Đi thăm Québec và Québec

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)

Trung tuần tháng 6 vừa qua nhân dịp có bạn Vơ Văn Thành từ Nhật sang thăm nên tôi đă làm một chuyến "Gia dzu" với bạn hiền sang xứ "Nă Đại". Sau khi đón Thành ở nhà bạn NXH - New Jersey, gần New York City chúng tôi hướng về phía Bắc qua intersate highway I-87, đi ngang Albany - NY rồi vào Montréal - Québec.

(ảnh nầy mượn từ internet)

Au Québec (Trong tỉnh Québec)

"La Province de Québec" là một tỉnh (bang, 準州) lớn nằm ở miền Đông của xứ Gia Nă Đại - đây là một vùng "francophone" (nói và dùng tiếng Pháp hàng ngày). "Québec" là từ mượn từ tiếng Algonquin (thổ dân) "Kébec", có nghĩa là "nơi con sông hẹp lại". Tỉnh Québec có 4 thành phố lớn, trong đó nổi tiếng là Montréal, Québec (ville) và Gatineau. La ville de Québec là thủ đô của tỉnh trên. Dân vùng Québec được gọi là "Québécois" .

Trong tiếng Pháp, người ta có cách nói khác nhau để phân biệt giữa Thành phố Québec (à Québec và de Québec) và tỉnh bang Québec (au Québec và du Québec).

Lúc đến Québec Province nhờ có gia đ́nh bạn N.V.Minh Châu ở Montreal thương cho trú ngụ "tada" (free!) chúng tôi không cần phải lấy Hotel "ngàn sao" (campground), buổi tối lại được bạn học cùng năm là anh Đậu chị Lan tiếp cho ăn nhà hàng Việt và Tàu 2 bữa thật ngon miệng, tuổi già nầy như được hồi xuân lại sau 2 ngày lái xe gần 1500 cây số!.

Trong tỉnh Québec ngoài việc thăm bạn bè, chúng tôi tranh thủ đi viếng một công viên quốc gia là La Mauricie, thành phố Québec và chạy xe đạp trong công viên Gatineau, gần Ottawa.

Parc national de La Mauricie (công viên quốc gia La Mauricie)

Parc national nằm phía Bắc TP Trois Rivières trên highway Đông Tây 40, giữa Montréal và Québec city. Được bao vây bỡi con sông Saint-Maurice xanh biếc phía Đông Bắc, cộng thêm 2-30 cái hồ lớn nhỏ La Mauricie rất lư tưởng cho môn thể thao gần nước như câu cá, chèo thuyền Canoe và kayak.

Công viên quốc gia nầy có nhiều rừng cây nguyên thuỷ cả kim và quảng diệp, dă thú như "moose", gấu đen, rái cá, chó sói, thêm vào là chim đẹp như con "Loon" (chim lặn gavia). Đường trail La Tourbière có cả lan rừng (wild orchids), hoa săn thit (carnivorous plants) và bướm lạ.

Vơ Văn Thành và Huỳnh Văn Ba

 

              

Trước khi đi cấm trại ở nơi đây bạn tôi có nhắc là coi chừng gấu, v́ gần đây có một cô con gái Canada bị gấu cắn chết. Đêm đó chúng tôi đốt lửa trại để làm nản chí thú dữ rồi ngủ say mê đến sáng dù rằng cái lều bị con chồn xạ "skunk" đến quấy nhiễu nhiều lần.

Sáng ngày hôm sau sau khi ghé hồ Soumire để t́m ông "moose" ra ăn cỏ, chúng tôi vội vă chạy về TP Québec cách đó khoảng 1.5 tiếng lái xe.

 

À Québec (Thành phố Québec)

"La ville de Québec" là tỉnh lỵ hay thủ đô của "province Québec". Người ta cũng gọi nó là cố đô ((La vieille Capitale). Trong Vieux-Québec c̣n nhiều di tích lịch sử mấy trăm năm xưa.

 

(ảnh nầy mượn từ internet)

Cố đô được bao vi bởi một bức thành, đây là một "jōkamachi" (城下町) duy nhất ở Bắc Mỹ được Samuel de Champlain dựng lên vào năm 1608. Năm 1985 thành nầy được UNESCO chọn làm di sản văn hóa thế giới (là sister city với Huế).

Trong thành có một "citadelle" (pháo đài) kiên cố do nhà thám hiểm Jacques Cartier xây năm 1538 để chống và pḥng sự tấn công của thổ dân. Citadelle nầy ngó xuống ḍng sông Saint-Laurent, đă từng cống hiến vào sự bảo vệ của Québec trong nhiều cuộc chiến tranh giữa Pháp, Anh và người da đỏ.

