Du  lịch vùng Tây Bắc Mỹ (2)

Đi chơi núi Rainier

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)
 

 "... the most luxuriant and the most extravagantly beautiful of all the alpine gardens I ever beheld in all my mountain-top wanderings" - John Muir 

(xem toàn tập ảnh xin click vào đây)

 

 Rời Portland - Oregon máy "GPS" (Hệ thống Định vị Toàn cầu ) dẫn tôi sang sông Columbia để vào t.b. Washington. Nói thì dễ nhưng vì khi băng ngang Portland là lúc "rush hour" nên giao thông có nhiều chỗ nghẽn. Nếu anh chị có chạy xe hơi ra vào Montreal buổi chiều khi tan việc thì biết. Portland cũng có nhiều cầu để băng qua thành phố như Montreal vì thế nên để ý bỏ ra thêm thì giờ. Khi kẹt xe rồi thì GPS cũng chẳng có cứu bồ được đâu!  

Sau khi thoát ra được traffic của Portland tôi chạy rất nhanh về hướng Bắc trên I-5 khoảng 1 tiếng đồng hồ rồi tẻ vào US-12 East chạy thêm 30 miles, đổi sang US-7 North đến Elbe, lấy State Rt. 706 East (cũng gọi là National Park Hwy) đi về Longmire. Nơi đó tôi đã đặc phòng ngủ trước - đó là "National Park Inn". 

 

National Park Inn 

Lúc tôi book cái hotel chỉ cho địa chỉ GPS đến Nisqually (southwest) Entrance of Mount Rainier National Park - 39000 State Route 706 E. Ashford, WA 98304. Khi chạy đến nơi thấy một cái cổng giống như cái "Torii" (鳥居・cổng của thần xã NB) đen thui đề Mt. Rainier National Park, cạnh bên không có nhà gác hay nhà kho gì cả, một bóng người cũng không thấy. Đi chơi một mình không có ai để nhờ cậy xem đường nên rất dễ lạc, nhất là giữa chỗ tối đen trong rừng. Rốt lại tôi phải trở lại làng Ashford cách đó 6 miles để tìm người hỏi thăm.  

Ban đêm ban hôm chận xe để hỏi không dễ dàng vì đa số họ không tin kẻ lạ. Trong bãi đậu xe của một restaurant tôi gặp một cặp vợ chồng Mỹ. Khi biết tôi lạc đường ở xự lạ họ rất lo cho tôi và sẵn sàng muốn giúp. Hỏi ra tôi mới biết ông bà nầy là du khách mới lái xe từ Texas lên, họ cũng chẳng rành địa lý vùng nầy như tôi. Nhưng  sự sốt sắng của người có lòng làm cho tôi an tâm như gặp được Guardian Angel (Thần hộ mạng).  

 

Chúng tôi chạy lên xuống gần nửa tiếng đồng hồ trên đường "Paradise" vẫn không có kết  quả. Sau cùng có một chiếc xe BMW ngừng lại khi thấy tôi ra dấu. Trên xe là một cặp sinh viên người Hoa mới từ trên núi xuống. Khi được hỏi họ mới cho biết là trên đường đến đây có ghé sang cái hotel tôi nói. Nó nằm sâu trong công viên nầy. Hồi sớm tôi chạy vào tìm nhưng đi chưa đến rồi vội ra. Sự thiếu kiên nhẫn và can đảm đã gây ra chuyện nầy.  Sau đó tôi cám ơn những người có lòng tốt trên đường rồi vọt nhanh về hướng hotel. Người trực ở office còn thức chờ tôi check-in mặc dù đã quá 9 giờ đêm. Cuối cùng tôi có giường để ngủ đêm đó giữa chốn hoang dại tuy không có cơm ăn tối. Nửa đêm lại thức đi ra sân sau chụp hình trăng sao. Trong lúc mơ màng tôi thấy bóng của một người...không biết là "bác tôi" hay một "Thiên sứ"? 

Hotel tôi ở gọi là "Inn" nhưng rất đơn sơ. Toàn bộ tuy có đèn điện nhưng "không" có TV, Internet, điện thoại trong phòng. Phòng tôi chọn one-Queen-bed khoảng

4 chiếu rưỡi Nhật "không" có nhà tắm và toilet. Muốn đi phải ra "hall way" dùng cái công cộng như ở "ryôkan" (旅館・lữ quán) của Nhật Bản. Hotel có restaurant để cho ta ăn sáng từ 7 giờ đến 8:30AM  và cơm chiều đến 7 giờ tối. Ngoài ra không có gift shop hay thứ gì cả. Đó là điểm làm cho tôi và nhiều du khách giống tôi chọn đến nơi nầy. Giá phòng từ 110 đến 150 đô một người không phải là rẻ. Cái "không"thành cái "có" đối với tôi rất là thú vị khi đi chơi xa một mình. 

