Đi du lịch vườn quốc gia "Rocky Mountain National Park"

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)

(click vào đây xem toàn tâp photo album)

Thiếu tiểu ly gia lăo đại hồi
Hương âm vô cải phát mao thôi
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn lăo tùng hà xứ lai
Lăo tùng hà xứ lai*

Khi nói đến tiểu bang Colorado ta không thể không nhắc đến Rocky Mountain National Park - đây là một vườn quốc gia được thành lập gần 100 năm trươc (1915), đứng thứ 10 theo thứ tự thời gian của Hoa Kỳ. Chỉ cách Denver khoảng 2 tiếng lái xe, v́ thế nơi đây có hàng triệu du khách đến viếng mỗi năm, chẳng khác ǵ Yosemite National Park của California.

Tôi đến đây buổi sáng từ Goergetown, một làng nhỏ trên đường Intersate 70, sau khi qua đêm trên đường về từ Durango(1) và Black Canyon of the Gunnison n.p.(2). Đường từ Black Canyon về đây chạy qua Rt 50-East, xong hướng về Bắc bằng Rt. 285 dẫn ta vào I-70. Xa lộ toàn là đi qua vùng sơn cước, rất nhiều núi cao hơn 14,000 ft hay 4000 met. Những nơi nỗi tiếng dọc đường phải kể đến Aspen (vùng chơi skii) và Vail. Có đến đây ta mới thấy được sự giàu có của nước Mỹ, tầm mức hưởng thụ thượng đẳng của họ chỉ có dân ở Chamonix-Mont Blanc, Meribel (Pháp), Zermatt (Thụy Sĩ), Turino (Ư ) hay Kaprun (Áo) may ra mới so sánh kịp.

Rocky Mountain (R.M.) National Park có 2 lối vào cửa: Estes Park phía Đông và Grank Lake phia Tây, liên kết với nhau qua đường Trail Ridge Road chạy trên sống lưng núi cao ở vị thế trên 11,000 ft, tối đa là 12,183 ft (tương đương với độ cao của núi Phú sĩ). Không cần phải nói thêm đây là con đường trên "Thiên đàng" của Mỹ quốc, từ trên nh́n xuống cả thế gian đều nằm trước mắt của người đến viếng. Sau khi vào trong công viên sự di chuyển đến các điểm ngoạn mục đều có xe "shuttle bus" miễn phí phục vụ. Nó làm cho tôi nhớ đến c.v. Yosemite(3).

Trước khi vào đến Estes Park, trên đường số 7 ta đi ngang qua hồ "Lily", xong là giáo đường "Saint Malo Center" nằm bên phải. Giáo đường nầy xây bằng đá gơnai có ghi mấy chữ Tây ban nha trông rất thơ mộng. Hầu như khách vô park đều ghé qua đây để viếng và cầu xin chút ơn lành. Bước vào trong không có người gác, ông cha hay bà phước. Mọi sự đều phó thác vào ḷng tin và đạo đức của công dân hay khách viếng. Bàn thờ rất uy nghiêm, không khí trong sạch và thanh tịnh. Tôi rất thích những tấm kính stained glass h́nh đức mẹ, tượng chúa Jesus, những băng ghế gỗ oak (sồi) để ngồi cầu nguyện. Tôn giáo theo tôi rất cần cho con người - Nó an ủi, kèm hăm dục vọng, hướng dẫn và thử thách ḷng tin. Một đất nước không có tôn giáo chỉ là một hang chó sói, cấu xé lường gạt lẫn nhau, rồi cuối cùng không ai t́m được hạnh phúc chân chính ở đời....

 

 

 

Vườn quốc gia R.M. có đến 5 cái Visitor Center. Phía trong có bán souvernirs và cho information về park. Một phần ba của vườn nầy nằm trên "treeline"- tức là nơi cây cối không sống được nữa. Đến nơi đây ta có thể bị bịnh thiếu dưỡng khí v́ cao độ của địa thế. Alpine Visitor Center nằm rất gần nơi cao nhất (12,182 ft) của Trail Ridge Road. Trong park không có quán ăn. Muốn ăn ngon ta nên ghé vào quán dọc đường trong làng (Estes Park) trước hay sau khi vào. Hôm đó tôi ghé "Sundeck Restaurant" nơi đây có món cá "rainbow trout" thật tươi và ngon miệng. Cá rainbow trout thường chỉ sống ở nước ngọt trong sạch không ô nhiễm như vùng có suối nước do tuyết tan.

