Từ Nụ đến Hoa

( From Novice to Master)

Thiền sư Soko Morinaga
Dịch giả:
Ngọc Bảo 

Nguồn : Trang nhà Quảng Đức -
Đăng lại với sự đồng ư của dịch giả : Chị Ngọc Bảo - Exryu USA

 

 

 

Mục Lục

Lời người dịch

Lời mở đầu

Vài nét về tác giả

Phần một: SA DI

Viễn tượng cái chết
Không có ǵ chắc chắn
Cuộc gặp gỡ trong bước đường cùng
Không có ǵ là rác cả
Chỉ c̣n biết lau chùi 
Lời răn dạy của Khổng Tử
Việc phải lo
Không thể làm được
Giữa thầy và tṛ
Chuyện của nó và tôi
Ba loại đệ tử
Cho tiền mai táng
Ư nghĩa của sự can đảm
Tôi đang làm ǵ ở đây?
Niềm tin vạn năng

Phần hai: TU LUYỆN
Tâm bất động
Biết đến cái ngu của ḿnh
Đời sống hàng ngày trong thiền viện
Không bao giờ hết tu

Phần ba: THIỀN SƯ
Điều ǵ đây? 
Thượng đế ở ngay đây 
Cái chết có bí hiểm không?
Tâm như thủy
Cái chết của ông tôi
Pháp Vô Lậu
Chết trong khi đang sống
Buông thả trong cái chết
Mạng sống Phật

 

 

 

 

Lời người dịch

Thiền sư Soko Morinaga sinh năm 1925. Sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng, xuất gia năm 1948 với thiền sư Thụy Nham Tông Thạc (1879 – 1965) thuộc thiền phái Bạch Ẩn Huệ Hạc tông Lâm Tế. Từ 1949 đến 1963 Sư tu tập ở chùa Đại Đức và được Sư huynh là thiền sư Sesso Ota ấn chứng. Sư giảng pháp, viết sách báo, đồng thời là Viện trưởng Đại Học của ḍng Lâm Tế là Hanazono ở Kyoto. Thường cộng tác với Hội Phật Giáo Luân Đôn, Sư đến Anh quốc du hóa hằng năm để giảng dạy khóa tu mùa hạ do nhiều tông phái Phật Giáo bảo trợ. Sư viên tịch năm 1995.

Những ǵ chúng ta học được từ người xưa và cả người nay dĩ nhiên không phải trên những danh xưng, tiếng tăm hay bài giảng thơ văn để lại cho đời, mà chính ngay nơi những bước chân của người, như trong tự truyện này, đang đạp trên khắp nẻo đường đời từ chập chững non nớt như chồi nụ đến chững chạc như hoa nở ngát hương.

Như Sư đă viết, đây không hẳn là cuộc đời riêng của Sư, mà hiện đang xảy ra cho mọi người ở khắp nơi. Đúng hơn đó là bài toán bức thiết của mỗi chúng ta.

Thuần Bạch

 

Lời mở đầu

Cách đây ít lâu tôi có đến thuyết giảng tại một trường đại học. Thuyết tŕnh viên trước tôi nói khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ, quá giờ quy định. Khoảng thời gian nghỉ ngơi giữa hai buổi diễn thuyết của chúng tôi bị thu hẹp lại, và tôi bị gọi lên bục giảng ngay sau đó. Để tỏ sự quan tâm đến những thính giả, tôi mở đầu bằng câu hỏi: “Quư vị đă có th́ giờ đi tiểu hết chưa?”

Cử tọa rơ ràng là bị bất ngờ trước câu hỏi của tôi. Lại càng ngạc nhiên hơn nữa, khi họ thấy người đang đứng trước mặt họ, nói về chuyện tiểu tiện, lại là một vị sư. Mọi người cười ầm lên.

Bắt đầu như vậy rồi, tôi lại tiếp tục lái vào tiêu điểm. “Tiểu tiện không phải là một việc người khác làm dùm bạn được. Chỉ có ḿnh mới tiểu cho chính ḿnh được thôi.” Câu này thật sự đă phá vỡ khoảng cách, và họ cười c̣n tận t́nh hơn nữa.

Nhưng thực sự ta phải thấy rằng, “chỉ có ḿnh mới đi tiểu cho chính ḿnh được thôi, không ai khác có thể làm thế được”, là một nhận định hoàn toàn nghiêm túc.

Thời xa xưa bên Tầu, có một vị tăng nhập chúng tu nhiều năm trong thiền viện của thiền sư Đại Huệ, nhưng mặc dù đă hết sức tinh tấn, ông vẫn không giác ngộ được. Một hôm thầy ra lệnh cho ông đem một lá thư đến một nơi xa xôi thuộc vùng Trường Sa. Chuyến đi này, vừa đi vừa về, có thể mất đến nửa năm như chơi. Vị tăng nghĩ: “Tôi làm ǵ có th́ giờ  ở thiền viện này tu tập măi măi được! Ai mà rảnh rỗi đi làm một công việc như thế này!” Tăng bèn hỏi ư kiến của sư huynh về vấn đề này.

Sư huynh bật cười khi nghe vị tăng nói đến vấn đề nan giải này. “Dù có đang đi du hành đệ cũng vẫn thiền được cơ mà! Thôi được rồi, ta sẽ đi cùng với đệ.”, ông đề nghị như vậy, và thế là hai người bắt đầu ra đi trong cuộc hành tŕnh.

Một hôm, khi họ đang đi trên đường, sư đệ bỗng bật lên khóc. “Em đă tu bao nhiêu năm nay rồi, mà tới giờ vẫn chưa thấy đạt được ǵ cả. Rồi bây giờ, lang thang đi khắp nơi như thế này, làm sao mà em giác ngộ được chứ,” ông than thở.

Nghe vậy, sư huynh vận dụng hết sức lực để nói một cách thật mạnh bạo phũ phàng như tát nước: “Ta sẽ làm tất cả những ǵ có thể làm được cho đệ trong chuyến đi này,” “Nhưng có năm điều mà ta không thể làm được thế cho đệ. Đó là:

Ta không thể mặc quần áo thế cho đệ được. Ta không thể ăn thế cho đệ được. Ta không thể đại tiện cho đệ được. Ta không thể tiểu tiện cho đệ được. Và ta không thể vác đệ lên vai mà sống cuộc đời của đệ thế cho đệ được.”

Khi nghe những câu nói này, vị sư đệ bỗng bừng tỉnh ra khỏi cơn  mê và được đại ngộ.

Tôi hi vọng rằng, khi đọc những lời này, bạn sẽ nhận ra rằng những ǵ tôi nói ở đây không phải chỉ là về tôi hay về những điều xẩy ra ở đâu đâu. Không phải như thế,  những điều tôi nói đây chính là những vấn đề khẩn thiết của các bạn .

 

Phần một: SA DI

Viễn tượng cái chết

Nếu tôi có thể tóm tắt lại bốn mươi năm cuộc đời của tôi, kể từ khi bắt đầu xuất gia, tôi phải nói rằng đó là một sự tiếp diễn không ngừng những cái ngu dại. Khi nói về sự ngu dại của ḿnh, tôi không có ư nói đến một cái ǵ sẵn có từ cha sanh mẹ đẻ, mà phần lớn về những ấn tượng hư dối mà tôi đă huân tập, hết lớp này qua lớp khác, trong trí tưởng tượng của tôi.

Bất cứ lúc nào đi du hành qua ngoại quốc để thuyết giảng, bao giờ tôi cũng được yêu cầu phải nhắm vào một vấn đề chủ yếu: Ngộ (satori trong tiếng Nhật) là ǵ, thế nào là giác ngộ? Cái gọi là Ngộ này, tuy thế, là một trạng thái mà người ta chỉ có thể hiểu được qua chứng nghiệm. Nó không thể được đem ra giải thích hay nắm bắt chỉ bằng ngôn ngữ thuần túy.

Tỷ dụ, có một câu ngạn ngữ rằng, “Khi nào có con mới biết được ḷng của cha mẹ.” Dù bậc cha mẹ có cố gắng diễn đạt tâm tư của cha mẹ đối với con đến thế nào, đứa con ấy cũng không thể nào hiểu được hoàn toàn. Chỉ khi chính đứa con ấy trở thành cha mẹ, nó mới hiểu được đầy đủ tấm ḷng của mẹ cha. Sự thông hiểu ấy có thể ví như giác ngộ vậy, tuy rằng giác ngộ là một cái ǵ sâu xa hơn nhiều.

Bởi v́ không có ngôn ngữ nào có thể diễn đạt được kinh nghiệm  giác ngộ, ở đậy tôi sẽ chỉ bàn tới những điều cốt yếu cho sự giác ngộ, những điều cốt yếu của sự tu tập Thiền.

Tu tập Thiền không phải là vấn đề nhớ nằm ḷng những lời lẽ kỳ diệu trong kinh sách hay ngữ lục của các vị tổ thời xưa. Thực sự ra, những lời lẽ này được xử dụng như một phương tiện để phá vỡ những ấn tượng sai lầm trong trí tưởng tượng của con người. Mục đích của sự tu tập không phải để làm tăng thêm kiến thức, mà để cạo bỏ những lớp vẩy che lấp mắt, để vứt ra ngoài những mũ chụp che tai.

Qua sự tu tập, người ta có thể thấy được sự thực. Và tuy nói rằng không có một thứ thuốc nào có thể chữa được chứng bệnh khờ dại, điều làm cho người ta nhận ra được rằng “tôi đúng là một kẻ khờ dại” thực ra lại chính là phương thuốc ấy.

Cũng có câu nói rằng “thuốc đắng giă tật”, và buồn thay, thứ thuốc làm cho người ta nhận ra được sự ngu dại của ḿnh chắc chắn là rất cay đắng. Nhận thức ra được cái ngu của ḿnh thường hay đi kèm với những thử thách và rồi phải trả giá, bằng những trắc trở và buồn rầu. Tôi đă trải qua một nửa đời người bị vật vă với những hậu quả cay đắng của phương thuốc này.

Tôi sinh ra ở thành phố Uozu, thuộc quận Toyama. Trong lúc Thế Chiến Thứ Hai đang sôi sục, tôi đang học chuyên ngành văn chương, dưới chế độ giáo dục cũ của Nhật, tại trường trung học Toyama. Các học sinh trung học, theo luật, được chính thức hoăn dịch cho đến khi tốt nghiệp xong đại học. Nhưng khi chiến tranh leo thang, có lệnh ban xuống rằng những học sinh nào học về văn chương sẽ phải đi ra chiến trường. Người ta thường giả dụ rằng những sinh viên khoa học sẽ tiếp tục những môn học về y khoa hay khoa học và như vậy sẽ cung cấp được những nhiệm vụ hậu cần trong chiến tranh, trong khi những sinh viên văn khoa th́ chỉ đọc sách, đấu khẩu, và thường hay kích động tinh thần quốc gia.

Dù sao, những học sinh văn khoa, bị đối đăi như không phải là những học sinh, đă phải qua kỳ khám sức khỏe để nhập ngũ vào lứa tuổi hai mươi và rồi bị đẩy vào quân đội, không có ngoại lệ. Đă vậy,  tuổi quân dịch lại bị hạ thêm một tuổi nữa, và dường như v́ nhu cầu nóng bỏng, tôi với tuổi mười chín đă bị lôi vào quân đội một cách phũ phàng.

Chúng ta ai cũng biết rằng sớm hay muộn ǵ, ḿnh sẽ chết. Cái chết có thể đến ngay ngày mai, hay có thể đến hai mươi năm, ba mươi năm nữa. Chỉ v́ không biết cái chết sẽ chờ đợi ta lúc nào trên con đường dài sắp tới, ta mới có được một chút an b́nh nơi tâm, mới  có thể tiếp tục đời sống b́nh thường. Nhưng với tôi, sau khi đă qua kỳ khám sức khỏe và chờ đợi lệnh nhập ngũ đến bất cứ lúc nào, cái chết bỗng nhiên hiện ra thật bất ngờ trước mắt. Tôi có cảm tưởng như ḿnh đang di động qua một khoảng trống không, ngày này qua ngày khác. Thức hay ngủ, tôi đều vẽ ra trong trí óc những cách chết khác nhau sẽ đến với tôi trong chiến trường. Nhưng dù đang ở trong một cơn lốc mù mịt của những ư tưởng về cái chết, tôi vẫn không có th́ giờ để t́m hiểu vấn đề một cách triết lư hay t́m những phương tiện tu tập tôn giáo nào.

Những người đi vào quân đội thời ấy cắm đầu nhào đến phía trước, hăng say tin tưởng rằng đây là một cuộc chiến công bằng, một cuộc chiến thật quan trọng để họ có thể hi sinh mạng sống không một chút luyến tiếc. Từ trong tinh thần ấy, chúng tôi được trang bị với một biện giải tạm bợ cho viễn ảnh cái chết trước mắt của ḿnh hay ít nhất đó cũng là trường hợp của tôi.

Giữa những con người, có những kẻ chuyên bóc lột và những kẻ chuyên bị bóc lột. Điều đó cũng áp dụng cho sự liên hệ giữa các quốc gia và các chủng tộc. Trong suốt lịch sử, những quốc gia phát triển về kinh tế đă thống trị những nước kém phát triển hơn. Cuối cùng th́ bây giờ, Nhật Bản đă vươn lên được và thoát ra khỏi những xiềng xích của sự bóc lột đó! V́ thế, đây là một cuộc chiến tranh chánh đáng, một cuộc chiến có ư nghĩa! Làm sao chúng tôi có thể tiếc rẻ cái mạng sống nhỏ nhoi của ḿnh cho quốc gia, dù cho mạng sống đó có bị nghiền  ra thành từng mảnh đi nữa? Kiểu lư luận hồ đồ này đă cho phép chúng tôi đóng chặt lại tâm trí của ḿnh.

Và thế là những học sinh chúng tôi đi lên phi cơ, vũ trang chỉ với một cái chết chắc chắn và nhiên liệu cho một chuyến đi không về, để một vài quyển sách triết lư đắc ư nhất hay một cuốn kinh Tịnh Độ bên cạnh tay lái, những quyển sách chắc chắn sẽ không được đọc tới. Có nhiều người đă lao vào tầu chiến của địch, cũng có nhiều người đă ngă xuống trong ngọn sóng biển cao ngất hay máy bay bị bắn rơi trước khi thi hành được nhiệm vụ.

Thế rồi, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện. Cuộc chiến tranh mà tất cả chúng tôi đă tưởng như là công chính, cuộc chiến mà chúng tôi sẵn sàng vui vẻ hi sinh mạng sống của ḿnh, bỗng phút chốc, chỉ trong một đêm, trở thành một cuộc chiến xâm lược, một cuộc chiến ác độc và những kẻ chịu trách nhiệm cho cuộc chiến đó phải bị xử tử.

Không có ǵ chắc chắn

Dù ǵ đi nữa, tôi cũng đă trở về sống sót từ quân ngũ. Qua làn sóng ngắn phát thanh của cái radio, một thứ cực kỳ hiếm hoi vào thời bấy giờ, tôi lắng nghe số phận của những vị lănh đạo Đức Quốc Xă đă đầu hàng chỉ trước Nhật có một bước. Khi nghe câu phán quyết được đọc to lên của ṭa án Quốc tế Nuremberg rằng, “Xử tử bằng cách treo cổ”, chỉ một chữ  -- treo cổ -- đă đập mạnh vào tai tôi khiến tôi vẫn c̣n nghe được âm hưởng của nó. Và rồi (có lẽ qua chính sách của Quân đội Mỹ đang chiếm đóng?) một cuốn phim tài liệu được chiếu lên. Tôi xem cuốn phim này ở một nơi hiện thời là một cửa hàng bách hóa, trên lầu năm của một ṭa nhà đổ nát đă tránh được không bị tiêu hủy trong khu phố chính đầy vết tích chiến tranh tàn phá của Toyama.

Có một cảnh, một vị tướng lănh người Đức bị lôi lên đoạn đầu đài và rồi bị treo cổ trước một đám đông tụ tập tại quảng trường. Trong một cảnh khác, vị lănh đạo Ư Mussolini bị đám đông đập chết và rồi treo ngược lên trên hàng rào giây thép gai cạnh xác người yêu của ông. Cuốn phim tiếp tục với cảnh những xác người bị kéo lê trên đường phố trong khi đám đông kêu gào chửi rủa và ném đá lên họ.

Trong những bộ đồng phục quân đội bị phế bỏ , tôi và những bạn học lần lượt  trở về trường. Chúng tôi trở về, những thanh niên đă mất hết niềm tin và đầy khắc khoải với câu hỏi về thế nào là trái và phải. Tuy rằng trên nguyên tắc lớp học đă bắt đầu lại, nhưng thực tế không ai học hành ǵ cả. Nếu có một vị giáo sư nào bước vào lớp, sách vở trong tay, ông ta sẽ được yêu cầu ngồi vào một bên trong khi những thành viên của quân đội trở về thay nhau lên nói trên diễn đàn.

“Dù may mắn hay không, chúng ta cũng đă trở về nhà, và chúng ta đă đi học lại được. Nhưng điều chúng ta nghĩ là “phải” chỉ trong phút chốc đă biến thành “trái”. Chúng ta có thể c̣n sống bốn mươi, năm mươi năm nữa, nhưng có thể nào chúng ta c̣n tin tưởng được điều ǵ nữa không…thế nào là một điều “phải”, một điều “trái” mà không bị thay đổi, biến hóa đi? Nếu chúng ta không giải quyết được vấn đề này, dù có học nhiều đến đâu cũng sẽ không giúp chúng ta tin tưởng vào cái ǵ được nữa. Sao, các bạn nghĩ thế nào?”

Cứ như thế, ngày này qua ngày khác.

Trong những ngày đó, chúng tôi có một vị giáo sư triết lư tên là Tasuku Hara, sau này trở thành giáo sư khoa triết của trường Đại Học Tokyo. Oâng là một giáo sư thật xuất sắc, và tôi thường luyến tiếc cho ông đă chết thật trẻ. Một ngày nọ, vị giáo sư Hara này, mà chúng tôi thường coi như một người anh, đă đứng lên và nhất định yêu cầu cho ông được lên tiếng.

Khi lên diễn đàn, ông nói với chúng tôi, “Kant, một triết gia người Đức mà tôi đă nghiên cứu, có nói rằng: Những con người chúng ta có thể suy nghĩ cả đời về ư nghĩa của “thiện” và “ác”; nhưng chúng ta sẽ không bao giờ nghĩ ra được. Điều duy nhất mà người ta có thể làm được là dùng một cái thước để đo thiện và ác mà thôi.”

“Hăy nghĩ như thế này,” ông tiếp tục, “nếu chúng ta dùng thước đo của người Nhật, cuộc chiến này là một cuộc thánh chiến, trong khi với tiêu chuẩn của người Mỹ, đó là một cuộc chiến tranh xâm lược. V́ thế công việc của chúng ta trong đời không phải là dán nhăn lên cái này là thiện, cái kia là ác, nhưng là t́m kiếm một tiêu chuẩn nào có thể áp dụng được ở bất cứ nơi nào trên thế giới này. Nhưng cái tiêu chuẩn đo lường này không phải là cái ǵ có thể bắt gặp được chỉ trong một ngày. Mỗi người trong các anh phải vượt qua thời gian và không gian để t́m một tiêu chuẩn có ư nghĩa được đối với càng nhiều người càng tốt. Và để làm được điều này, tôi đề nghị, trước hết là các anh hăy tiếp tục học chương tŕnh trung học của các anh đi.”

Sau khi nghe lời khuyên đầy trung thực và thiện chí này, chúng tôi học trở lại. Tuy nhiên, chúng tôi cũng vẫn tiếp tục những cuộc thảo luận đầy tính cách lư thuyết. Và, riêng tôi, vẫn c̣n bị bế tắc trong câu hỏi về thiện và ác này; vấn đề này đă nằm sâu ở trong tiềm thức của tôi.

Tôi nghĩ, thật ra đây là một vấn đề nan giải của thời cuộc Nhật Bản, không chỉ thường thấy trong giới thanh niên như chúng tôi, mà c̣n với những vị trung niên và lăo niên. Chúng tôi đă không c̣n biết được thế nào là đạo đức b́nh thường. Tôi tin rằng Nhật Bản đă rơi vào một t́nh trạng trong đó người ta không c̣n biết đem tiêu chuẩn nào để noi theo, kể cả trong việc nuôi dạy con cái.

Không những thế, trong cuộc đời riêng tư của tôi lại có những thay đổi lớn lao. Đầu tiên là, năm trước khi chiến tranh chấm dứt, tôi mất cả cha lẫn mẹ cùng một lúc: trong khi mẹ tôi đang hấp hối, cha tôi bị đứt mạch máu năo và mất ngay sáng hôm sau, ngày 24 tháng 8, trong cơn mê man mà không một lần tỉnh dậy.

Tôi có ba người chị lớn, nhưng tất cả đều đă lập gia đ́nh và ở xa. Họ sống ở Moji,  Thượng Hải, và Măn Châu. Trong t́nh trạng di chuyển bất tiện của thời ấy, không một chị nào của tôi có thể về dự đám tang. Tôi trở thành người duy nhất c̣n lại trong gia đ́nh, phải lo việc ma chay, và tôi đă hoàn tất mọi việc trong hai ngày với sự giúp đỡ của họ hàng thân thuộc. Thế rồi, trước khi tôi có thể sắp xếp được ǵ, lệnh nhập ngũ tới và tôi phải ra đi vào quân đội.

Trở về nhà sau chiến tranh, tôi phải đương đầu với hai vấn đề một lúc, vấn đề bất động sản và thuế đất. Gia tộc tôi từ lâu đời vốn là những địa chủ, và số đất ít ỏi mà chúng tôi có hiện giờ đang được cho thuê mướn lại. Cha tôi luôn luôn dạy tôi là, “Không có ǵ bền vững hơn là đất. Dù cho có bị hỏa tai, đất cũng không cháy được. Dù cho có bị lụt lội, đất cũng không trôi mất. Nếu có kẻ trộm vào, nó cũng không đem đất đi đâu được. Dù con có làm ǵ khác trong đời, cũng không nên để mất miếng đất này.”

Nhưng rồi, sự việc đă xẩy ra là, mặc dù tôi không làm ǵ cả, mảnh đất của gia đ́nh tôi đă bị tịch thu trong chương tŕnh cải cách đầy tham lam của chính phủ. Bây giờ, cả đất cũng mất đi, tôi c̣n ǵ để tin tưởng vào nữa? Tất cả những điều tôi cho là chắc chắn trước đây đă trở thành không c̣n chắc chắn nữa.

Cuộc chiến tranh tôi cho là thánh thiện đă trở thành một cuộc chiến xấu xa. Tôi không nghĩ là cha mẹ tôi sẽ chết đi đột ngột như vậy, nhưng rồi họ đă ra đi, người nọ theo người kia ngay sau đó. Số tiền bảo hiểm mà cha tôi đă để riêng ra để pḥng hờ cho các con trong trường hợp có điều bất trắc xẩy ra cho ông đă bị phong tỏa lại, và không một xu nào được đưa cho tôi cả. Và miếng đất  vốn dĩ đă làm nền tảng cho gia đ́nh xưa nay bỗng chốc bị mất đi.

Đồng thời trong lúc đó, vật giá lên cao liên tục. Cái mua với giá một yen ngày hôm nay  tăng vọt lên thành mười yen hôm sau, và trước khi người ta kịp biết, phải cần đến tờ giấy bạc 100 mới mua được! Trong thời đó, thực tế là không hề có chuyện đi làm bán thời gian đối với các sinh viên học sinh. Do đó, tôi không có một chút kinh nghiệm ǵ trong việc đem hai bàn tay trắng ra đi làm nuôi thân. Ngoài vấn đề tiêu chuẩn đạo đức, c̣n có câu hỏi nan giải trước mắt là làm sao tôi có tiền để sinh sống được đây.

Nh́n lại những ngày ấy, tôi nhận ra rằng nếu lúc ấy tôi có gia nhập một đám băng đảng nào đó cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên. Và cũng không có ǵ lạ nếu tôi có nhẩy vào đường rầy xe lửa mà tự tử.  Mỗi buổi sáng tôi thức dậy cảm thấy thật thống khổ, mỗi một ngày qua đi trong sự vô vọng.  Đêm đến tôi thiếp ngủ đi tinh thần xuống dốc hơn lúc nào hết, để rồi sáng hôm sau thức dậy càng cảm thấy đen tối hơn.

Cái ṿng lẩn quẩn ác nghiệt này tiếp tục ngày này qua ngày khác, nhưng rồi tôi vẫn tốt nghiệp được trung học. Tuy nhiên, v́ không có một chút ư định nào muốn ghi tên vào một trường đại học hay học một ngành ǵ cả,  tôi chỉ vất vưởng qua ngày một cách lười biếng. Rồi, giữa lúc tinh thần đang đau khổ cao độ như thế, một ngày kia tôi nhận ra rằng: từ xưa tới giờ, tôi chẳng làm ǵ cả ngoài việc chỉ biết đọc sách, thâu thập kiến thức và xoay quanh những lư thuyết. Lư do khiến tôi không biết phải làm ǵ với tôi hiện nay, hóa ra là, tôi chưa từng biết xử dụng thân ḿnh một cách có kỷ luật bao giờ cả.

 

Cuộc gặp gỡ trong bước đường cùng

Thế rồi, sự kết hợp kỳ bí của những nhân duyên nào đó đă khiến tôi lê bước đến gơ cửa nơi các thiền viện. Tôi vẫn c̣n cảm thấy thật biết ơn, là sau khi đến viếng thăm vài ba ngôi chùa, tôi đă được giới thiệu đến chùa Daishuin ở Kyoto, mà ngày nay tôi vẫn c̣n ở, dưới sự hướng dẫn của Đại Sư Zuigan Goto. Đại sư Zuigan trước đây đă trụ tŕ chùa Myoshin-ji (Diệu Tâm Tự) và lúc bấy giờ đang trụ tŕ chùa Daitoku-ji (Đại Đức Tự), là một con người vĩ đại vô cùng.

Tôi xuất hiện nơi ngưỡng cửa của Đại sư,  mái tóc để dài bết lại, rối bời, một cái khăn vắt vẻo nơi bụng, chân đi đôi guốc gỗ nặng nề . Câu đầu tiên con người vĩ đại này nói với tôi là:”Tại sao anh đến đây?”

Để trả lời, tôi nói lan man trong một tiếng rưỡi đồng hồ, kể lể hoàn cảnh của tôi từ trước tới giờ và t́nh trạng hiện nay ra sao. Đại sư im lặng lắng nghe, không tỏ vẻ muốn nói chen vào một tiếng nào.

Sau khi tôi đă nói xong, ngài nói: “Nghe anh nói từ nẫy giờ, tôi có thể thấy được rằng anh đă tới t́nh trạng không c̣n tin tưởng được ở điều ǵ nữa. Nhưng trong việc học đạo, không thể nào làm được ǵ nếu không tin tuởng nơi người thầy của ḿnh. Anh có tin được tôi không?

Nếu anh tin được, tôi sẽ nhận anh ngay bây giờ, ngay trong t́nh trạng này. Nhưng nếu anh không thể tin tưởng được tôi, th́ anh có ở đây cũng chỉ phí th́ giờ, và tốt hơn là anh nên trở về chốn cũ của ḿnh.”

Zuigan đại sư, ngay từ đầu, đă khẳng định một cách kiên quyết về điều luật phải tin tưởng hết ḷng nơi thầy của ḿnh, nhưng tôi lúc đó chưa có đủ hiểu biết để có thể nói một cách sẵn sàng và thành thực rằng: “Dạ được!”

Đại sư lúc đó đă bẩy mươi tuổi, và tôi tự nhủ thầm. “Ông già lẩm cẩm! Ông ấy là ḥa thượng trụ tŕ chùa Diệu Tâm hay chùa Đại Đức th́ đă sao. Thiếu ǵ “nhân vật quan trọng” trên đời này cũng chẳng ra cái ǵ. Nếu tin tưởng dễ dàng, không điều kiện như vậy được một người tôi mới chỉ gập lần đầu, th́ tôi đă tin được vào một cái ǵ trước khi tôi đến đây rồi! Chẳng phải là tôi đến đây chỉ v́ tôi không thể nào tin tưởng dễ dàng được cái ǵ sao?”

Tất cả những ư tưởng kia chạy băng ngang qua trí óc tôi, nhưng ngay từ đầu tôi đă biết là nếu tôi nói  ra, tôi sẽ bị trả lời thẳng thừng là: “Nếu vậy th́ anh đến đây chỉ mất th́ giờ vô ích. Hăy trở về đi.”

Tôi tự nghĩ, dù cho tôi có nói láo, nhưng miễn là tôi có nói những lời ấy ra, vị thầy sẽ cho tôi được ở lại, nên bèn nói: “Con tin tưởng nơi thầy. Xin thầy hoan hỉ nhận con.”

Lúc ấy, tôi không hề biết chút ǵ về sức nặng của chữ  “Con tin tưởng”, nhưng đó là một bài học mà tôi được dạy ngay sau đó, trước khi hết ngày.

 

Không có ǵ  là rác

“Hăy đi theo ta,” đại sư ra lệnh, và ngài giao cho tôi công việc đầu tiên, đó là quét dọn vườn. Đi cùng với lăo sư bẩy mươi tuổi ra ngoài vườn, tôi bắt đầu làm việc quét dọn với một cây chổi tre. Những vườn thiền trong khuôn viên các chùa thường được bố trí cẩn thận với những loại cây cho lá rụng quanh năm. Không những mùa thu những cây phong lá rụng đầy, mùa xuân đến những cây sồi và cây khuynh diệp cũng thay lá luôn. Khi tôi vừa đến đó vào tháng tư, mảnh vườn đă rải rác đầy lá rụng khắp nơi.

Con người (hay có lẽ là tâm tôi th́ đúng hơn) thật sự ra rất là xấu tính. Tôi đứng đây, trong tâm đang rủa thầm “ông già lẩm cẩm” này và chống lại ngay cả cái ư tưởng là có thể tin tưởng dễ dàng được một điều ǵ như vậy; nhưng cùng lúc đó, tôi lại muốn ông già này chú ư tới tôi, nên tôi cầm chổi lên  quét lia quét lịa. Chẳng mấy chốc tôi đă vun đám lá rụng thành một đống lớn. Hăng say tỏ ra vẻ chăm chỉ, tôi hỏi: “Đại sư, con vứt đống rác này đi đâu?”

Lời nói vừa mới ra khỏi miệng tôi, ông đă mắng ngay:

“Không có rác ǵ hết!”

“Không có rác à.. thế sao, thầy xem cái đống này,” tôi gắng chỉ cho ông thấy đống lá trước mặt.

“Vậy là mi không tin ta hả! Có phải không?”

“Không phải thế.. nhưng.. con phải vứt mấy cái lá này đi đâu bây giờ?” Tôi chỉ c̣n biết nói như vậy.

“Mấy cái lá ấy không vứt đi đâu cả!” Ông lại gầm lên.

“Vậy con phải làm ǵ?” Tôi hỏi.

“Đi ra nhà kho đàng kia lấy cho ta cái túi đựng than”, thầy ra lệnh.