Ngày hôm sau tôi thức sớm, ăn cơm sáng xong đi hiking gần nhà trọ. 

 

National Park Inn là 1 trong 2 lodges của công viên quốc gia Mt. Rainier. Nó nằm trong làng Longmire, một "Homestead" của gia đình Longmire xưa kia. Nơi đây có một viện bảo tàn, headquarter/văn phòng của công viên. Ông bà James Longmire đến khai khẩn đất nầy từ năm 1888,  lập ra ôn tuyền "Longmire's Medical Springs",  đến 1899 nó trở thành National Park (công viên quốc gia - c.v.q.g). Từ Ashford chạy đến đây ta đi ngang qua cánh rừng hoang nguyên thủy được mệnh danh là "con đường rừng đẹp nhất thế giới".   

Xung quanh Hotel có nhiều đường "hiking trail". Vào đây ta sẽ tìm thấy dấu tích của người tiền phong gần 2 thế kỷ trước. Vị trí nơi đây rất giống " "Oku Nikko" (奥日光 ) - NB, có nhiều ôn tuyền thiên nhiên, lấy ngón tay đào sẽ đụng mạch nước nóng. Còn ở độ cao dưới 700 mét nên cây cối rất xanh tươi. Trong rừng ẩm nên có nhiều rong rêu. Nếu lắng tai nghe ta sẽ biết nơi nào có rạch hay suối nước, con nai đang đạp lá vàng khô, chim steller's Jay, gray Jay bươi lá tìm hạt và trùng,  gấu đen đang nhơi trái "berry" (quả mọng). Đường trail có nhiều nấm và cứt dã thú. Đi rừng quen nên tôi cũng học nhớ nấm nào "hiền" cứt nào không "dữ". Coi vậy chớ có lúc giúp ta tránh được đói được nạn đó nhen. Hỏi mấy anh đi bộ đội ngày xưa thì biết liền... 

 

Vì là rừng hoang nguyên thủy nên mấy cây "cedar" và "Douglas Fir"  đều có "râu ông lão" do địa y tạo cho. Longmire có loài hoa dưới nước giống như "mizubashô" của vùng ẩm "Oze" (尾瀬) - NB. Nơi đây có cây cầu treo ngang con sông Nisqually trông rất lạ. Cầu nầy có trụ đòn-gánh (support tower) và kèo (truss) bằng gỗ địa phương. 

Sau hai tiếng hiking trong làng Longmire tôi lên xe chạy 12 miles đi về hướng Đông trên con đường duy nhất của "Park" gọi là "Paradise drive" dẫn đến "Paradise" - một trạm du lịch của c.v.q.g. Mt. Rainier. Trên đường có ghé ngang qua thác nước "Christine Falls" và "Narada Falls" chụp hình. Vùng nầy có nhiều mưa nên thác nước lúc nào cũng ướt át rất đẹp mắt.

 

 

Paradise có một văn phòng hướng dẫn du khách - Henry M. Jackson Memorial Visitor Center rất hoành tráng... và một "lodge" khác của c.v.q.g. là "Historical Paradise Inn". Hotel nầy nằm 1000 mét cao hơn cái National Park Inn, là nơi tôi định mướn nhưng họ chỉ mở cửa phục vụ cho đến ngày tôi đến đây (sau đó thì nghỉ cho đến mùa xuân).  

Paradise Inn xây năm 1917 do Frederick Heath  thiết kế  có lối kiến trúc rất lạ mắt, nhìn từ bên ngoài như một "A-framed building" và hơi nghiêng như tháp "Pisa" của Ý ngày nay. Vách ngoài và ngói dùng gỗ "Alaska Cedar" và gỗ rừng cháy địa phương nên sau khi bị phong hoá bỡi thời gian nó có màu xanh xám như bạc...Bên trong có cái bàn nặng 680 kg, cái đồng hồ "ông nội" (grandfather clock) cao 4 mét và cái đàn piano do thợ mộc người Đức Hans Fraehnke sáng chế. Tổng thống Harry S. Truman và Hoàng thái tử Norway đã có ngủ lại nơi nầy. 

