Đài Loan, Việt Nam, V.V. Nhưng ở xứ Nhật, việc cữ lễ có vẽ nghiêm cách và hoan lạc “Ex-trav-a-gan-za” hơn các nơi khác.

Về nghi thức ở Nhật có ngày "O-bonhairi" (お盆はいり)- cũng gọi là "Kamabuta sojitsu" (釜蓋一日/ngày mỡ cửa địa ngục),  "Nanukabon" (七日盆) hay "Tanabata" (七夕/Thất tịch) , ngày "Mukaebi" (迎え火/nghêng hỏa), ngày "Okuribi" (送り火/Tống hỏa), ngày "Bon odori (盆踊り/múa lễ bon) , tục "Hatsubon" hay "Shinbon" (初盆 or 新盆) .

Theo tục lệ của Phật Giáo, từ ngày mồng 1 cho đến 24 tháng 7 âm lịch là mùa O-bon hay Vu Lan. Ngày "O-bonhairi" (お盆はいり) hay "Kamabuta sojitsu" (釜蓋一日) là ngày bắt đầu cho mùa O-bon, tức ngày "mở cửa địa ngục (i.e., thế giới bên kia) v́ người Nhật tin rằng đây là lúc linh hồn tổ tiên bắt đâu về thăm viếng nhà xưa. Ngày "Nanukabon"(七日盆) hay "Tanabata"(七夕) là ngày để chuẩn bị nghi lễ như dựng bàn hương-án (gọi là Tana・棚) và tảo mộ. Người Nhật không quét mộ vào lễ "Thanh Minh" (清明 - mồng 4/5) như người Tàu.

Đối với gia đ́nh có tang cha mẹ c̣n dưới thất tuần (49 ngày), trước cửa nhà thường treo cái đèn lồng (提灯・chôchin) "trắng" để tượng trưng cho lễ báo hiếu đầu tiên gọi là "Shinbon" hay "Hatsubon". Đây là một tục lệ có lẽ được đúc kết qua tinh thần của Phật Giáo, Lăo Giáo và Thần Giáo Nhật v́ thường người Nhật dùng màu "Đen" cho tang lễ chớ không phải màu "Trắng Bạch" như người Tầu hay Việt.

Chiều ngày 12 tháng 7 Âm lịch có tục "Mukaebi" (迎え火・nghêng hỏa) tức đốt lửa để đón chờ vong linh của tổ tiên. Ngày 16 là ngày "Okuribi" (送り火・tống hỏa) tức đốt lửa để tiễn biệt tổ tiên. Ở Kyoto họ đốt lửa trên 5 sườn núi - gọi là Gozan no Okuribi (五山の送り火・ngũ sơn tống hỏa) ra h́nh chữ Đại (大), Diệu Pháp (妙法・tức Kinh Phật hay Kinh Pháp Hoa), dáng chiếc thuyền (舟形・Funagata), chữ Đại (大)và dáng cái cổng chùa (鳥居形・Toriigata) có hàng trăm ngàn người tham dự mỗi năm.

Cái ngoạn mục nhất của mùa O-bon là những cuộc dạ vũ - gọi là "Bon odori (盆踊り) vào đêm trăng tṛn (thường là 15-16) để giúp vui và tiễn đưa tổ tiên về cỏi Phật. Đây là cái Climax (tột đĩnh) của lễ hội mùa hè xứ Nhật. Vào mùa nầy ở thôn làng quê bỗng trở nên nhộn nhịp hơn v́ dân đi làm xa quay về nơi sinh quán để làm lễ O-bon cho ông bà. Ngược lại ở thành thị lớn như Tokyo, bóng người và xe cộ vắng đi. Người ở lại cảm thấy lẻ loi với bầu trời xanh biếc và không khí trong lành ít khi có v́ thiếu khói xe hơi...

"Bon odori" extravaganza

Trong đêm "Bon odori" nam phụ lăo ấu thường mặc áo Yukata (浴衣・một loại áo ngũ hay để đi tắm Ofuro - nhà tắm công cộng) hay áo Happi (半被・áo ngắn) đều nhảy ra tham dự. Đàn bà con gái thường mang cái quạt giấy gọi là "Uchiwa" (団扇) trên đai "obi" (帯), c̣n đàn ông th́ vấn cái khăn trên trán gọi là "Hachimaki" (鉢巻). Họ múa theo nhịp trống "Taiko"(太鼓) và tiếng sáo thổi, hướng dẫn bởi những “Ondo” (音頭・âm đầu - lời ḥ ca đi đầu) khởi xướng qua máy phóng thanh do một ca sĩ đứng trên cái đài cao gọi là Yagura (櫓hay 楼) ngân nga như đang niệm Phật hay ḥ. Rồi người dự cuộc vũ sẽ họa lại bằng những câu "Enya koresa” , “a dokkoisho dokkoisho!”, v.v. rất hào hứng. Sự giao hưởng nầy làm cho tâm hồn con người trở nên mê say theo tiếng trống và nhă nhạc của “ban vũ chiều đêm”...