Khi tôi trở lại, thầy đang cắm cúi cào cái núi lá kia, sàng cho những lá nhẹ lên trên mặt, và đất cát, sỏi đá nặng hơn cho rơi xuống dưới. Sau đó ông bắt đầu nhồi lá vào trong cái túi tôi đem ra từ nhà kho, lấy chân dậm cho chúng xẹp xuống. Sau khi đă nhét chặt tới chiếc lá cuối cùng vào trong túi rồi, ông nói: “Đem cái này ra nhà kho. Ḿnh sẽ dùng nó để đun nước tắm.”

Trong lúc đi ra nhà kho, tôi thầm công nhận rằng cái túi lá tôi đang mang trên vai này có lẽ chẳng phải là rác; tôi cũng nhủ thầm rằng cái đống c̣n lại  ngoài vườn kia rơ ràng chỉ là rác, và không có ǵ khác hơn là rác cả. Nhưng khi trở lại, tôi thấy Thầy đang ngồi xổm trên cái đống  c̣n lại, lượm ra từng viên đá. Sau khi Thầy đă cẩn thận nhặt lên viên đá cuối cùng, ông nói: “Lấy mấy đá sỏi này ra trải ở dưới ống máng nước mưa.”

Khi tôi trải những viên đá trộn lẫn với sỏi đă có sẵn ở đó, và lấp đầy những chỗ bị xoáy bởi nước mưa, tôi nhận thấy những lỗ này không những được lấp đầy, mà trông c̣n đẹp hẳn lên. Tôi lại phải công nhận rằng những viên đá này cũng không xếp loại là rác được. Nhưng chưa hết: vẫn c̣n những miếng đất, những mảnh rêu sót lại từ cái đống hồi nẫy. Ai có thể làm ǵ được với  những thứ đó, tôi tự hỏi.

Tôi thấy Thầy đang lúi húi nhặt những miếng này lên và để chúng vào trong ḷng bàn tay, từng cái một. Ông đảo mắt t́m kiếm những cái khe, những chỗ lơm trên mặt đất, rồi trám chúng vào đó và  đập chân lên cho bằng. Rốt cuộc, chẳng c̣n lại một chút ǵ từ đống lá hồi nẫy cả.        

“Sao?” ông hỏi. “Mi có hiểu hơn được một chút nào chưa? Từ nguyên thủy, dù là người hay vật, chẳng có cái ǵ là rác cả.”

Đấy là bài pháp đầu tiên mà tôi được nghe từ Đại sư Zuigan. Tuy bài pháp đó có gây cho tôi một ấn tượng, nhưng tiếc thay, tôi không có đủ trí tuệ để đạt ngộ khi nghe những lời lẽ đó.

“Từ nguyên thủy, dù là người hay vật, không có cái ǵ là rác cả.” Những lời lẽ này chỉ thẳng tới chân lư căn bản của Đạo Phật, một chân lư tôi chưa thể nhận ra được trong những ngày tháng đó.

“Kỳ diệu thay! Mọi chúng sanh vốn là đều là Phật, đều có sẵn trí huệ và đức hạnh nơi ḿnh. Chỉ v́ chấp chặt nơi những vọng tưởng sai lầm mà chúng sanh mới không thể nhận ra điều đó được.” Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă thốt lên điều đó trong giây phút ngài được giác ngộ. Nói một cách khác, mọi chúng sanh nguyên thủy vốn đă toàn hảo, nhưng bởi v́ bám víu vào những khái niệm si mê, nên họ không thể nhận thức được Phật tánh có sẵn nơi ḿnh.

Trong giây phút chớp nhoáng, màn sương che phủ trước mắt ngài tan biến đi, và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă thấy được chân lư hiện tiền. “Từ đó tới giờ, ta đă nghĩ rằng tất cả chúng sanh trong thế giới này chỉ sống trong sự đau khổ và khốn cùng, trong những bất hạnh sâu xa. Nhưng thực ra, chẳng phải là tất cả mọi chúng sanh, ngay nơi hiện thân của họ, đều đang sống trong tánh Phật, đều đang có sẵn sự toàn hảo tuyệt đối đó sao? Và chẳng phải là điều này không chỉ áp dụng cho những người đang khỏe mạnh an vui nơi thân và tâm, mà c̣n với những kẻ mù ḷa, những kẻ tật nguyền không có tay chân, phải kéo lê thân xác ḿnh một cách khó khăn đó sao? Chẳng phải là mỗi người trong chúng ta, ngay trong trạng thái hiện tại của ḿnh, đều là một thực thể toàn hảo, không khiếm khuyết đó sao?” Ḷng đầy cảm kích và kinh ngạc, Đức Phật đă thốt lên như vậy trong giây phút giác ngộ của ngài.

Mỗi năm, tôi đều đi Hokkaido để thuyết giảng, và có một năm, sau khi nghe tôi nói chuyện, một thiếu phụ xin đến gặp tôi. Thiếu phụ này, vốn là người rất sùng mộ đạo Thiên chúa, đă nói như sau: “Nghe thầy nói chuyện hôm nay, con thấy rằng tất cả những điều Đạo Phật muốn khuyên người ta làm chỉ là buông bỏ hết đi những dục vọng. Trong khi đó, đạo Thiên Chúa nói rằng: “Hăy hỏi xin, ngươi sẽ được cho. Hăy t́m kiếm, ngươi sẽ được thấy. Hăy gơ cửa, cửa sẽ mở ra cho ngươi. Những lời dạy đó đáp ứng được những kỳ vọng của giới thanh niên trẻ tuổi như con đây. Thầy nghĩ sao về vấn đề này?”

Tôi trả lời cô ta bằng một câu hỏi khác. “ Nói như thế có nghĩa là không cần biết cô gơ cửa như thế nào, t́m kiếm ra sao, cô cũng sẽ được ban bố,  cũng sẽ được mở cửa ư? Chẳng phải là trừ khi người ta t́m kiếm và gơ cửa cách nào để có thể cảm ứng được với Tâm của Thượng đế, cửa mới mở ra được, và điều ước nguyện mới được ban cho sao?”

Tôi đă nghe nói đến câu nói của đạo Thiên chúa rằng: “Ta làm ra con đường của ḿnh, nhưng Chúa sẽ định hướng những bước đi trên đó.” Một cách tóm tắt, ta có quyền ước muốn và lựa chọn, t́m kiếm tha hồ, nhưng Thượng đế mới định đoạt những nguyện vọng của ta có thể thành tựu được hay không.

Cũng vậy, Đạo Phật không chỉ nói là phải vứt bỏ hết mọi ước muốn, dẹp hết mọi t́m kiếm. Nhất là ở trong sự tu tập Thiền, chúng ta gơ vào cánh cửa ấy qua sự hành tŕ thật gắt gao, hầu như là có thể mài dũa tới tận xương tủy của ḿnh vậy. Tuy nhiên, đạo Phật chỉ ra rằng, sau khi đă t́m kiếm hết tất cả, điều chúng ta đạt được lại là sự nhận thức rằng những ǵ ta t́m kiếm vốn đă luôn luôn có sẵn nơi ta, rằng sau tất cả những công phu miên mật, chúng ta thức tỉnh thấy được rằng thật ra là cửa đă sẵn mở từ trước khi chúng ta bắt đầu gơ vào đó.

Như vậy, các bạn thấy rằng, Đại sư Zuigan đă chỉ ra sự thật căn bản nhất từ đầu khi ngài nói, “Từ nguyên thủy, dù cho ở người hay vật, không có ǵ là rác cả.” Đáng tiếc là tôi đă không hiểu được ngài. Tôi tiếp tục làm ra vẻ như ḿnh là một đệ tử đang tin tưởng hết ḿnh vào Thầy, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn thường chê bai và chống đối lại. Nói trắng ra là, gần như hầu hết những lời thầy nói đều làm cho tôi cảm thấy bực bội.

 

Chỉ c̣n biết lau chùi

Nhiều người thường khinh rẻ những hoạt động cần thiết cho nhu cầu căn bản hàng ngày, nhưng đối với tôi, những việc đó không được xem là lam lũ chân tay. Nếu bạn muốn nh́n phong cảnh bao quát toàn diện ở ngoài, bạn phải trèo lên một địa điểm cao mới thấy được rơ. Nhưng nếu bạn muốn thấy tâm con người, bạn phải bước xuống mà nh́n từ một chỗ thấp.

Ngay sau khi vào thiền viện, tôi đă phải làm điều đó qua công việc lau dọn hàng ngày. Từ sáng đến tối, tâm trí tôi không c̣n có ǵ khác hơn là chỉ biết đến lau chùi. Điều đó dẫn đến một kinh nghiệm oái ăm, phát hiện ra một khía cạnh gai góc trong sự tu tập.

Nếu có người nào đó biết rằng họ sẽ hiểu được phần nào chân lư qua việc quét dọn lau chùi, họ có thể bị vướng mắc trong sự thực hành này và rồi nhận ra rằng thực ra họ đang đi  xa rời khỏi sự nhận thức chân lư ấy. Tâm của họ đă bị chướng ngại bởi chính sự thực hành này.

Một buổi sáng, sau khi tôi đă dọn bữa điểm tâm và mời ngài ra dùng, Zuigan đại sư chậm răi bước ra pḥng ăn nói rằng: “Này, đi vào pḥng của ta, đứng ở chỗ cái bàn nh́n về phía bệ thờ xem.”

Thường thường, tai của một sa di mới  nhập viện hay nghe thấy giọng nói của thầy ḿnh như là đang tức giận. V́ thế, khi nghe Thầy nói vậy, tôi giật ḿnh nghĩ thầm: “Chết rồi, ḿnh lại quét dọn hỏng ǵ nữa đây” và rồi lập tức chạy vào trong pḥng thầy.

Pḥng của thầy rất nhỏ hẹp, chỉ độ bốn chiếu rưỡi (diện tích chừng 3m x 4m). Khoảng cách giữa bàn của ông với bệ thờ chưa đầy hai mét, nhưng mặc dù tôi đă xem xét cẩn thận khu vực này, tôi cũng không t́m ra được một vết bụi hay một giọt nước nào nhỏ xuống. Tôi ḅ ra sàn nhà t́m khắp nơi, nhưng chẳng thấy chỗ nào có vẻ có vấn đề cả.

Tôi ngồi thừ người ở đấy, cố t́m hiểu tại sao Thầy lại giận dữ với ḿnh, nhưng không thể nào nghĩ ra được. Thôi cũng đành, lại phải ra chịu đựng sự mắng mỏ thôi, tôi vừa nghĩ vừa đi trở lại pḥng ăn. “Con không hiểu con đă làm ǵ sai trong việc quét dọn pḥng thầy,” tôi bứt rứt nói, “Xin thầy dạy cho con biết.”

“Đồ ngu!” Ông quát lại. “Ai bảo là mi làm ǵ sai trong việc quét dọn đâu? Sáng nay ta vừa cắm một bông hồng Sharon ở trong cái lọ. Trông nó thật hài ḥa với tấm liễn ở trên, thật là đẹp mắt, nên ta bảo mi đi vào đó xem. Mi có thấy cái bông hồng chứ?”

Tôi chợt nhận ra rằng, sự thực là tôi chẳng để ư thấy cái bông hồng nào cả. Tôi trở lại pḥng Thầy để nh́n.  Bệ thờ được đặt trước một bức tường xưa đă đứng đó từ hơn 250 năm nay, mầu sắc đă sẫm lại. Trên bức tường mờ tối đó, một tấm liễn treo dọc xuống, vẽ theo kiểu thư pháp một chữ “Lộ” (sương) duy nhất.

Khi một vị thiền tăng viết chữ “Lộ”, ông không có ư muốn  nói đến một hiện tượng thiên nhiên, mà ngụ ư đến sự hiển lộ trực tiếp. Không có ǵ có thể che dấu ở đâu được. Chân lư, hay Pháp, đều lộ ra ở khắp mọi nơi, khắp mọi vật. Phật tánh đều lộ ra trong tất cả vạn pháp. Nếu ta để cho những lớp vẩy che mắt chúng ta rơi xuống, ta sẽ nhận ra rằng tất cả mọi thứ, trong tất cả mọi nơi đều hàm chứa chân lư tràn đầy; mọi thứ mọi nơi đều tràn đầy tính Phật, mọi thứ mọi nơi đều có chân giá trị của chúng. Đó là ư nghĩa chữ “Lộ” của tấm liễn treo tường kia.

Bên dưới tấm liễn, một đóa hoa lớn mầu trắng tinh khiết dường như đang nổi lên từ bức tường vôi cổ, chan ḥa một vẻ đẹp huyền diệu trước mắt người xem.

Chỉ mấy phút trước đây thôi, tôi đă không thấy được đóa hoa đó. Mắt của tôi đă đóng chặt lại không thấy nó. Đó chính là cái khó khăn gặp phải trong sự tu tập.

Sự bỏ xót ấy của tôi trở thành một đề tài cho những bài giảng dạy của thầy. Sau khi tôi đă phạm phải lỗi lầm này, Zuigan đại sư thường hay nói trong những câu chuyện là: “Nếu tâm ta bị vướng mắc, bị chướng ngại, ta sẽ không thể thấy được ngay cả những vật mà mắt ta đang nh́n đến. Có biết không, hôm trước đây, có một tên ngu muội ngồi kia...”

 

Lời răn dạy của Khổng Tử

Vị lăo sư bẩy mươi tuổi của tôi đă học hành chuyên cần ở Trường Đại học Tokyo và đă tốt nghiệp thủ khoa trong khóa; ông đă thấu tỏ con đường Thiền đang đi và rồi đă là viện trưởng của hệ thống các thiền viện Đại Đức. Đó là tiểu sử thân thế của ông, trong khi tôi đây … tuổi sấp xỉ đôi mươi, chẳng có ǵ để phô trương ngoài học vấn trung học của thời xưa cũ, chẳng bao giờ lên đại học … tôi đă là đệ tử của ông. Với  vị trí thấp kém của ḿnh, tôi ngưỡng vọng lên Thầy như một người ở dưới ngước lên nh́n núi Hi Mă Lạp Sơn.

Và thế là tôi, trong những ngày mới vào tu tập đó, chưa chi đă thấy tuyệt vọng khi nghĩ đến tương lai, cảm thấy như là chẳng có ích lợi ǵ đểø tiếp tục, và tự hành hạ ḿnh với ư tưởng là không thể nào ḿnh xứng đáng để có ngày bước thế vào bước chân của Thầy được. Thỉnh thoảng, khi tiếp được một vài sự ngợi khen của Thầy, tôi thấy ḿnh như bay vút lên trên mây cao, nhưng rồi sau đó lại rơi ngay xuống vực sâu của tuyệt vọng.

Sự khó khăn của tôi không phải là riêng biệt. Có lẽ gần như tất cả mọi người, từ thời xa xưa cho tới nay, khi bắt đầu học đạo đều phải trải qua những t́nh huống như vậy. Một thí dụ là Tử Lộ, học tṛ của Khổng Tử  ở Trung Hoa ngày xưa. Tử  Lộ đă sống một cuộc đời phóng đăng cho đến khi ông t́nh cờ đâm bổ vào một lớp học trong đó Đức Khổng Tử  đang dạy Đạo cho đệ tử của ngài. Bị thu hút bởi cá tính của vị Thầy, Tử  Lộ đă trở thành học tṛ của ngài. Tử Lộ vốn là một người rất tự tin nơi sức mạnh thể lực của ḿnh, nhưng rồi ông sớm nhận ra rằng Khổng Tử không những là một người dạy Đạo bằng sự ôn ḥa và đức hạnh của ḿnh, mà c̣n có một sức mạnh mà Tử Lộ không thể nào sánh bằng. Khổng Tử thông hiểu sâu xa tâm lư của tầng lớp dân chúng hạ lưu, khiến Tử Lộ phải tự hỏi không biết trước đây Ngài đă có đời sống như thế nào. Kiến thức của Khổng Tử sâu rộng đến nỗi các đệ tử của Ngài đều không ai hiểu được ngài như thế nào cả. Tuy là một đệ tử rất chuyên cần, Tử Lộ cũng e ngại rằng ḿnh sẽ không thể nào bắt kịp được Thầy.

Trong một dịp, Đức Khổng Tử buông lời khen ngợi một trong những đệ tử của ngài là Nhan Hồi, nói rằng: “Hay thay Hồi sinh! Chỉ sống với một cái bát tre, một ngụm nước, ở trong một ngơ hẻm chật hẹp. Những người khác chắc sẽ thấy đời sống đó buồn chán không chịu nổi, nhưng Hồi lúc nào cũng vẫn lạc quan, vẫn giữ vững tinh thần như thường. Thật là đáng ca ngợi!”

Ư của Khổng Tử muốn nói là:,”A, thằng đệ tử Hồi đó của ta, nó thật là một người phi thường. Nó ăn thức ăn tồi tàn nhất, uống nước lạnh không thôi” -- ở bên Tầu v́ nước xấu, cho nên uống trà là một sự thường t́nh, mà nếu trong cuộc sống chỉ có uống nước lạnh không th́ quả là một điều đáng chú ư! -- “và ở trong một căn nhà lụp xụp. Hầu hết mọi người sẽ thấy đó là một điều khổ hạnh không chịu nổi và sẽ cảm thấy tuyệt vọng. Nhưng Nhan Hồi th́ không thế! Dù cho có cuộc sống như vậy, cũng không có ǵ ngăn cản được anh ta hoan hỉ đi theo con đường Đạo. Thật là một con người kỳ diệu thay!”

Lúc đó, Jan Yu, một đệ tử đang có mặt, đă nêu lên rằng: “Không phải là con không tin vào Đạo mà thầy và các vị sư huynh tiền bối như Nhan Hồi đă thực hành. Nhưng có điều là có những người trong chúng con không đủ khả năng để làm được như vậy.”

Khổng Tử khi ấy, thật khác với lúc thường, đă trách mắng Jan Yu một cách nặng nề về sự giải đăi này, “Thiếu khả năng là một cái cớ cho những người ít nhất đă từng thử một lần, đă đi được một phần nào đường. Nhưng ngươi! Ngay trước khi ngươi bắt đầu thử cái ǵ đă tự giới hạn khả năng của ḿnh rồi!”

Khổng Tử đă răn dạy cho Jan Yu một bài học đích đáng.

Tất cả mọi người chúng ta đều có những lúc muốn thốt lên những lời như vậy, muốn trốn tránh trách nhiệm của ḿnh. Ngay cả tôi, khi đang kể lại câu chuyện răn dạy Jan Yu này, cũng đă từng cảm thấy y như ông ta khi c̣n là một đệ tử.  “Không thể nào được. Thầy làm được những điều ấy v́ ngài thông hiểu Phật pháp, v́ ngài là một con người vĩ đại. Nhưng tôi, tôi chỉ là một con người tầm thường ...” đây không phải là sự khiêm nhường, mà là sự  bào chữa v́ đă tự nuông chiều ḿnh!

Và bây giờ,  tôi nhận ra rằng các đệ tử của tôi sẽ có những h́nh ảnh thế nào về tôi. Có thể là họ không ngưỡng vọng tôi như tôi đă ngưỡng vọng Zuigan đại sư, nhưng họ dường như vẫn nghĩ rằng không thể nào họ có khả năng sánh bằng với tôi được.

Nếu thực là như vậy, từ đó tới giờ tôi đă hoàn thành được những ǵ? Tôi không có hứng khởi muốn vào học trường Đại học Tokyo và tốt nghiệp ở đó ra như đại sư Zuigan. Tôi cũng không trở thành Viện trưởng một thiền viện nào. Điều tôi làm được chỉ là: khi đến lúc phải làm việc trong bếp, tôi đă dùng hết sức ḿnh để làm việc trong bếp.

Trên đời này bạn không thể nỗ lực làm ǵ mà không kể đến giá trị của chính sự nỗ lực đó. Trong mỗi thứ và trong tất cả đều thể hiện tâm của ḿnh trong đó, đều là sự hiển lộ của Phật, sự biểu thị của Pháp.  Khi tôi mới bắt đầu bước vào tu viện, đại sư Zuigan, đang đứng quét vườn bên cạnh tôi, đă chỉ ra cho tôi điều đó khi ngài nói rằng: “Sao, mi đă hiểu chưa? Từ nguyên thủy, dù ở người hay vật, cũng không có ǵ là rác cả.” Tuy vậy, tôi đă phải mất thời gian đi một đường ṿng xa thực hành tu tập mới hiểu được điều này.

“Khi cầm chổi lên, hăy trở thành cái chổi ; khi bưng bát cơm, hăy trở thành bát cơm.” Đó là những câu nói thông thường ở trong Thiền, nhưng vấn đề là: làm sao thực hành được trong đời sống hàng ngày đây?

 

Việc phải lo

Trong những thiền tự, bữa điểm tâm bằng cháo được tiếp theo với tuần trà trong pḥng của vị thiền sư. Thiền sư duyệt qua công việc phải làm hàng ngày trong khi một ấm trà xanh bột được khuấy kỹ rồi dâng lên cho ông đầu tiên, và những người khác tiếp theo. Khi tôi mới đến học đạo với lăo sư Zuigan, có một nữ nhân, tên là Okamoto, cũng đang sống ở trong chùa Daishuin. Người đàn bà lớn tuổi này đă tốt nghiệp truờng nữ đại học Ochanomizu dưới triều đại Taisho và đă làm việc trong ngành giáo dục nữ sinh trong nhiều năm, cả ở Tokyo lẫn Kyushu. Khi đă ngoài 40 tuổi, cô trở thành một đệ tử nghiêm túc của Thầy. Cô xin nghỉ việc và dọn đến ở gần với Thầy, và, lúc nào cũng trong bộ quần áo lao động thùng th́nh, cô đă chăm nom săn sóc Thầy cho đến khi ngài viên tịch. Vào lúc ấy, ở chùa chỉ có ba chúng tôi, và trong khi dùng trà Đại sư thường nói chuyện với cô Okamoto, nhưng ngài chẳng bao giờ thèm nói với tôi tiếng nào.

Một hôm cô Okamoto, có lẽ v́ thương hại, đă đem tôi vào câu chuyện. “C̣n con nghĩ thế nào, Morinaga?”

“Không, không,” Lăo sư nói chen vào. “Nó chưa đủ tư cách để nói trước mặt ai hết.”

Theo quan niệm của lăo sư,  muốn nói chuyện trước người khác, người ta phải tự biết ḿnh hoàn toàn mới được. Sự nhận biết bản thể của chính ḿnh được gọi là Kiến Tánh trong thiền môn. Những người chưa kiến tánh được coi như chưa đủ tư cách để nói chuyện trước mặt người khác.

Sự việc này làm tôi tức tối, và một lần nữa tôi lại rủa thầm trong bụng, “Ông già đáng ghét! Ông ấy nói chẳng có người nào, vật nào là rác cả, nhưng ông ấy đối xử với ḿnh có khác ǵ rác rến đâu?”

Tôi chỉ nghĩ thầm như vậy thôi. Nhưng nếu tôi dám tỏ lộ thái độ ra ngoài, chắc mọi sự sẽ chấm dứt ngay! Lăo sư chắc sẽ nói thẳng với tôi không ngần ngại rằng: “Thế à, vậy th́ mi trở về nhà đi. Không ai có thể học đạo với một vị thầy mà không tôn kính và tin tưởng vị thầy ấy được.”

Qua kinh nghiệm của tuần trà này, tôi hiểu rằng sự tin tưởng thực sự tức là sự chấp nhận mà không có quyền thắc mắc. Tôi phải đồng ư nhận bất cứ công việc ǵ, cho dù nó khó khăn vượt bực đến đâu.  Cho dù tôi có được bảo phải làm ba việc cùng một lúc,  cho dù tôi được bảo phải làm điều ǵ tôi chưa từng làm, tôi cũng không bao giờ, dưới bất cứ hoàn cảnh nào, được nói rằng: “Con không làm được. Điều đó không thể làm được.”

Nếu vậy, tôi phải làm sao bây giờ? Sống chết, tôi cũng phải dồn hết mọi nỗ lực tập trung vào công việc … đó là điều duy nhất tôi có thể làm được. Điều đầu tiên mà Đại sư  đă nhồi nhét vào trong tôi là phải tin tưởng nơi vị thầy. Điều đó có nghĩa là tôi phải lo làm công việc của chính ḿnh, qua sự cố gắng toàn diện, và không được than phiền chút nào.

 

“ Không thể làm được ”

Khi xưa lúc cha mẹ tôi c̣n sống và khỏe mạnh, tôi thường cằn nhằn suốt ngày, và câu nói “Con không thể làm được” lúc nào cũng sẵn sàng trên đầu môi chót lưỡi của tôi. Tuy vậy, tôi để ư thấy rằng câu “Con không thể làm được” mà lúc nào tôi cũng nói luôn mồm này,  thực sự ra không phải là một lượng định vô tư về sự thiếu khả năng một cách khách quan, mà sự thiếu khả năng đó là dựa trên sự lượng định đầy chủ quan của tôi về năng lực của ḿnh vào thời điểm đó.

Khi bạn nghĩ rằng bạn có khả năng, tỷ như là, tới 10.0 chẳng hạn, tất cả những ǵ lên đến 9.9 là có thể làm được; cái cảm tưởng “Không thể làm được” khởi lên đúng vào lúc bạn được giao cho một công việc lên đến 10.1. Người nào mau chóng cho rằng một công việc nào đó là không thể làm được sẽ không bao giờ làm được một việc ǵ quá 10.0. Người đó sẽ chẳng bao giờ khá hơn được. V́ vậy, bạn không bao giờ nên nghĩ rằng, “Tôi không làm được”.

Không cần biết thầy của ḿnh đ̣i hỏi ḿnh tới mức nào, bạn phải luôn luôn làm tṛn nhiệm vụ. Bạn phải cố gắng không ngừng để lo cho xong việc, và trong khi bạn leo thang … từ 10.1, 10.2, 10.3 … bạn sẽ dần dần phát triển, lần đầu tiên,  một khả năng mà bạn không bao giờ ngờ là bạn có thể có được.

Giả tỷ như bây giờ Thầy tôi ra lệnh, “Giết!” hay “Chết đi!” Tôi có sẽ phải giết, hay chết thực không? Tôi sẽ phải làm ǵ bây giờ? Nếu nhận những lệnh như vậy, làm sao người ta có thể tin tưởng được vị thầy đó?

Trước hết, chúng ta phải nhận biết rằng người thầy mà chúng ta tin tưởng sẽ không bao giờ bảo chúng ta làm một điều ǵ vô đạo đức. Do đó, khi vị thầy dùng đến chữ giết hay là chết, những chữ này phải có một ẩn ư sâu xa, mà người đệ tử chưa thể hiểu được.

Và rồi, chấp nhận rằng những ngôn từ được dùng có một ư nghĩa khác sâu xa hơn, nhưng không hiểu ư nghĩa ấy như thế nào, người đệ tử thấy ḿnh bị dằn vặt bởi một mối nghi lớn. Đeo đẳng mối nghi này trong tâm, thường xuyên bị thúc đẩy với ư nghĩ về nan đề trước mắt, người đệ tử dồn hết sức lực để lo tập trung tu tập. Điều đó, theo nhà Thiền, gọi là “đại tín căn”.

Những câu như là “Giết Phật, giết Tổ”  và ngay cả “Giết cha, giết mẹ” xuất hiện nhan nhản trong những văn bản của Thiền tông. “Đại tín căn” trong Thiền là làm tới nơi tới chốn những ǵ được giao cho, đúng với ư nghĩa của chữ này. Bất kỳ bạn có nghe nói ǵ, bất kỳ bạn có được giao cho việc ǵ, bạn cũng làm việc đó một cách siêng năng, không một chút phàn nàn.  Sự siêng năng này là đặc điểm nổi bật trong thời gian đầu tiên học đạo của tôi .

Điều đó, tuy nhiên, không có nghĩa là tôi thi hành những việc được giao phó một cách đáng tin cậy hay là thành thạo ǵ. Ví dụ như, có lúc trong ngày đầu tiên của tôi, khi tôi được sai đi lau nhà, tôi quỳ gối xuống sàn nhà, cầm cái giẻ lau trong một tay, lau qua lau lại từ phải sang trái. Tuy nhiên, những sàn gỗ của một ngôi thiền tự thật bao la lớn rộng hơn nhà thường rất nhiều.

“Đồ ngu! Mi tính ngồi đó lau nhà tới bao nhiêu ngày mới xong hả? Phải lau như thế này này.” Khi tôi thấy Thầy quỳ xuống cả hai tay lẫn hai chân, mông chổng lên, lấy hai tay đè lên miếng giẻ trên sàn rồi kéo lê thoăn thoắt suốt dọc hành lang, tôi cảm thấy như những lớp vẩy đang che lấp tầm mắt nh́n của tôi đang rơi xuống đất.

Khi học khoa văn ở trường trung học, những bạn đồng học và tôi thuờng đọc những sách triết và rồi thảo luận với nhau suốt đêm. Toàn là những câu chuyện lư thuyết! Tôi đă bỏ biết bao nhiêu th́ giờ trong những hoạt động đó rất lâu trước khi tôi bước chân vào cổng Thiền. Nhưng tất cả chỉ là lư thuyết, và trong thực tế, tôi c̣n chưa biết lau  nhà cho đúng cách nữa! Tôi cảm thấy thật xấu hổ với ḿnh khi nhận ra điều này, và tự quyết định rằng từ đây tôi sẽ cố gắng làm hết sức ḿnh. Nhưng tôi vẫn chưa biết hướng nguồn năng lượng của ḿnh đến đúng nơi đúng chỗ.

Ban ngày thường có một nhóm thanh niên trẻ đến chùa làm công quả. Nếu một người trong số họ cầm cây chổi lên và bắt đầu quét vườn, tôi sẽ nhẩy bổ nào nói: “Đưa đây, để tôi làm!” … và giằng lấy cây chổi trên tay anh ta. Nếu có một người khác đi lau nhà, tôi cũng sẽ nhào đến, dựt lấy cái giẻ lau, “Đưa đây, để tôi làm!” Nếu có một ai đó đi nhóm lửa để đun nước tắm, tôi cũng sẽ chạy bay vào dành lấy việc, tuyên bố  “Ấy để tôi làm!”

Cuối cùng, tất cả bọn họ đều kêu lên với tôi, “Bộ thầy không t́m được việc ǵ làm mà không phải dành lấy việc của người khác hả?”

Lúc ấy, tôi quả t́nh không hiểu được tôi đă làm ǵ sai. Có lẽ đó là bởi v́ tôi không thể tự xoay xở được điều ǵ, bằng những nỗ lực riêng của chính ḿnh.

Bây giờ, khi các thiền sinh đến chùa của tôi để tập tọa thiền, việc đầu tiên tôi giao cho họ làm là đun nước tắm. Biết rằng đôi khi họ có thể nhóm lửa dưới một bồn tắm trống không, tôi thường bắt đầu hỏi ḍ họ vài câu.

“Anh sắp phải sửa soạn đun nước tắm. Việc đầu tiên anh làm là ǵ?”

Rất nhiều khi, câu trả lời là: “Nhóm lửa.”

“Anh không định đốt tôi đấy chứ hả?” Tôi hỏi.

“Ồ không, đầu tiên con phải cho nước vào đầy bồn đă,” thiền sinh sẽ nói vậy.