Thung lũng của vườn quốc gia nầy có nhiều băi cỏ xanh mướt với nhiều hoa dại. Trên đới "alpine" có tuyết phủ mây văng nửa chừng. Mùa hè trên núi mát mẻ, tuy nhiên buổi chiều hay có sấm sét . Nắng nhạt chiều Thu chắc phải rất là ảo huyền!.

Để xem được cảnh đẹp ta phải đi "hiking" - có nơi cách bến đậu xe khoảng 15-20 phút, có nơi đến 2-3 tiếng đồng hồ. V́ thế mang giày "hiking boots" là việc cần thiết cho chuyến đi chơi lư thú và an toàn.

Nơi tôi chọn đi lần nầy là đường trail vào "Bear lake" v́ đó là nơi xuống xe "shuttle bus" cuối cùng trong park nầy. Nơi đây có một hồ nước phẳng lặng. Xung quanh hồ là rừng cây "spruce"(vân sam) xanh tươi làm cho mặt hồ trở thành tấm kính phản chiếu bóng núi đàng xa. Nó gợi lại h́nh ảnh của hồ "Taisho" (大正池) và Myojin (明神池) trên miền Kamikochi (上高地) - Nagano (長野) tôi có dịp đi qua lúc trước khi có "vợ". Nơi đó có một cây cầu tên là "Kappa" (河童橋)(4) treo ngang con sông "Azusa" (梓川) rất thơ mộng. Trên tảng đá bên đầu cầu có ảnh tạc đồng của giáo sĩ Weston. Rocky Mountain N.P. nào có khác ǵ một địa đàng vùng cao của Nhật Bản? - Nó làm cho tôi tưởng như là trở về nơi xưa nhưng không c̣n gặp ai quen biết! *

Tiếp tục đi sâu trên trail nầy ta sẽ leo lên cao hơn nữa, dọc đường có vài cái thác nước, con rạch nhỏ, rồi đến "Dream Lake"(hồ Mơ), sau đó là "Emerald lake"(hồ ngọc lục bảo). Trong hồ nầy có loài rong mọc dưới nước như cói hay lác. Nước rất trong nên cá lội cũng thấy. Thật ra nơi đi chơi trong R.M. c̣n rất nhiều, đường hiking có đến vài trăm dậm, đi một hai tuần chưa hết.

 

Ngược xuôi trên đường hiking trail tôi gặp rất nhiều người trẻ, trong đó thỉnh thoảng có anh chị mang theo dụng cụ leo vách đá (rock climbing). Nh́n xung quanh ta đều thấy "da đá" lởm chởm, quả nhiên rất lư tưởng cho môn thể thao nầy. Xưa kia tôi có đi leo núi nhiều lân trên miền Nagano (長野) và Yamanashi (山梨) của NB. Nơi đó có dăy núi "Arupusu" (アルプス・Alps) do giáo sĩ Walter Weston (English, 1861-1940) đặt tên và giới thiệu với thế giới. Phải chi Weston đến Rocky Mountains trước khi sang Nhật, chắc ông sẽ đặt tên vùng đó là Japanese Rocky Mountains, thay ǵ Japanese Alps!

 

 

Hè trong Rocky Mountains ta có sự diệu mát của thảo mộc, không nóng cháy như trên Colorado Plateau phía Tây (Utah). Nơi đây có nhiều dă thú, nhất là chim đẹp. Ngày tôi đến con chim "Steller's jay" (xanh) và "gray jay" (sám) bay quanh quẩn bên tôi cả ngày, có lẽ muốn xin chút mồi. Chim "gray Jay" miền núi rất dạn dĩ, chẳng những không sợ người, đôi lúc bay xung-kích như F15 thẳng vào mặt ḿnh, làm cho tôi phải né tránh. Nếu chim nầy bay sang xứ ta chắc sẽ thành chim "rô ti" rất sớm....