Sau khi gửi xe xong dưới hầm của "citadelle" ngó ngang Hotel Hilton, chúng tôi lên mặt đường đi tản bộ ngang ṭa nhà quốc hội của tỉnh, rồi đến văn pḥng hướng dẫn du khách gần đó. Nơi đây có một cô "mademoiselle" rất dễ thương nói tiếng Anh giọng Pháp. Cô ta cho bản đồ rồi giải thích thêm gần 15 phút rất tận t́nh về địa lư vùng nầy. Bạn tôi v́ bị bỏ đói từ chiều ngày hôm trước lúc đi cấm trại, thúc tôi đi nhanh ra khỏi pḥng để t́m quán ăn.

 

 

 

Con đường bên góc bureau d'information tourisque gần đó có nhiều restaurants sang trọng, mùa hè họ bày ra ngoài đường như thấy trong h́nh của khu "Quartier Latin", Paris theo sự tưởng tượng của tôi. Ước ǵ tôi có dịp trở về nơi đây lúc tuyết rơi, hay vào thu mùa lá đỏ để mắt ḿnh rượt theo những chiếc là vàng rơi...Rồi t́m quán nào đó có bán xâu "yakitori" (thịt gà nướng) - hay "marinated greek chicken kabob" cũng "đặng"- để nhâm nhi với chén "sake" và nhớ lại những ngày đă qua của đời người....

Quán chúng tôi ghé có bàn ăn bắt ngoài trời. Người dẫn khách c̣n rất trẻ và dễ thương, cô có làn da mịn trắng như tuyết, mặc chiếc áo gấm chinois rất elegant. Chúng tôi kêu món gà tây với salad. Sau khi ăn xong tôi bảo Thành là "cho cô bé "pourboires" nhiều để có tiền ăn học nghe bạn". Lúc chúng tôi đứng lên người đàn bà cao tuổi cúi chào cám ơn rất lễ phép. Th́ ra tiền thưởng đều vào tay "Obaasan" (lăo bà). Tiếc thay tiếc thay cho cô bé. Gomen nasai (xin lỗi)!.

 

Đường vào "vieux Québec" phải đi ngang cổng lớn "La Porte St-Jean", nơi đây ngựa xe tấp nập. Hai bên đường có trồng nhiều hoa đẹp, nhưng tôi thích nhất là hoa "lupin" (một loài hoa đậu) v́ có hương thơm và thu hút loài bướm "karner blue"(Lycaeides melissa samuelis) rất hiếm.

Trong nội thành có rất nhiều "monuments" và "statues". Đường phố lên xuống nhiều dốc cao như Đà Lạt hay San Francisco. Đường Saint Anne và Saint Louis có nhiều boutiques, quán ăn, quán souvenir và "bars".

Trái tim của "vieux Québec" phải là "Fairmont Le Château Frontenac" - đây là một khách sạn do kiến trúc sư Mỹ Bruce Price thiết kế, trong đó có một lâu đài do William Sutherland Maxwell design và xây cho hảng hỏa xa "Canadian Pacific Railway" vào cuối thế kỷ thứ XIX để phục vụ cho ngành du lịch. Nằm sát bên pháo đài cổ, cái château nầy nh́n xuống ḍng sông Saint Laurent lăng mạng, bên bờ sông có một cái terrace dài khoảng 1 km cho du khách đi bộ và ngắm cảnh. Năm 1943, tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và thủ tướng Anh Winston Churchill gặp nhau trong Hotel để thảo luận về chiến lược cho thế chiến thứ II. Năm 1986 tôi và bà xă cùng 2 đứa con đứng trên Terrace chụp h́nh!

ca sĩ ca tiếng Pháp trên terrace

 

Vào mùa có nhiều du khách đến viếng như Xuân và Hè, ta thường nghe một vài ca sĩ ca tiếng Pháp trên terrace của Château Frontenac, trong đó có những bài chansons hay làm cho tôi nhớ lại tuổi thanh niên thời 1960' như "sous le ciel de paris". Qua tiếng ca tôi có cảm tưởng như người "Québécois" c̣n lưu luyến với giấc mơ một thời của nước Pháp mới -"novelle France" sau bao nhiêu năm vinh-nhục tranh giành bá quyền với nước Đại Anh....

Nói chung TP Québec rất đẹp, sạch sẽ, thơ mộng và nhiều di tích văn hóa lịch sử. Tôi không thấy rác rưới hay kẻ ăn xin trên phố. Có chăng là những học sinh nam nữ mặc đồng phục như hướng đạo làm người chỉ đường cho du khách phương xa, họ ăn nói rất lễ phép nhă nhặn – c̣n cảnh sát công an th́ khó kiếm. Xứ ǵ kỳ cục...không biết họ có ngủ yên về đêm không ḱa?

Vélo à Gatineau (chạy xe đạp trong công viên Gatineau)

Sau khi đi thăm tỉnh và TP Québec chúng tôi lái xe 450 km về Ottawa, Ontario. Một ngày trước đó anh Lê Tiến Cường từ Toronto lên gặp chúng tôi ở Montréal, v́ thế chuyến đi về miền Tây có thêm một ông Tây ba-lô "Ka-na-điên" quá giang trên xe.

