Bushido - The soul of Japan

 Nitobe Inazo

 VƠ SĨ ĐO

LINH HN CA NHT BN

 Lê Ngọc Thảo dịch (*)

 

CHƯƠNG XII :

CHẾ ĐỘ TỰ SÁT

CHẾ ĐỘ PHỤC THÙ

 

  Hai chế độ này (được gọi là harakiri và katakiuchi) đă được nhiều văn nhân nước ngoài bàn khá đầy đủ.

  Trước tiên tôi xin nói về vấn đề tự sát nhưng xin được hạn chế những quan sát của ḿnh trong giới hạn seppuku hay là kappuku, thường được biết với chữ harakiri, có nghĩa là tự sát bằng cách mổ bụng ḿnh. “Mổ bụng? Sao lại làm chuyện phi lư đến thế!” Chắc hẳn sẽ có người la lên như thế khi nghe tiếng này lần đầu. Với tai người ngoại quốc, thoạt đầu, đây có lẽ là chuyện hết sức ḱ quái. Nhưng, với những người đă đọc qua tác phẩm của Shakespeare, th́ đây không phải là chuyện lạ. Shakespeare đă để cho Brutus nói rằng “Linh hồn của ngươi (Caesar) hiện ra, quay ngược mũi kiếm của ta đâm vào ruột ta.” Một thi sĩ cận đại người Anh, trong tác phẩm Light of Asia (Ánh sáng của Á Châu), đă có câu thơ tả lưỡi kiếm đâm vào bụng nữ hoàng, nhưng không có ai chê tiếng Anh của ông ta thô tục hoặc phạm thượng cả. Một thí dụ nữa, hăy nh́n bức tranh của Guercino trưng bày ở Palazzo Rossa, thành phố Genoa (thành phố ở Tây bắc nước Ư, ND), vẽ về cái chết của Cato[1]. Ai có độc bài thơ Cato ngâm khi lâm chung do Addison (tùy bút gia người Anh, ND) viết, chắc chắn sẽ không chế giễu thanh gươm đă đâm quá nửa vào bụng ông ta. Trong thâm tâm người Nhật, chết bằng cách mổ bụng là câu chuyện của những hành vi cao quí nhất, câu chuyện của đau thương đầy cảm động, cho nên không có ǵ ghê tởm, không có ǵ đáng chế giễu, không có ǵ khiến người Nhật phải cảm thấy xấu xa. Sức mạnh biến sự việc thành đức tính, thành sự vĩ đại, thành t́nh thương thật là huyền diệu cho nên một cách chết khó coi đă thành một việc tuyệt vời, tượng trưng cho một sinh mạng mới. Nếu không th́ cái dấu hiệu (thập tự giá, ND) mà Đại đế Constantine[2] đă thấy sẽ không thể nào chinh phục được thế giới!

  Seppuku không khiến chúng tôi cảm thấy phi lí, không phải chỉ v́ chúng tôi có những liên tưởng không có dính dáng ǵ đến chuyện đó. Việc chọn một chỗ đặc biệt trong cơ thể để cắt, căn cứ vào những ǵ người ta tin ở phép giải phẩu cổ đại, th́ nơi đó là nơi trú ngụ của linh hồn và t́nh ái. Moses (trong “Cựu ước”, ND) đă viết “ruột của Joseph đau đớn xót xa v́ em ḿnh”, hoặc, David đă cầu nguyện Thượng đế đừng quên ruột ḿnh, hoặc, Isaiah, Jeramiah, và những đồng bóng khác trong “Cựu ước” cũng nói “ruột kêu” hay “ruột đau”. Tất cả những điều này đă ủng hộ tín ngưỡng lưu hành trong người Nhật rằng ở bụng có linh hồn trú ngụ. Người Semites (những người có ngôn ngữ thuộc hệ Semite gồm người Ả rập, người Do thái, người Ethiopia v.v…, ND) cho rằng sinh mệnh và t́nh cảm trú ngụ ở gan, thận và mỡ ở xung quanh. Chữ “hara” có ư nghĩa bao quát hơn chữ “phren” hoặc “thumos” trong tiếng Hy Lạp, và người Nhật cũng giống như người Hy Lạp, nghĩ rằng linh hồn của con người trú ngụ ở chỗ nào đó trong bụng. Ư tưởng đó không nhất thiết chỉ có ở những người cổ đại. Người Pháp có triết gia Descartes[3] nổi tiếng với thuyết linh hồn trú ngụ ở tùng quả tuyến, vẫn nhất định dùng từ “ventre” để diễn tả ḷng dạ, một từ hết sức mập mờ trong giải phẩu học, nhưng có ư nghĩa trong sinh lư học. Giống như thế, từ “entrailles” (bộ ḷng) được dùng để chỉ t́nh thương, ḷng thương hại. Không phải v́ mê tín mà tin như vậy, ngược lại việc này c̣n có vẻ khoa học hơn, nếu so sánh với quan niệm phổ thông cho rằng con tim là trung khu của t́nh cảm. Không cần phải hỏi thầy ḍng, người Nhật biết rơ hơn cả Romeo (trong bi kịch “Romeo và Juliet” của Shakespeare, ND) nói rằng “ở chỗ vô cùng xấu xa của thây người chết có tên họ người ta”. Những học giả thần kinh học cận đại nói về năo bộ của phần bụng hoặc phần xương chậu, cho rằng ở đó có trung khu của thần kinh giao cảm, chịu ảnh hưởng của những tác dụng tâm linh rất lớn. Khi đă thừa nhận thuyết sinh lí học thần kinh này, th́ dễ dàng lập ra một tam đoạn luận về “seppuku”. “Tôi sẽ mở chỗ ngồi của linh hồn của tôi để cho anh xem nó ra sao. Hăy nh́n bằng chính mắt anh xem nó dơ hay sạch”.

