Đi xem chim trong sở thú Columbus (1)

Huỳnh Văn Ba - Exryu USA  (*)

Cuối tuần qua nhờ có trời đẹp nên tôi bỏ nửa ngày để đi rong chơi trong sở thú Columbus. V́ là đầu Xuân nên không khí rất mát mẻ trong lành, đi cả nửa ngày chẳng thấy chán.

Xem toàn tập h́nh

Nói đến sở thú Columbus người ta phải nhớ đến John Bushnell "Jack" Hanna với nickname là "Jungle Jack"- ông là một giám đốc của sở nầy (1978-1993) và được người ta biết đến v́ có lên nhiều chương tŕnh TV shows thường xuyên trong những năm 80-90 về thú vật và đường rừng. Ta có thể so ông với Steve Irwin - nickname là "Crocodile Hunter" của xứ Úc. Sở thú Columbus cũng là nơi "Colo" baby gorilla chào đời lần đầu tiên trên thế giới trong hoàn cảnh nhân tạo (December 22, 1956) rồi sống lâu nhất trong loài dă nhân. 

Jungle Jack

Về đại cương sở thú Columbus có thể được chia ra thành 5 khu chính đó là: (1) Khu Châu Phi với thú lớn như sư tử, voi, tê giác, gorilla,v.v., (2) khu Châu Á với cọp, gấu, trăng, đười ươi, khỉ đột,v.v., (3) Khu Châu Mỹ với chó sói, gấu Grizzly, wolverine, v.v., (4) Khu Châu Úc với Kangaroo, koala bear, v.v. và (5) khu Thủy Sinh Hải Học hay "Aquarium" cho cá biển và san hô. Xen giữa những khu trên là những khu triển lăm "exhibitions" đặc biệt như nhà chim, băi c̣ cho chim "hồng hạc" – flamingo, nhà cho rắn và sâu bọ.

Tập ảnh nầy tôi xin dành cho gia đ́nh họ "Điểu" để nhớ mùa Xuân.

Mùa Xuân là mùa đi di trú (annual migration) cho nhiều loài chim. Họ bay hàng ngàn cây số, thường phải vượt sang nhiều quốc gia và nhiều đại lục như giữa Châu Âu và Châu Phi, Nam Mỹ và Bắc Mỹ, Tây Bá Lợi Á và Đại Dương Châu để kiếm ăn và t́m bạn đời lập tổ ấm. Ngày nay khi thấy chim chúng ta nên nhớ rằng "họ" là "người quốc tế" đi di trú khắp nơi như ta. Đừng bắt chim mà ăn nghe v́ ḿnh không bao giờ nuôi họ và đang ở nhờ vào quê hương của tổ tiên họ khám phá ra hàng ngàn năm trước ví dụ như Trường Sa và Tây Sa...

Chim trời  ngày nay thỉnh thoảng có mang ṿng số mă (band hay ring) dưới chân. Đây là những con chim đă được đăng kư qua hiệp định quốc tế, trong đó có những con chim mang theo GPS tracking device để cho ta theo dơi khi họ bay từ Argentina đến Canada, từ Ấn Độ sang Nhật Bản chẳng hạn. Thỉnh thoảng ta thấy có những con chim lạ mang cái "ba lô" (radio transmitter) trên lưng - Đó là Sứ giả của Ḥa B́nh xin các bạn nhớ vơ tay chào họ nhé…

Vài cái mẹo nhỏ để phân biệt chim

Chim cũng như người - có nhiều h́nh dạng và chức năng khác nhau. Ta có thể đoán loại chim qua cái bóng "silhouette" của họ. Dễ nhất là con "quạ ô" v́ cái mỏ của nó đă kể hết mọi chuyện của con chim "nhiều chuyện" nầy. Mỏ chim là một trong những điểm quan trọng cho các nhà "Điểu học" (ornithologist) dùng để phân loại chim - Nó giống như "Hair styles" (đầu tóc) của người Nhật giữa thời Edo nói lên chức năng của ḿnh: It is "A matter of life or death!".