Tục cho rằng cách múa vũ Bon là do "Uya Jônin" (空也上人・Không Dă Thượng Nhân) đặc ra vào thời Heian (平安) để giúp thế nhân trong việc niệm Phật - gọi là "Nenbutsu odori" (念仏踊り). Đây là những điệu vũ cho cô hồn, và để giúp vui hương linh tổ tiên nay về thăm viếng hiện thế….

Ngày nay, ở những đô thị lớn như Tokyo, tùy theo khu vực dân cư có những buổi lễ Bon odori vào những ngày khác nhau để tránh sự cạnh tranh trong việc thu hút người tham dự, nhất là vào thời điểm có nhiều người về quê "ăn" lễ Bon. Ở vùng xa (地方) th́ ngược lại, mỗi nơi có những cách cử lễ đặc thù để thu hút khách "qui hương" (帰郷者) và du khách ham vui đến xem.

“Dân ca” cho Bon-odori

Trong những buổi vũ Bon, mỗi địa phương dùng những bản dân ca đặc biệt của vùng ḿnh. Dần dà những bản dân ca nầy trở nên "danh khúc" (名曲) như: Tokyo Ondo (東京音頭- cho vùng Tokyo), Kawachi Ondo (河内音頭- cho vùng Kawachi gần Osaka), Gôshuu Ondo (江州音頭- cho vùng Shiga), Tankô Bushi (炭坑節- cho dân mỏ than vùng Fukuoka ), So-ran Bushi (ソーラン節- cho dân đánh cá vùng Hokkaido), v.v. Tôi c̣n nhớ lời của một bài ca vùng Kansai trong cuộc vũ Bon Awa Odori rất "tiếu" như sau:

踊る阿呆に (Odoru ahô ni - người đang nhảy là kẻ điên)

見る阿呆に (Miru ahô ni - kẻ đứng nh́n là người điên)

同じ阿呆なら (Onaji ahô nara - Nếu đều là điên cả)

踊らな損 損 (Odorana son, son - sao không cùng ra nhảy)

V́ là một lễ hội lớn nhất trong năm, mỗi địa phương thường cử lễ rất qui mô, đôi lúc có ư cạnh tranh để đi đến tuyệt đỉnh của nghệ thuật vũ Bon tập thể. Trong đó phải kể đến "Gujô Odori" (郡上踊り) ở Gifu, Awa Odori (阿波踊り) ở Tokushima và Kuroishi Yosare (黒いしよされ) ở Aomori - là 3 Đại Vũ Hội Bon của Nhật Bản. Đây là những buổi vũ "Diễn hành" gọi là “Nagashi Odori” (流し踊り) với hàng ngàn người tham dự và hàng trăm ngàn người tham quan hai bên đường, phần kết thúc thường có bắn pháo bông.

 

Nh́n qua những lễ hội của Nhật Bản như trên, ta có cảm nghĩ rằng người Nhật rất thích hội hè náo nhiệt, hay nói cho gọn là "ham vui". Nhưng nh́n kỹ lại ta phải công nhận là người Nhật cũng có ḷng tin rất mạnh vào phần tâm linh. Họ có nhiều nghi lễ rất tinh tế và hay lạ.

Như cúng cơm cho cha mẹ ông bà trong dịp O-bon, người Nhật dựng gát "Tanabata" và đốt lửa "Mukaebi" để chờ đón linh hồn người quá cố về thăm con cháu. Để giúp ông bà trong việc di chuyển dễ dàng, họ làm những "con ḅ con ngựa" bằng quả dưa leo và cà tím với chân bằng tăm xỉa răng. Trước nhà có treo đèn lồng "Chochin" (提灯) cho dễ t́m ban đêm. Ngày tiễn đưa linh hồn người quá cố về cơi Phật họ có tục đốt lửa "Okuribi" và thả đèn "đăng lộng" (灯籠) trên sông....

Xứ Nhật không rộng lắm nhưng lại đông dân. Khi du khách đến nơi đây ai cũng phải ngạc nhiên khi thấy số đ́nh chùa và lâu đài c̣n tồn tại trên đất nầy. Có những ngôi chùa và thần xă được kiến tạo hơn ngàn năm trước vẫn c̣n đứng đó dù rằng phong ba chiến loạn đă từng xảy ra nhiều lần... Con người ở đây sao hay thế?- Họ không bao giờ lo đến sự huy hiếp của văn hóa cũ, của Tôn giáo xưa chăng? Sao không t́m cách đạp đổ nó rồi đi vay mượn để xây dựng cái mới, cái đẹp? - Hay họ thừa biết rằng những ǵ mới đẹp mà không xây dựng lên bằng công lực của bản thân dưới sự chỉ dẫn của văn hóa, đạo đức và luân lư hiện hữu th́ đó chỉ là những "Shinkirô" (蜃気楼・”mirage” hay Lâu đài hăo huyền) trên sa mạc mà thôi!....