“Anh chỉ cho nước vào bồn như vậy thôi à?” Câu hỏi này làm họ bối rối v́ họ không hề có ư nghĩ là phải cọ sạch bồn tắm trước. Sau khi duyệt qua với họ những cái căn bản … cọ sạch bồn tắm, bơm nước vào đầy bồn, kiểm soát lại mực nước, đậy nắp lên, rồi nhóm lửa … tôi trở lại để thấy họ đang loay hoay khó xử bên cái lỗ nhóm mồi. Nh́n vào trong ḷ, tôi thấy vài khúc củi to nằm chắn lên trên đống giấy báo đang cháy rụi.

“Làm thế này lửa sẽ không bắt được, có phải không? Sao không dùng mấy que củi nhỏ hơn?” Tôi hỏi.

“Nhưng bạch thầy, không có que củi nào nhỏ hơn cả.”

“Thế th́ chẻ nó ra cho nhỏ hơn được không?”

“Con không biết cái ŕu ở đâu.”

“Nếu không biết, tại sao không hỏi?”

Cuối cùng sau đó, người thiền sinh trẻ tuổi bắt đầu đi chẻ củi. Nhưng đó không có nghĩa là sẽ có ngay một ngọn lửa bùng lên. Khói tuôn ra từ cái lỗ nhóm mồi, mà lửa vẫn nhất định không chịu cháy. Khi tôi đến thanh tra mọi việc, tôi thấy đám tro tàn từ ngọn lửa trước vẫn chưa được bốc đi. Tôi bèn hỏi, “Này, cái gọi là lửa thực ra là ǵ nhỉ?”

“Th́, đó là một hỗn hợp của oxygen và vật .”

“Oxygen ở đâu?”

“Ở trong không khí.”

“Nếu vậy, sao anh không hốt cái đống tro này đi để cho không khí có thể vào được dễ dàng? Và nếu ống khói bị nghẽn, anh cũng phải thông cái đó cho sạch luôn nữa.”

Nếu tôi nói như vậy, người thiền sinh sẽ trèo lên trên mái nhà để thông ống khói, nhưng khi trở xuống thế nào họ cũng đạp chân lên làm vỡ mất vài miếng ngói.

Nhưng tôi không thể cười những người trẻ tuổi này, bởi v́ tôi cũng đă có thời giống y như họ!

 

Giữa thầy và tṛ

Một buổi sáng trong thời kỳ tôi c̣n mới vào tu, cô Okamoto hỏi đại sư Zuigan trong khi dùng trà: “Bạch thầy, nếu so sánh đại sư Kosen và Soen, ai giỏi hơn?”

Có lẽ tôi cần phải giới thiệu một chút về tông phái của tôi qua đồ biểu dưới đây để tŕnh bầy được rơ ràng hơn:

 

           Hakuin (Bạch Ẩn  Huệ Hạc, 1685-1768)

                             |

                        Kosen (Hồng Xuyên Tông Ôn, 1816-1892)

                             |

            Soen (Hồng Nhạc Ṭng Diễn, 1859-1919)

                               ____ |____

                  |       |

                        Sokatsu         Josho

                              |

      (Chuyết Ông Tông Hoạt)     

                     1870-1954   

                              |

                        Zuigan

(Thuỵ Nham Tông Hoạt, 1879-1965)

                  |

                         Sesso

      |

               Soko

                                                                        

Tôi là “Soko” ở dưới cùng của bảng này, và Sesso là sư huynh của tôi trong hệ phái. Cả hai chúng tôi cùng là đệ tử của đại sư Zuigan, và sư phụ của thầy chúng tôi là đại sư  Sokatsu. Nếu bạn đi ngược ḍng cho tới tận nguồn gốc cuối cùng, bạn sẽ đến ngay Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Trong Thiền tông, sự truyền thừa của các bậc đại sư đă đạt được giác ngộ qua quá tŕnh tu tập rất là minh bạch. Kinh nghiệm tâm linh này phải được người thầy xác nhận, và chỉ những ai được ấn chứng mới chính thức gia nhập vào tông phái.  Tất cả mọi người đều biết rơ ràng ai là người đă được thầy truyền tâm ấn, và sự kế thừa này được giữ ǵn rất cẩn trọng. Trong tông Lâm Tế, danh hiệu “lăo sư” (Roshi)  được dùng để tôn xưng những người được kế thừa trong hệ phái.

Kosen Roshi, người đứng đầu trong hệ phái ở trên, tức là Kosen Imakita, một bậc đại sư xuất chúng đă từng trụ tŕ chùa Viên Giác (Engakuji) ở Kamakura suốt từ những ngày cuối cùng của thời đại Đức Xuyên trải dài cho đến thời Minh Trị trong thế kỷ thứ 19. Trong những ngày đen tối Phật giáo bị đàn áp, ngài đă vượt lên trên những phân chia phe phái và nỗ lực bằng mọi cách để phục hưng lại đạo Phật. D.T. Suzuki, một cư sĩ nổi tiếng, đă rất ngưỡng mộ ngài và viết một quyển sách nói về ngài.

Người truyền thừa sau Kosen Roshi là Soen Shaku Roshi,  người đầu tiên phổ biến đạo Phật ở Mỹ Quốc, và cũng đă trụ tŕ chùa Viên Giác (Engakuji) ở Kamakura. Soseki Natsume là một trong vô số người đă học Thiền dưới vị đại sư này.

Chính hai vị này là người cô Okamoto đă nói đến khi cô hỏi Thầy ai là người giỏi hơn.

Lăo sư Zuigan, trông rất khắc khổ và không hay nói đùa, đă trả lời với bộ mặt thật nghiêm nghị, “Đại sư Kosen giỏi hơn.”

“Nếu vậy, giữa đại sư Soen và đại sư  Sokatsu, ai là người giỏi hơn?” cô Okamoto tiếp tục.

Đại sư Sokatsu mà cô đang nói đến là người đă từ chối không sống trong một tự viện danh tiếng sau khi đă được truyền thừa, mà đi về sống ẩn dật tại một cái am nhỏ xíu gọi là Ryoboan, ở trong khu vực Yanaka của thành phố Tokyo; ở đó ngài đă dạy Thiền cho những cư sĩ .  Những phụ nữ đầu tiên  nổi danh với lập trường đ̣i hỏi nữ quyền ở Nhật Bản đăø ở trong số rất nhiều các đệ tử của ngài. Vị lăo sư Sokatsu này là nhân vật mà cô Okamoto đă hỏi tới, nhưng lăo sư Zuigan vẫn trả lời rằng: “Lăo sư Soen giỏi hơn.”

“Ồ, thầy ơi! Thế th́ tệ quá! Chẳng lẽ tông phái này càng ngày càng xuống dốc tới mức không c̣n ǵ sao? Thế th́ bây giờ, thầy nghĩ sao, ai giỏi hơn, Sokatsu đại sư hay Zuigan đại sư?” Cô Okamoto nhất định hỏi.

Lăo sư Zuigan, đáp lại sự quan tâm của cô về tông phái càng ngày càng xuống dốc, đă trả lời mau mắn, “Ta giỏi hơn.”

Suốt từ đầu cho tới lúc ấy, luôn luôn vẫn là người thầy giỏi hơn, nhưng khi được hỏi về vị trí của chính ḿnh trong tông phái, ông lại bảo rằng, “Tôi giỏi hơn thầy của tôi.”

Điều này làm cô Okamoto vô cùng hoan hỉ, sau đó cô lại hỏi tiếp, “À, nếu vậy th́, Lăo sư ơi, thầy với đệ tử của thầy, Sesso, ai là người giỏi hơn?”

Nghe vậy, tôi muốn bật cười lớn lên. Lăo sư Zuigan, người đă từng trụ tŕ các thiền viện Diệu Tâm và Đại Đức, là một đỉnh cao trong thế giới Thiền tông. Trong khi đệ tử của ngài, Sesso, c̣n chưa có chùa để trụ tŕ,  c̣n đang sống như người quản tự giữ một ngôi chùa nhỏ trong hệ thống thiền viện Diệu Tâm, mà việc làm chỉ là giữ ǵn vườn tược cho sạch sẽ. Bởi v́ tôi chưa thể nh́n thấu được những giá trị ẩn tàng trong con người mà chỉ phán xét dựa trên vị thế xă hội, tôi đă nghĩ rằng so sánh lăo sư Zuigan với thầy Sesso giống như là so sánh mặt trăng trên cao với con rùa vậy. Không thể nào nói đến chuyện đọ sức giữa hai nguời ở đây được, và tôi gần như muốn phá lên cười.

Lăo sư Zuigan, không cần ngừng lại một giây nào để suy nghĩ, nói ngay: “Cái đó c̣n phải xem.”

Khi những lời nói này đập vào tai tôi, bộ mặt tôi, lúc đó đang sẵn sàng để cười phá lên, lập tức nghiêm chỉnh lại, và bây giờ dù là ngoài ư muốn, tôi cũng vẫn cảm thấy rưng rưng như muốn khóc. Tôi thật có phước mới được một vị thầy như thế này. Ngài có thể mắng tôi thật phũ phàng, gọi tôi là đồ vô dụng, và nói rằng tôi không xứng đáng để nói trước mặt ai cả, nhưng ngài vẫn luôn luôn để mắt đến tương lai các đệ tử của ḿnh. Tôi nhận ra rằng, dù bây giờ phải đương đầu với sự non kém của tôi, ngài cũng đă tin tưởng tôi sẽ trở thành người  như thế nào trong một năm, hai năm, mười năm, hay hai chục năm nữa. Từ bấy lâu nay làm việc với tôi, ngài vẫn luôn luôn mang trong tâm h́nh bóng tiềm năng của tôi trong tương lai cũng như trong hiện tại. Tôi cảm nhận mănh liệt được điều đó khi ngài nói: “Cái đó c̣n để xem.”

Và rồi sự việc xẩy ra là, vài năm sau đó, thầy Sesso đă tỏ ra xứng đáng với câu nói ấy, đă trở thành người truyền thừa của đại sư Zuigan và rồi trở thành viện trưởng thiền viện Đại Đức. Theo những lời dậy dỗ của đại sư Zuigan, tôi đă ở bên cạnh sư huynh Sesso trong nhiều năm và sau này trở thành người truyền thừa của ngài. Trong giây phút thị tịch, Đại sư Sesso đă đạt được một trạng thái siêu xuất của tâm, không kém ǵ người thầy của ngài.

 Và thế là, câu chuyện trong tuần trà của một buổi sáng ấy, cuối cùng, đă làm cho tôi tin tưởng được Thầy của ḿnh tự đáy ḷng.

Nhưng mặc dù vậy, tôi cũng vẫn chưa đi đến đâu trong đường tu của ḿnh.

 

Chuyện của nó và tôi

Có một câu chuyện nữa cũng miêu tả được tương quan tin cậy mật thiết giữa thầy và tṛ. Đại sư Soen có một người đệ tử tên là Josho Ota. Người đệ tử này sau đó đă trở thành viện trưởng thiền viện Viên Giác và rồi viện trưởng thiền viện Đại Đức, nhưng câu chuyện tôi kể ra sau đây xẩy ra khi ông vẫn c̣n tu tập dưới trướng của lăo sư Soen.

Một ngày mùa hè, có một đạo hữu đến chùa Viên Giác ngỏ lời mời đại sư Soen rằng, “Đại sư, thường ngày ngài vẫn dùng những thức ăn do các vị sư ở đây nấu, nhưng hôm nay nóng nực như thế này, con muốn mời ngài đi ăn tối, một cúng dường nho nhỏ để giúp ngài quên cái nóng đi phần nào.”

Vốn là người rất phóng khoáng, Đại sư Soen trả lời, “Thế à, ngươi sắp cho ta ăn tiệc hả?” Ngài bèn gọi đệ tử Josho theo hầu cận, và rồi đi đến tiệm ăn.

V́ lúc đó là mùa hè, nên những liếp cửa bằng tre chắn ngang những pḥng riêng lót chiếu tatami được kéo qua một bên, khiến các thực khách từ pḥng này có thể nh́n qua các pḥng khác được. Lăo sư Soen ăn uống rất tận t́nh và trở nên hoàn toàn cao hứng. Oâng gắp mấy miếng cá sống lên nói, “A, mấy cái rau này quư hiếm quá! Sao mấy ông sư không trồng rau này trong vườn của chùa nhỉ?” và rồi cứ tiếp tục đùa dỡn như vậy cho đến khi, y phục trên người bung ra gần hết, gần như trần truồng, ông nhẩy múa um sùm.

Vị lăo sư là người rất nổi tiếng, tên ngài được biết đến kể cả ở nước ngoài nữa. Chẳng mấy chốc các thực khách ở những pḥng kế bên bắt đầu xôn xao, “Có phải thầy viện trưởng chùa Viên Giác đang nhẩy múa trần truồng ở đó không nhỉ?” Josho liền đi ra kéo cánh cửa tre ngăn lại.

Bất ngờ, đại sư nắm lấy cổ áo Josho, mắng ngay: “Ê! Bộ mi chê bai hành vi của ta hả? Mi đóng cánh cửa đó có phải v́ mi nghĩ là ta đă làm sai không hả?”

Josho, trong một lúc lung lay niềm tin nơi thầy, tự nhiên đă thấy ḿnh bị đấm đá tơi bời.

Các vị thiền tăng thường qua một quá tŕnh tu tập dựa trên cơ sở hành động nhiều hơn lời nói. Nhưng mặc dù vậy, trong t́nh trạng ma men như thế này, và không thấy có cơ ǵ chấm dứt sau năm sáu cú đấm đá, Josho, từ đó tới giờ vẫn im lặng và ngoan ngoăn chịu đ̣n, bây giờ không muốn chịu đựng thêm nữa. Nắm chặt lấy tay thầy, ông nói:” Dù có là đại sư hay không đại sư, thầy cũng không được tiếp tục như thế này.”

Soen đại sư dằng tay ra và trở về chỗ ngồi. Làm như không có ǵ đă xẩy ra, ông tiếp tục uống rượu cho đến khi trở về chùa Viên Giác, vẫn trong t́nh trạng cao hứng tột độ.

Mặc dù câu chuyện đă chấm dứt ở đó, người đạo hữu đă mời họ đi ăn tối đó cảm thấy rất ái ngại. Biết rằng quan hệ giữa thầy tṛ nơi thiền viện rất là nghiêm khắc, ông lo lắng không biết lăo sư có đuổi Josho đi sau khi họ trở về chùa không. Cảm thấy không thể nào yên tâm được với t́nh trạng này, ông vội vàng đi đến chùa Enkakuji để làm người trung gian ḥa giải.

“Xin cám ơn thầy đă hoan hỉ nhận bữa cơm cúng dường nhỏ nhoi của con và đă cho con được hân hạnh dùng bữa với thầy,” ông nói với lăo sư, “Nhưng con cũng muốn nói thêm rằng, mặc dù Josho đă không được lễ độ với thầy trong bữa ăn, nhưng con tin chắc rằng thầy ấy không có ư xấu ǵ đâu. Cúi xin thầy, v́ nể t́nh con, mà bỏ qua mọi sự và tha thứ cho thầy ấy.”

“Cái đó là việc của tôi với nó,” lăo sư trả lời cộc lốc.

Xin đừng hiểu câu nói đó rằng đây là vấn đề giữa thầy và đệ tử và người ngoài không nên xen vào. Thực sự ra ư của ông là thầy tṛ ông có thể đấm đá lẫn nhau, nhưng giữa hai người họ không bao giờ có một khoảng cách nào dù nhỏ như sợi tóc. Đối với một người tu thiền, được nghe thầy ḿnh nói như vậy quả là một điều đáng mừng, nhưng đối với một vị thầy, có được một người đệ tử xứng đáng để nói điều ấy ra cũng thật là một điều hạnh phúc lớn lao. Tôi đă nghe kể lại rằng, sau đó, người đạo hữu đang tính xen vào trong quan hệ thầy tṛ kia đă đỏ mặt ngượng ngùng và rút lui ngay khi nghe câu trả lời cộc lốc đó.

Câu chuyện này nhắc nhở tôi đến quan hệ giữa những vơ sĩ sumo và cái ṿng đai. Lư do khiến hai người vơ sĩ to béo khổng lồ, mà hợp với nhau lại có thể cân đến trên năm trăm pounds Anh, đă đến đấu chiến với nhau, dùng hết sức lực để đánh bại người kia, là v́ có một ṿng đai ở dưới họ; ṿng đai ấy, như sợi dây nối liền thầy và đệ tử, tuyệt đối sẽ không được phá vỡ. Nếu một vơ sĩ, dù có khéo léo đến đâu, mà phải đi đấu trong một ṿng đai vẽ trên băng đá, chắc hẳn ông ta sẽ cố hết sức ḿnh để làm cho băng đá ấy không bị tan vỡ mất, phải vậy không?

Ba loại đệ tử

Trong tu thiền, có một điều cần làm là phải “phá vỡ bản ngă” … không có cách nào có thể né tránh điều đó được. Hơn nữa, nếu rụt rè không dám phá vỡ bản ngă của ḿnh … cái thường hay chống trả lại dữ dội khi có nguy cơ bị phá vỡ … th́ coi như sẽ chẳng có hi vọng đạt tới Đạo được. Những người không biết nghiến răng chịu đựng, nhất quyết không sờn ḷng dù là bị đá đấm bầm dập, bị đánh đuổi tàn nhẫn, sẽ không thể tồn tại được trong cái gọi là tu thiền này. V́ lư do đó, có thể nói rằng những đệ tử học thiền được chia làm ba loại, tùy vào sự liên hệ của họ với thầy của họ: “Những người xuất sắc nhất ràng buộc với thầy họ trong sự căm ghét, người tầm thường trung b́nh trong ḷng thương xót, và những người yếu kém nhất là trong sự khuất phục quyền lực.”

Những người xuất sắc nhất là những đệ tử hạng nhất, hay là người có đức hạnh lớn. Nếu nh́n bề ngoài, những đệ tử này trông c̣n có vẻ hằn học nữa. Thầy càng đối xử với họ nghiêm khắc chừng nào, họ càng cố gắng tiến sâu hơn, thề quyết phải vượt qua cho bằng được, để tỏ cho thầy họ thấy khả năng của họ đạt được như thế nào. Không có điều ǵ làm những đệ tử này có thể buông lơi ra được.

Những đệ tử tầm thường trung b́nh là những người thực sự gặp khó khăn trong sự tu tập và muốn rút lui, nhưng cảm thấy họ không thể bỏ cuộc được, khi thấy Thầy đă hết sức tử tế và yểm trợ cho họ. Những đệ tử loại này được lôi kéo nhờ t́nh thương của người Thầy.

Sau hết, loại đệ tử yếu kém nhất, khi cảm nhận thấy quyền lực độc tôn của người Thầy, họ muốn nương dựa vào “bóng mát cây cổ thụ” ấy. Điều đó có nghĩa là, đối với họ nếu phải nương dựa vào một người nào, th́ tốt nhất là người ấy phải có nhiều quyền lực. Câu nói, “Những kẻ thấp kém hay bị hấp dẫn bởi quyền lực” không chỉ dừng lại ở trong cánh cổng của một thiền viện, mà c̣n đúng với xă hội nói chung.

Tất cả những điều trên nhắc tôi nhớ lại một trong những lỗi lầm mà tôi đă phạm phải khi tôi đă vào tu được một thời gian. Trong một dịp, có một người đă nêu ra một trong những khuyết điểm của tôi, và tôi nổi đóa lên: “Anh biết ǵ mà nói!” rồi mắng cho anh ta một trận. Tôi đă biểu lộ sự ngă mạn mà người ta đôi khi gặp phải trong bước đường tu, một loại “đầu óc đă bị rỉ sét trong sự tu.”

Khi câu chuyện này đến tai Thầy tôi, người gọi tôi vào trong pḥng ngay lập tức, để nói rằng tôi bị đuổi ra khỏi chùa. Người nói bằng cách là: “Thu dọn hành lư đi.”

Ap trán xuống đất, trong ba mươi phút tôi khẩn khoản xin lỗi hết lời, nhưng những lời van xin tha thứ của tôi chẳng có công hiệu ǵ.

“Con làm điều đó v́ con đă không suy nghĩ kỹ càng. Cái đó xẩy ra chỉ v́ con chót lỡ, trong một phút sơ xuất của con thôi.” Tôi nại cớ ra bào chữa như vậy.

“Nếu đó là một điều mi làm sau khi đă suy nghĩ kỹ càng, và rồi sau đó thấy sự sai lầm của ḿnh, th́ điều đó sẽ không xẩy ra lại,” thầy đáp lại, “nhưng nếu nó “xẩy ra v́ chót lỡ” trong một phút sơ xuất của mi, th́ tức là nó đă khởi lên từ một cái ǵ thâm căn trong tâm của mi, trong tánh khí của mi. Nếu thật như vậy th́ lại càng không đáng để được tha thứ!”

Tôi đă dùng hết cách để xin lỗi mà vẫn không được. Cuối cùng, tôi ngẩng người lên, cái thân h́nh mà từ nẫy giờ đă quỳ mọp xuống như một con nhện đang bám lấy sàn, và rồi tôi nh́n thẳng vào mặt lăo sư. Mắt của người vốn đă to, mà khi ngài nh́n trừng trừng vào tôi lúc đó, trông như là cả bộ mặt của ngài chỉ c̣n là hai con mắt khổng lồ. Tôi trừng mắt lại, không chịu thua chút nào.

“Không có chỗ nào cho con đi cả, chỉ có chỗ ở với thầy thôi. Thầy có ném con ra ngoài một ngàn lần hay mười ngàn lần, con cũng tuyệt đối không bao giờ rời thầy ra đâu!” Tôi hét lại.

Đáng ngạc nhiên thay, nước mắt bỗng dâng lên trong mắt thầy, và tôi tưởng chừng như những giọt lệ to long lanh sắp rơi xuống má người. Rồi tôi nghe thầy nói, “Ta tha cho mi đó. Đi ra ngoài lo công việc đi.”

Khi nhớ lại câu chuyện này, tới lúc này, tôi vẫn c̣n rưng rưng nước mắt.

Người thầy đem sự khắc nghiệt ra đối với đệ tử để làm khơi động ư chí chống trả, kể cả sự căm ghét, nghĩ rằng làm như vậy người đệ tử sẽ bằng cách nào đó vượt qua được tới đích cuối cùng. Nhưng thật sự không phải thế, khi áp dụng sự đối xử nghiêm khắc với đệ tử, người thầy luôn luôn cầu nguyện cho đệ tử của ḿnh sẽ có thể vượt qua hết được mọi sự. Nếu ngày nay có một đệ tử nào đến nói với tôi rằng:”Dù cho có giết con, con cũng không bao giờ rời xa thầy,” chắc chắn rằng tôi cũng sẽ khóc.

V́ vậy, bạn có thể thấy được tại sao tôi cảm thấy biết ơn khi nghĩ đến cung cách vị Thầy mà hiện nay đă ra người thiên cổ đối xử với tôi. Từ đầu đến cuối, ngài đă hành xử như ø thể là tôi, một kẻ không ra ǵ, là một loại đệ tử xuất sắc nhất vậy. Nếu Lăo sư lượng định về tôi một cách khác, nếu người đă nghĩ rằng, “Nếu ḿnh không nương tay, th́ chắc người này sẽ bỏ cuộc”, th́ có lẽ ngài đă đối xử với tôi nhẹ nhàng hơn.

Cho tiền mai táng

Tôi đă kể lại câu chuyện làm sao tôi, một kẻ vụng về chẳng biết làm ǵ cho đúng cách, đă được huấn luyện trở thành một người ít nhất có thể nấu cơm trên bếp lửa, đun nước tắm, cọ nhà vệ sinh, và làm việc trong vườn được. Và rồi, theo đúng thời đúng lúc, tôi cũng được dạy những điều khác, như là đọc kinh điển và cử hành những lễ nghi thích hợp đối với một vị tăng sĩ.

Rồi một ngày kia, sau khi tôi đă ở chùa Daishuin hơn một năm, lăo sư nói với tôi, “Một người, nhất là một người đă xuất gia làm tăng sĩ, cần phải có những giao tiếp với người khác. Mi không thể sống cô lập được. Mi phải có những liên hệ đến nhiều người khác. Tuy rằng một đệ tử học đạo chỉ với một người thầy thôi cũng có thể gọi là đủ, nhưng v́ mục đích phải có những liên hệ xă hội khác, mi cần phải đi đến một thiền đường để tu tập ở đó.”

Có hai loại thiền tự. Thường thường các vị sư khi mới xuất gia ở trong một loại chùa cho đến khi tốt nghiệp đại học. Ra trường rồi, những vị tăng trẻ này gia nhập một thiền viện để chuyên tu tọa thiền một cách triệt để. Tôi đă được thầy định đoạt cho gia nhập vào thiền viện Đại Đức để tu tŕ như loại sau này.

Một tăng sĩ trên đường đến thiền viện chuyên tu đem theo trong ḿnh một cái hộp nhỏ đựng quần áo. Cái hộp đó, theo truyền thống, làm bằng giấy dầy được phết lên một lớp sơn mài cho cứng, lớn hơn cái hộp đựng sách một chút. Bát ăn cơm, đũa, dao cạo và đá mài để cạo đầu, kinh sách, đồ lót, và áo mưa được gói làm hai gói và cột lại bằng một sợi dây để vị sư đó có thể quẩy hết những đồ dùng đó lên trên lưng. Ông ta vén áo lên giắt vào lưng quần, nai nịt hai bắp vế, cột chặt lại đôi giầy rơm, đội nón tre lên đầu, rồi lên đường đến thiền viện.

Tôi đang sắp xếp lại cái hộp quần áo của tôi th́ lăo sư đi vào hỏi, “Thế nào? Mi đă cột cái hộp lại chưa?”

“Chưa, con đang sắp làm đây.”

“Thế th́ đúng lúc quá. Đem cái nắp hộp đi vào pḥng của thầy.” Thầy ra lệnh.

Cái hộp này, trông giống như một cái rương nhỏ đựng thuốc, được đóng chặt lại bằng một cái nắp. Không hiểu lăo sư có ư định ǵ, tôi đem cái nắp vào trong pḥng của người. Lăo sư cầm lấy nắp hộp và để vào dưới đáy ba tờ giấy một ngàn yen. (vào thời buổi đó, tờ giấy một ngàn yen vẫn c̣n có giá lắm)

“Mi có hiểu ư nghĩa của cái này không?” lăo sư hỏi sau khi người đă bỏ tiền vào.

“Có phải tiền cho con tiêu không?” tôi định hỏi, nhưng đă kịp ngăn lại trước khi thốt ra lời nói, biết rằng tôi sẽ bị mắng ngay lập tức nếu nói điều ǵ ngu dại.

Lăo sư đă quá bẩy mươi tuổi khi tôi đến đó xin làm đệ tử của ngài. Lúc đó ngài đă cảnh cáo tôi là, “Ta không biết ta c̣n sống bao nhiêu lâu nữa. Nếu thầy của mi chết nửa chừng, mi sẽ bị đứt gánh nửa đường tu. Nếu không có ai để nương dựa vào để sống, mi sẽ gập rất nhiều khó khăn. Tốt hơn là nên đi t́m một vị thầy khác trẻ hơn.”

“Con vẫn c̣n ít tiền cha con để lại. Con sẽ không là gánh nặng tài chánh cho thầy đâu,” tôi năn nỉ.

Với lời hứa đó, tôi đă được Lăo sư thâu nhận vào làm đệ tử dưới trướng. Theo sự thỏa thuận trước này, ông đă chưa bao giờ cho tôi một xu nào để tiêu.

Bây giờ, khi tôi sắp rời chốn này đi đến thiền viện, tôi nghĩ chắc Lăo sư, dù luôn luôn có vẻ chắc nịch, cũng có thể cho tôi một ít tiền để tiễn đưa. Tuy nhiên, trái ngược với sự trông đợi của tôi, ngài cho biết là, “Đây là tiền Niết Bàn.”

H́nh ảnh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nằm nghiêng một bên khi ngài nhập diệt được biết đến như là “h́nh ảnh Niết Bàn.”

“Mi sắp đến thiền viện đem thân mạng phó thác ở đó. Nếu không may mắn, mi sẽ bị thất bại và rồi sẽ chết giữa chừng trong lúc tu. Để cho mi không là một gánh nặng với bất cứ ai, ta cho tiền này để mai táng cái thân.”

Lăo sư b́nh thường rất nghiêm khắc và không hay nói đùa. Nghe người nói, với bộ mặt nghiêm trọng, “tiền này là để mai táng ngươi đó,” làm cho tôi ớn lạnh xương sống. Với một quyết tâm mới, tôi tự thề với ḿnh, “Ta sẽ làm được điều đó”!

Tôi đă từng nghĩ về cái chết trước đây, khi c̣n là một học sinh phải đi ra trận tuyến, tuy nhiên cái chết mà Lăo sư đă ám chỉ trong câu … “Tiền này để mai táng cho ngươi” … có một ư nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Cái chết mà ngài nói đến đó không phải là cái chết của thể xác, mà là cái chết của bản ngă tôi.

Không cần biết chúng ta có khéo léo biện hộ đến thế nào, khi đi thẳng đến gốc của vấn đề, động cơ chính của mọi sự vẫn là để nâng niu cái bản ngă quư giá của chúng ta. Trừ khi chúng ta tu tập để vượt qua được sự vướng mắc ngoan cố vào cái ngă của ḿnh, chúng ta sẽ không mở mắt ra được. Những lời lẽ của Lăo sư đă đánh thức tôi như vậy. Tôi cảm thấy những lời người nói về sự mai táng thân tôi như là cái thúc ở bên sườn vậy. Ngày nay, tôi cũng gởi các đệ tử của tôi đến thiền viện với một tờ giấy bạc mười ngàn yen, để mai táng thân của họ.

Ngày hôm sau, khi trời vẫn c̣n đen như mực, tôi đến pḥng Lăo sư từ biệt, và rồi rút lui ra cửa sau, bước xuống nền đất ở trên lối ra vào. Một vị tân sa di không được phép dùng cửa trước. Khi với tay lấy đôi giầy rơm, tôi nghe tiếng Lăo sư bước ra đàng sau. Bởi v́ Lăo sư luôn luôn là người giữ cung cách uy nghiêm, không phải là loại có thể đi ra tiễn đưa đệ tử, tôi ngạc nhiên thấy người đi ra qua cửa bếp phía sau. Hơn thế nữa, người lại c̣n bước xuống thềm đất, ngồi xổm dưới chân tôi, và lấy dây cột đôi giầy rơm của tôi lại.

Ngượng ngùng, tôi vội vàng rụt chân lại và phản đối, “Ấy, thầy đừng làm như vậy. Con làm lấy được mà.”

“Đây, đưa chân đây cho thầy,” thầy dục, kéo chân tôi về phía người. Sau khi đă cột mấy sợi dây gọn gàng lên đôi giầy, người gơ tay vào mấy cái nút và nói, “Đừng có cẩu thả mà làm lỏng mấy sợi dây này.”

Dĩ nhiên, khi tôi đến thiền viện và được nhận vào đấy, tôi cũng sẽ tháo dây của những đôi giầy rơm này ra. Điều thầy muốn nói, tôi hiểu là, đừng bao giờ sơ xuất làm lơi lỏng sợi dây của lời nguyện trong đường tu. Một lần nữa, tôi run người trong ư chí quyết tâm của chính ḿnh, cúi rạp xuống chào Lăo sư rồi cất bước ra đi trong bóng tối của buổi sáng sớm tinh mơ đến thiền đường của thiền viện Đại Đức ở Kyoto.