  Tôi không muốn bị hiểu lầm rằng tôi thừa nhận việc tự sát, trên lập trường tôn giáo lẫn lập trường đạo đức. Nhưng việc việc tôn trọng danh dự được đánh giá cao đă là lí do đủ để cho nhiều vơ sĩ phải tuyệt mệnh. Có không biết bao nhiêu người đă đồng thuận với tấm t́nh do Garth (thi sĩ người Anh, ND) diễn tả.

  Chết là cứu tinh khi danh dự bị mất
  Là căn nhà b́nh yên để khỏi bị khổ nhục

  Đồng cảm với t́nh cảm này, nhiều người đă mỉm cười đưa linh hồn của ḿnh vào cơi chết. Vơ sĩ đạo chấp nhận cái chết liên quan đến danh dự như một lợi khí để giải quyết nhiều vấn đề phức tạp. V́ thế cho nên, với những vơ sĩ trọng công danh, cái chết tự nhiên, ngược lại, bị xem như vô vị, không phải là cái chết mà nam nhi mong muốn. Tôi dám nói rằng chỉ cần thật sự thật thà th́ chắc chắn nhiều người sùng đạo Cơ đốc sẽ thú nhận rằng họ cảm thấy say mê, nếu không phải là tán thưởng tích cực, sự điềm tĩnh tuyệt vời mà Cato, Brutus, Petronius[4] và nhiều vĩ nhân thời cổ đại đă có khi kết liễu mạng sống của ḿnh. Có quá trơ tráo hay không khi nói bóng nói gió rằng cái chết của triết gia thủy tổ (Socrates, ND) có phần nào đó có thể nói là tự sát. Từ những câu chuyện do đệ tử kể lại cặn kẽ, chúng ta có thể biết được rằng thầy của họ sn sàng chấp nhận mệnh lệnh của quốc gia, mặc dầu ông ta biết rằng về mặt đạo đức, đó là lầm lỗi, và tuy ông ta có thể chạy trốn, nhưng ông ta đă tự tay ḿnh cầm lấy chén thuốc độc, rưới vài giọt tế thần. Qua toàn thể hành động và thái độ của ông ta, chúng ta không thể nhận ra được rằng đây là hành vi tự sát hay sao? Không có cưỡng bách xác thịt ở đây như những trường hợp xử h́nh thông thường. Đúng, phán quyết của quan ṭa có tính cách cưỡng chế. “Nhà ngươi phải chết, và chết bằng chính tay ngươi”. Nếu tự sát có nghĩa là chết bằng chính tay ḿnh th́ trường hợp của Socrates rơ ràng là tự sát. Nhưng không ai có thể buộc tội ông về chuyện đó; Plato, ghét việc tự sát, nên không muốn gọi thầy ḿnh là kẻ tự sát.

  Bây giờ độc giả chắc đă hiểu rằng seppuku không phải chỉ là một hành vi tự sát. Seppuku là một chế độ, có tính luật pháp và tính nghi lễ. Đây là một sáng kiến của thời trung cổ, một phương pháp để vơ sĩ chuộc tội, nói lên lời xin lỗi, tránh khỏi nhục nhă, chuộc lại t́nh bạn, và chứng minh ḷng thành của ḿnh. Seppuku được thực thi với nghi thức trang trọng khi bị đem ra thi hành như một h́nh phạt theo luật pháp. Đây là sự điêu luyện của tự sát, không ai có thể mổ bụng ḿnh nếu không trấn tĩnh được t́nh cảm hoặc không giữ được điềm tĩnh trong thái độ. V́ thế seppuku là h́nh thức hết sức phù hợp với vơ sĩ.