Xưa kia lúc gia đình Longmire còn sống họ đến đây ngoạn cảnh. Con dâu Martha thấy cảnh đẹp vô cùng nên thốt lên: "Oh what a paradise..." (trời ơi...nào khác chi Thiên Đàng..). Tên nầy lưu lại đến ngày nay. 

 

 

giống như núi của A-phú-Hãn?

 

 

Mùa hè đến Paradise có nhiều hoa dại. Bãi hoa chạy dài đến chân mây...Đây đúng là tuyệt cảnh cho người cầm máy hình, họa sĩ và yêu thiên nhiên. Nhờ có được 16.3 met tuyết đổ vào mùa đông trên bãi hoa  "lupine" chen lẫn với "alpine poppy"(á phù dung), "tiger lily", "avalanche lily", "paintbrush", "aster", "daises", "cinquefoil", "fireweed", "purple shooting star" đủ màu tranh nhau đua nở. Người ta nói đây là bãi hoa dại đẹp nhất trần gian. 

Historical Paradise Inn 

Nhìn từ bãi đậu xe của Paradise trước mắt ta như là một bức tranh của Thiên đàng trên "big screen TV" - Nhưng đây không phải TV mấy bác ơi, nó là cảnh  thật... Núi Rainier  cao đến 4392 mét, cao nhất vùng Tây Bắc US. Trên đỉnh lúc nào cũng có tuyết phủ với khoảng 25 cái băng hà, là một núi lửa còn trẻ như núi Saint Helens (2250 m)  gần đó. Núi em nầy đã nổ bất ngờ năm 1980 gây rất nhiều thiệt hại ngay cả nhân mạng. Ngày 30 tháng 5 vừa qua một đoàn leo núi 6 người mất tích trên núi Rainier. Người ta đoán có thể họ bị tuyết chùi rồi chôn sống. Chuyện tương tự thường xảy ra mỗi năm.

 

Từ bãi đậu xe ta có thể lên núi Rainier trực tiếp. Nơi đây nằm ở độ cao 1647 mét, tức là khoảng hơn đầu gối một tí  khi nói đến thân con người. Muốn "thượng đỉnh" ta phải đi  thêm 20 km và leo lên cao thêm 2745 mét nữa. Thường chuyến đi khứ hồi nếu suôn sẻ cần 4-5 ngày, còn lỡ bị trời xấu thì có thể bị kẹt lại trên một tuần lễ. Trên đường có nhiều Crevasse (hố băng) và băng hà. 

 

Khi tôi bắt đầu bước lên bậc tam cấp bằng đá có lời chú của John Muir - "... the most luxuriant and the most extravagantly beautiful of all the alpine gardens I ever beheld in all my mountain-top wanderings" tôi gặp một đoàn leo núi tuổi chắc cũng bằng tôi. Họ rất niềm nở nên tôi chào rồi xin phép chụp tấm hình kỷ niệm vì thấy họ có đủ thứ đồ nghề lạ. Người đàn bà đẹp lão nhất trong đám liền vang tay ra làm dáng hợp tác. Sau đó họ bảo tôi ngồi gần hàng chú của Muir để chụp hình. Cô "Marilyn" cũng ngồi xuống kế bên tôi làm cho già khoái chí nhớ lại chuyến đi chơi Hạ Long gặp tiên trước đây. Sau đó chúng tôi chia tay và họ đi nhanh về hướng núi rồi biến mất trong mây. Tôi ngó theo tìm những người mới quen trong lòng nghĩ lân lân "con người của xứ nầy sao dễ mến quá....Chừng nào dân mình mới được như người ta....?". 

 

Đa số người thích leo núi đến Paradise là để  đến "camp Muir". Đây là "base camp" làm bàn đạp cho dân leo lên cao hơn. Nếu ta quay trở về thì không cần phải đóng  tiền và xin phép "đăng sơn".  Chuyến đi khứ hồi từ bãi đậu xe đến camp nầy là 15 km và lên 1474 m chiều cao, cần 6-7 tiếng đồng hồ cho kẻ khỏe chân. Trên đường không có trạm ăn, nước uống và cứu cấp, rác và chất thải phải tự mang về. 

Nói thế chớ c.v.q.g. còn có nhiều trail khác để cho người yếu chân thưởng thức cảnh đẹp. Trong đó có cái dẫn ta đến bãi tuyết hay chân của băng hà, những "vista" thực đáng gọl là "Thiên Đàng", bãi hoa dại mùa hè, không gian mở rộng nghìn trùng để ta nhìn núi khác đàng xa như núi Adam, núi St. Helens....  