Ư nghĩa của sự can đảm

Khi một vị tăng xin đăng nạp vào trong một thiền viện để tu tập, lúc đến tiền điện của thiền viện ấy, vị tăng bỏ nón ra cất đi trong một góc nhà, trèo lên bực thang, và lên tiếng gọi. Trong một đại thiền viện, thường có tiền điện lớn mênh mông và một bực thang dẫn lên một giải hành lang rộng lớn ngoài xa. Tuy rằng có thể có đến khoảng mấy tá tăng sĩ đang tu tập ở trung tâm của thiền viện, chung quanh bốn bề đều không một tiếng người, không khí im lặng như một cái nhà mồ. Vị tăng gọi lớn, giọng ngân dài, “Quư thầy ơi! Xin mở cửa cho tôi!”, một thủ tục đă được lập ra từ thời xa xưa đến giờ.

Vị tăng xin đăng nạp cảm thấy như giọng nói của ḿnh bị hút vào trong khoảng không gian sâu thẳm của thiền viện. Bấy giờ, có tiếng trả lời từ đàng xa. “Ai đấy?” Một vị sư xuất hiện, mặc y áo bằng vải thô và trông có vẻ rất kinh nghiệm. “Anh đến từ đâu?” Ông tra hỏi.

Vị tăng trẻ đứng trên bực thềm đưa tay ra trước mặt lễ phép tŕnh giấy tờ mang theo. Trong những giấy tờ đó có đăng lục của tiểu sử cá nhân, một thơ giới thiệu vào thiền viện, và một thỉnh nguyện thư trong đó ông nguyện sẽ hi sinh cuộc đời ḿnh cho đạo pháp, tất cả đều viết tay với bút lông và cho vào một phong b́.

Một cách thật trịnh trọng, người mới đến xưng danh tính và nói rơ xuất xứ của ḿnh đến từ quận huyện nào, thành phố nào, ở chùa nào, và đă học với vị thầy nào. Vị tăng nói rằng ông muốn đến đây để gia nhập chúng và có thể treo y bát, gậy của ḿnh ở trong thiền đường nơi đây. Sau đó ông xin cho lời thỉnh nguyện ấy được chấp nhận.

Vị sư bảo thí sinh đợi ở đấy rồi biến mất vào phía trong. Một lúc lâu sau trở lại, theo đúng nguyên tắc, vị sư sẽ không nói rằng:”Xin đón chào anh đến đây. Mời đi vào trong.” Thay vào đó, thế nào vị sư cũng đưa lệnh ra là lời thỉnh nguyện của thí sinh đă bị từ chối. Ví dụ như, vị sư có thể nói rằng thiền viện đă đủ chỗ rồi, hay lúc này phương tiện rất eo hẹp, không thể nào kham nổi thêm một người nữa.

Trường hợp của tôi là, bây giờ tôi cân tới 150 cân Anh, nhưng hồi ấy tôi chỉ nặng chưa đến 90 cân và trông toàn là da bọc xương khi đến đó xin vào thiền viện. Tôi bị từ chối với lư do là, “Trông anh có vẻ yếu ớt quá. Sẽ không thể nào đủ sức để theo kịp sự tu tập gắt gao ở đây. Xin hăy đến thiền viện khác mà nạp đơn.”

Có khoảng chừng bốn mươi thiền viện chuyên tu trong cả nước, nhưng bất cứ đến chỗ nào, vị tăng cũng sẽ bị từ chối ở đó. Bị bác rồi, vị tăng cầm lấy cái phong b́ bị ném vào mặt lúc nẫy, rồi rút lui vào một xó để không cản trở người qua lại. Oâng trụ vào một chỗ trên bực thềm, phủ phục xuống, trán áp xuống đất trong tư thế khẩn cầu cho tới khi nào được chấp nhận gia nhập thiền viện.

Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa, là một tăng sĩ xuất thân từ An độ trong thế kỷ thứ 6, cũng là vị tổ chân truyền đời thứ hai mươi tám kể từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tục truyền rằng Huệ Khả (tiếng Nhật gọi là Eka), người sau này kế thừa Bồ Đề Đạt Ma làm vị tổ thứ hai của thiền tông Trung Hoa, khi đến đó xin học đạo, Tổ Đạt Ma đă hoàn toàn không thèm biết đến ông. Huệ Khả đứng ở cổng và nhất định không chịu di chuyển cho đến khi được Tổ Đạt Ma nh́n tới.

Mấy ngày liền, Huệ Khả đứng yên vị ở một chỗ. Đến ngày 9 tháng 12, tuyết bắt đầu rơi phủ kín đến đầu gối của ngài, nhưng ngài vẫn đứng yên không nhúc nhích. Cuối cùng, Tổ Bồ Đề Đạt Ma quay ra nh́n Huệ Khả và hỏi: “Ngươi làm ǵ ở đây?”

Khi nghe được tiếng của thầy sau bao nhiêu ngày chờ đợi lâu dài, Huệ Khả, những giọt lệ biết ơn tuôn trào trên má, tŕnh bầy ư nguyện muốn đến để cầu đạo giải thoát. Bồ Đề Đạt Ma trả lời một cách phũ phàng, “Đạo vi diệu, đạo vô thượng của Phật chỉ có thể đạt được qua những nỗ lực vô tận, qua sự hành tŕ cái không thể hành được, chịu đựng điều không thể chịu đựng được. Nay ngươi chỉ có một chút đạo hạnh, một ít trí tuệ nhỏ nhoi, với một tâm nông cạn và đầy ngă mạn, làm sao có thể mong đạt tới chân pháp được?”

Như vậy, Huệ Khả đă bị nói thẳng ra rằng chỉ với một ít trí tuệ, một ít khả năng và một tâm si mê đầy giao động, sẽ không thể nào mong đạt sự giác ngộ chân lư và an lạc được. Để trả lời sự khích bác của Tổ Bồ Đề Đạt Ma và chứng minh rằng ư chí quyết tâm cầu đạo của ḿnh là hoàn toàn chân thật, tương truyền rằng ngài đă rút dao phay ra chặt mất cánh tay của ḿnh. Chỉ khi ngài dâng lên cánh tay bị chặt đẫm máu ấy, Bồ Đề Đạt Ma mới chịu chấp nhận cho ngài vào học đạo.

Bắt nguồn từ truyền thống này, những nghi thức để nhập thiền viện tu tập thật cực kỳ cam go, ngay cả bây giờ vẫn áp dụng sau một ngàn năm trăm năm. Tôi đă biết ngay từ đầu là tôi cũng sẽ phải tuân theo những luật lệ của truyền thống này. Do đó, đầu tiên tôi đă ḅ qua cổng, sửa soạn tinh thần để chịu đựng cái thủ tục không thể tránh khỏi này.

Mặc dù vậy, dù chỉ là thủ tục, điều tôi phải chịu đựng cũng thật là khó khăn. Chẳng bao lâu sau khi đơn xin của tôi đă bị từ chối, một vị sư khác xuất hiện, cầm theo một cây gậy bằng gỗ. “Mặc dù người đă bị từ chối không cho nhập viện, ngươi vẫn ngoan cố chường mặt ở đây làm phiền người khác, làm cản trở lối ra vào của thiền viện,” ông nói, “yêu cầu ngươi phải đi ra khỏi đây ngay lập tức.”

Từ trước cho tới lúc đó, tôi vẫn c̣n được nghe những lời nhă nhặn, nhưng bây giờ th́ những câu mắng chửi bắt đầu, mặc dù vậy, tôi vẫn không chịu rút lui. Tôi cứ tiếp tục ở yên chỗ của ḿnh, không động đậy chút nào.

“Ê! Tên kia! Bộ ngươi điếc hay sao?”

Vị sư tiếp theo câu chửi mắng kia với những cú đấm, cú đá, và nguyền rủa hết lời, và chỉ một lúc sau tôi đă thấy ḿnh bị đá văng ra khỏi cổng. Khi tôi ngẩng lên thấy vị sư đă đi vào trong rồi và lối vào đă trống trải, tôi lại len lén đi vào, như một con mèo đang ŕnh mồi, và lại tiếp tục tư thế phủ phục trên bậc thềm. Sau đó, cảnh trên lại tiếp tục xẩy ra nhiều lần.

Sự nhẫn nhục của tôi khởi đầu c̣n tồn tại là v́ tôi biết rằng đây là một thủ tục mà tôi phải chịu đựng qua, nhưng dần dần, khi nó cứ kéo dài, tôi bắt đầu thấy bực dọc. “Họ không thấy là họ đă quá đáng một cách không cần thiết sao, khi ḿnh không hề có một chút chống trả lại?” Tuy nhiên, đến tối, những ư tưởng này cũng chẳng c̣n, và tôi chỉ c̣n cảm thấy khốn khổ và tủi nhục. Rồi tôi càng lúc càng thương xót cho ḿnh. “Tại sao ḿnh lại để cho họ đối xử như một cái giẻ rách vậy?” Tại sao tôi phải ở trong tư thế khốn nạn này trước cánh cổng đáng ghét này? Cha mẹ của tôi chết rồi, nhưng dù sao tôi cũng vẫn c̣n trở về Toyama được mà. Tôi vẫn c̣n họ hàng ở đó, tôi vẫn có thể sống được mà không phải bị đối xử tàn nhẫn như thế này.”

Tất cả những điều đó và nhiều điều nữa đă băng ngang tâm trí tôi lúc đó.

Khi được thọ giới xuất gia, tôi đă phần nào mang một quyết tâm muốn tu hết sức ḿnh. Sau đó, khi Lăo sư nói với tôi, “Đây là món tiền Niết Bàn, để mai táng thân ngươi,” tôi đă lại lạnh ḿnh trong một quyết tâm mới. Rồi, khi Lăo sư cột lại dây giầy rơm cho tôi và khuyến cáo rằng, “Đừng có lơ là mà làm lỏng những dây này,” chẳng phải là lúc đó tôi đă càng thêm quyết chí, nhất định phải đi đến cùng đó sao? Nhưng bây giờ tôi ở đây, chỉ chưa đầy một ngày sau đó, tâm đă đầy dao động, tự hỏi ḿnh tại sao lại ở đây, sao lại phải chịu cảnh khốn cùng như thế này.

Tôi nghĩ rằng con người ta rất là yếu đuối. Nếu không biết tự kỷ luật ḿnh, người ta sẽ không thể tin vào ư chí của ḿnh được. Rất dễ dàng để bị lung lạc. Khi tôi thấy ḿnh đang bị lung lạc, lần đầu tiên tôi đă hiểu được sự hệ trọng của việc tiếp tục ḅ lại vào trong chỗ tiền đường. Sự tiếp tục ḅ lại chỗ cũ này được gọi là “bị giữ đứng ở ngoài vườn.” Trong t́nh trạng bị giữ ở ngoài vườn và đứng đó, vị tăng bị bắt buộc phải làm mới lại quyết tâm ban đầu, phải tăng cường cho quyết tâm đó, phải quyết tâm trở lại, và củng cố sự quyết tâm đó càng xa hơn nữa. Chính v́ lư do này mà vị tăng bị bắt phải ở ngoài cửa ra vào tiền đường của thiền viện.

Tất cả răng của tôi … vốn chẳng mạnh khỏe ǵ … bắt đầu cảm thấy như đang long ra, máu nóng trào lên mặt. Tôi nghĩ chắc đôi mắt của tôi như muốn nổ ra khỏi xương sọ, và lưng tôi, với vị thế phủ phục lâu dài như vậy, cũng muốn sụm xuống. Trời vẫn c̣n lạnh khi tôi đến tiền đường vào đầu tháng ba, v́ năm đó tiết mùa đông đă thật khắc nghiệt ở Kyoto. Cái lạnh bắt đầu từ mấy ngón chân, thấm qua chân tôi trong đôi giầy rơm ướt đẫm, và dâng lên đến đầu gối, khiến đôi chân tôi tê dại, không c̣n một cảm giác ǵ nữa.

Trực diện với con người bất an của ḿnh, trong bất cứ điều kiện nào, và rồi trở về với cái tâm của lúc ban đầu, tự ḿnh đứng dậy sau khi tâm đă thay đổi, suy yếu, và sụp đổ, để rồi củng cố trở lại cái quyết tâm muốn hoàn thành tới nơi lời nguyện ban đầu … phải chăng đây chính là ư nghĩa của sự can đảm?

Tôi đang làm ǵ ở đây?

Trong lúc chờ đợi ngoài cổng chùa, tôi bắt buộc phải định nghĩa lại thế nào là sự dũng cảm. Khi c̣n nhỏ, tôi thường hay phô trương sự dũng cảm của ḿnh bằng cách tấn công người khác, nhưng đó không phải là dũng cảm. Sự hung hăng đó có thể ví như một con chó nhỏ mà hay sủa thật to. Sự dũng cảm đích thực là chấn chỉnh lại cái tinh thần đă sa sút và kiên tâm theo đuổi mục tiêu ban đầu của ḿnh. Để có thể giữ vững được như vậy, phải tự đặt câu hỏi với ḿnh là: “Tôi đang làm ǵ ở đây?”

Trong khi bị giữ ở ngoài vườn, nhiều tư tưởng khác nhau đă trôi qua trong tâm trí tôi. Tôi nghiệm ra rằng mỗi con người được vào tu trong thiền viện này đều bẩm sinh ra khác nhau. Mỗi con người đi vào trong cuộc đời này đều có những khả năng khác nhau, những kinh nghiệm và học vấn khác nhau, suy nghĩ những tư tưởng khác nhau; không ai giống ai cả. Trong tất cả những sắc thái dị biệt ấy, nếu ai nấy ở trong thiền viện đều muốn làm theo ư của ḿnh, đều khăng khăng rằng, “Tôi nghĩ như thế, tôi làm như thế đấy,” th́ việc tu hành rồi sẽ ra làm sao?

Có câu ngạn ngữ rằng, “Rượu mới đổ vào b́nh mới”. Nếu muốn chuyển hóa bản thân ḿnh bằng cách đem thân đến thiền viện để tu tập, th́ đó cũng có thể được ví như cái b́nh mới, và như thế cần phải xả bỏ hết những kinh nghiệm quá khứ, những kiến thức, và địa vị xă hội của ḿnh. Người thiền sinh phải trở nên trống rỗng hoàn toàn và đi vào trong thiền viện với một tâm khiêm tốn, nhẫn nhục. Ở trong cái xó góc trước cổng chùa này, người sa di thiền sinh bị bắt buộc phải nghĩ cho thấu suốt tất cả những điều ấy và dọn ḿnh để hành động cho thích hợp.

Trong buổi tối ngày thứ ba bị giữ ở ngoài vườn chờ đợi, một vị sư đi ra thông báo với tôi rằng: “Xét rằng kể từ hôm kia tới nay, ngươi vẫn giữ nguyên vị trí ở trước cổng ra vào mặc dù đă bị mắng chửi, đánh đập; nay ra quyết định rằng: ngươi có vẻ cũng có ư chí muốn tu tập, v́ thế, ngươi được phép bước vào trong. Tuy nhiên, v́ chưa được chấp nhận chính thức vào tu tập ở đây, nên ngươi phải luôn luôn cẩn trọng.” Với những lời nói đó, cuối cùng tôi đă được bước chân vào thiền viện.

Căn pḥng tôi được phép vào gồm có một bên là tường và ba bên là liếp cửa bằng giấy mở toang. Tôi đặt cái hộp đồ vẫn đeo trên lưng vào cạnh tường, rồi ngồi xuống đối diện vách tường và bắt đầu tọa thiền. Không có cách ǵ biết ai đang nḥm ngó ḿnh từ ba vách trống trải kia. Lúc này là lúc tôi không thể nào lơ đễnh được.

Ban ngày tôi được cho ăn ba lần và ban đêm được phát chăn chiếu ngủ, nhưng vẫn phải ở năm ngày nữa trong pḥng này; như thế, tôi đă bị đặt ḿnh trong sự tự vấn thật căng thẳng suốt trong tám ngày liền. Tôi đă tự hỏi ḿnh biết bao nhiêu lần, “Tôi đang làm ǵ ở đây? Tôi sẽ làm ǵ bây giờ?” Dưới áp lực của sự tự vấn này, buộc ḿnh tôi luôn luôn phải quay trở về cái khởi điểm, về cái tâm ban đầu trong sự tu tập của tôi.

Đă bao lần tôi đă trở lại cái khởi điểm ấy, đă bao lần tôi khẳng định lại quyết tâm của ḿnh. Tôi tin rằng sự dũng cảm là kiên tŕ theo điều ḿnh đă quyết định làm và chịu đựng tất cả những khó khăn gặp phải trên đường. Giữ vững và làm được cái ư định ban đầu ấy -- chỉ một điều ấy thôi -- cũng đă là dũng cảm thực sự rồi.

Niềm tin vạn năng

Và thế là tôi đă nhập thiền viện Đại Đức và ở đó suốt trong mười lăm năm. Trong thời gian đó, tôi thực tập tọa thiền, rồi dần dà sau đó đă được thầy ấn chứng và tôi cũng đă mắc phải biết bao nhiêu sai lầm. Nhưng dù với tất cả những thất bại ấy, tôi vẫn kiên tŕ tu tập được, và đó không phải là nhờ những lư lẽ biện luận, mà nhờ những kinh nghiệm cá nhân sống thực. Chính nhờ tôi đă sống trong niềm tin, nên đă vượt qua được những cửa ải khó khăn trong sự nỗ lực tập trung tận cùng, không một lời than van. Thay v́ ngă gục khi thấy ḿnh bị dồn vào phía chân tường, dù có vẻ đáng sợ đến đâu, tôi cũng vẫn tự quán xét lại, thẩm định lại, để rồi tiếp tục bước tới. Tôi nghĩ rằng sở dĩ tôi có được sự can trường như vậy là nhờ ở bài học đầu tiên tôi đă nhận lănh được khi đang cố xin gia nhập vào thiền viện này.

Hakuin Zenji (Bạch Ẩn thiền sư), người được coi như đỉnh cao của tông Lâm Tế, đă khẳng định rằng ba yếu tố cần thiết để đưa tới sự đạt ngộ trong đường tu cũng như trong bất cứ nỗ lực nào là: đại tín căn, đại nghi đoàn, và đại phấn chí.

“Niềm tin” (đại tín căn) có nghĩa là tin tưởng nơi thầy ḿnh và nơi chân lư mà thầy của ḿnh là biểu tượng. Nếu phân tích một cách rốt ráo, đó là niềm tin nơi năng lực vô tận của Phật tính mà chúng ta đều vốn đă có sẵn.

Trong khi cái yếu tố thứ hai, đại nghi đoàn (mối nghi lớn), xem có vẻ như là đối nghịch với sự tin tưởng, nhưng thực ra nó lại khiến ta thường xuyên ư thức đến sự non kém của ḿnh, cũng như ư thức đến vấn đề mà ta vẫn hằng ôm ấp trong tâm. Từ cái lực nội tại của con người, Phật tính, đă sinh ra một truyền thống trí tuệ thật kỳ diệu, và ta tin tưởng vững chắc nơi trí tuệ này. Nhưng khi tự xét đến sự non yếu của chính ḿnh và thấy không thể chấp nhận được, ta sẽ thường mang một vấn đề thắc mắc trong tâm, một sự xung đột nội tại.

Từ đó ta phải tiến tới trong sự phẫn chí, có nghĩa là kiên tŕ tu tập trong sự dũng cảm. Trong tiếng Nhật, chữ “phẫn chí” được ghép bằng hai chữ mang ư nghĩa riêng là “phẫn nộ” và “kỳ vọng”. Sự phẫn nộ này không phải hướng đến ai khác mà đến sự yếu kém của chính ḿnh, và v́ thế ta vung lên ngọn roi mạnh mẽ của sự kỳ vọng, đó là sự phẫn chí.

Chẳng phải qua sách vở hay kinh kệ mà tôi đă học được ba yếu tố cần thiết mà ngài Bạch Ẩn đă đề ra cho sự hoàn thành bất cứ mục tiêu ǵ trong đời. Chính ở trong cuộc sống hàng ngày mà tôi đă luôn luôn phải dùng đến ba yếu tố này. V́ lẽ đó tôi cảm thấy rất trân trọng và biết ơn. Trong hai mươi năm đầu của cuộc đời tôi chỉ hiện hữu một cách nửa vời, và nếu tôi không bị bắt buộc phải sống thực với ba yếu tố này -- niềm tin, sự nghi hoặc, và quyết tâm -- tôi sẽ không bao giờ có được sự kiên tŕ để vượt qua được những khó khăn tên đường tu Thiền.

Tin tưởng vào thầy của ḿnh, vào những sư huynh tiền bối của ḿnh, theo truyền thống, nói khác đi có nghĩa là tin tưởng nơi chính ḿnh. Ta phải tự gỡ rối những khuyết điểm của chính ḿnh. Hơn thế nữa, ta c̣n phải tiếp tục tiến bước, và đứng vững trong mọi thử thách. Dù ở lúc nào, chốn nào, nếu không có ba yếu tố này, ta sẽ không thể hoàn thành được điều ǵ. Tôi tin chắc rằng dù thế gian này có biến đổi đến thế nào chăng nữa, đây cũng vẫn là ba cột trụ nâng đỡ cho bất cứ những ǵ chúng ta mong ước thực hiện được.

Những thầy cô giáo thường xem bổn phận của họ là phải làm sao cho học sinh thích thú để học. Những bậc cha mẹ thường tin rằng làm cha mẹ là phải nuôi nấng những đứa trẻ sao cho chúng càng ít khóc càng tốt, càng ít bị va chạm càng tốt.

Tôi xin các bạn hăy xét lại những điều này thật cẩn thận. Xă hội chúng ta, mà những đứa trẻ này rồi sẽ gia nhập, có phải là một xă hội có sự thông cảm không? Đó là một xă hội mà trong đó tâm trí mỗi người đều đầy ắp những vấn đề riêng tư của ḿnh; đó không phải là một thế giới trong đó người ta đối xử với nhau trong sự thông cảm và quan tâm. Ngược lại, đó là một xă hội đầy rẫy những người cảm thấy thích thú khi thấy người khác thất bại, thưởng thức sự nghèo nàn của người hàng xóm như thưởng thức một miếng thịt thơm ngon. Thật đáng tiếc là, xă hội của chúng ta không hề là một xă hội lư tưởng chút nào. Khi trẻ con được dạy dỗ bởi những giáo viên luôn luôn t́m cách làm vui ḷng, chiều đăi chúng, để cho chúng muốn làm ǵ th́ làm, và những cha mẹ luôn luôn t́m đủ mọi cách để không cho chúng nếm mùi đau khổ, chịu sự bất tiện, th́ điều ǵ sẽ xẩy ra cho chúng khi chúng bị ném ra ngoài đời trong một thế giới như vậy? Phải chăng đây là trường hợp của nhiều người hiện đang đắm ch́m, không nhiều th́ ít, trong sự hoang mang, bực bội và thất vọng hàng ngày?

Tôi tự hỏi tại sao những cha mẹ, thầy cô giáo, và những người lớn khác không sớm sủa t́m cách cung ứng cơ hội và tập cho những con trẻ có thể tự xử dụng được tiềm năng có sẵn nơi chúng, cái tiềm năng mà chúng ta đều có, nhờ vào đấy ta có thể đứng lên tự giải quyết được những vấn đề của ḿnh trong những lúc khó khăn. Chỉ khi chúng ta nếm mùi bất măn và bực bội, tinh thần vô uư, ư chí quyết tâm muốn vượt qua mọi trở ngại mới dấy lên từ năng lực nội tại, từ năng lực tiềm tàng ấy của chúng ta.

Và đây chính là điều mà sự tu luyện của một vị thiền tăng đă đem lại.

Phần hai: TU LUYỆN

 

Tâm Bất Động

Cách đây nhiều năm ở Luân Đôn, một người đàn ông đến gặp tôi, tự nhận là đă hành thiền được sáu bẩy năm nay và hỏi như sau: “Tôi tập thiền v́ muốn có được một tâm bất động, nhưng có vẻ như tôi chẳng thể nào có được tâm ấy. Chính ngay ngày hôm nay, khi đang trên đường đến gặp thầy, có một người đă dẫm lên chân tôi ở trong xe điện ngầm. Người ấy chẳng buồn nói “Xin lỗi” ǵ cả, mà cứ tiếp tục đi như là không có ǵ xẩy ra. Tôi cố kềm chế ḿnh, cố giữ cho tâm thản nhiên, nhưng không thể nào mà không bực ḿnh được. Xin thầy chỉ cho tôi cách tọa thiền thế nào để cho có được một tâm bất động.”

Tôi trả lời ông ta, “Ông đă có một tâm bất động rồi đó! Mặc dù từ lúc ông bị dẫm chân lên tới giờ cũng cách đây khá lâu rồi, suốt từ khi đó, tâm ông vẫn giữ nguyên ở chỗ ông đă bị làm cho bực ḿnh ấy. Nếu ông nghĩ rằng tâm bất động là một tâm không lay động ǵ dù có gặp điều ǵ chăng nữa, và nếu ông thực sự muốn như vậy, th́ ông chẳng cần phải đem nó ra nữa.”

“Nếu vậy th́, thế nào là một tâm bất động thực sự?” ông ta ngạc nhiên hỏi.

“Tâm bất động thực sự mà ông đă có từ khi mới sinh ra đời là tâm vận chuyển với sự tự do tự tại. Tâm ấy không có điều ǵ là không biết và phản ứng một cách hết ḿnh với những điều đang tới, nhưng không dính mắc vào một cái ǵ hết, mà luôn luôn sẵn sàng ứng phó với những ǵ đến sau đó. Một tâm bất động là một tâm không bao giờ bỏ mất tính tự do của nó, và lúc nào cũng luân lưu không ngừng .”

Ông bạn này đă hoàn toàn bị thuyết phục với câu trả lời của tôi, và đă giă từ tôi sau khi nguyện là sẽ càng thêm tinh tấn tọa thiền. Tôi đoán là tới ngày nay ông ta cũng vẫn đang tiếp tục nỗ lực chuyên cần để ngộ được cái “tâm bất động” ấy, cái tâm thường luân lưu trong sự tự do tự tại.

Ông này là một trường hợp điển h́nh của sự dính mắc vào điều mà chúng ta đang cố gắng tập trung toàn lực để đạt được. Cho dù chúng ta có hăng hái nhiệt tâm đến thế nào chăng nữa, nếu ta không biết luân lưu theo sự biến đổi của nước triều, ta sẽ không có được một tâm nhất quán, sẽ không đạt được Định.

Chữ Định (samadhi) bao hàm hai ư nghĩa cực kỳ tương phản nhau: “sự hoàn toàn tiếp nhận” và “sự hoàn toàn không tiếp nhận”. Để có thể “hoàn toàn tiếp nhận” một điều ǵ đang tới, cần phải “hoàn toàn không tiếp nhận” những ǵ đă tới trong giây phút trước đó và những ǵ sẽ tới sau đó. Một tấm gương dù có phản chiếu thật rơ ràng chi tiết tới đâu cảnh trước mắt trong giây phút trước, nhưng nếu xoay nó đi, cảnh ấy sẽ biến đi hoàn toàn và tấm gương lại phản ảnh trung thực cảnh mới đang hiện ra. Cũng vậy, với năng lực có thể hoàn toàn tiếp nhận những ǵ đang có và hoàn toàn không tiếp nhận những ǵ đang không có, tâm chúng ta làm việc trong hai chiều đối nhau. V́ lư do đó, từ thuở xa xưa, tâm đă được ví như một tấm gương. Cái năng lực đưa đến trạng thái tiếp nhận hoàn toàn mọi sự đang đến trong thực tướng Như Như của chúng - có nghĩa là, một tâm hoàn toàn không thụ nhận và không dính mắc được gọi là “tâm bất động” hay chỉ đơn giản là Thiền.

Cái tâm không có điều ǵ là không biết đến nhưng cũng không dính mắc vào bất cứ điều ǵ không phải là cái có thể đạt được nhờ tu luyện. Đó là cái “năng lực” mà chúng ta đều đă sẵn có khi sinh ra. Những người được gọi là Thiền tăng như chúng tôi vào thiền viện là để dùng sự tu tập làm phương tiện đánh thức cái năng lực sẵn có ấy, để có thể biểu hiện nó ra một cách tự do, và đưa nó vào cuộc sống.

Biết đến cái ngu của ḿnh

Tôi đă từng nghe một nhận xét châm biếm về t́nh yêu và hôn nhân như thế này: “Hôn nhân là chuyển đổi từ một sự hiểu lầm đẹp đẽ sang một sự thông hiểu thê thảm.” Câu nói này cũng có thể áp dụng sơ qua đối với một số chặng đường trong tiến tŕnh tu tập thiền. Tôi xin nói lại một lần nữa là, tôi đă không nói quá khi xem cuộc đời của ḿnh chỉ là một chuỗi của sự nh́n nhận những điều tôi đă hiểu lầm (mà không phải là sự hiểu lầm đẹp đẽ ǵ) và là một tiến tŕnh nhận biết ra được cái ngu của ḿnh.

Đối với người đang có nhiều ham muốn, họ luôn luôn bám víu vào kinh nghiệm và kiến thức của họ trên hết; trong thế kẹt giữa hai áp lực của những cảm giác tự tôn và tự ti, giữa ư muốn xây đắp và hủy diệt h́nh ảnh của một cái ngă lư tưởng … việc nhận ra sự sai lầm trong những quan niệm của ḿnh là điều dễ nói hơn là dễ làm được.

Xưa ở Trung Hoa có một đại thiền sư tên là Triệu Châu. Khi Triệu Châu được năm mươi tuổi, thầy của ngài là Nam Tuyền mất đi. Sau ba năm để tang, Triệu Châu, lúc bấy giờ vào tuổi sáu mươi, khởi sự hành khước khắp nước Trung Hoa. Đến tám mươi tuổi, vị thiền sư xuất chúng này tới trụ tại một ngôi chùa tên là chùa Quan âm, ở đó ngài đă hướng dẫn đạo pháp cho tăng chúng và các cư sĩ cho đến khi ngài viên tịch vào năm một trăm hai mươi tuổi.

Một hôm có một học tăng đến chùa Triệu Châu và hỏi ngài, “Cái ǵ là kiên cố nhất, không thể nào phá vỡ nổi trên thế gian này?”

Triệu Châu trả lời, “Nếu ngươi muốn sỉ nhục ta, cứ tha hồ mà làm như ư muốn. Nếu cho là làm như vậy không đủ, cứ việc sỉ nhục thêm nữa. Nếu ngươi muốn nhổ vào người ta, cứ tha hồ mà làm đi. Nếu nhổ không chưa đủ, cứ việc đi lấy đất bùn mà ném vào người ta.”

Thoạt tiên, câu trả lời này có vẻ như chẳng ăn nhập ǵ với câu hỏi. Nhưng ư của Triệu Châu muốn nói là, dù có dùng đủ mọi cách lăng mạ đến thế nào, Phật tánh, vốn bất sinh và có sẵn nơi chúng ta, vẫn không suy suyển ǵ, và là kiên cố nhất trong tất cả. Nh́n bề ngoài th́ thấy tâm của một số người có vẻ như dễ dàng bị thương tổn. Nhưng thực sự, đó chỉ là những cái giả tạo và vẩn đục che phủ tâm ta, không phải cái tâm thanh tịnh trong sáng vốn có sẵn từ khi sinh ra là bị thương tổn.