  Tôi cũng muốn miêu tả ở đây nghi thức đă bị băi bỏ này chỉ v́ ḷng hiếu ḱ thích chuyện cổ của ḿnh. Biết rằng có một tác giả ngày nay ít có người đọc, ưu tú hơn tôi nhiều, đă miêu tả việc này, tuy hơi dài nhưng tôi xin được trích dẫn ra đây. Trong trứ tác “Những câu chuyện Nhật Bản xưa” (Tales of Old Japan), sau bài dịch một khái luận liên quan đến seppuku từ một quyển sách hiếm của Nhật Bản, Mitford đă miêu tả một cuộc xử h́nh thật sự do chính mắt ḿnh thấy.

  “Chúng tôi (bảy người đại diện ngoại quốc) được mời đi theo sau những người chứng vào “hondo”, gian pḥng chánh trong chùa nơi thi hành nghi lễ. Quang cảnh thật trang nghiêm. Hondo có mái cao, cột trụ đen. Trần nhà treo lủng lẳng những đèn lồng phết vàng to lớn và những trang trí chỉ có ở chùa Phật. Trước bàn thờ Phật cao, trên sàn lót chiếu trắng đẹp, có một sạp được phủ bằng nỉ đỏ, cao chừng khoảng một tất. Những cây nến cao sắp hàng đều đặn, tỏa ánh sáng lờ mờ thần bí, vừa đủ để cho thấy mọi việc xảy ra. Bảy người chứng Nhật Bản ngồi ở phía trái trên sàn cao, và bảy người ngoại quốc ngồi ở bên phải. Ngoài ra không có ai khác.

  Sau vài phút chờ đợi lo lắng bất an, Taki Zenzaburo (1837-68), một người đàn ông cường tráng, ba mươi hai tuổi, với vẻ cao quí, trong lễ phục bằng chỉ gai đặc biệt, bước vào pḥng. Một kaishaku và ba quan chức mặc jimbaori (áo khoác chiến trận) có luồn chỉ vàng cùng vào. Kaishaku ở đây cần nên biết là không có nghĩa là kẻ hành h́nh (executioner) như trong tiếng Anh. Đây là công việc của một người có địa vị chững chạc, trong nhiều trường hợp, nhiệm vụ này được giao cho người bà con thân tộc hay bạn bè của người bị án, và quan hệ giữa họ không phải là quan hệ của tử tù với người hành h́nh, mà là quan hệ của người giữ vai chính với người trợ giúp. Trong trường hợp này, người kaishaku là môn đệ của Taki Zenzaburo, một người rất giỏi kiếm thuật nên được số đông bạn bè lựa chọn.

  Với người kaishaku ở bên trái, Taki Zenzaburo chậm răi bước về phía những người chứng Nhật Bản. Cả hai cùng cúi đầu chào, sau đó họ tiến gần đến phía những người ngoại quốc, và giống như trước, họ càng tỏ ra tôn kính cúi đầu chào chúng tôi. Hai bên người chứng đều trịnh trọng đáp lễ. Cuối cùng Zenzaburo bước lên sạp seppuku, chậm răi và trang nghiêm đến trước bàn thờ Phật lạy hai lạy, sau đó qú xuống xếp chân ngồi trên thảm nỉ, quay lưng sang bàn thờ Phật. Người kaishaku nép ḿnh ở phía bên trái. Một trong ba quan chức phục dịch tiến ra phía trước, tay dâng khay cúng Phật, có để một “wakizashi” bao giấy trắng. Wakizashi là đoản kiếm của người Nhật, dài khoảng ba tấc, có mũi nhọn và lưỡi bén như dao cạo. Người phục dịch cúi đầu lạy đưa khay đến kẻ tử tù. Kẻ tử tù nhận khay, cung kính dùng hai tay nâng khay lên ngang đầu rồi để xuống trước mặt ḿnh.

  Sau một lần cúi đầu thật sâu, Taki Zenzaburo, với giọng nói biểu lộ t́nh cảm ngập ngừng, đầy xúc động của một người đang thú tội đau đớn, nhưng trên vẻ mặt và thái độ không có một dấu hiệu nào lộ ra.

  “Tôi, một ḿnh tôi, đă phạm lỗi không thể bào chữa, tôi đă ra lệnh bắn người ngoại quốc ở Kobe, và khi nh́n thấy họ chạy trốn, tôi lại ra lệnh bắn tiếp. Tôi sẽ mổ bụng v́ đă phạm tội này. Cầu xin quí vị làm ơn chứng kiến cho tôi việc này”.