Trong Ottawa chúng tôi được bạn học cùng năm là anh Huy cho tá túc và anh chị em cựu du học sinh Nhật trước 75 đăi cho ăn một bữa cơm tối rất thịnh soạn.

Chị Diên vợ anh Huy đi vacantion vắng lúc chúng tôi đến, v́ thế Huy cho phép chúng tôi phá nhà thả cửa. Huy, Thành, Cường và tôi sang Nhật cùng lúc, sau 45 năm gặp lại anh em vui đùa như thuở c̣n trẻ - nhưng sự thật chúng tôi đâu có già, mới trên 60 gần 70 thôi mà! Đêm đến có thêm 2 vợ chồng cô Trinh đến dự và tṛ chuyện măi gần đến 2-3 giờ sáng. Vui ơi là vui, bây giờ nhớ lại mới biết là thời gian qua mau...

Ngày hôm sau tôi và Thành thức sớm. Khi đi từ Ohio, tôi có mang theo 2 chiếc xe đạp. Đây là đồ chơi ưng ư nhất của tôi ngoài máy ảnh. Chúng tôi chở xe đạp qua TP Gatineau của tỉnh Québec, đối ngạn với Ottawa tỉnh Ontario qua con sông lớn. Vùng nầy thường được gọi là "Hull", ngoại ô có một công viên với nhiều đường chạy xe đạp, rất nhiều người đến đây để giải trí và chơi thể thao ngoài trời như câu cá, camping, tắm hồ, kayaking và cycling.

Các anh Lê Tiến Cường, ?, Thành, Huy

Đường parkway trong công viên có giới hạn vận tốc cho xe hơi, v́ thế tôi cảm thấy rất an toàn trên yên ngựa. Chúng tôi bỏ xe hơi ở băi đậu của visitor center gần Chelsea rồi hướng về King Mountain, Champlain Outlook, một cao điểm 344 m. Dọc theo đường có vài cái hồ rất đẹp, hai đứa chúng tôi ghé vào nơi picnic của hồ Fortune để ăn trưa và hồ Meech để cho bạn Thành tắm biển nước "ngọt".

 

Trong công viên nầy từ tháng 5/20 đến tháng 9/2, mỗi chúa nhật sẽ là ngày "Les vélos Dimanches" (Sunday Bikedays), nhiều đoạn đường không cho xe hơi vào, chỉ dành riêng cho người đi hay chạy bộ, in-line skaters và xe đạp đến chơi. Nó làm cho tôi nhớ đến những ngày "hokosha tengyoku"(歩行者天国) của Harajuku hay Ginza ngày xưa.

Đi chơi đây đó trong công viên hay ngoài thành phố ta thường thấy vài biểu ngữ rất là hợp mắt hợp t́nh:

"Pour moi, la nature est notre plus beau patrimoine"
(đối với tôi thiên nhiên là gia tài quí báo đẹp nhất của chúng ta).

hay

"Tant à protéger. Tant à découvrir"
(cần được bạn bảo vệ, để cho bạn đến khám phá).

Trên trời nắng chang chang. Ôi cỏ cây xứ Quebec sao mà xanh mát quá.... Nghĩ đến quê ḿnh tôi chợt đổ mồ hôi. Bây giờ bên đó chắc c̣n nóng lăm?!

Naruhodo! (aka. nhàn sĩ Huỳnh văn Ba)

(viết xong trong mùa Tour de France 2012)

xem thêm ảnh xin click vào links sau:

1. Quebec:

https://picasaweb.google.com/ohiobhuynh/Quebec?feat=email# 

2. Mini-reunion:

https://picasaweb.google.com/ohiobhuynh/Mini_reunionNYCanadaOhio?feat=email# 

3. biking & camping:

https://picasaweb.google.com/ohiobhuynh/BikingCampingInQuebec?feat=email# 

4. Niagara falls:

https://picasaweb.google.com/ohiobhuynh/NiagaraFalls?feat=email# 

 

 

a/c Montreal- hàng ngồi : Ba, chị Lan/a. Đậu,Thành,
Hàng đứng: Ngọc, Châu/Phượng(c.Châu), Dung, Trí/c.Trí, Thụy, Hạnh (Ngọc)

 

a/c Ottawa - Hàng ngồ i: Huy, Ba, Trinh, Lan(Vũ), Thư(Thiệu), Mỹ Hoa(Hải)
Hàng đứng : a.Đăn(Trinh), H.Hải, Thanh, Thành, Am, Vũ,T hiệu, Cường

 

/c Toronto - a/c Mai-Khuôn, Thành, Ba, Pha, Vân, Cường, Nhiều

 

a/c Columbus(Ohio): Ba, Khanh, Thành, Quang, Vân (Khanh), Hiroko (Ba)

 

 

 

 

また会いましょう

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về