Đường leo núi dưới camp Muir rất hoàn chỉnh, đa số có tráng đá sạn và cát rất bằng phẳng với một góc leo khá lài nên không làm cho tôi đau lưng và đầu gối lắm. Từ dưới lên hai bên đường bắt đầu với rừng cây lá kim như "Pacific silver fir", "Alaskan yellow cedar", "western white pine" và "noble fir". Cao hơn nữa sẽ là "subalpine fir", "mountain hemlock" ....có dáng ông cụ rất đẹp lão. Họ tiết ra mùi thơm "cedar oil" của núi rừng giúp cho ta thông phổi và làm sản khoái tâm hồn. Người nào có viêm mũi lên đây ở lâu có thể hết bệnh.

 

Qua khỏi đới "subalpine" cây to dần dần thưa đi rồi biến mất nhường chỗ cho bụi lùn, rau dại (herb). Mùa Thu "heather", "Sitka mountain ash" (giống như "nanakamado" của Nhật), "blueberry" và "huckleberry" sẽ nổi bật với màu đỏ hồng momiji" (紅葉・hồng diệp) của cây "kaede" (楓・phong) trong "meadow". "Huckleberry" mang nhiều quả mọng chín - là thức ăn dinh dưỡng cho loài "marmot", gấu, nai và "gà lôi núi" (2) mùa nầy.  

 

 

Bầu trời hôm đó quang đảng nên da trời trong xanh như nước biển. Ngày đi chơi được như thế nầy rất là may mắn. Tôi đi hiking các vùng đẹp trong c.v.q.g trong đó có hồ "Reflection" và hồ "Louise",  rừng cổ thụ trên 1000-tuổi "Ohanapecosh"  đến chiều rồi trở về bãi đậu xe chờ mặt trời lặn. Xung quanh đây không có thắp đèn và người đi chơi lần hồi ra về trong bóng tối... 

Buổi hoàng hôn gió bắt đầu dậy mang theo hơi nước từ dưới thung lũng lên tạo thành sương mù rồi mây. Trên cao núi đỏ ửng trong ánh tà dương xong khuất bóng. Hàng cây bên rìm thung lũng ẩn rồi hiện...những cây khô đứng trơ như bóng ma trơi. Tôi chờ cho đến khi trăng mọc. Đêm hôm đó có trăng rằm nên rất sáng và thật nên thơ. Ù....ô...uô....văng vẳng từ xa con Hồ-ly cất tiếng tru giữa đêm thâu. Tiếng gọi sao u-sầu ai-oán trong bóng tối như ai than khóc hay ai gọi hời... Rồi tôi nghe có tiếng rột rẹt ở một góc rừng hình như  con nai hay con gấu ra ăn. Ngó xung quanh chẳng còn ai ngoài chiếc xe camping hư bỏ hoang. Khi thấy cánh cửa xe mở rồi đóng theo nhịp gió núi như có ai đang rình ngó, trực giác của tôi bảo ..."thôi đã đến lúc trẫm phải hạ san!". 

 

Đường về Longmire tối đen chỉ có một mình tôi chạy với đèn "pha". Thỉnh thoảng phải thắng gắp trên đường để tránh con nai và con thỏ. Nhờ trời rồi cũng về tới nơi bình an. Cũng như đêm trước tôi về không kịp để ăn cơm tối trong restaurant. Nhưng không sao...hôm lên máy bay sang Oregon trong hành lý tôi có mang theo bịt bánh mì xẹp (flat bread) và gói cá "tuna" trong hộp plastic. Tuy không sang lắm nhưng cũng qua đêm được. Sáng mai thức sớm ăn nhiều sẽ gỡ sức lại chớ có sao? Đêm đó tôi ngủ thật đã và nằm mơ thấy má nó nấu phở bò "kobe" chờ tôi về ăn. Ở đời chỉ có một vợ một chồng nên khi đi xa hay nhớ vậy thôi..... 

Naruhodo! 

Mùa Thu - 2014

(xem toàn tập ảnh xin click vào đây)

 

----

(1)  Mizubashô/水芭蕉 - có hoa trắng nõn với lá to như chuối (bashô) nở vào mùa tuyết tan, bên Mỹ gọi là "Asian skunk  cabbage").

(2) Gà gô trắng - "rock ptarmigan", bên Nhật gọi là "雷鳥" (raichô) 

 

 

 

 

 

 

 

® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về