Hầu hết mọi người đều hay phân biệt thật sắc bén giữa cái tốt và cái xấu, mà không nhận ra rằng những phân biệt đó chỉ là những cái giả tạo vô ư nghĩa. Họ ra sức tu tập trong quan niệm sai lầm rằng tu là vứt bỏ đi cái xấu và t́m kiếm cái tốt. Làm như vậy, họ đă công phu không đúng chỗ và phí phạm năng lực của họ. Ôm ấp những h́nh ảnh lư tưởng trong tâm, họ cố làm sao trở thành con người lư tưởng như hằng mơ ước, mà không nhận ra giá trị của cái họ đang có sẵn. Thật vậy, không phải dễ dàng mà hướng dẫn một nhóm người như vậy cho họ có thể ngộ ra được cái gốc rễ trang nghiêm căn bản của con người!

V́ lư do đó, trước khi gia nhập một thiền viện, người sa di sống cuộc đời của một học tăng trẻ, trong thời gian đó ông phải trải qua biết bao lần phải chối bỏ cái ngă của ḿnh. Ư tôi muốn nói không phải làø dẹp bỏ con người nguyên thủy của ḿnh, mà đúng hơn là đương đầu và cay đắng nh́n nhận sự non kém và giả tạo của cái ngă của ḿnh trong t́nh cảnh hiện tại: chối bỏ cái ngă trong t́nh trạng đương thời và nhận thức được sự trang nghiêm của con người nguyên thủy của ḿnh.

Lục tổ Huệ Năng của thiền tông, sống từ năm 618-713, đă xuất thân từ Tân Châu thuộc Lĩnh Nam, miền nam Trung Quốc, nơi bị coi là phần đất man rợ trong thời ấy. Huệ Năng, vốn mồ côi cha từ thuở nhỏ, đă nuôi mẹ bằng cách đi lượm củi trong rừng và đem về bán trong thành phố. Một ngày kia khi đang bán dạo, Huệ Năng đi qua một căn nhà và nghe thấy tiếng người đang tụng kinh Kim Cương. Khi nghe kinh, tâm Huệ Năng bỗng mở ra, ước nguyện muốn được giác ngộ bùng lên, và thế là ngài ra đi vượt đèo lên núi Hoàng Mai đến t́m vị tổ thứ năm là Hoằng Nhẫn.

Hoằng Nhẫn thoáng nh́n đă biết vị khách Huệ Năng này là một người phi thường từ trời đưa xuống. Nhưng khi nghe Huệ Năng nói đă đến từ tỉnh Tân Châu ở miền Nam, ngài đă cố ư sỉ nhục mà hỏi rằng, “ Làm sao con người man rợ từ Lĩnh Nam lại đ̣i tu mà thành Phật được?”

Huệ Năng không hề đổi sắc mà trả lời mạnh dạn rằng: “Con người ở miền Bắc và miền Nam tuy có đời sống khác nhau, nhưng Phật tánh không có phân biệt nam hay bắc.”

Khi Hoằng Nhẫn nghe thấy câu trả lời này, ngài biết ngay rằng Huệ Năng sẽ là người kế thừa ngài trong ngôi vị Tổ.

Nói về tâm linh, chúng tôi những thiền tăng đúng là hậu duệ của con người man di vùng Lĩnh Nam. Tuy chúng tôi mặc áo nâu sồng và sống trong những tu viện, chúng tôi vẫn chưa sẵn sàng cởi bỏ hết những cái hào nhoáng bên ngoài và vượt qua được lớp vỏ trần cấu dễ bị thương tổn của ḿnh.

Bây giờ, ta hăy nói về cuộc sống của những học tăng trẻ ra sao, và những ǵ họ làm trong thiền viện.

Đời sống trong thiền viện

Một ngày b́nh thường bắt đầu từ lúc 3 giờ sáng với tiếng chuông khua tay và tiếng gọi lớn “Kaijo!” (Thức dậy!) Các vị sư nhẩy ra khỏi giường, lấy một cái b́nh bằng tre đổ ba ngụm nước vào tay để xúc miệng và rửa mặt. Họ đi vệ sinh, mặc áo tràng lên, rồi vân tập đến thiền đường trong chánh điện.

Tất cả hành động của mỗi người đều được làm chung với nhau như một nhóm. Khi tiếng chuông đại hồng trong chánh điện đánh lên gọi các vị tăng vân tập, người trưởng nhóm của thiền đường, nơi mà các vị tăng thực sự sống ở đó, rung chuông tay lên và mọi người lần lượt im lặng bước vào. Thời kinh sáng bắt đầu trong chánh điện, kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ.

Buổi chiều lúc bốn giờ, trong ngày cuối cùng của năm, các vị sư đi một ṿng quanh chùa tụng niệm, bắt đầu từ chánh điện và chấm dứt ở nhà bếp, nơi thờ Idaten I daten có thần thông bay ṿng quanh trái đất như cái chớp, và v́ thế được phong là vị thần đem lại thực phẩm cho những người tu. Nhiều năm trước, khi mới bắt đầu học kinh, tôi lần đầu tiên đă đi ṿng cuối năm tụng niệm quanh chùa này. Khi vừa mới xong, Zuigan Roshi bỗng bất ngờ hỏi tôi rằng: “Ngươi dùng tâm ǵ để tụng kinh?”

Tôi hoàn toàn sững sờ, không biết phải nói ǵ có thể làm vui ḷng đại sư. Rồi, khi tôi vội vă trả lời một câu có vẻ rất Thiền rằng, “Con tụng kinh mà không dùng tâm nào cả,” tôi đă bị mắng ngay.

“Đồ ngu. Tại sao ngươi không tụng kinh trong sự biết ơn là: “Xin cảm tạ đă cho tôi một năm tu tập an lành?”

Cũng có những lúc khác Lăo sư đă quát với tôi là, “Giọng của ngươi run lên là v́ ngươi cố làm sao tụng cho thật hay. Ngươi chỉ cần tụng kinh với hết sức ḿnh là đủ rồi.”

Tụng kinh là một hoạt động đă đưa đến cho tôi vô số lần đụng độ với những quan niệm sai lầm của ḿnh.

Sau thời kinh buổi sáng, các vị sư trở về thiền đường và khóa tọa thiền bắt đầu. Khi một tiếng chuông đặc biệt được đánh lên, họ bắt đầu đi vào “tham thiền”, tức là đến gặp gỡ riêng tư với thầy. Từng người một, họ lần lượt đi vào đối mặt với lăo sư. Những ǵ xẩy ra ở đó không phải là một cuộc gặp mặt thân thiện giữa hai con người b́nh đẳng với nhau mà là một cuộc vấn đáp. Mỗi vị sư đều nhận một công án từ thầy của ḿnh, và phải trả lời cho công án đó trong cuộc gặp mặt này. (Một công án là một “vấn đề” rút ra từ pháp ngữ cũng như những hành động của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và những vị Tổ, có thể làm khai mở sự giác ngộ.) Vị sư phải quán triệt được ư nghĩa thực sự của công án qua công phu tọa thiền, chứ không chỉ qua suy nghĩ lư luận.

Khi thời tham thiền chấm dứt là đến bữa ăn điểm tâm. Trong suốt bốn năm tôi ở thiền viện, thức ăn chúng tôi dùng chẳng có vẻ ǵ là thức ăn cả; dần dần những bữa ăn đó mới đổi thành có vẻ truyền thống hơn. Nhưng dù thế bữa cháo của chúng tôi cũng chỉ toàn là bằng những hạt lúa mạch lức tṛn, chưa được chà vỏ, không phải là loại lúa mạch đă được hấp và xấy khô thường dùng trong các bữa ăn ở ngoài. Cháo là tiêu biểu cho bữa ăn điểm tâm trong thiền viện, đến nỗi chính chữ điểm tâm được đặt ra từ tên của món thực phẩm này.

Không cần biết hạt lúa mạch lức này được đun lâu tới đâu, nước cháo cũng chẳng đặc được tí nào, thế nên cuối cùng là món cháo này chỉ lơng bơng toàn là nước muối với những hạt lúa mạch lặn ở dưới đáy. Ngoài món cháo này ra, trong suốt ba năm, chúng tôi không được ăn ǵ khác ngoài hai miếng dưa mặn chát mà chúng tôi gọi là “dưa bất tận”. Chúng tôi sẽ cẩn thận mút cái mặn ra khỏi hai miếng dưa ấy khi ăn, hay có thể gọi là uống, ba bát cháo ấy.

Người ta thường nói rằng những vị thiền tăng ăn dưa muối mà không phát ra tiếng nào, nhưng thực sự là những miếng dưa chúng tôi ăn đó chẳng ḍn ǵ cả. Cho dù có cố cẩn thận và dè dặt liếm miếng dưa đó thật lâu đến thế nào, miếng dưa cũng sẵn sàng tan ngay ra và trôi xuống cổ họng.

Thật sự như vậy, không chỉ trong vấn đề ăn dưa muối, mà trong tất cả những hoạt động ở pḥng ăn … dơ đũa lên xuống, cầm bát lên và đặt bát xuống, húp miếng cháo nóng bỏng … không có cái ǵ là gây ra tiếng động. Không thể nào có sự th́ thầm nói chuyện, tất cả các hành động đều được làm trong những cử chỉ đă được định sẵn và theo tiếng đập của chiếc mơ gỗ. Pḥng ăn, cùng với pḥng tắm và cầu tiêu, được coi như là ba nơi im lặng, ở đó bắt buộc phải giữ yên lặng thật nghiêm nghặt. Dĩ nhiên, không cần phải nói là, thiền đường cũng luôn luôn thật là im lặng.

Tất cả những học tăng mới chung sống với nhau hai mươi bốn tiếng mỗi ngày, mỗi người có chỗ chỉ định chỉ rộng khoảng một chiếu tatami, trong gian thiền đường rộng lớn trống trơn, không có một vách ngăn, cho nên không có chỗ nào hay lúc nào có thể riêng tư được. Do đó, cơ hội duy nhất để có thể hoàn toàn riêng tư một ḿnh là ở trong cầu tiêu, và v́ thế bắt các vị sư phải giữ im lặng ngay cả ở nơi chốn đó, cũng là một cách để thúc cho họ tiếp tục giữ chánh niệm không ngưng nghỉ.

Ngày tắm rửa trong thiền viện là những ngày có số 4, hay 9 trong tháng. Các vị sư không chỉ tắm rửa mà c̣n giặt đồ, vá quần áo, và đi lo những công chuyện cần giải quyết. Tóm lại là họ chỉ tắm một lần mỗi năm ngày thôi.

Dù có là ai đi chăng nữa, nếu một người phải dậy sớm tinh mơ và đi ngủ trễ, tọa thiền rồi đi lao tác mỗi ngày, th́ bước vào trong bồn tắm là một cái thú thần tiên giống như là lên thiên đàng vậy. Tinh thần của ông ta sẽ lên cao độ mặc dù ông không muốn như vậy. V́ lư do đó, pḥng tắm cũng là một trong ba nơi chốn phải im lặng.

Nhưng chúng ta hăy trở lại với pḥng ăn. Điều quan trọng phải giữ giới luật im lặng trong lúc ăn là bởi v́ dù thức ăn có dở đến thế nào chăng nữa, tâm của một vị tăng cũng dễ đi lan man trong lúc đó. Thật vậy, tôi c̣n dám nói là thức ăn càng dở bao nhiêu, tâm lại càng dễ đi lang thang bấy nhiêu.

Sau bữa điểm tâm, các vị sư lau dọn bên trong và bên ngoài thiền đường trước khi đi ra ngoài khất thực vào lúc quá bẩy giờ. Những ngày khất thực xen kẽ với những ngày giảng pháp của thầy, nên nếu thầy giảng vào ngày thứ hai, thứ năm, thứ bẩy và thứ mười trong tháng, th́ ngày khất thực sẽ là ngày thứ nhất, thứ ba, thứ sáu và thứ tám. V́ ở Kyoto có đến bẩy thiền viện, nên chương tŕnh được sắp xếp để các vị sư trong khu vực gần nhau không đi khất thực trùng một ngày.

Quanh năm, các vị sư lê gót đi khất thực qua những nẻo đường của thành phố, đôi chân trần trụi bao trong những đôi dép rơm. Họ không được phép đứng ở ngưỡng cửa các nhà họ đi ngang qua, nhưng họ thường đi thành từng nhóm ba người và đi theo hàng một, cách nhau khoảng ba mươi mét, vừa đi vừa hô to lên “HO”.

Những căn nhà ở Kyoto thường nhỏ hẹp, sâu vào trong và sát với nhau, trông giống như một hàng lươn. Tôi được một vị sư lớn tuổi hơn dạy là phải đi cách xa nhau đủ để bà chủ nhà nếu đang ở ngoài sân sau phơi quần áo có nghe tiếng “Ho!” đầu tiên của vị sư đi đầu sẽ có th́ giờ để mà lau tay, đi kiếm ít tiền lẻ hay bới ít cơm ra cửa trước kịp lúc vị sư thứ ba đi sau cùng vừa mới tới nơi.

Hiện tại chúng ta đang sống trong một thời đại dư thừa, một thời đại mà không có ǵ khó khăn khi nhận được tiền và đồ cúng dường của thí chủ. Nhưng trong thời kỳ vừa sau cuộc thua trận Thế Chiến của chúng tôi, hầu như tất cả các vị sư đều rất ngại ngùng khi phải làm việc này. Ngay chính tôi cũng cảm thấy thật khó khăn khi phải thản nhiên mà cúi đầu xuống nhận một ít tiền lẻ của thí chủ.

Khu vực đèn đỏ -- c̣n được gọi một cách văn hoa là xóm hoa -- vẫn c̣n tồn tại trong những ngày ấy, và có một hôm, khi chúng tôi đang đi khất thực qua khu ấy, từ trên lầu hai, một cô gái làng chơi với khách của cô ta đă ném xuống vài đồng xu cho chúng tôi. Một vị sư trẻ vừa tốt nghiệp đại học và nhập chúng trong thiền viện đă bắt lấy mấy đồng xu ấy không suy nghĩ và dợm ném trả lại. Khi trở về chùa, ông ta bị sư huynh mắng một trận nên thân, và được nhắc nhở thật rành mạch về ư nghĩa hai mặt của sự đi khất thực. Một mặt, đó là sự tập luyện hạnh nhẫn nhục; một mặt khác, đi khất thực là để gieo duyên cho người khác xả đi cái tâm tham của họ. Thực hành khất thực đem lại lợi ích cho bản thân cũng như cho người khác, tự lợi và lợi tha, như hai bánh xe trong một cái xe, và vị sư trẻ đó đă được dạy cho rằng ông ta đă hoàn toàn hành động một cách không cẩn trọng.

Tôi đă nghe được lúc vị sư này bị mắng, và những lời răn dạy ấy đă làm tôi xúc động sâu xa. Tôi chợt nghĩ ra rằng cái chữ “Ho!” mà chúng tôi kêu to lên ấy có nghĩa là “Pháp” và khi chúng tôi khất thực là đang đi trên một con đường truyền bá Pháp Phật cho khắp thế gian. Từ đó tôi sửa soạn đi khất thực trong tâm niệm là tôi đang làm khu vực đó được thanh tịnh với tiếng “Ho” của tôi vang xa, y như là tôi đang là một cái máy hút bụi khổng lồ vậy. Một ngày kia khi đến thăm thầy tôi, Đại sư Zuigan, tôi chợt nói ra ư tưởng này, và nhận lănh một trận quát tháo như sấm sét.

“Đồ ngu!” Ngài hét. “Đừng có tự mê hoặc ḿnh. Chữ “Ho!” mà người hô lên đó là tượng trưng cho b́nh bát ngươi mang để nhận đồ bố thí đó. Đừng có thắc mắc ai đang làm ǵ, v́ lư do ǵ hay là ai đang nhận ǵ, hay bất cứ một cái ǵ khác. Chỉ cứ đi ra khất thực mà không t́m kiếm ǵ cả, cũng như nước trôi đi vậy, hay là như đám mây bay theo gió vậy thôi.”

Thế là lại thêm một ư tưởng ngu si của tôi đă bị dập tắt. Trong quăng đời tu tập đôi khi người ta dễ bị lạc hướng qua muôn ngơ ngách quanh co của những ấn tượng méo mó chủ quan.

Khi những vị sư đi khất thực trở về rồi, khoảng sau 10 giờ sáng, là đến giờ ăn trưa. Bữa ăn trưa này gồm có cơm lúa mạch, súp miso với rau, và hai củ cải muối. Có thể nói một phần cơm là để độn vào với chín phần hạt lúa mạch lức. Sau khi hỗn hợp này được đun lên cho tới mức nhừ nhất có thể được, nó lại được nghiền thêm bằng một cái môi múc cơm để cho hột lúa mạch dẻo ra thêm một chút. Nếu không nghiền ra, lúa mạch sẽ vẫn cứng và rất khó ăn. Đến bữa tối, đồ ăn dư từ bữa trưa c̣n lại được pha trộn vào nhau thành một món hổ lốn. Nếu các vị sư ăn cơm độn lúa mạch nhiều quá trong bữa trưa, nước sẽ được đổ thêm vào trong món hổ lốn này, làm thành một món hỗn hợp thật là lơng bơng.

Sau bữa ăn trưa là phần lao động, được gọi là samu. Công việc phải làm là làm vườn rau, tỉa cây cảnh, nhổ cỏ dại, và chẻ củi. Công việc lao động được nhấn mạnh đặc biệt trong đời sống thiền viện, và những vị sư thường xuyên được cảnh cáo là không nên phán xét công việc đó trong những giá trị tương đối của chúng mà chỉ là buông bỏ hết mọi phân tích lư luận và lo làm công việc đó hết ḿnh.

Thiền sư Bá Trượng, thời xưa ở Trung Hoa từ năm 720-814, là người đă có công thiết lập tiêu chuẩn luật lệ phải theo trong những thiền viện. Đại sư Bá Trượng vẫn tiếp tục làm việc dù cho ngài đă đến tuổi tám mươi. Khi các đệ tử của ngài, v́ quan tâm đến sức khỏe của thầy, đă dấu những dụng cụ của ngài đi, Bá Trượng bắt buộc phải thôi làm việc. Nhưng cùng lúc ấy, ngài cũng thôi không ăn. Khi các đệ tử van xin ngài hăy ăn uống, ngài đă trả lời họ với những lời nói vẫn c̣n nổi tiếng cho đến ngày nay: “Ngày nào không làm là ngày ấy không ăn.”

Có một lần, khi tôi kể lại chuyện này cho một đệ tử, anh ta đă nhận xét rằng, “À ra thế đấy. Người nào không làm việc th́ không được ăn, có phải vậy không thầy?”

Nếu xét hai câu nói này của Bá Trượng và của người đệ tử kia, thoạt nh́n th́ có vẻ giống nhau, nhưng thực ra là khác hoàn toàn. Cái khác biệt giữa sự đối mặt với một người và ra lệnh rằng, “Người nào không làm là không được ăn,” với câu tự nói với chính ḿnh, “Nếu tôi không làm, tôi sẽ không có ăn,” là khác biệt với nhau một trời một vực. Câu nói trước mang một vẻ khiêu khích và có tính cách tranh căi, trong khi câu nói sau là một nhận định thật sâu sắc từ trong nội tâm mà ra.

Sau thời lao tác và bữa ăn tối “có dược tính” của món hổ lốn (chữ bữa ăn chính đúng ra được viết theo chữ Nhật là “dược thạch”), các vị sư đi vào trong thiền đường và tọa thiền ở đó cho đến chín giờ tối. Trong khoảng thời gian này, họ cũng có một buổi tham thiền chính thức với thầy nữa. Đến chín giờ tối, lại có một thời tụng kinh đặc biệt trước khi đến “giờ đi ngủ”, một chữ dùng có ư nghĩa là “hết áp dụng luật lệ (cho ngày hôm đó)”. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là khi thời tụng kinh đă chấm dứt và đèn đuốc đă tắt hết, mọi người đều đi ngủ ngay. Khi tiếng tụng kinh vừa xong, vị sư trưởng rung chuông lên rồi, các học tăng nhanh chóng cởi áo tràng ra, lấy chăn gối từ kệ xuống, rồi chui vào giường ngủ một cách trật tự, đó là, tạm thời th́ có vẻ như vậy.

Chắc bạn chưa bao giờ có dịp được thấy bên trong một thiền đường ra sao, nhưng bạn có thể tưởng tượng đó như là một trại lính vậy. Tôi đă từng nghe nói khi phái Thiền tông muốn xây dựng một thiền đường, họ trông vào trại lính làm gương mẫu. Dọc mỗi bên thiền đường là một hàng dài chiếu tatami, mỗi học tăng được chỉ định một chiếu để tọa thiền, ngủ, và sống ở trong đó. Ở giữa hai hàng chiếu là một lối đi lát gạch theo kiểu Trung Hoa.

Chăn chiếu chỉ gồm có một cái nệm futon, được xếp làm hai và dùng vừa để nằm, vừa để đắp, c̣n được gọi là “nệm futon lá sồi”, v́ vị tăng nằm gọn trong cái futon đó giống như một chiếc bánh nếp nhân đậu gói gọn lỏn trong một chiếc lá sồi. Vị tăng nào quen nằm với tấm nệm như vậy sẽ quấn ḿnh trong đó thật khéo như một miếng cơm quấn rong biển, và sẽ thấy ấm áp vô cùng. Bất cứ lúc nào, dù mùa hè hay mùa đông, tấm nệm duy nhất này cũng được dùng làm chăn chiếu cho người học tăng.

Vừa khi vị sư trưởng phụ trách thiền đường, với cây gậy trong tay gọi là keisaku đă đi kiểm soát xong xuôi những hàng người quấn mền như quấn rong biển, đèn sẽ tắt và vị sư trưởng sẽ rời khỏi thiền đường. Ngay lúc đó, mọi người đồng loạt chui ra khỏi giường và lại mặc áo tràng vào, tọa cụ ôm trong tay, đi ra ngoài t́m một chỗ trống dưới mái hiên chính điện hay trên bia một ngôi mộ nào đó, ai có chỗ nấy, và bắt đầu tọa thiền ban đêm.

Tôi thường hay chọn một mộ bia nào có nền cao nhất để ngồi thiền ban đêm. Tôi đă thật sự tin tưởng một cách trẻ con rằng ngồi ngất ngưởng trên một tảng đá cao-- rơ ràng là một chỗ nguy hiểm nếu lỡ ngủ gục sẽ khiến cho tôi không dám ngủ gục.

Cho đến chín giờ tối, tất cả mọi người đều ngồi thiền chung với nhau trong thiền đường. Rồi sau đó, khi luật lệ trong ngày chấm dứt, mọi người đều tự nguyện ngồi thiền riêng. Đối với một học tăng mới đến trong thiền viện, những thông lệ này thật là quá cam go . Tuy nhiên, sau một thời gian, tôi bắt đầu nhận thấy rằng hành thiền ban đêm như vậy là thực sự có lợi ích.

Cũng tựa như mỗi người đều có một nét mặt riêng biệt, hoàn cảnh của mỗi người cũng hoàn toàn đặc thù cho người ấy, cho nên trong thế gian này có vô lượng hoàn cảnh riêng biệt khác nhau. Cái tâm nguyên thủy mà mỗi người chúng ta đều sẵn có từ khi sinh ra là một điều vi diệu vô cùng, nhưng những ấn tượng huân tập từ các kinh nghiệm trong đời và kiến thức thâu thập đều khác nhau với mỗi người. V́ thế, sau khi những ngọn đèn đă tắt, để ra một thời gian cho mỗi người ngồi thiền riêng là sự cần thiết.

Theo thứ tự thâm niên, những vị sư trở lại thiền đường đi ngủ, và điều đó có nghĩa là người nào mới nhất trong các vị sư thường chỉ đi ngủ khi đă tới nửa đêm. Và như thế, ngay cả trong những ngày b́nh thường, họ cũng chỉ có được ba tiếng đồng hồ để ngủ. Vốn sẵn yếu đuối, tôi luôn luôn cảm thấy như ḿnh ngất đi hơn là ngủ đi. Hơn thế nữa, trong thời gian một tuần chuyên tu gọi là tiếp tâm (sesshin), giờ ngủ lại c̣n bị cắt xén thêm nữa.

Miêu tả những thông lệ này trong thiền đường có lẽ sẽ vẽ lên một lối sống cực kỳ khắc khổ, nhưng trong thời kỳ mà con người c̣n đang tràn trề sức sống và năng lực, sẽ không thể nào đạt được sự định tâm trong tọa thiền nếu ta ngủ bất cứ lúc nào muốn ngủ và ăn bất cứ lúc nào muốn ăn. Cũng trong ư nghĩa đó, những thực phẩm chay lạt cũng giúp cho tâm được yên tịnh phần nào, và tôi tin rằng đó cũng là điều cần thiết.

Trong đời sống thiền viện, sự sở hữu riêng tư được giới hạn nghiêm ngặt. Những vị sư sống trong sự giản tiện tối đa những đồ dùng cần thiết: chỉ có một tấm khố, áo trong bằng vải bông, khăn buộc bụng, và áo kimono một lớp.

Ngay cả trong mùa đông, cũng không có áo kimono dầy hoặc hai lớp để mặc. Chính tôi cũng không bao giờ có được một cái áo lót cho đến khi tới trên ba mươi tuổi. Về mùa đông, áo ngoài mặc dầy hơn một chút, nhưng áo trong cũng vẫn mỏng, áo kimono cũng chỉ có một lớp, và rồi đến áo tràng, v́ vậy chỗ duy nhất trên thân ḿnh mà không bị gió trực tiếp thổi vào là khu vực ở giữa bụng được quấn khăn chặt . Chúng tôi gần như là trần trụi, với hầu hết thân thể tiếp xúc trực tiếp với không khí ở ngoài. Lúc cảm thấy buốt giá nhất là về buổi sáng tinh mơ khi bị dựng dậy khỏi giường, trong bóng đêm tê tái của mùa đông, khi đó người tăng sĩ vội vàng ướp lạnh thân ḿnh … bởi v́ khi toàn bộ thân ḿnh đă lạnh hết rồi, th́ không c̣n cảm thấy lạnh nữa. Tôi thấy rằng, tọa thiền trong mùa đông là thật sự biết đến cái không khí lạnh, cảm thấy nó đi vào qua cửa tay áo để được thân sưởi ấm một chút, xong lại truyền lên ngực, dâng lên tới cầm như một gịng lưu chuyển ấm áp dần.

Bất kỳ mùa nào cũng vậy, những vị sư chỉ đi vớ trong những dịp lễ đặc biệt. Cái quai của đôi guốc gỗ làm bằng lát tre đan lại, cũng như những dây của đôi dép rơm mà họ đi đă cọ xát và làm cho da chân của họ dầy lên, v́ thế da chân của một vị sư c̣n dầy hơn là gót chân của một người thường.

Sống một cuộc đời thiếu thốn như vậy, buồn ngủ là một căn bệnh kinh niên, và dạ dầy cũng đói quanh năm suốt tháng. Ngay cả một người có ḷng ham muốn thật nhiều cũng chỉ c̣n đơn giản một ước muốn thèm được ăn, và ngủ nhiều hơn.

Những bà già thường đặc biệt cúi chào kính cẩn khi thấy chúng tôi chân trần đi những đôi dép rơm ra ngoài khất thực trong đường phố lạnh giá mùa đông. Tuy nhiên, phải nói rằng, sau thời gian chừng hơn một năm, hầu hết các vị tăng cũng quen với đời sống thiền viện, và những cực khổ vật chất không c̣n có ảnh hưởng mấy nữa. Thật ra phương diện khổ tâm nhất trong sự tu tập không phải là sự cực khổ thân xác mà là cái khổ tinh thần trong những lần đối đầu riêng tư với thầy. Cái khổ này chắc chắn là sau một năm cũng không biến đi đâu được.

Trọng tâm của mỗi lần gập gỡ riêng với thầy là sự tŕnh bầy kiến giải của người đệ tử về công án. Để thí dụ, tôi xin dùng một trong những công án nổi tiếng nhất, “Hăy chỉ cho tôi thấy bộ mặt bản lai trước khi cha mẹ anh sinh ra,” Nói cách khác, công án này hỏi là, “Cái ǵ là bản thể chân thật của anh trước khi được cha mẹ sinh ra?”

Một vài người trong số các bạn sẽ cho những câu hỏi loại này là vô nghĩa, nhưng vị sư được giao cho công án này -- biết là thế nào ông ta cũng phải đưa ra một câu trả lời cho thầy sáng ngày hôm sau -- sẽ bắt buộc phải làm việc với công án đó như là chuyện sống chết vậy. Sự tham khán đến cùng cực công án ấy khiến điều đầu tiên ông ta nhận ra là, trong khi thân vật chất này được sinh ra từ cha mẹ, sự sống đang được tiếp tục một cách vô hạn định. Không đứa trẻ nào được sinh ra sau khi cha mẹ nó đă chết rồi. Bị mê hoặc với cái chết của thân xác, chúng ta phân biệt ra -- đời sống của cha mẹ, đời sống của đứa con, đời sống của tôi, đời sống của anh -- nhưng trên thực tế, dù cho chúng ta có đi trở ngược lại quá khứ không ngừng, đời sống mà chúng ta đang sống hiện tại là một sự tiếp diễn vô hạn, không thể định rơ được đâu là điểm khởi đầu của nó. Bằng sự lư luận, chúng ta cũng có thể hiểu được điều này.

Nhưng hơn thế nữa, chức năng lớn của đời sống chính là chức năng của tâm. Nếu dùng lư trí thuần túy để nghĩ đến điều này, ta sẽ tự hỏi rằng: “đi vượt ra khỏi cái mà ta gọi là “cái ta”, cái ǵ là bản chất làm nên sự sống vô hạn định? Đi vượt ra khỏi cái ta mà chúng ta phân biệt dựa trên những sự khác nhau nhỏ nhặt như: khác nhau về nét mặt, về cá tính, khả năng … cái ǵ là cái ta nguyên thủy, thực sự thường hằng? Dần dần rồi tất cả mọi người, ít nhất, cũng nhận ra được đây chính là câu hỏi của công án.

Nhưng dù người thiền sinh có biết được tới đó, ông ta vẫn c̣n phải gặp rất nhiều khó khăn trước khi có thể nói với lăo sư rằng, “Đây chính là bộ mặt bản lai của tôi.” Gần như bao giờ cũng vậy, ông ta sẽ bắt đầu bằng cách đưa ra đủ mọi lư luận trống rỗng. Vị thầy, lúc đầu, sẽ yên lặng lắng nghe xong rồi rung chuông lên, ám chỉ cuộc tham thiền đă chấm dứt và người kế tiếp phải đi vào.

Dần dần, qua một thời gian, vị thầy sẽ quát lớn lên, “Ta không cần nghe giải thích ǵ cả! Bỏ hết những lư thuyết đó đi và chỉ cho ta bộ mặt bản lai của ngươi như thế nào!” Người học tăng rốt cuộc sẽ cảm thấy như muốn phát khùng.