 

Sau một tuần lễ đi chơi lang thang như một "hobo"(5) trong mấy công viên quốc gia miền Tây Hoa Kỳ, gót chân và vai đă bắt đầu nhức nhói. Tôi cảm thấy thấm thía với thời gian trôi qua và nhớ đến người bạn đời ở Ohio. Bên bờ hồ "Emerald" có cụm hoa tím đang nở sau cơn mưa chiều. Trong khi vừa luyến tiếc lại vừa măn nguyện v́ đă thực hiện được chuyến "hành hương" về với Thiên Nhiên, tôi chợt nhớ đến cái cảm khái của tiền nhân Matsuo Basho trong cuộc hành tŕnh về "Nozarashi":

"大津に至る道、山路を超えて"
"山路に来て何やらゆかしすみれ草''

Có đến national parks hay vườn quốc gia của Mỹ một lần ta mới thấy được cái đẹp và cái ḷng yêu nước của xứ nầy. Hầu hết vườn quốc gia được "National Park Service" bảo quản. Họ có ngân khoảng mỗi năm do quốc hội cho phép để vận hành độc lập. Mục đích của cơ quan nầy là bảo vệ duy tŕ cái đẹp thiên nhiên của đất nước để cho con cháu đời sau đến viếng. Thiên nhiên không được cải tạo hay sửa đổi. Theo John Muir(6) "con người không thể nào làm cho thiên nhiên tốt hơn", thường là con người đem đến sự phá hoại hay hủy diệt. Vườn quốc gia là "Thánh đường" để mọi người đến chiêm ngưỡng, Không phải là câu lạc bộ cho kẻ giàu sang đặc quyền, hay mơ tiền để khai thác. Có nghĩ như thế tôi ước rằng Việt Nam ta sẽ có nhiều vườn quốc gia như Mỹ, hay it nhất như Nhật Bản.V́ nghĩ đi nghĩ lại đất nước ta "cũng" có rất nhiều anh hùng, người yêu nước. Nơi có cảnh đẹp, cây cỏ và dă thú lạ như vùng Tây Nguyên và Việt Bắc. Văn hóa con người rất đặc thù. Cộng thêm di tích ngh́n xưa của thời dựng nước cần được bảo vệ ǵn giữ để con cháu đời sau có dịp nh́n thấy. Có thế t́nh yêu thương quê hương đất nước mới phát triển trường tồn trong ḷng thế hệ mai sau…..

Naruhodo! (aka Huỳnh văn Ba)

(click vào đây xem toàn tâp photo album)

*少小離家老大迴, 鄉音無改鬢毛摧。 兒童相見不相識, 笑問老(客)從何處來? 老從何處來? (Rời nhà từ lúc trẻ, nay già mới quay về - Giọng quê không đổi, nhưng tóc đă phai -Trẻ con có gặp nhưng chẳng ai biết ta - Cười hỏi: Ông ở đâu đến? Ông ở đâu đến?) - là phần đầu bài thơ "Vô khứ lai từ" của Thích Nhất Hạnh" dẫn mượn từ bài “Hồi hương ngẫu thư” (回鄉偶書) của Hạ Tri Chương (賀知章, 659–744).

(1) xem thêm "Tuyến đường hỏa xa Durango - Silverton và chuyến đi về dĩ văng"

(2) xem "Đi thăm Black Canyon of the Gunnison"

(3) xem "Yosemite" và http://www.erct.com/2-ThoVan/HVanBa/Yosemite.htm 

(4) "kappa" (河童・hà đồng) có nghĩ là "hà bá" - con quái vật trong truyền thuyết Á Đông

(5) "Hobo" là một từ trong Anh ngữ Mỹ để chỉ người công nhân vô gia cư vào thập niên cuối của thế kỷ 19. Họ thường trốn trên những học xe lửa, lang thang từ nơi nầy đến nơi khác để t́m việc. Tiếng Nhật cũng dùng từ "hobo" tuy rằng ngày xưa họ có từ "dekasegi" - dùng để chỉ những người lao động từ miền Tohoku ta thường gặp ở nhà ga Ueno trong mùa Đông sau khi hết việc đồng án. "Hobo" đă được lăng mạn hóa trong nhiều tiểu thuyết, phim ảnh cũng như ca khúc của Mỹ và Nhật.

(6) xem "John Muir"

 

 

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về