Yume (夢・giấc mơ)

Đối với tôi những năm sống ở Nhật Bản c̣n để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong trí năo. Khi nghe tiếng ve sầu bắt đầu kêu gào vào ngày hè nóng bức, tôi nhớ đến những buổi chiều đi làm về mở thùng thơ bốc ra cái "hagaki" (葉書・postcard) bắt đầu với câu "Shochuu Ominai Môshiagemasu...."(暑中お見舞い申し上げます) từ những bạn thân gữi đến thăm hỏi. Nhớ lúc chiều đêm cầm cái quạt giấy quạt sành sạch, rồi mở cái tủ lạnh để lấy ra chai "Karupisu" (カルピス・Calpis - một loại ya-ua loăng chế từ sự lên men của lactic acid) và đổ pha với nước đá lạnh để uống cho đă khát…. Có những đêm hè nóng bức khó ngủ, để đuổi đàn muỗi đói đến gần vợ hiền con thơ tôi phải thức giấc nửa đêm để đốt mấy ṿng "katori senkô" (蚊取り線香・nhan ung muỗi)...

Thế rồi có một đêm mùa hạ, trên 1 làn sóng ngắn short way radio truyền sang từ phía bên kia bờ Thái B́nh Dương, tôi nghe văng vẳng bên tai những câu ca hay ḥ:

Yaren soran soran Soran soran (hai hai!)

Oki de kamome no naku koe kikeba

Funanori kagyo wa yamerarenu choi

(rồi có tiếng họa lại) Yasa e en ya sa dokkoisho (a dokkoisho, dokkoisho!)

Yaren soran...Oyaji tairyo da mukashi to chigau toreta nishin wa ore no mono choi Yase e en ya

Yaren soran...Ichi-jo-go-shaku no ro o kogu fune mo horeta anogo nya te mo choi Yase e en ya….

Yaren soran...Tama no suhada ga shibuki ni nureya uwaki kamomega mite sawagu choi Yase e en ya…

(Xin tạm dịch như sau)

Ḥ lơ hó lơ có tiếng ai kia đang ḥ lờ (Nầy... anh em ơi!)

Mỗi khi nghe tiếng gọi của con hải âu ngoài khơi kia... tôi biết rằng nghề đánh cá trong kiếp nầy khó bỏ được...

(Họa lại:

Yasa e en ya sa dokkoisho (a dokkoisho, dokkoisho!)

Ḥ lơ hó lơ...Bố già ơi…không c̣n như xưa đâu... những con cá trích của chuyến kéo lưới to nầy sẽ thuộc về tôi cả đây...

Ḥ lơ hó lơ... Nầy cô em yêu kiều ơi...sao cô vẫn thờ ơ dù thấy tôi chèo chiếc thuyền một trượng 5 thước (15 m)?….

Ḥ lơ hó lơ... Ḱa con hải âu văng cánh trên đầu...nó cất tiếng kêu dí dỏm khi thấy lưng tôi đẫm ướt nước thủy triều... A lê ḥ lờ….

Rồi tôi lẩm bẩm:

Yaren soran soran Soran soran (hai hai!)

Ḥ lơ hó lơ.…. a dokkoisho, dokkoisho!….

“kḥ... kḥ……………..”

....H́nh như có ai vỗ vai tôi rồi có giọng hỏi nhỏ: "Otô san, kyowa oyasumi desuka?" (Bố ơi, hôm nay nghỉ không đi làm sao?) - Thế rồi tôi mở mắt nh́n...Th́ ra má 2 đứa nhỏ?!. Tôi trả lời: "Arigatô"(cám ơn). Vợ tôi bảo: "Ii oyume o mitte ita rashii ne..."(nằm mơ thấy ǵ đấy?).….Tôi gật gù: "Naruhodo” (th́ ra thế)?.....

Huỳnh Văn Ba, Hè năm 2009

* Tai sao gọi là Minazuki" (水無月・thủy vô nguyệt)? - Theo Hán Tự ta có thể hiểu lầm là "tháng (月) không (無) có nước (水)". Nhưng thực ra chữ "無" (vô) nơi đây đọc là "な”(na) như trong từ "神無月"(kannazuki/tháng 10 âm lịch) - tức phải hiểu nó như là "の" (no). Đây là cách chơi chữ của người xưa .

** hay 牽牛星/Khiên ngưu Tinh

***Theo Wikipedia tiếng Việt (as of June 2009), tác giả bài viết về lễ Vu Lan lầm là người Nhật tổ chức lễ nầy vào ngày mồng 7 tháng 7 âm lịch. Thực ra đó là lễ "Tanabata"

**** Theo Đỗ Công Định trên web "Phật Giáo Ngày Nay"

*****All Photos are credited to various internet sites

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về