Những vị sư không tụ tập một chỗ đợi chờ đến phiên ḿnh để trả lời câu hỏi về Thiền theo thứ tự nối tiếp nhau, “Rồi, bây giờ đến người kế tiếp”. Thực tế là, khi đến giờ tham thiền, vị tăng phụ trách sẽ đem một cái chuông nhỏ ra một nơi giữa chừng của thiền đường và pḥng tham thiền của thầy rồi để ở đấy. Lăo sư, cầm một cây gậy dầy gọi là “trúc bề” (shippei), đă chờ đợi sẵn sàng trong pḥng. Khi chuông rung, những vị tăng đang ngồi tọa thiền sẽ phải bước ra ngoài thiền đường, sắp hàng trước cái chuông, và chờ đợi đến phiên của họ. Khi lăo sư ra hiệu, những vị sư, lần lượt từng người một, sẽ đến rung chuông để báo trước họ sẽ bước vào pḥng tham thiền.

Một khi vào trong pḥng lăo sư rồi, thầy với tṛ hoàn toàn một ḿnh trong đó, sẽ trao đổi một cuộc đối thoại Thiền. Không ai có thể nghe được cuộc đối thoại này. Khi lăo sư quyết định chấm dứt buổi họp, ngài sẽ rung chuông tay lên và học tăng cúi đầu vái chào rồi lui ra, chạm trán trên đường đi với người kế tiếp đang vào gặp thầy.

Sự gặp gỡ riêng tư nay với thầy diễn ra hai lần trong ngày, buổi sáng và buổi tối trong những ngày thường, và ba lần một ngày trong tuần lễ chuyên tu. Ngoài ra, có một khoảng thời gian tu tập đặc biệt gắt gao gọi là “tiếp tâm lạp bát” (Rohatsu O-sesshin), diễn ra một lần trong năm, từ ngày mồng một tháng chạp suốt cho đến rạng ngày 8 tháng chạp, khi gà bắt đầu gáy sáng mới chấm dứt. Tuần lễ huân tu ráo riết này để kỷ niệm ngày thành đạo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc ngôi sao mai xuất hiện trong rạng sáng ngày mùng 8 tháng chạp. Trong tuần lễ này, không ai được nằm xuống ngủ, và thời tham thiền với thầy tăng lên bốn lần trong ngày.

Bao nhiêu lư luận cũng không thể giúp người học tăng có thể thông qua công án được. Và khi không c̣n lư luận nào đem ra nữa, nghe tiếng chuông rung vào gặp thầy, ông ta sẽ cảm thấy không muốn rời khỏi thiền đường chút nào. Trong những ngày thường, học tăng có thể được phép bỏ bữa tham thiền đó và chí tâm tiếp tục tọa thiền. Nhưng trong tuần lễ chuyên tu, hai hay ba vị sư huynh tiền bối sẽ xuất hiện như những hung thần, lôi cổ người học tăng đó ra khỏi gối thiền và bắt phải đi gặp thầy. Học tăng không thể nào tránh vào gặp thầy chỉ bởi v́ ông ta không có câu trả lời cho công án được.

Nếu nh́n vào những cột nhà giữa thiền đường và pḥng tham thiền, ta sẽ thấy vô số những vết trầy. Đó là những dấu vết ấn chứng sự tuyệt vọng của những vị tăng không có câu trả lời cho công án đă cố bám vào cột khi họ bị những sư huynh lôi đi vào pḥng tham thiền. Có nhiều khi, vị tăng nào kiên quyết bám dính vào cột sẽ bị gậy đánh vào tay. Sự đau đớn sẽ làm ông ta phải buông tay ra và bị kéo đi đến gặp thầy.

Vị tăng nào đến gập thầy mà im lặng, không có câu trả lời, thế nào cũng nghe thầy quát lớn, “Ngươi làm ǵ ở đây nếu không có ǵ để nói?” và rồi sẽ bị đánh với cây gậy dầy của thầy. Bị tấn công từ mọi mặt, vị tăng biết rằng nếu ông có thoát được kỳ này, cũng sẽ có kỳ khác chỉ trong vài tiếng nữa thôi, vào buổi tối, hay buổi sáng tinh mơ hôm sau. Dù có lười biếng hay khôn lanh đến đâu, vị tăng cũng sẽ bị dồn vào thế kẹt mà ông sẽ không thể t́m cách thoát ra được bằng những cách vá víu tạm thời. (Sự tu luyện kiểu này đặc biệt được dùng trong các thiền viện Lâm Tế, đối nghịch với cách tu của thiền viện Tào Động.)

Kết quả của sự tu luyện này là, tôi thường mơ thấy ḿnh được giác ngộ khi ở trong thiền đường. Tỉnh dậy, phần nhiều tôi hay thấy là kinh nghiệm giấc mơ ấy chẳng có ǵ đáng kể và không có ích lợi ǵ. Tuy nhiên, có những lần, kinh nghiệm giác ngộ trong mơ kéo dài ngay cả khi tôi đă tỉnh dậy. Có vài ba lần khi xẩy ra như vậy, tôi đă đi gặp thầy trong sự hứng khởi, và được thông qua công án.

Hàng đêm, khi cuối cùng được quấn ḿnh trong tấm mền lá sồi, thay v́ ngủ, tôi thiếp đi trong một cơn mê mệt, để rồi một lúc sau đă bị đánh thức cho một ngày mới. Nhưng mỗi lần rơi vào trạng thái mê mệt này, công án vẫn là cái sau cùng c̣n lại trong ư thức của tôi. Tuy thân tôi ngủ, nhưng trong tiềm thức vẫn chờn vờn cái viễn tượng phải đối diện với thầy vào sáng sớm hôm sau, cảm giác bị tra hỏi vẫn tiếp tục tồn tại, và câu “Bộ mặt bản lai... bộ mặt bản lai...” vẫn vang vọng ngay cả trong giấc mơ.

Rồi, mỗi buổi sáng khi vị tăng có nhiệm vụ đánh thức chạy ngang qua thiền đường, rung chuông lên và hô lớn, “Thức dậy! Thức dậy!”; nghe tiếng gọi đó, ngay cả khi c̣n chưa ra khỏi cơn ngái ngủ, cái cảm giác bị tra hỏi, “Bộ mặt bản lai” đă sẵn sàng ở đó rồi. Ư thức về câu hỏi nan giải trong tâm sẽ thức dậy trước, rồi mới đến ư thức chung. Nghe th́ có vẻ khó tin, nhưng đó là kinh nghiệm tu tập của tôi ở chùa Đại Đức.

Không bao giờ hết tu

Ngay cả đối với những người đang theo một nếp sống khắc khổ như trong tu viện, sự buông bỏ những thói quen huân tập từ lâu đời lâu kiếp cũng không bao giờ dễ dàng được. Chúng ta hành xử dựa theo những phán đoán trong những giá trị mà chúng ta đă chọn sẵn, phân biệt những h́nh tướng mà mắt chúng ta nh́n thấy, phân biệt những âm thanh mà tai chúng ta nghe, phân biệt những mùi mà mũi chúng ta ngửi. Chúng ta phân biệt những vị mà lưỡi chúng ta nếm, tưởng tượng đủ thứ qua xúc giác cảm thấy ngoài da, lập thành những định kiến trong ư thức. Chúng ta so sánh và đối chiếu tất cả mọi thứ mà chúng ta gặp. Đối với tôi, không phải là điều đơn giản để thoát ra khỏi thói quen làm việc như thế của tâm trí vàø kinh nghiệm được một cách thuần túy và trực tiếp sự đồng nhất thể giữa cái ta và ngoài ta.

Để có thể nắm trọn tức thời mọi t́nh thế xẩy ra, một hiện tượng được gọi một cách triết lư hơn là sự “kinh nghiệm thuần túy”, tôi phải vượt qua được nỗi sợ hăi cái chết. Tôi phải thú nhận rằng từ trước cho đến khi có được kinh nghiệm này trong tu viện, đời sống của tôi chỉ toàn là một sự nối tiếp không ngừng của những nỗi khổ thể xác và tinh thần.

Tôi xin kể lại đây một sự việc ngu xuẩn đă xẩy ra khi đi khất thực, ở trong thời kỳ mà dù ngủ hay thức, công án cũng tràn ngập trong đầu óc của tôi và ư nghĩ duy nhất của tôi lúc đó chỉ là “Tôi muốn được giác ngộ... tôi muốn được giác ngộ...” Không để ư đến cái ǵ đang ở trước mặt hay sau lưng, tôi đă đâm sầm vào một vật ǵ; nh́n lại th́ hóa ra tôi đă đâm bổ vào mông của một con ḅ! Ngay lúc vừa nhận ra tôi đă đâm vào mông con ḅ, ngoài sự ngạc nhiên ra, điều đầu tiên tôi biết được trong tâm là “Ồ, giác ngộ chính là đây!”

Trong nội tâm chúng ta có những khán giả kiên cố nhất, luôn luôn phê b́nh và phán đoán t́nh trạng của ḿnh. Ngay cả khi người ta đă đến t́nh trạng hoàn toàn kiệt lực, trong tâm trí thường có một người bảo vệ vốn hay phân biệt và không bao giờ quên được cái “ta”, vẫn luôn luôn bận rộn ở đó, th́ thầm bỏ nhỏ đủ mọi thứ linh tinh tầm phào. Trường hợp của tôi, bị chi phối bởi chút kiến thức và kinh nghiệm nhỏ nhoi mà tôi đă huân tập, cái giọng nói bảo vệ kia cũng th́ thầm một điều vô căn cứ nhất như sau: “Nếu ta cứ tiếp tục như thế này, ta sẽ chết mất. Phải ngừng ngay đi thôi.”

Tọa thiền rồi lại tọa thiền, tôi chẳng gặt hái được ǵ ngoài sự buồn nản và mệt mỏi; cả đầu óc lẫn thân thể tôi bắt đầu không hoạt động được b́nh thường. Ư nghĩ tôi sẽ chắc chắn phải chết nếu cứ tiếp tục như thế này cứ lởn vởn biết bao nhiêu lần, làm gián đoạn sự tu tập của tôi. Nhưng để cho bạn được biết kết cuộc trước khi diễn giải lại, tôi có thể nói là mọi sự đă không hề đi đến cái ngơ rẽ mà tôi đă lo sợ ấy. Sự kiệt lực và những nỗi khổ tận cùng không làm cho chết đi được, mà trái lại, đă biến thái theo một đường ṿng và đi trở về ngay chỗ khởi điểm mà tôi đă bắt đầu. Một đêm nọ, vào lúc nửa đêm, tôi đang ngồi với cả một khối mệt mỏi đè nặng trên cái gối tọa thiền, đầu óc và tâm trí như mê muội đi trong một t́nh trạng mơ hồ, không c̣n cả sức lực để khơi dậy cái ước muốn được giác ngộ nữa; th́ đột nhiên, màn sương mù dầy dặc bao phủ bỗng tan ra và cả một thế giới sáng tỏ chợt hiển hiện. Thấy rơ ràng, nghe rơ ràng, nhưng đó là một thế giới trong đó không c̣n thấy có cái “tôi”! Tôi không thể nào cắt nghĩa cho đầy đủ trạng thái ấy như thế nào. Nếu cố t́m cách giảng giải sẽ bị lạc qua một hướng khác. Có một điều tôi chắc chắn là trong giây phút ấy, tôi đă nhận thức được tính thanh tịnh hoàn toàn của tâm thể tôi đă có ngay khi vừa sinh ra đời. Tôi không thể nào đè nén được sự hoan lạc dâng trào. Không muốn về pḥng đợi đến tiếng chuông đánh thức sáng mai, tôi đă đột xuất đi gặp thầy và được ngài cho phép rời chùa trong ṿng hai tiếng đồng hồ để đi báo tin về kinh nghiệm này cho lăo sư Zuigan.

Tôi đi bộ qua bóng đêm tối đen, về chùa Daishuin trong ṿng chưa đầy một tiếng đồng hồ. Khi tôi tới nơi, Lăo sư vẫn c̣n nằm trong giường ngủ. Tôi ḅ đến gần gối của ngài, nói gọn, “Rốt cuộc, con đă thấy rồi.”

Lăo sư ngồi bật dậy, chăm chú nh́n tôi một lúc thật soi mói, rồi nói, “Bây giờ mới là bắt đầu . Mới là bắt đầu thôi. Hăy an trụ cho vững chăi.”

Đó là tất cả những ǵ ngài đă nói với tôi. Từ lúc đó cho đến mười sáu năm về sau, cho đến khi tôi bước vào tuổi bốn mươi và Lăo sư Zuigan qua đời vào tuổi tám mươi bẩy, dù ở trong thiền viện hay nơi tự viện, tôi cũng vẫn tiếp tục tham công án. Không, tôi phải nói rằng tới bây giờ tôi vẫn c̣n tiếp tục. Ở đây không phải chỉ là vấn đề của công án Thiền, mà là vấn đề công án sống thực của cuộc đời con người, vẫn tiếp tục măi măi vô hạn định.

Thức tỉnh thấy được bộ mặt bản lai của ḿnh -- “giác ngộ” -- không có nghĩa là khả năng có thể giải thích con người của ḿnh hay biết được nguồn gốc của ḿnh. Giác ngộ là sự giải thoát khỏi những vướng mắc của kiến thức và kinh nghiệm riêng tư đă tích lũy và bám chặt từ lâu đời lâu kiếp mà chúng ta không hề hay biết, như những chất cặn đóng lại hay chất cholesterol bám chặt trong mạch máu của chúng ta vậy. Đó là sự biểu hiện linh động, sống thực của cái tâm nguyên thủy đă có sẵn khi chúng ta sinh ra … cái tâm không h́nh tướng, không trí óc, không trụ vào đâu cả, cũng không bám theo sắc trần hay tư tưởng, nhưng lúc nào cũng chuyển vận thật năng động. Nói cho cùng, giác ngộ không phải là điểm chung cuộc, mà là điểm khởi đầu nhiều hơn.

Tôi đă nói rất dài ḍng về cuộc đời trong một thiền viện, một vấn đề có vẻ như hoàn toàn không dính dáng ǵ đến cuộc đời riêng tư của bạn đọc. Tuy nhiên, tất cả mọi người, không cần biết họ sống cuộc đời như thế nào, đều xem bản thân ḿnh là quư hơn hết thẩy. Tất cả mọi người đều muốn được hạnh phúc. Và giác ngộ là điểm khởi đầu của nguồn hạnh phúc. Chúng ta có thể dùng chữ “niềm tin nơi con người thực “ thay cho chữ “giác ngộ”. Niềm tin nơi con người thực sự của ḿnh là một điều cần yếu để đưa đến hạnh phúc.

Năng lực của niềm tin nơi chính ḿnh không đạt được nhờ sự tu luyện. Năng lực rộng lớn ấy vượt trên sắc thân của chúng ta, chính nó đă đem sự sống vào con người chúng ta. Mục đích của sự tu Thiền là đánh thức năng lực sẵn có ấy mà chúng ta đă quên mất đi, chứ không phải để lấy vào một năng lực mới nào. Khi bạn đă t́m kiếm và t́m kiếm đến tận cùng, bạn sẽ nhận ra cái mà bạn đă sẵn có từ lúc ban đầu -- ngay cả từ trước khi bạn bắt đầu t́m kiếm -- là tràn đầy nhiệm mầu như thế nào. Sau khi bạn đă gơ cửa không ngừng và liên tục, bạn mới nhận ra là thật ra cửa đă mở rộng ngay cả từ trước khi bạn bắt đầu đập tay vào. Tu chính là để đem điều đó lại cho chúng ta.

Không chỉ ở những nơi chốn được đặc biệt lập ra cho sự tu tập, mà bất cứ lúc nào và ở đâu, một con người nỗ lực trong sự trang nghiêm, không lo lắng ǵ đến kết quả và không lùi bước trước những sự thất vọng, là một người chân tu, một người thực sự đi theo con đường Đạo. Tôi tin tưởng rằng chỉ một điều đó cũng là một h́nh thức đem lại sự an vui lợi lạc cho con người.

 

 

 

Phần ba: THIỀN SƯ

 

Điều ǵ đây?

Kể cho quư bạn nghe những kinh nghiệm trong những ngày đầu tu tập rồi, bây giờ tôi xin chia xẻ vài kinh nghiệm mới đây hơn, khi vai tṛ đă đảo ngược và tôi đă trở thành một vị thầy. Chia xẻ những câu chuyện này, điều quan trọng đối với tôi không phải là cho đạo Phật được hưng thịnh hay Thiền tông được phổ biến toàn thế giới này, mà nhiều hơn là cho mỗi người trong chúng ta có thể sống cuộc đời này một cách toàn vẹn, trong một ư nghĩa chân thật nhất, cho đến ngày nhắm mắt ĺa đời, trong sự măn nguyện và an b́nh nơi tâm. Chính trong niềm hi vọng này mà tôi đă đi thuyết giảng.

Một thanh niên trẻ có họ với tôi, c̣n trong lứa tuổi đôi mươi, một hôm đă đến thăm tôi với một điều thắc mắc. Làm việc trong một hăng mậu dịch, anh thường có cơ hội tiếp đón khách hàng từ các nước khác, và qua những câu chuyện trao đổi thân mật, những người khách này thường hỏi về tôn giáo của anh. Anh bảo khi trả lời họ là anh không có tôn giáo ǵ cả, những vị khách ấy có vẻ phản ứng một cách ngờ vực.

“Có vẻ như những người ngoại quốc ấy xem tôn giáo là rất quan trọng,” anh nhận xét, “trong khi những người Nhật chúng ta lại chẳng biết ǵ cả. Thật sự là những người trẻ tuổi như chúng con đây chỉ tiếp xúc với tôn giáo qua những tang lễ, ngoài ra con không cảm thấy nó cần thiết ǵ cả. Thầy nghĩ sao, với cảm nghĩ như vậy đó, tôn giáo có c̣n là quan trọng không?”

Điều anh ta hỏi cơ bản là như thế này: tôn giáo là về cái ǵ đây?

Trong tiếng Nhật, chữ tôn giáo gồm có hai nghĩa “chính” (hay là “gốc”) và “dạy dỗ”. V́ vậy, tôi nói với anh ta, “tôn giáo là ở ngay gốc của cái mà chúng ta gọi là đời sống. Ta có thể nói rằng có vô số những điều dạy chúng ta trong đời và tôn giáo là cái chính thống và cơ bản nhất trong những điều dạy này.”

Khi anh chàng trẻ tuổi này nghe giải thích như vậy, anh nói,” Như vậy có nghĩa là tôn giáo là một cách căn bản nhất để nghĩ về cuộc đời, phải không? Nói cách khác, ḿnh có thể diễn dịch nó như là một “nhân sinh quan” được không?”

Tôi nói với anh rằng có thể nói như vậy, nhưng tôi cũng hỏi anh về nhân sinh quan của anh như thế nào.

“À, con nghĩ rằng mục đích cuộc đời con người là xây dựng một cái ǵ đó bằng nỗ lực của chính ḿnh,” anh trả lời.

Đó cũng là một quan điểm về cuộc đời. Trước đây, chính tôi cũng đă từng có lúc nghĩ như vậy. Trong những ngày c̣n son trẻ, tôi đă tin tưởng rằng làm con người tức là có khả năng lấy được hay thụ đắc được điều ǵ đó.

Có những người có thể chạy đua đến hơn bốn mươi cây số. Người ta biết rằng nếu luyện tập thân thể th́ sẽ có được sức mạnh thể lực; sự phát triển thể lực có thể được thực hiện trong một hạn tuổi nào đó . Bằng sự học tập, bạn có thể học được bất cứ cái ǵ bạn muốn. Bạn có thể tích lũy những kinh nghiệm của ḿnh. Nếu đủ nỗ lực, bạn có thể có thêm nhiều bạn bè, kiếm được người yêu. Bạn có thể lập gia đ́nh, tạo măi tài sản, xây nhà để ở. Trong cuộc đời, có một thời kỳø bạn cảm thấy thế giới như ở trong tay bạn, một thời kỳ trong đó quan điểm hay mục đích của cuộc đời là “xây dựng một điều ǵ đó qua nỗ lực của chính ḿnh” có thể thích hợp.

Thế rồi sau đó, khi bạn già đi, bạn cần phải có kính đeo mắt để đọc sách, tai bạn bắt đầu ù đi, răng lung lay dần. Khi một đứa bé ở tuổi mẫu giáo mất một cái răng, nó sẽ có một cái răng khác tốt hơn nữa mọc ra, nhưng khi một người lớn mất răng, th́ cái răng đó sẽ mất măi măi! Tử thần sẽ đến, cướp đi những người bạn thân thiết nhất của bạn. Những đứa con mà bạn đă hi sinh nhường cơm xẻ áo sẽ ra đi rời tổ ấm của gia đ́nh. Rồi tuổi về hưu xế chiều đến, công việc mà bạn đă từng bỏ bao nhiêu công sức vào đó cũng phải bỏ đi. Bạn bắt đầu quên đi những điều bạn tưởng đă học được. Bạn sẽ mất đi những bắp thịt rắn chắc mà bạn đă cố công xây đắp, và chúng cũng ra đi không bao giờ trở lại. Dù cho một người có nh́n cuộc đời như thế nào chăng nữa, họ cũng sẽ cảm thấy thật thấm thía rằng cuộc đời con người không phải là một điều ǵ có thể thêm vào, mà chỉ là mất đi.

“Khi thời kỳ đó đến, quan điểm về cuộc đời ấy của anh có c̣n giúp ǵ được anh không?” Tôi hỏi người bà con trẻ tuổi của tôi.

Anh chàng trông có vẻ hơi ngượng ngịu khi cúi đầu xuống, thú nhận rằng có lẽ anh đă hơi tự kiêu quá, và có lẽ cũng nên ít nhất t́m hiểu xem tôn giáo nói cái ǵ. Anh c̣n xin tôi hướng dẫn cho anh nữa.

Tất cả mọi người chúng ta đều hay dựng nên những quan điểm của riêng ḿnh tùy theo tuổi tác và hoàn cảnh đến trong đời sống, từ đó có những lối sống biến đổi và phức tạp khác nhau. Tôn giáo, tuy vậy, không phải là một nhân sinh quan có giá trị chỉ trong một thời gian nào đó. Đó là một giáo pháp luôn luôn dùng được trong mọi thời, luôn luôn đúng thực, không phân biệt tuổi tác và hoàn cảnh.

Mọi hiện tượng trên thế gian này đều thường xuyên thay đổi; tất cả đều trải qua một thời đểø trưởng dưỡng (thành), một thời để bảo tŕ (trụ), và rồi trở về với hư không … sinh, lăo, bệnh, và tử. Không một cố gắng nào có thể làm cho bạn tránh được diễn biến của sự lăo hóa. Không một nỗ lực nào có thể làm cho bạn tránh khỏi cái chết. Những ǵ tích lũy được rồi sẽ mất đi, những ǵ có sinh rồi sẽ có diệt, những ǵ được xây dựng lên rồi cũng sẽ bị tiêu hủy. Một quan điểm về bản chất của cuộc đời là một quan điểm giúp chúng ta vượt qua được những đau khổ khi chúng ta phải đối mặt với chúng.

Tôi tin tưởng tự đáy ḷng, rằng cái mà chúng ta gọi là tôn giáo chính là điều quan trọng nhất cho con người. Tôi không thể nhấn mạnh đủ, rằng mục tiêu tối thượng của tôn giáo, dù chúng ta gọi đó là giác ngộ hay là tâm b́nh an, vẫn là làm sao cho mỗi người được sống trong sự an b́nh, được sống một đời đầy đủ và toại nguyện.

Hàng năm tôi đều đi Hokkaido để thuyết giảng, và sau một buổi nói chuyện trong một cuộc họp UNESCO ở Sapporo, ông chủ tịch đến t́m tôi nhận xét rằng: “Chúng tôi hân hạnh được nghe thầy diễn thuyết một bài rất dài và hữu ích, nhưng tôi già rồi, không thể nào nhớ hết một bài dài như thế được. Hơn nữa, tôi cũng đă là một Phật tử rồi; mỗi buổi sáng trước khi đi làm và mỗi buổi tối khi về nhà tôi cũng đều thắp hương bàn thờ và tụng một bài kinh.”

“Vấn đề là, tôi bị bắt buộc phải giải thể, từng cái một, số lớn những công ty tôi đang quản lư, và điều này làm cho tôi bị xáo trộn rất nhiều. Thế th́, Lăo sư,” ông nói thẳng thừng, “Tôi không muốn nghe diễn thuyết dài ḍng. Tôi muốn thầy nói cho tôi, chỉ trong một chữ, làm sao tôi có thể an được cái tâm đang xáo trộn của tôi.”

Những vị cao niên đôi khi thật khó tính, phải không bạn? Tôi đă bỏ công diễn thuyết thật trọn vẹn vấn đề đó, bây giờ ông lại muốn chỉ tóm lại trong một chữ thôi!

Tôi trả lời bằng cách hỏi ông khi thắp hương và tụng kinh trước bàn thờ ông cầu nguyện cho ai.

“Th́, dĩ nhiên là, nhờ tổ tiên mà tôi mới có mặt ở đây,” ông trả lời. “Nên tôi thắp nén hương để tỏ ḷng biết ơn tổ tiên và Phật tổ.”

“Trong trường hợp đó”, tôi bảo ông, “bắt đầu từ đêm nay, hăy thắp hai nén hương. Một nén để tỏ ḷng tri ân tổ tiên, như ông vẫn thường làm. Một nén kia để thắp cho cái xác của ông.”

Chúng ta thường xem sự sống của ḿnh là một điều đương nhiên, và như thếù hay bị lầm lạc khi hoàn cảnh có những vấn đề, và bị mê mờ không phán đoán được cho đúng thực. Nhưng mặt khác, khi nh́n vào cái chết của một người khác, chúng ta lại rất bén nhậy với sự mong manh của mọi sự trên đời này.

Nếu cùng với những suy tưởng đó mà chúng ta nh́n vào xác thân của ḿnh, có lẽ chúng ta sẽ không c̣n muốn để cho ḿnh bị lôi cuốn trong những dây mơ rễ má của các vấn đề. Chúng ta có thể tự giải thoát ḿnh và quyết định hành động đúng vào căn bản của những vấn đề, vào gốc rễ của chúng. Đó là điều tôi ám chỉ khi tôi bảo vị cao niên ấy ngày đêm thắp một nén hương cho xác của chính ḿnh.

Sau khi chấm dứt một bài giảng, tôi thường yêu cầu mọi người hăy quên đi tất cả những ǵ tôi đă nói. Đó là bởi v́ chúng ta hay có khuynh hướng thu thập những bài giảng chỉ như những tài liệu, mang chúng về nhà, rồi đem những trích dẫn từ đó ra làm nguyên liệu để chỉ trích những môi trường chung quanh chúng ta. Điều trở thành cái nhân của sự tranh căi không phải là trí tuệ; nó không khác ǵ mầm mống gieo trồng cho sự than phiền và bất măn. Có nhiều trường hợp, chúng ta càng cảm thấy ḿnh biết nhiều một vấn đề, càng cảm thấy bất măn và bực bội hơn.

Những kiến thức thu lượm được trong vấn đề tôn giáo là không có giá trị ǵ cả. Tôn giáo, nói cho tới cùng, là một điều phải tự kiểm chứng lấy qua sự thực hành.

Có nhiều người sẵn sàng muốn theo học những kỹ thuật giúp cho họ sống trong cuộc đời. Nhưng người muốn t́m cách xác định gốc rễ đời sống của họ và vượt lên khỏi những kỹ thuật để đi vào cái căn bản -- tới tôn giáo đích thực -- là cực kỳ hiếm hoi. Hiện trạng đó tôi thấy thật đáng tiếc vô cùng. V́ lẽ đó tôi không thể nào không thúc dục bạn đừng đánh giá cuộc sống hàng ngày của ḿnh trên căn bản những điều bạn tưởng là đă biết, trên căn bản những tài liệu thu thập được. Tôi muốn bạn thức tỉnh thấy Phật tính trong vạn pháp và đi t́m một lối sống chân chính. Nhưng đừng có rơi vào sai lầm: bạn có thể trở thành một hạng người bất măn hay thành một vị Phật giác ngộ, điều đó hoàn toàn tùy thuộc nơi bạn, hoàn toàn tuỳ thuộc vào những hành động thực tế của chính bạn.

Thượng đế ở ngay đây 
 

Mùa hè, tôi thường đi qua Anh Quốc diễn thuyết trong khóa tu học mùa hè do Hội Phật Giáo ở đó bảo trợ. Sau những buổi nói chuyện, những bà mẹ trẻ ôm con trong tay đôi khi đến t́m tôi với nhiều câu hỏi. Gần như lúc nào họ cũng hỏi tôi làm sao dậy con cái của họ biết về Phật pháp. (Thật bất hạnh là, trong bao nhiêu năm làm tư vấn cho vô số người ở tại Nhật Bản này, chưa bao giờ có ai hỏi tôi câu này cả.)

Những phụ nữ này, họ là những thành viên của một xă hội được gán cho tính cách cá nhân chủ nghĩa, đă biết từ trong xương tủy rằng tự do chân chính có nghĩa là không nương tựa vào người khác. Người ta thường hay xem tự do như là có thể làm mọi việc theo ư ḿnh, nhưng những người xuất thân từ những quốc gia có một truyền thống cấp tiến thường có ư thức thật bén nhậy rằng cái cốt yếu của tự do là không cần đến sự giúp đỡ của người khác. V́ hiểu tự do trong nghĩa đó, họ lấy một tuần lễ nghỉ phép để dấn thân vào một lối sống mới lạ, tự kỷ luật ḿnh qua những buổi tọa thiền đau đớn thân xác và lắng nghe thuyết pháp trong sự chân thành nhất mực. Đồng thời, họ cũng cầu nguyện rằng Phật pháp nhiệm mầu mà họ đă cảm nhận sâu xa đó có thể truyền lại cho con cái họ, giúp chúng có được một đời sống đáng quư.

Một người mẹ trẻ đă có lần đến với tôi với câu chuyện về bé gái năm tuổi con bà. Một buổi sáng khi bà và chồng đang uống trà nơi hiên nhà, con gái bà chơi ngoài vườn với một người bạn. H́nh như là bạn em quay qua em và nói rằng, “Ông tao mới mất . Bây giờ ông đang lên ở với Thượng đế trên Thiên đàng.”

Trong khi cha mẹ em nghe mà không chú ư ǵ lắm, họ bỗng nghe thấy đứa con gái năm tuổi của họ bất đồng ư với bạn. “Không, không,” Em nói một cách tin tưởng. “Nếu ông mày mất và đi lên Thượng đế, th́ ông không ở Thiên đàng đâu. Thượng đế là ở ngay đây này, ở trong mày và tao, ở trong cái hoa này nữa đó. V́ thế nên, ông mày chẳng đi đâu hết.” Đứa bé gái khăng khăng nói, “Mẹ tao tọa thiền nên biết hết mấy cái đó mà.”

Tôi nói với người mẹ trẻ rằng đây thật là một câu chuyện tuyệt vời.