Cái mỏ con quạ là mỏ tổng quát - thứ ǵ cũng ăn được. Mỏ con chim "chickadee" và chim "warbler" là mỏ để ăn sâu. Mỏ chim sẻ là để ăn hạt như lúa, bông cỏ. Mỏ con két (vẹt) dùng để cắn hạt rắn như walnut. Mỏ con hồng hạt là dùng để lọc lựa mấy con tép rong và algae. Mỏ con pelican (bồ nông) dùng để chài cá và mỏ con chim ưng dùng để xé thịt. Con hammingbird có  mỏ dùng để hút mật hoa trong khi con kênh kênh có cái mỏ to dùng để quét dọn (scavenging) những xác chết c̣n lại. Tôi phục nhất là con chim gơ kiến v́ nó có cái mỏ cứng như thép dùng đục lỗ trên cây để t́m sâu và giấu hạt của ḿnh. Nếu ai muốn đào mỏ  th́ phải mướn con chim nầy!

Ngoài đặc điểm trên chim c̣n được nhớ qua tiếng hót của ḿnh. Ở Việt Nam ta "xưa kia" có loài Sơn ca hót rất hay. Vùng Bắc Mỹ th́ có nhiều loài "Xướng điểu" (唱鳥) (songbirds) như chim "Robin" (một loại sáo) áo cam, Cardinal "áo đỏ", "Junco" áo xám, "cockoo" áo rằn ri (con cu -nó giống như bồ câu,  xin đừng hiểu lầm!), Nuthatch áo lam, warbler áo vàng.

Blue-bird-of-paradise (from internet)

Nhưng trên đời nầy không có nơi nào có con chim vừa đẹp vừa ca hay như loài chim của vùng Cực Lạc (bird of paradise) - New Guinea và chim Superb Lyrebird của Úc Châu. Theo chổ tôi nghĩ con chim "Blue-bird-of-Paradise" c̣n đẹp và ca hay hơn cả Ư Lan cơ (xin lỗi người đẹp nhé!). C̣n con chim Lyre của Úc th́ khỏi nói. Nó nhớ đến mấy chục thứ tiếng ca của chim khác, trong đó có cả tiếng người ta đang nói trong máy radio, tiếng c̣i alarm xe hơi, tiếng cưa máy (chainsaw) nữa thật là "ghê"(2). Khi nghe chim nầy tŕnh diễn tôi nhớ đến quái kiệt Trần Văn Trạch của Miền Nam ḿnh xưa kia. Nhưng nếu nghiên cứu sâu một tí th́ ta sẽ biết rằng - khác với loài người, trong giới điểu và thú vật, phái "Đẹp" phải là "Nam". Nếu không đẹp th́ các nàng sẽ không để ư đâu. V́ thế loài công (peacock) và gà lôi "Pheasant" có bộ "Cẩm Bào" (錦袍) nào có khác ǵ vua chúa xưa kia đâu? - Naruhodo!

Xin click vào 2 links dưới đây để xem phim chim Lyre của Úc qua Youtube:

http://www.youtube.com/watch?v=i8REVxZgkOs&feature=related

http://www.youtube.com/watch?v=VjE0Kdfos4Y&feature=fvw

(1)        Click vào link dưới đây xem tâp h́nh về chim:

http://picasaweb.google.com/ohiobhuynh/BirdsAnimals?authkey=Gv1sRgCP3W84P1rcDZxgE&feat=email#

(2)        "ghê" : 芸・nghệ - người Nhật đọc là "gei", nghĩa là tài năng

 

 

 

* Anh Huỳnh Văn Ba (67, Meisei - Tokyokyouikudai - Todai) không những là một nhiếp ảnh gia trong gia đ́nh Exryu, anh Ba c̣n là vận động viên về leo núi, xe đạp và nuôi bonsai. Anh Ba và anh Vơ Văn Thành (68, Nodai) đă từng dùng xem đạp đi khắp nước Nhật và xuyên lục địa Hoa Kỳ. Qua những lần đi này anh Ba đă có nhiều tác phẩm h́nh ảnh khắp nơi. Anh H.V. Ba hiện đang làm việc và sinh sống tại Ohio.

Cảm tưởng xin gởi về