Khi cha mẹ khuyên răn con không được phung phí, đứa trẻ có thể phản ứng bằng cách gọi cha mẹ là keo kiệt và nêu lên rằng bất cứ cái ǵ rồi cũng có thể mua thêm được . Ít có cha mẹ nào có thể đặt ra luật lệ và kiên tŕ sửa sai con ḿnh hoài được. Đến khi lớn, tất nhiên là, sẽ có những lúc đứa trẻ buông ḿnh trong t́nh trạng chán nản tuyệt vọng. Những đứa trẻ được cha mẹ nuông chiều thường hay mạnh miệng nói trả treo là, “Đó là việc của con! Cha mẹ không phải là con; cha mẹ không hiểu con ǵ cả. Để cho con yên có được không! Con có muốn sinh ra đời đâu.” Người cha hay mẹ bị con ḿnh mắng lại như thế không c̣n có thể nói ǵ được nữa.

So sánh t́nh trạng của bậc phụ huynh đó với t́nh trạng của bà,” tôi nói với người mẹ Anh Quốc. “Con bà biết được Thượng đế ở ngay nơi nó và nơi tất cả mọi vật. Nhờ nó biết như vậy, khi con bà có phí phạm cái ǵ, bà có thể hỏi nó là làm như thế nó không thấy là đă hơi xử tệ với Thượng đế trong đó hay sao. Nhắc nhở như vậy, cô bé sẽ tự thấy được sự sai lầm trong hành động của ḿnh.”

Khi cô bé cảm thấy thất vọng, bà có thể hỏi em là nếu em không đối xử tử tế với ḿnh liệu có làm cho Phật ở trong em buồn không, và rồi cho em về pḥng suy nghĩ điều này một ḿnh. Chỉ cần nhắc nhở điều em đă biết rồi, như vậy chắc đứa trẻ sẽ có thể tự ḿnh đứng dậy được chứ? Nếu giáo dục em trong đường lối như vậy sẽ rất dễ dàng.”

Cặp vợ chồng này chỉ có cơ hội hỏi những câu hỏi và được sự hướng dẫn của tôi một lần một năm, trong thời gian một tuần, nhưng họ thường thảo luận với nhau về những kinh nghiệm của đôi bên, hàng ngày một, 365 ngày trong năm. Bởi v́ đó là một phần của câu chuyện nói hàng ngày của họ, em bé năm tuổi con họ có thể nói một cách vững chắc rằng Thượng đế là ở trong tôi, và trong bạn tôi nữa; Thượng đế cũng ở trong cả hoa lá, đá sỏi và tất cả mọi thứ.

Những lời nói này thấm vào trong tôi thật tự nhiên như nước thấm qua đất cát vậy.

Cái chết có bí hiểm không?

Tuy tôn giáo là về những điều không liên hệ ǵ đến sự chết, nhưng ở đây, để rộng đường thảo luận, chúng ta hăy lui mười bước và coi như là không phải vậy, thật ra là sự chết có một ảnh hưởng chủ yếu trên tôn giáo. Có cách nào để chúng ta nghĩ đến sự sống mà không nghĩ đến sự chết không? Xă hội của chúng ta có khuynh hướng rất thiên về tuổi trẻ, và khi chúng ta già đi, chúng ta thường hay nh́n cuộc đời như đang trên đà xuống dốc từ một ngọn đồi cao, như một sự phế thải cô đơn của một đời người.

Nhưng vấn đề không chỉ là như vậy. Có thể nào chúng ta thực sự sống trọn vẹn được mà không biết nh́n kỹ vào sự chết không? Tôi không tin điều đó có thể được. Nếu không nh́n thẳng vào sự chết, như là mặt trái của sự sống, chúng ta không thể nào sống trọn vẹn và đầy đủ được. Tôi hoàn toàn tin chắc như vậy.

Nh́n sự chết như là cách biệt và xa vời với sự sống, chúng ta không hay ưa thích cái chết. Khi nghĩ rằng họ sẽ mất hết tất cả những ǵ họ đă tích lũy được, những người đă nỗ lực thật nhiều trong cuộc đời sẽ đặc biệt thù ghét cái chết và họ c̣n không muốn nhắc đến vấn đề đó nữa. Ngoài ra, nếu có ai nghĩ về sự chết th́ cũng đều có một ư nghĩ như nhau là cái chết là một điều ï không thể hiểu được. Lư luận của họ là không thể biết đến cái chết được v́ người ta không thể kinh nghiệm nó trong khi c̣n sống, và không có ai chết rồi mà lại trở về để có thể kể cho chúng ta nghe được. Tuy rằng có những người đă trở về sau khi trải qua cái chết giả, nhưng không một ai chết thật đă trở về sau đó vài năm để mà kể cho chúng ta nghe về thế giới bên kia. Một vài người nói rằng, nghĩ về sự chết là chỉ có phí thời giờ.

Chấp trước trong thái độ đó, chúng ta sẵn sàng đơn giản hóa ư nghĩa của câu nói Khổng Tử là: “Chúng ta chưa biết ǵ về sự sống, làm sao chúng ta biết về sự chết được?” Chúng ta cho rằng có thể tập trung sống một cuộc sống trọn vẹn mà không cần phải nh́n kỹ đến cái chết. Do đó chúng ta thường hạ thấp tầm quan trọng của sự chết để mà không cần nghĩ đến nó.

Nhưng thực sự chết có phải là điều ǵ chúng ta không thể biết đến không?

Có một điều chúng ta chắc chắn sẽ gập phải trong đời sống hàng ngày của chúng ta, đó chính là sự chết. Người ta chết khắp nơi nơi. Hơn thế nữa, c̣n có những cái chết của các gia súc như chó, mèo, chim chóc nuôi trong nhà. C̣n cây cối bạn mua ở vườn cây đem về trong chậu nữa, chúng cũng khô héo và chết đó thôi? C̣n những đóa hoa tươi nghệ thuật được mua ở tiệm về, chúng cũng tàn tạ dần trong những kiểu trưng bầy của chúng đó thôi? Rồi cái tách đặc biệt mà bạn dùng đến hàng ngày và giữ ǵn cẩn thận đó, một ngày nào nó vuột khỏi tay bạn và rơi xuống đất vỡ tan tành. Cái “chết” luôn luôn ở đó, với ư nghĩa của sự biệt ly.

Nếu sự chết chiếm một phần đáng kể như vậy trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, làm sao chúng ta không biết đến nó được? Tại sao chúng ta cứ nhất quyết cho rằng không thể nào biết đến sự chết được khi cái chết vẫn hiện hữu thường nhật nơi cuộc đời chúng ta? Làm sao chúng ta có thể bác bỏ vấn đề này một cách lơ là như vậy được?

Cái nguyên nhân gốc của sự bác bỏ sự chết của chúng ta là, theo từ ngữ Phật pháp, cái quan điểm đối đăi của năng và sở -- của cái ta và cái ngoài ta -- ”Đó là người ta, c̣n đây là tôi.” Chúng ta thường hay lănh đạm với những ǵ thấy có vẻ như không trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống của ḿnh trong hiện tại … “Điều ấy th́ liên quan ǵ đến tôi?”

Tuy rằng sự chết tràn lan ở chung quanh chúng ta, chúng ta thường xem đó như là cái chết của một cái ǵ hay một người nào khác chúng ta. Nhưng làm sao để biện minh cho điều đó được?

Sự phân biệt rơ ràng giữa chúng ta và người khác có nói lên được thực chất trong t́nh trạng của chúng ta không? Giữa những người chúng ta, có phải là không có ǵ trung gian nối kết chúng ta với nhau không?

Tâm như thủy

Bất cứ khi nào đi diễn thuyết ở ngoại quốc, tôi cũng đều đi với một thông dịch viên. Có một dịp, trước một buổi nói chuyện ở Anh Quốc, người thông dịch này nói với tôi rằng: “Lăo sư, thầy thường hay dùng chữ chúng ta ngay cả khi thầy nói về chính ḿnh. Nhưng trong một xă hội cá nhân chủ nghĩa như ở nước Anh này, nếu con dịch nguyên văn chữ chúng ta ấy, thầy sẽ mất đi một chút hấp lực đối với họ. V́ vậy, ngay cả khi thầy nói chúng ta, mà con biết chắc rằng thầy có ư nói là tôi, con sẽ muốn dùng chữ tôi để thông dịch. Mong thầy thông cảm cho phép con được làm như vậy.”

Tôi lấy làm lạ khi nghe như vậy. Nghĩ lại, tôi nhận ra rằng người Nhật, ở trong một nhóm, khi nói chuyện có dùng từ chúng ta thật mơ hồ, và như thế áp đặt mọi người vào với nhau mà không hề có sự đồng ư trước của những cá nhân liên hệ. Và khi làm như vậy là đă trốn tránh được trách nhiệm cho cá nhân. Tuy nhiên, khi đào sâu hơn vào vấn đề, tôi không thấy được đó là một điều sai lầm khi dùng chữ chúng tôi.

Bạn có thể giả dụ là có nhiều thực thể riêng biệt gọi là tôi đă đến với nhau họp thành một nhóm gọi là chúng ta. Nhưng đây không hẳn là thực chất của vấn đề.

Hăy suy ngẫm như thế này: giả sử như có một người đang ở trong tâm trạng rất chân thực và an tịnh, không có một lo nghĩ nào, tinh thần thật là sáng suốt và lành mạnh. (khi tâm đang quằn quại và bế tắc th́ đó lại là chuyện khác). Giả sử như người ấy là một bà nội trợ đang ở trong bếp một buổi tối, và bà nghe tiếng chân quen thuộc của ông chồng đang về đến nhà. Vội vă lau tay vào cái yếm mặc ngoài, bà đi ra cửa đón chồng. Trong giây phút đó người này -- với bộ mặt của người vợ, tiếng nói của người vợ, thân h́nh và cử chỉ của người vợ -- là một người vợ đang đi ra đón chồng.

Thế rồi, đúng lúc bà đang đưa tay ra lấy áo khoác của chồng, một giọng nói vang ra từ đàng sau, “Mẹ!” Bà quay lại trả lời, “Ǵ đó con?” Ngay lúc đó người này không c̣n mang bộ mặt của người vợ nữa, mà là bộ mặt của người mẹ. Bà quay lại với bộ mặt của người mẹ, tiếng nói của người mẹ, cử chỉ của người mẹ. Thế rồi, một người bạn láng giềng đến gọi cửa, bà tiếp đón khách không phải với bộ mặt của người vợ hay người mẹ, mà với bộ mặt của một người bạn hàng xóm.

Có thể khi bạn đọc những điều này, bạn sẽ tưởng tượng h́nh dáng bề ngoài tôi như một vị thầy tăng. Nhưng sáng mai tôi sẽ đi viếng mộ của cha mẹ tôi. Đứng trước mộ, tôi chỉ là một đứa trẻ không hơn không kém. Đối trước với cha mẹ ḿnh là một đứa trẻ, đối trước với con ḿnh là một bậc phụ huynh, đối trước chồng ḿnh là một người vợ, đối trước vợ ḿnh là một người chồng. Ơû nơi làm việc, bộ mặt và bề ngoài người ta khoác lên là tùy thuộc vào địa vị có trong sở. Đó là thực chấtø bề ngoài của chúng ta.

Không có thực thể nào gọi là “Tôi” di chuyển từ điểm này sang điểm khác, lúc này qua lúc khác. Mà đúng hơn là, qua những lúc gập gỡ chuyên biệt nào đó với những người chuyên biệt nào đó, trong mỗi lần gập gỡ, trong mỗi sự giao tiếp, cái gọi là “Tôi” sẽ xuất hiện. Như vậy ta thấy dường như một cái ǵ ở ngoài con người chúng ta, thật ra, lại bổ túc cho chúng ta, làm cho mỗi giây phút trong cuộc đời thêm phần rực rỡ.

Nếu bạn hiểu được điều này, bạn sẽ hiểu tại sao Thiền tông dùng sự tu tập để đạt được giác ngộ bằng cách quán chiếu thật thâm sâu vào tâm của ḿnh. Nếu cái tâm đó là của riêng bạn, dù bạn có không ngừng soi chiếu vào nó thật miên mật, bạn cũng không thể ngộ được cái chân lư chung nhất của vạn pháp. Nhưng tâm bạn không phải là một vật sở hữu cá nhân, nó không phải chỉ là của riêng bạn thôi.

Tâm bạn, sự sống trong bạn, được sanh ra trong sự liên đới với môi trường. Tâm bạn là đời sống của vũ trụ rộng lớn vĩ đại này. Chính tâm của chúng ta là cái nôi từ đó khởi đầu mọi sự, và như tôi là một biểu hiện của tánh Phật, bạn cũng là một biểu hiện của tánh Phật. V́ thế, Thiền tông dậy rằng chúng ta không nên cố gắng để biết “hết mọi sự”, mà chúng ta phải t́m hiểu những ǵ gần nhất với ḿnh, đó là thân và tâm của ḿnh. V́ thế mà chỉ cần nh́n sâu vào cái tâm bé nhỏ của bạn, bạn cũng có thể mẫn cảm với tâm của người khác … không những thế c̣n có thể ngộ được chân lư của toàn thể vũ trụ vô biên này nữa!

Chúng ta không hiện hữu như những thỏi nước đá, di chuyển một cách cứng nhắc từ nơi này sang nơi khác. Mà chúng ta như gịng nước chẩy tự do, lúc vào một cái hộp bốn góc, lúc ở trong một cái hộp ba góc, mỗi lúc mỗi sinh ra lại và đổi mới. Tôi tin rằng, đó là một sự thực trong sự hiện hữu của chúng ta, và sự tồn tại như thế của con người, sự tồn tại như thế của vạn pháp trong vũ trụ này, là điều mà Đức Phật tuyên dương.

Xét như vậy, chúng ta không phải là những cá thể những cái “Tôi” tập hợp lại để làm thành “chúng ta”, nhưng trong sự hiện diện của “chúng ta”, có một thứ gọi là “Tôi” đă khởi lên. Tôi tin rằng, đây cũng là một sự thực.

Khi chúng ta ḥa đồng với thể nguyên thủy của ḿnh, chúng ta sẽ có thể thông cảm được sự chết, sự đau đớn, buồn khổ, hạnh phúc của người khác như của chính ḿnh.

Cái chết của ông tôi

Năm trước khi tôi vào trường tiểu học, trong một ngày hè nóng đỏ lửa, ông tôi dẫn tôi đi xem đô vật trong thành phố. ông tôi bao giờ cũng rất cưng chiều tôi. Chúng tôi rời nhà đi vào buổi sáng, và có lẽ ông định về nhà từ lúc trưa, nhưng v́ tôi ṿi vĩnh nên rốt cuộc chúng tôi đă ở ngoài đường suốt ngày và đến tối mới trở về nhà. Hậu quả là sau khi ở ngoài nắng quá lâu, ông tôi đă bị trúng nắng. Dù mới là một đứa bé sáu tuổi, tôi cũng nhận ra là sự ṿi vĩnh của tôi đă là nguyên nhân cho t́nh trạng bất thường của ông.

Cha tôi, vốn là một bác sĩ, đă không đưa ông đến bệnh viện, nhưng để ông ở nhà chăm sóc và nuôi dưỡng ông. Lúc bấy giờ mới bắt đầu triều đại Chiêu Ḥa (Showa), trong thập niên 1930, những cách chữa trị c̣n rất là thô sơ. Một tảng nước đá được đặt trong một đĩa thiếc mỏng, và khi nước đá tan ra, th́ nước lạnh đó được dùng để làm hạ nhiệt nơi lông mày của ông.

Cả nhà tôi lúc ấy náo loạn lên, cử người đi gọi các bà con họ hàng. Trong những ngày ấy điều kiện không dễ dàng như bây giờ, chỉ việc nhẩy lên xe lái đến nơi sau khi nhận một cú điện thoại; mà sau khi nhận được tin báo, bà con phải đi bộ vượt núi trong những đôi dép rơm để đến.

Tôi hoàn toàn bị bỏ rơi trong khi mọi người tề tựu lại và, từng giây từng phút một, hết vui mừng lại đến than khóc, tùy theo t́nh trạng biến đổi của ông. Thấy các người trong họ như vậy và cùng lúc cảm thấy cái không khí xáo trộn trong gia đ́nh, tôi cảm thấy sợ hăi. Tôi chạy trốn lên gác và nằm bẹp nơi cầu thang ngắm nh́n quang cảnh ở dưới. Trong khi nh́n xuống cảnh tượng hoang mang yên lặng ở dưới, tôi nhận ra rằng ông tôi sắp chết. Tôi nhớ ḿnh đă tự hỏi không biết như vậy có nghĩa là tôi có c̣n gập được ông nữa hay không.

Bởi v́ đối với một đứa trẻ như tôi, cái ư tưởng ông đột nhiên có thể biến mất đi không phải là một cái ǵ có thể dễ dàng thấu hiểu được. ông tôi vẫn thường luôn ở đó, lúc nào cũng tỏ thật nhiều t́nh thương mến. Trong khi tôi c̣n đang ngẫm nghĩ về vấn đề đó, mẹ tôi trèo lên gác t́m tôi và giải thích cho tôi biết rằng ông sắp chết rồi.

“Khi một người sắp chết”, mẹ nói, “người ấy khát nước lắm, nên chúng ta phải cho họ uống nước. Bởi v́ ông đă cưng chiều con hơn hết thẩy mấy đứa cháu khác, con phải xuống cho ông uống nước.” Thế là tôi bị lôi xuống dưới nhà.

Tôi được đưa cho một miếng bông thấm nước để lau môi cho ông. Tôi thấy rơ ràng rằng trong khi trán ông ẩm ướt, th́ miệng ông ngậm chặt lại, đôi môi khô và nứt nẻ, và tôi cảm thấy như ông đang rất khát nước. Khi tôi bắt đầu lau nhè nhẹ, những giọt nước chẩy vào những đường trên môi ông và làm cho ẩm ướt, nhưng không có một giọt nào lọt được vào miệng của ông. Tưởng rằng tôi không dùng đủ nước, tôi vắt miếng bông g̣n ướt lên miệng của ông. Nước chẩy ṛng ṛng nơi mặt ông, nhưng vẫn không có một giọt nào lọt vào miệng ông được.

Ông tôi, vốn vẫn hay có thú uống trà, và bây giờ đang khát nước như vậy, lại không thể mở miệng ra được để nuốt lấy một ngụm nước. Cái cảm giác có một sự thay đổi lớn đang diễn ra đă thấm thấu vào trong tâm của đứa trẻ này đến tận xương tủy. Không bao lâu sau đó, ông đă thở hơi cuối cùng, và chúng tôi tắm rửa xác ông để sửa soạn hỏa thiêu.

Người ta thường nghĩ rằng thật là tội cho người chết, khi đang trên đường đến cơi Tịnh Độ của Đức Phật Di Đà, lại phải đem theo bụi trần của thế gian này, cho nên với cảm nghĩ đó, người chết thường được tắm rửa lần cuối cùng. Bồn tắm được đổ vào đầy nước lạnh, sau đó thêm nước nóng vào.

Trong ngày ấy, ở nhà tôi nước nóng được đổ vào bồn, rồi một ít rượu được thêm vào, và xác ông tôi được lau với một khăn bông ướt. Tôi được phép lau ngực của ông, nhưng cái khăn vuột ra khỏi bàn tay bé nhỏ của tôi, trượt trên da ḿnh của ông. Tôi vẫn c̣n nhớ cái cảm giác khi sờ vào da của ông. Trước đây, khi ông để tôi leo lên vai ngồi, tôi có thể thấy được làn da nhăn nheo trên gáy ông. Dưới bàn tay tôi, lúc nắm chặt lấy trán ông để khỏi ngă, tôi cũng cảm thấy được làn da nhăn nheo . Lúc đó người ông dẻo dai và ấm áp, trong khi bây giờ đôi tay tôi bất ngờ chạm vào người ông chỉ thấy cứng đơ. Cái lạnh toát ra từ xác ông, một cái lạnh hoàn toàn khác với cái lạnh của nước đá, làm cho tôi phát rùng ḿnh. Đứa trẻ sáu tuổi này đă nhận được một bài học bén nhậy về sự chết.

Gia đ́nh tôi mang tôi đi dọc theo những con đường nhỏ hẹp nằm giữa hai bên đồng ruộng khi đưa quan tài đi. Ḷ thiêu không phải như ngày nay, với những cửa dầy nặng nề như dưới hầm của nhà băng. Trông nó không hơn ǵ một cái lỗ, trong đó người nhà cho quan tài vào và qua đó c̣n có thể thấy được hai bên. Cái lỗ đó được chất đầy rơm, và củi được đặt chung quanh quan tài. Rồi tất cả mọi người trong gia đ́nh cùng nhóm cây đuốc thông lên và cho lửa cháy. Khi rơm cùng củi và quan tài bắt đầu nứt ra và nổ lách tách trong ngọn lửa, chúng tôi đi về nhà đợi đến ngày hôm sau sẽ đến thu lượm tro cốt của ông. Dù với con mắt của một đứa trẻ sáu tuổi, khi tôi ngoái cổ nh́n lại cột khói mờ đục bốc lên từ ống khói của ngọn lửa thiêu mà tôi đă tiếp tay nhóm lên đó, tôi cũng cảm nhận cái chết như một cái ǵ thật riêng tư đối với ḿnh. Cái chết đó không phải chỉ là của “một người nào khác.”

Bây giờ, tôi đang thấy ông tôi -- người tôi kính trọng và muốn noi theo -- đang bị thiêu đốt. Cái tôi thấy đó không phải là cái chết của một người nào khác, mà chính là tôi của ngày tương lai. Tôi đă không nói quá về việc này, khi nhiều năm sau nh́n lại và kể câu chuyện bi thảm này . Mà thật sự là tôi lúc ấy, một đứa trẻ sáu tuổi, đă thấy thân xác ḿnh tương lai bị thiêu đốt trong ngọn lửa đó.

Pháp Vô Lậu

Kể từ kinh nghiệm đó về cái chết của ông tôi, cũng đă có mấy lần tôi có ư tưởng muốn chết, muốn tự trong đáy ḷng. Có lẽ đôi lúc bạn cũng có cảm nghĩ như vậy. Thực ra, có lần tôi đă từng thử uống thuốc quá liều, nhưng tôi tin rằng một cách vô thức, tôi đă giữ liều lượng thuốc đó trong ṿng an toàn. Tôi không thể chết được. Có lẽ lư do chính khiến tự thâm tâm tôi ngần ngại không muốn chết là v́ kinh nghiệm tôi đă trải qua khi chứng kiến cái chết của ông tôi. Sự cảm nhận về cái chết của tôi, qua kinh nghiệm đó, đă sâu xa tới mức khó thể nào vượt qua được.

Cái “chết” mà nhiều người biết đến, tuy nhiên, không phải là cái chết tan ră thực sự của thể xác trong tương lai. Thường th́ cái chết duy nhất được biết đến là cái chết như trong một phim lịch sử hay một phim kinh dị nào đó mà người ta thưởng thức trong khi nằm dài trên sàn nhà hay trên ghế sofa, ăn kẹo hay những thức ăn lặt vặt khác.

Tôi xin kể lại một câu chuyện khác, về một người thầy thời tiểu học của tôi, một con người vĩ đại. Suốt từ lớp hai cho đến khi ra trường, các bạn học và tôi đă may mắn được thầy chỉ đạo lớp, và thầy đă có một ảnh hưởng tiên quyết lên trên mỗi người chúng tôi.

Vài năm trước, để kỷ niệm nửa thế kỷ đă qua từ lúc ra trường, chúng tôi có một buổi hội ngộ. Trong năm mươi học tṛ thuở trước, hơn mười người đă qua đời, và ba mươi ba người chúng tôi c̣n lại đă đến thật đông đủ. Chính tôi cũng dẹp bỏ hết mọi việc để đến, v́ không muốn bỏ lỡ cơ hội này. Chúng tôi có một buổi tiệc và nghỉ đêm ở một nơi du lịch có suối nước nóng, và tuy rằng có uống rượu saké, nhưng không có ai đề nghị hát karaoke cả. Ngay cả lúc chúng tôi tụ tập quanh người thầy cũ hồi xưa, uống rượu vui chơi, buổi họp mặt này vẫn có vẻ nghiêm túc. Có nhiều thành viên trong nhóm tham vấn với thầy, và cũng có vài người hỏi tôi về đủ thứ vấn đề ảnh hưởng đến đời sống của họ. Buổi họp mặt tái ngộ này hoàn toàn giống như một khóa tu học nhờ ảnh hưởng sâu đậm của thầy đă để lại trên chúng tôi trước nay.

Thầy là một nhà mô phạm vĩ đại, và từ khi về hưu, thầy cũng vẫn tiếp tục sống một đời gương mẫu trong cộng đồng. Nếp sống cá nhân của thầy cũng không có điều ǵ đáng chê trách. Mặc dù đă ngoại tám mươi tuổi, trông thầy vẫn khỏe mạnh hơn bất cứ học tṛ cũ nào của thầy!

Khi đến lúc tan tiệc, tất cả những người đă quay quần chung quanh thầy để nghe những lời vàng ngọc đều có vẻ không muốn làm phiền thầy hơn nữa, nên rốt cuộc là thầy và tôi đêm ấy được xếp chung một pḥng. Chúng tôi để gối bên cạnh nhau, nằm xuống, tắt đèn rồi, bỗng thầy gọi tôi một cách lịch sự, “Morinaga-san”, thêm tiếng … san vào tên đứa học tṛ cũ của thầy thời xa xưa trước đây.

“Xin lỗi, tôi thấy tôi điên quá”, thầy nói tiếp, “nhưng dạo sau này tôi đâm ra sợ chết quá, đến nỗi tôi hầu như là cảm thấy rằng giá không được sanh ra lại hơn!”

Những lời của thầy đập vào tai tôi đă đem lại một ấn tượng không nhỏ. Tôi nhớ lại về trước, suốt tám mươi năm ṛng ră thầy đă chuyên cần làm việc như thế nào, và sự thú nhận của thầy làm tôi cảm thấy thật mủi ḷng.

Những con người chúng ta sống một đời sống hữu hạn, hiện thân trong những h́nh tướng ở thế giới hiện tượng này, và bắt buộc phải chịu sự chi phối của luật nhân quả, luật của nghiệp. Điều cơ bản trong giáo lư đạo Phật là hễ có sanh, là có tử; có nỗ lực làm th́ mới có kết quả. Tất cả những nghiên cứu khoa học về thiên nhiên và con người cũng đều đặt trên căn bản của luật nhân quả này. Không những vậy, trong đời sống hàng ngày, cả những người ít khi suy nghĩ nghiêm chỉnh đến những vấn đề này cũng cố sống sao để được những cái nhân tốt đem lại kết quả tích cực.

Tuân theo luật (nhân quả) ấy, một số người đă không ngừng cố gắng tạo lấy nghiệp tốt và cũng được thành công trong sự nỗ lực của họ. Nhưng khi cuối cùng họ trạm chán phải bức tường kiên cố của sinh, lăo, bệnh, tử, không có một số lượng tích trữ thiện nghiệp nào có thể giúp họ vượt qua được, và họ sẽ cảm thấy thất vọng vô cùng.

Một điều tất nhiên là, người nào càng đặc biệt hănh diện về công việc làm của họ, khi gập sự tấn công ồ ạt của tuổi già -- khiến cho họ không c̣n làm việc được như từ trước tới nay -- sẽ rất là hăi sợ. Người nào khoe khoang trí thông minh sắc bén phi thường của họ sẽ lo sợ sự suy yếu dần của trí óc. Người nào sống một đời gương mẫu của một thành viên trong xă hội sẽ đặc biệt hăi sợ khi chứng kiến sự hao ṃn của năng lực thể chất cũng như tinh thần của họ.

Như thế, chúng ta không thể mong sống với một tâm an lạc trong những ngày cuối cùng của cuộc đời chỉ bằng những việc công đức mà ta cố gắng tạo nên theo luật nhân quả này.

Trong giáo pháp của đạo Phật, có đề cập đến sự tồn tại hữu hạn của chúng ta, bị chi phối trong luật nhân quả, và được gọi với danh từ pháp hữu lậu hay pháp hữu vi. Pháp này c̣n được gọi là Giới của Bẩy Vị Phật bởi v́ nó đă được chư Phật ba đời trong thế gian này giảng nói, trong đó có dạy chúng ta nên cố gắng gieo trồng những hạt giống lành trong đời, như vậy sẽ thọ nhận được những phước báo. Một bài kệ nổi tiếng đă tóm lược giáo pháp này như sau:

Tránh làm điều ác

Năng làm điều lành

Giữ tâm thanh tịnh

Đó lời Phật dạy.

Nếu ta thâm cứu và thực hiện pháp tu này, soi chiếu vào bản tâm của ḿnh, điều đó cũng đủ làm cho tâm thanh tịnh và đưa ta vượt qua khỏi một giáo lư chỉ dậy những pháp hữu vi cho một đời sống giới hạn trong h́nh tướng và nghiệp quả. Thật đáng tiếc là người ta thường diễn dịch giáo pháp này -- gieo nhân tốt, hái quả tốt, gieo nhân xấu, hái quả xấu -- là chỉ áp dụng để thụ đắc những hạnh phúc và thịnh vượng của thế gian. Dĩ nhiên mục tiêu đó trong đời tự nó cũng đă là quan trọng vô cùng, nhưng những công đức hữu vi này không thể đem lại sự an lạc tuyệt đối cho tâm khi trải qua sinh, lăo, bệnh, tử.

Dù bạn có nỗ lực đến thế nào để tạo dựng nên những thành quả mong muốn, một khi tên đă được gọi lên trong sổ bộ Nam tào, tất cả những tích lũy thế gian ấy cũng sẽ bị quét sạch. Cái ṿng luân hồi này không chỉ áp dụng cho cơi giới của người mà c̣n cho tất cả mọi hiện tượng, cái ǵ cũng phải trải qua một thời kỳ sinh, một thời kỳ trưởng, một thời kỳ suy, và một thời kỳ hủy diệt để trở về với cái Không ban đầu. Trong con người th́ đó là sinh, lăo, bệnh, tử. Tất cả mọi hiện tượng đều trống rỗng như bọt nước, chợt hiện chợt mất, vô thường, biến đổi. Không có một thực thể cá nhân nào trên đời này có thể giữ nguyên trạng măi măi được.

Đó là khái niệm Không của Phật pháp, theo tiếng Phạn được gọi là shunyata và tiếng Nhật gọi là mu, và thực trạng của tánh Không này được gọi là Pháp Vô Lậu. Tất cả mọi chúng sinh đều là hữu lậu. Nhưng tánh Không, vốn ở nơi gốc cơ bản của mọi chúng sinh, là vô lậu. Hữu lậu và vô lậu là bất khả phân với nhau, điều đó đă được nói đến trong câu kinh bất hủ của Bát Nhă Tâm Kinh: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.” (Sắc chính thực là Không, Không chính thực là Sắc).

Tuy nhiên, thực tế rất khó mà tự ḿnh thấy rơ ràng được rằng tất cả mọi pháp tự nó đều căn bản là không. Có thể nói rằng, muốn tự giác ngộ được cái Không vốn có này nơi chính ḿnh, ta phải dụng thân ḿnh bằng mọi công phu, với tất cả mồ hôi và nước mắt.

Chết trong khi đang sống

Khi tôi trở thành một tăng sĩ và gia nhập thiền viện, tôi đă ước ao thật mănh liệt, hơn bất cứ thứ ǵ trên đời, là làm sao được giác ngộ. Kyoto, nơi có trụ sở thiền viện của tôi, không phải là một mảnh đất có ruộng đồng trù phú, v́ thế phần thực phẩm quy định cho một tháng thường được giới hạn chỉ đủ cho mười ngày. Thực phẩm chính của mười ngày ấy bao gồm những thứ như là bắp và bột khoai lang, và đôi khi một thứ bột trà mầu vàng úa không thể nào uống được. Đó là những thứ đă nuôi thân mạng tôi khi đang ở trong thiền đường, nhất tâm tọa thiền và t́m sự giác ngộ.

Nhưng kinh nghiệm giác ngộ không đến một cách dễ dàng. Trước khi bắt đầu tu Thiền, tôi đă được dậy để nh́n bằng mắt, nghe bằng tai, suy nghĩ bằng đầu óc, và đó là cách duy nhất tôi dùng để t́m hiểu mọi sự. Nhưng khi vào tu, tôi lại được chỉ cho rằng satori (giác ngộ) không phải là một loại kết luận rút ra từ những phán xét riêng tư dựa trên những cảm giác phân biệt của sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư). Dù vậy, tôi vẫn chưa thể nắm được cách nào để buông bỏ những thói quen cảm nhận xưa nay và tập kinh nghiệm theo một cách khác.

Đại Đăng Quốc Sư (Daito Kokushi), vị sáng lập ra thiền viện Đại Đức (Daitokuji) và là một trong những vị thiền sư kiệt xuất nhất trong lịch sử của Nhật Bản, trong những lời thị tịch đă khuyến cáo như sau: “Hăy luôn luôn chú tâm, suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ trong ngày, để học cái Không Thể Nghĩ Bàn.” Cái Không Thể Nghĩ Bàn ấy vượt lên trên mọi lư luận hay sự hiểu biết của trí thức, và tôi không biết một chút ǵ để t́m cách nào dồn năng lượng vào sự tu học cái Không Thể Nghĩ Bàn này. V́ thế tôi cứ tọa thiền một cách mù quáng. Hàng đêm khi mọi người đă ngủ say hết rồi, tôi vẫn kiên tŕ ở đó ngồi trên chiếc gối thiền. Không may là, trong thời gian này tôi lại được giao nhiệm vụ đánh thức mọi người buổi sáng.

Như tôi đă nói ở trên, thực phẩm lúc đó rất ít oi, và tôi vốn lại gầy g̣ nữa. Ban ngày tôi vất vả làm những việc lao tác chân tay và thực hành tu tập, đến tối lại tiếp tục tọa thiền không ngủ suốt đêm, v́ vậy tuy hết sức muốn ngồi thẳng người lên, nhưng rồi tôi cũng lại rơi vào một trạng thái mê mệt, sẵn sàng ngất xỉu đi và ngă lăn khỏi gối thiền.

Giờ thức dậy buổi sáng trong thiền viện là ba giờ sáng mỗi ngày. Chắc tôi thường hay ngất đi vào khoảng 2 giờ hay 2 giờ rưỡi sáng. Lúc bừng tỉnh dậy, tôi đă thấy quá giờ đánh thức mọi người rồi. Việc này kéo dài khoảng ba ngày, cuối cùng tôi bị khiển trách nặng nề, bị kết tội “ngủ quên” và v́ thế đă làm xáo trộn chương tŕnh hàng ngày của cả thiền viện. Chức vụ tôi được giao cho gọi là Densu. Tôi được nhắc nhở thật rành rọt rằng luật lệ của thiền viện đă quy định rằng người làm densu phải canh đồng hồ như là “canh chính cặp mắt của ḿnh vậy”.

“Ngươi có thực sự có ư muốn tu hay không hả?” Vị huynh trưởng của tôi quát lớn. “Ngươi tưởng ngươi đến đây để làm ǵ?”

Khi bị hỏi là có ư muốn tu hay không, điều đó có nghĩa là có thể bị đá ra khỏi thiền đường. Nhưng may thay, Thầy đă thương hại tôi, và những học tăng bạn cũng giúp đỡ, che chở tôi khỏi bị sơ sểnh thêm nữa. Dù vậy, tôi vẫn c̣n bướng bỉnh tiếp tục tọa thiền mà không nằm xuống chút nào về đêm. Mặc dù liên miên ngồi thiền một cách kiên tŕ như vậy, hàng đêm tôi vẫn rơi vào trong cơn mê mệt và ngủ thiếp đi, nên việc tọa thiền của tôi chẳng mạnh mẽ và sáng tỏ được chút nào.

Thế rồi, vấn đề lại càng trở nên tệ hại hơn, khi tôi lư luận rằng ăn vào là chỉ làm buồn ngủ thêm, nên ngưng không ăn nữa. Như tôi đă nói ở trên, những bữa ăn thời ấy không được đầy đủ chút nào. Chúng tôi dùng bữa theo nghi thức, tụng một bài kinh trước và sau khi ăn. Trước mỗi bữa ăn thường có thông báo về bữa ăn ấy như là “Bữa trưa hôm nay phần mỗi người sẽ gồm có ba cái bánh xếp”. Như vậy có nghĩa là mỗi vị tăng sẽ nhận được ba viên bánh làm bằng bột khoai ép lại, mỗi viên chỉ to bằng đồng xu thời xưa. Không có nước tương hay miso ǵ cả, những viên bánh này được luộc trong nước muối, và chúng tôi mỗi người được phát cho ba chén. Dù chỉ có thế mà tôi cũng ngưng không ăn v́ nghĩ là sẽ bị làm cho buồn ngủ, điều đó quả t́nh là tôi đă đi quá xa.

Thế rồi, một đêm nọ, tôi không c̣n một chút sức lực nào nữa.

Tôi mất hết cả ư chí muốn được giác ngộ; sự tiếp tục t́m kiếm giác ngộ (satori) dường như là điều không thể nào tưởng tới được nữa. Tôi không c̣n một chút năng lực tối thiểu nào của vật chất và tinh thần cần thiết để giữ một mức độ ư thức trong đó cái thấy được xác định bằng mắt và cái nghe được xác định bằng tai. Cái gối thiền mềm mại ở dưới tôi lúc đó là cả một miếng thép cứng đơ. Toàn thân tôi là một tổng hợp của những cơn đau như dần. Đó không c̣n là “Tôi” đang ngồi trên gối thiền nữa; mà chỉ là cả một sự mệt mỏi chất ngất . Ưù thức tưởng chừng như đă lạc mất trong màn sương mù dầy đặc, tất cả chỉ c̣n là một sự mơ hồ.

Đột nhiên, dưới một lực nào đó mà tôi không được rơ, màn sương mù bỗng tan đi và biến mất. Và không phải là cơn đau đớn của thể xác tôi đă biến đi, nhưng là cái thân chịu đựng sự đau đớn đó đă biến đâu mất. Mọi sự trở nên hoàn toàn sáng tỏ. Ngay cả trong màn đêm mờ tối, mọi sự cũng được thấy một cách thật tinh tường. Tiếng động nhỏ nhất cũng có thể nghe được rơ ràng, nhưng không c̣n người đang nghe. Tôi tin rằng, điều này cũng tựa như là đă chết đi trong lúc c̣n đang sống vậy.

Vào lúc đó, không c̣n có một khởi niệm nào cả. Tôi không có một ư niệm ǵ là trạng thái sáng tỏ hoàn toàn ấy kéo dài bao lâu, là điều ǵ đă xẩy ra trước đó hay sau đó. Có lẽ rằng một giọng nói sắc cạnh nào đó đă đánh thức tôi ra khỏi trạng thái đó. Tôi chỉ biết rằng khi sực tỉnh lại, tôi cảm thấy hạnh phúc vô ngần! Như tôi không c̣n biết là bàn tay tôi đang múa, tiếng chân tôi đang bước. Trong tâm trí tôi không hề có một ư tưởng nào thoảng qua là tôi đang có một kinh nghiệm giác ngộ hay là “tôi đă kiến tánh” (kensho). Không cần lư luận ǵ cả, tôi chỉ cảm thấy một niềm vui choáng ngợp, tưởng chừng như có một gánh nặng chĩu trên vai bỗng nhiên đă được lấy đi.

Hồi tưởng lại kinh nghiệm này, nhớ đến nhiều đoạn kinh khác nhau và qua những ngữ lục của các vị tổ thời xưa, tôi thấy một bài kệ của Thiền sư Chí Đạo Vô Nan (Shido Bunan Zenji) thật là thích hợp:

Chết trong khi đang sống

Chết một cách toàn diện

Mọi việc cứ tùy duyên

Sẽ tốt đẹp tự nhiên

Tâm lư gia danh tiếng Elizabeth Kubler-Ross đă thu thập những lời kể lại của những người đă trải qua kinh nghiệm chết giả và rồi trở về được và thuật lại. Theo những bản tường tŕnh này, khi người ta bắt đầu chết, ngay trong giây phút đó, không những cái thân xác bị dầy ṿ bởi bệnh hoạn và đau đớn được hoàn toàn giải thoát khỏi sự đau khổ ấy, mà chính người ấy cũng có cảm giác thực sự là họ được giải thoát khỏi thân xác ấy. Những người này báo cáo rằng, tuy là họ không biết họ đang ở đâu, nhưng họ có thể thấy rơ ràng những người khác đang tụ tập chung quanh xác họ, than khóc níu kéo và cố lay xác họ. Xem thế, dường như là có sự tương đồng nào đó giữa kinh nghiệm của cái chết giả và cái “chết” trong khi nhập định, nhưng đây là một điều tôi không dám chắc được.

Những ǵ mà tôi và những người khác đă trải qua những kinh nghiệm tương tự có thể xác định được là có một trạng thái của tâm vượt ra khỏi nhân và quả, một trạng thái khác biệt với trạng thái trong đó chúng ta t́m cách thụ đắc được “điều này” bằng việc làm một “điều kia”. Đó là một trạng thái Định trong đó mỗi giây phút đều tự nó là đầy đủ, đều là trọn vẹn như thế. Mỗi giây phút đều được phản chiếu lại một cách hoàn hảo, như đang đứng trước một tấm gương vậy.

Nếu chúng ta dồn hết năng lực để sống với tính cách như là “trồng cây rồi ăn quả”, gieo tạo nhân lành cho đời sống thế gian hữu hạn này, th́ đó cũng là một điều kỳ diệu và cần thiết. Nhưng nếu sống mà chỉ biết tùy thuộc vào luật Nhân Quả -- hành động để nhận lănh cái quả sẽ tới trong tương lai gần hay xa -- th́ rồi thế nào, người ấy cũng gập phải chướng ngại và sẽ cảm thấy tuyệt vọng.

Tuy nhiên, bằng cách trực diện với những ǵ bạn đang có ngay trước mắt, ngay trong lúc này, hoàn toàn không phán xét hay lượng định ǵ cả, bạn có thể vượt qua tất cả những vấn đề của nhân và quả. Bạn có thể làm việc trong bếp hay quét sân ngoài vườn, cọ rửa pḥng tắm hay làm một việc lao động nào đó cho một người nào khác, nhưng bạn làm mà không có một chút suy tư ǵ về cái giá trị tương đối của công việc ấy. Một cách đơn giản, điều đó có nghĩa là bạn làm mọi việc với hết sức của ḿnh, trở thành một với bất cứ hiện trạng nào của bạn, ngay trong giây phút đó. Tôi muốn bạn sẽ biết rơ ràng được rằng, đây là một cách khác để sống cuộc đời của bạn.

Một mặt, dù cho bạn có dồn nỗ lực và rồi được thành công trong sự gặt hái những quả tốt cho ḿnh, nhưng nếu không biết vượt qua chướng ngại lớn của sinh, lăo, bệnh, tử, bạn sẽ không thể an lạc được trong những buổi xế chiều của cuộc đời. Mặt khác, nếu bạn bám víu vào khái niệm về cái không và rồi rơi vào trong vô kư của sự phủ nhận cái có, bạn sẽ dễ sai lầm mà sống cả một cuộc đời vô ích. Nhưng có một cách khác hơn thế, đó là con đường trung đạo, sẽ giúp cho chúng ta không rơi vào hai bên nào cực đoan. Con đường Trung Đạo này c̣n được gọi là Pháp Môn Giải Thoát, giải thoát khỏi cả hai cái hữu lậu và vô lậu.

Buông thả trong cái chết

Tôi xin kể lại đây một câu chuyện cuối cùng, một câu chuyện đă làm tôi xúc động sâu xa. Đó là chuyện của cô Okamoto, người đă ở bên cạnh thầy tôi trong suốt bốn mươi năm cho đến khi ngài viên tịch.

Cô Okamoto, như tôi đă nói trước đây, đă rời bỏ việc làm trong ngành giáo dục nữ sinh và vào sống ở chùa trong tuổi bốn mươi như một đệ tử của Thiền sư Zuigan. Cô tu như một người cư sĩ, không hề thế phát hay thọ giới, nhưng cũng không bao giờ trang điểm như những nữ cư sĩ khác. Cô làm mọi việc thật gọn gàng, lúc nào cũng trong bộ quần lao động rộng thùng th́nh.

Cô không có ư định trở thành một đại nhân trong ni giới, nên thay v́ chăm chú vào công việc tu tập, cô siêng năng làm công quả nhiều hơn, hầu giúp cho người thầy mà cô hằng kính ngưỡng được thoải mái hơn trong đời sống . Qua những công việc giặt quần áo, nấu bếp, và trồng rau tươi, Cô Okamoto muốn bảo đảm cho thầy khỏi cần bận tâm ǵ hết để có thể giảng pháp cho mọi người. Bất cứ người nào nh́n đến cô Okamoto cũng sẽ thấy ngay cô là một người rất tận tụy.

Đại sư Zuigan viên tịch vào tuổi tám mươi bẩy, lúc đó cô Okamoto đă sáu mươi tuổi . Sau khi kỳ thất cuối cùng 49 ngày đă xong xuôi, cô thu dọn đồ đạc và, tuyên bố không muốn là một gánh nặng cho tôi, đă ra đi khỏi chùa. Cô dọn đến một thất nhỏ thuê trong một ngôi chùa khác, và tiếp tục sống những năm tháng c̣n lại của tuổi già ở đó, không chịu sự kiểm soát của một ai, y như thờiø cô đă sống khi Đại sư Zuigan c̣n sinh tiền vậy.

Mỗi buổi sáng cô Okamoto dậy vào lúc 4 giờ 15, và tuy rằng không phải phần việc của ḿnh, cô cũng đi quét dọn vườn tược chùa chung quanh căn thất thuê của cô. Cô trồng rau trên những mảnh đất trống, và hái rau đó cúng dường các vị học tăng đang theo tu với tôi, đồng thời chia cho những khách thập phương, và đem lên bàn thờ cúng dường tam bảo.

Khi đă tới tuổi quá thất tuần, cô cảm thấy muốn t́m cách tu bản thân ḿnh cho tốt hơn, nên sau một ngày quét tước, nhổ cỏ dại, làm vườn, cô Okamoto ở trong nhà nghe băng giảng và học hỏi thêm về văn chương cổ điển Trung Hoa. Có những lúc khác, nhớ lại những bài giảng của Lăo sư về Thiền thư, cô mở lại những sưu tập hệ công án như Bích Nham Lục và Vô Môn Quan. Đó là cuộc sống hàng ngày của cô Okamoto.

Cô là một bà già bé nhỏ, thấp lùn với bộ mặt tṛn trĩnh như trẻ thơ, nhưng với lối sống đặc biệt khắc khổ, cứng nhắc, cô Okamoto dường như có một vẻ ǵ đáng sợ, và những học tăng trẻ không cảm thấy thích thú chút nào nếu họ bị giao cho công việc phải đến gập cô.

Hàng tháng tôi đều đến thăm cô Okamoto, và lúc nào cô cũng có vẻ phấn chấn với những buổi đến thăm đó. Nhưng có một hôm, cô nhắn tin cho tôi biết rằng cô muốn tôi đến thăm ngay, v́ cô có chuyện cần muốn nói.

“Nửa năm vừa qua, tôi thấy cơ thể ḿnh yếu mệt vô cùng,” cô bắt đầu nói khi tôi đến thăm. “Tôi nghĩ chắc ḿnh đă đến tuổi suy nhược rồi, nên cố tự răn ḿnh phải tiếp tục mọi công việc như thường, nhưng rồi cũng không thấy khá ǵ hơn.”

“Cuối cùng,” cô giải thích tiếp, “dường như tôi không c̣n cách ǵ hơn là nhờ người đưa đi bác sĩ khám. Tuy bác sĩ không nói ǵ nhiều, nhưng h́nh như là tôi đă bị ung thư. Từ khi biết được chuyện này, tôi đâm ra sợ chết quá đi.”

Những lời nói của cô mang âm hưởng của lời ông thầy giáo cũ của tôi. Nhưng không những là cô Okamoto sợ chết, cô c̣n cảm thấy xấu hổ với cái sợ đó. Cô cảm thấy sợ chết là một điều nhục nhă, sau bao nhiêu năm tu tập với một vị lăo sư như vậy. Cô cảm thấy biết ơn Lăo sư và Thiền tông vô cùng, và không chịu nổi ư tưởng là những người ở gần cô sẽ nghĩ tu Thiền là vô ích, v́ rơ ràng đă không giúp cho một người như cô có thể vượt qua được nỗi sợ hăi khi đối diện với tử thần.

“Có vấn đề ǵ đây trong cách tu của tôi từ đó tới giờ … để giờ này tôi sợ chết đến thế? Xin thầy làm ơn chỉ cho tôi thấy tôi đă sai như thế nào trong cách tu, được không? “ cô khẩn khoản, trải bầy tâm sự ra với tôi, như thể tôi là con trai của cô vậy.

Tuy rằng cô Okamoto hơn tôi đến hai mươi bốn tuổi, sự thổ lộ nhiệt t́nh của cô đă khiến cho tôi, mặc dù kính trọng sự lớn tuổi của cô, đă thẳng thắn nêu ra với cô điều tôi thấy không ổn lắm trong thái độ sống của cô.

Người đàn bà này đă sống một đời không có ǵ khiếm khuyết, đáng ngợi khen, nhưng bà lúc nào cũng nghiến răng lại để cố “làm điều lành, tránh điều xấu”. Lúc nào cũng phân biệt thật rành mạch giữa cái “tốt” và cái “xấu”, lúc nào cũng cân nhắc, phán xét mọi t́nh thế, bà lo làm hết sức để cố đạt lấy cái “tốt hơn”, nhưng luôn luôn là trong sự cứng cỏi của hàm răng nghiến chặt. Tôi xin nói rơ hơn về vấn đề này. Nỗ lực phân biệt tốt với xấu và rồi chọn lựa hành động một bên để lo tích lũy nhân lành cho những quả tốt, tự nó, không thể đem lại sự an b́nh trong tâm được.

Như tôi đă giải thích với cô Okamoto, chúng ta sinh ra lọt ḷng mẹ và rồi sau này sẽ vào trong quan tài nằm. Trong khoảng thời gian trung gian đó chúng ta gọi là sống, và chắc hẳn bạn nghĩ rằng vào quan tài nằm tức là chết. Nhưng sự hiện hữu đúng thực tức là sống và chết lặp đi lặp lại, từng giây từng phút một. Nếu bạn nh́n vào một ngọn lửa, bạn thấy nó cháy liên tục và tạo ra một ánh sáng liên tục. Nhưng thực sự, sáp nến đang chẩy dần từng chút một, và tim nến trong khi đang rực cháy cũng đang cạn dần, đưa ngọn lửa càng lúc càng xuống thấp hơn.

Cuộc đời chúng ta trông có vẻ như những khối kiên cố suốt bẩy chục năm hay tám chục năm liền, nhưng thực sự ra, chúng cũng giống như tỷ dụ đă nói đến trước đây: bạn là một người vợ khi quay qua bên này; bạn là người hàng xóm khi quay qua bên khác. Khi bạn giữ cho tâm được thẳng thắn, tự nhiên với từng giây từng phút sống thực, dù không có một cố gắng nào, dù không có sự tập luyện nào, bạn cũng được sinh ra thật đẹp đẽ với từng giây phút một. Bạn chết đi trong từng giây phút, và rồi sinh ra trở lại trong từng giây phút nối tiếp nhau.

Như tôi đă nói với cô Okamoto, khi bạn đi vào bếp sửa soạn bữa ăn tối, hăy sinh ra ở trong bếp. Khi bạn xong việc ở đó, hăy chết đi. Rồi lại sinh ra ở bàn ăn khi bạn ăn bữa tối và, sau khi bạn ăn xong rồi, hăy chết đi ở đó. Hăy sinh ra trong vườn khi bạn lấy cây chổi quét sân. Rồi khi bạn vào giường ngủ ban đêm, hăy chết đi ở đó. Và khi ánh dương tỏa sáng, bạn thức dậy trong giường, và lại sinh ra lại như mới. Nếu bạn có bệnh ung thư, hăy sinh ra với bệnh ung thư.

Luôn luôn trong giây phút hiện tại bây giờ -- và chỉ ngay bây giờ thôi -- bạn đi vào đời sống. Luôn luôn trong giây phút hiện tại bây giờ -- và chỉ ngay bây giờ thôi -- bạn buông thả trong cái chết. Thực tập chân lư đó tức là tập Thiền vậy.

Mạng sống Phật

Tôi đă thấy nhiều người áp dụng tu, nhưng tôi không biết có ai thực hành theo những lời chỉ dậy của tôi một cách thật hoàn hảo, thật tuyệt vời như cô Okamoto. Cô tuân theo lời tôi thật ngoan ngoăn như một con cừu non. Chưa đầy mười ngày, bộ mặt nghiêm khắc của cô đă dịu đi trông như một đứa trẻ, trở thành bộ mặt của một bà lăo hiền từ. Cô đă bỏ lại đàng sau cái lối sống khắc khổ, g̣ bó để cố làm điều tốt.

Bệnh của cô Okamoto càng ngày càng nặng thêm, và cuối cùng cô phải vào nhà thương. Tôi nhớ khi tôi đến thăm cô, các bác sĩ và y tá đều nhận xét rằng họ đă làm việc trong bệnh viện bao nhiêu năm nay, mà chưa gặp một bệnh nhân nào như vậy. Khi cô Okamoto vào bệnh viện, cô đón nhận tất cả mọi người, tất cả mọi thứ, tất cả mọi hoàn cảnh đến trong tinh thần “cơ hội chỉ đến một lần”.

Hầu hết mọi người đều diễn giải “cơ hội chỉ đến một lần” như là những trường hợp thật là đặc biệt, một cơ hội hăn hữu cả đời chỉ có một lần. Câu nói đó gợi lên trong trí ta một dịp ǵ như là một buổi lễ trà đạo chỉ được diễn ra một lần độc nhất. Người ta thường lư luận rằng cái ǵ chỉ xẩy ra một lần trong đời, một cuộc tao ngộ có một không hai trong đời, phải là một dịp may hiếm có lạ thường, và câu nói này thường chỉ được dùng giới hạn trong nghĩa đó mà thôi.

Tuy nhiên, theo một nghĩa đích thực, “cơ hội chỉ đến một lần” có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, khi người ta gặp một tảng đá, nh́n thấy một cây cỏ dại, khi lau chùi pḥng tắm hay nấu cơm. Đó là một trạng thái tâm thức trong đó tuyệt đối không có một dự kiến nào mang tính chất yêu ghét, trong đó tuyệt đối không có một ư tưởng nào muốn trốn tránh hiện thực. Thực tập “cơ hội chỉ đến một lần” là hoàn toàn ḥa nhập vào mỗi việc đang xẩy đến, và đó đúng là cách mà cô Okamoto đă dùng để đi ra khỏi cuộc đời.

Không may là, tôi đă đồng ư trước cho chuyến du hành sang Anh và Hoa Kỳ trong thời điểm đó, và tôi ra đi trong ḷng cảm thấy khó chịu. Tôi chỉ thị cho các đệ tử ở nhà phải săn sóc cô Okamoto trong lúc tôi đi vắng, nhưng cô đă qua đời mà không chờ đợi tôi trở về. Khi trở về, tôi nghe người đệ tử lớn nhất của tôi, vị tăng đă trông nom cô lúc sau cùng, kể lại những giây phút cuối của cô trước khi chết. Tuy vị tăng này ít khi nào biểu lộ cảm xúc trên nét mặt, ông cũng không ngăn nổi những gịng lệ tuôn trào khi kể lại câu chuyện.

Trước khi cô Okamoto qua đời, cô đă nói với ông, “Nh́n lại, tôi thấy cuộc đời tôi đă sống bao nhiêu năm nay thật là tù túng. Nên bây giờ tôi có ư muốn cầm một quả bóng đi vào chơi trong rừng.” Đó là những lời cuối của cô.

Chúng tôi đă đặt một quả bóng thật đẹp, làm bằng những sợi chỉ mầu, vào bên trong mộ của cô.

Tôi mong bạn sẽ không xem những lời nói cuối cùng của cô Okamoto chỉ như những lời nói xúc cảm hay chỉ có ư nghĩa thuần túy như vậy . Khi tôi nghe những lời nói cuối cùng đó, tôi cảm thấy vui mừng tự trong đáy ḷng. Vui mừng, v́ tôi tin tưởng rằng trong đời sống và trong cái chết, cô Okamoto đă thực sự đạt tới trạng thái có thể được gọi là “du hí tam muội.”

Nếu một người được lănh lương để làm công việc dùng xẻng xúc cát vào trong thùng xe vận tải, chắc họ sẽ cảm thấy mỏi mệt. Lúc đó nếu có ai đến và đề nghị giúp họ, chắc họ sẽ vui vẻ mà đưa cái xẻng ra cho người ấy. Nhưng giả tỷ có một đứa trẻ đang chơi trên một đống cát, xúc cát vào trong cái xô. Nếu có người nào đến nói với nó cho họ làm thế việc đó một lúc, chắc đứa trẻ sẽ cự lại rằng, “Tại sao tôi lại muốn ông thế tôi trong khi tôi đang thích thú như thế này?”

Ngay cả một trong những công việc phù du nhất như việc sửa soạn một bữa ăn cũng có thể là du hí tam muội được. Bạn dốc tâm vào việc sửa soạn một bữa ăn ngon, lo bầy biện trang hoàng những đĩa thức ăn thật nghệ thuật rồi đem lên mời mọi người dùng, chẳng mấy chốc những món ăn đó sẽ được tiêu thụ hết sạch, và c̣n lại chỉ là những đĩa bát bẩn. Thực hành du hí tam muội không chỉ có ư nghĩa sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật làm đẹp cho viện bảo tàng trong vài trăm năm, mà c̣n áp dụng cho những việc tầm thường hàng ngày mà chúng ta vẫn làm. Một tỷ dụ cụ thể là những công việc làm trong nhà. Trong một ṿng vô tận, chúng ta lau chùi nhà cửa, rồi nhà cửa lại bẩn trở lại. Chúng ta quét nhà, rồi bụi lại bám trở lại. Chúng ta giặt quần áo, rồi quần áo lại bị lấm bẩn trở lại.

Điều này không chỉ giới hạn trong việc chăm sóc nhà cửa, nếu nh́n kỹ, bạn sẽ thấy rằng hiện trạng này cũng có trong mọi hoạt động của con người nơi thế gian này.

Du hí tam muội là một trạng thái tâm thức trong đó người ta làm một việc ǵ mà không hề cân nhắc đến cái giá trị tương đối của nó, y như một đứa trẻ chơi nghịch trong cát sẽ không muốn để một người nào khác đến thế chỗ nó. Đó chính là tâm thức của cô Okamoto khi cô đi vào chơi bóng trong rừng.

Du hí tam muội là một trạng thái trong đó tâm đă siêu vượt lên sự đối đăi của cả hai pháp hữu lậu và vô lậu. Đó là Pháp môn Giải thoát, một trạng thái tâm thức tự do tự tại, giải thoát khỏi cả hai cái hữu hạn và vô hạn.

Nơi bản thân chúng ta đă có sẵn mạng Phật vĩnh cửu thường hằng. Mạng Phật ấy thể hiện trong mọi sắc tướng, sinh sinh diệt diệt theo từng sát na, và tiếp nối nhau hiển lộ trong du hí tam muội. Chúng ta có thể khẳng định rằng có được trạng thái tâm như vậy chính là đă đạt được trạng thái giác ngộ trong Thiền.

Nơi bản thân chúng ta đă có sẵn mạng sống vĩnh cửu miên viễn. Mạng sống đó thể hiện trong những sắc tướng và tương tục biến hiện theo từng sát na. Tuy nhiên, ánh chớp lập ḷe của sự biến hiện này không phải là ánh chớp của một cái ngă riêng biệt kiên cố, mà là sự biến hiện rực rỡ của một thể nhập ḥa điệu giữa cá thể và ngoại cảnh chung quanh.

Đây là điều mà vị tổ khai sáng của tông Tào Động ở Nhật, thiền sư Đạo Nguyên (Dogen Zenji) đă ngụ ư khi ngài bảo rằng sinh và tử chính là mạng sống Phật. Sinh và tử là nhịp đập của mạng sống Phật.

Ơ đâu có một ngàn con người, trong một ngàn lối sống, sẽ có một ngàn vị Phật hiển lộ. Phật hiển lộ trong đồi núi, trong thung lũng, cỏ cây, qua muôn vàn hiện tượng khác nhau. Cái tâm thể hiện nơi bất cứ mọi h́nh tướng nào trước mắt ta, nơi bất cứ phương hướng nào chung quanh ta là cái tâm đáng kính ngưỡng; đó chính là tâm Phật, đó chính là mạng Phật vậy.

Riêng đối với cá nhân tôi, chữ sinh và tử được hiểu như Đời Sống Lớn Rộng, đầy năng động và nhẩy múa thật linh hoạt. Trong suốt quyển sách này tôi đă nói chuyện với các bạn về đời sống lớn rộng, nhẩy múa thật linh hoạt này và về tiến tŕnh tôi đă trải qua để có được cái nh́n như vậy về đời sống.

Như tôi đă nói trước đây, khi chấm dứt một bài giảng, tôi thường yêu cầu mọi người hăy quên hết những điều tôi vừa nói. Nhưng mặc dù vậy, tôi cũng tha thiết mong rằng những lời kể vụng về của tôi sẽ là một khích lệ, phần nào giúp cho bạn sống được đời sống của ḿnh … sống với hết tâm ư trong từng giây từng phút, trong ư thức trọn vẹn trước mắt đời sống bao la lớn rộng, đầy năng động, và nhẩy múa thật linh hoạt.

Vài nét về tác giả:

Thiền sư Soko Morinaga sanh năm 1925. Sau khi tốt nghiệp trung học, ngài đă tu theo Thiền tông, được thọ giới với thiền sư Zuigan Goto vào năm 1948. Khoảng thời gian từ 1949 cho đến 1963, ngài tu trong thiền viện Đại Đức (Daitokuji) và được thiền sư Sesso Ota ấn chứng. Trong khi hoạt động tích cực với cộng đồng cư sĩ, đi thuyết giảng các nơi và viết bài, viết sách, ngài cũng làm viện trưởng cho viện đại học Hanazono, trường đại học chuyên môn của tông Lâm Tế ở Kyoto. Ngài có một liên hệ lâu dài với Hội Phật Giáo ở Luân Đôn và đi du hành qua đó mỗi năm để tham dự khóa giảng mùa hè được bảo trợ bởi nhiều hệ phái Phật giáo khác nhau. Thiền sư Morinaga tịch vào năm 1995.