  Nói xong, Zenzaburo cúi đầu chào thêm một lần nữa rồi lột áo ḿnh xuống đến dây thắt lưng để lộ phần trên thân thể ra. Theo đúng với cách thức, Zenzaburo đă cẩn thận nhét hai cánh tay áo xuống dưới gối ḿnh để thân khỏi bị ngă ngửa ra phía sau; v́ người Nhật cho rằng, một vơ sĩ có địa vị, khi chết, phải ngă về phía trước. Chậm răi và với cánh tay vững vàng, Zenzaburo cầm lấy thanh đoản kiếm đặt ở trước mặt ḿnh lên, nh́n vào đó như gởi gắm tấm ḷng của ḿnh, gần như là yêu thương, và trong giây khắc, hắn dường như đang tập trung mọi suy tư của ḿnh cho giây phút cuối cùng này, bỗng hắn đâm luỡi kiếm sâu vào dưới bụng trái, chầm chậm rạch luỡi kiếm sang bên phải, lật luỡi kiếm lại trong vết thương rồi kéo lưỡi kiếm lên trên một chút. Trong suốt thời gian làm động tác đau đớn kinh hoàng này, bắp thịt trên mặt hắn không có một cử động. Hắn rút đoản kiếm, rồi khom ḿnh đưa cổ ra. Nỗi đau đớn lần đầu tiên hiện lên trên mặt hắn, nhưng không có một tiếng rên la. Người kaishaku đứng nép bên cạnh, chăm chăm nh́n từng hành động của hắn, đúng vào lúc đó đă b́nh tĩnh tiến lên, trong phút chốc đă vung một đường kiếm lên không. Một ánh sáng loé, một tiếng soạt nặng nề, ghê rợn, một tiếng rơi vỡ; trong khoảnh khắc cái đầu đă ĺa khỏi cổ.

 Trong bầu không khí yên lặng nghẹt thở, chỉ có tiếng máu phun từng đợt, rùng rợn từ đống thịt bất động trước mặt chúng tôi. Chỉ một phút trước đó, đống thịt này đă là một vơ sĩ mạnh mẽ, dũng cảm. Thật là một quang cảnh khủng khiếp.

 Sau khi gập ḿnh cúi đầu, người kaishaku rút một tờ giấy trắng đă chuẩn bị sẵn ra lau lưỡi kiếm và xuống sạp seppuku. Đoản kiếm nhuộm máu, chứng cớ đẫm máu của vụ xử h́nh, đă được trịnh trọng mang đi.

  Hai quan chức đại diện cho Mikado (Thiên hoàng, ND) sau đó đă rời chỗ ngồi đến trước mặt các nhân chứng ngoại quốc yêu cầu chúng tôi chứng thực án tử h́nh đối với Taki Zenzaburo đă được thi hành đúng đắn. Nghi thức chấm dứt ở đây, và chúng tôi đă rời khỏi ngôi chùa.”

  Cảnh seppuku được ghi lại khá nhiều trong văn học hoặc trong những mẩu chuyện của những người có dịp chứng kiến, nhưng có lẽ chỉ cần đưa ra thêm một chuyện nữa cũng đă đủ.

  Chuyện của hai anh em Sakon và Naiki. Người anh hai mươi bốn tuổi và người em mười bảy tuổi đă t́m cách giết Ie-yasu để trả thù cho cha ḿnh, nhưng đă bị bắt giữ trước khi len lỏi được vào dinh trại. Ông tướng già khen hai anh em có ḷng can đảm, dám mưu sát ḿnh nên đă ra lệnh cho phép họ được chết trong danh dự. Tất cả đàn ông trong gia tộc bị tuyên án tử h́nh. Người em út, Hachimaro, một đứa trẻ mới tám tuổi cũng bị tội chết, và ba người đă được đưa đến một tịnh xá để thi hành án. Một y sĩ được dịp chứng kiến đă ghi lại trong nhật kí của ḿnh cảnh tượng như sau.

  “Khi ba anh em đến ngồi xếp hàng chờ giờ hành h́nh, Sakon quay sang hướng người em út nói: “Hachimaro, mầy mổ bụng trước đi. Có ǵ tao sẽ giúp mầy làm đúng cách”. Người em nhỏ trả lời rằng v́ nó chưa bao giờ được thấy seppuku, nên nó muốn xem cách làm của người anh, và sau đó nó sẽ làm theo. Hai người anh mỉm cười trong nước mắt. “Giỏi. Mầy thật là mạnh dạn, không hổ thẹn là con của cha.” Rồi hai người để Hachimaro ngồi ở giữa, Sakon đâm đoản kiếm vào bụng trái của ḿnh rồi nói. “Hachimaro, nh́n kĩ đây. Thấy rồi chưa? Đừng rạch dao quá sâu, không th́ sẽ bị ngă ngửa đấy. Ụp về phía trước, không được động đậy hai đầu gối.” Giống như thế, Naiki vừa rạch bụng ḿnh, vừa nói với thằng bé. “Nầy, phải mở mắt, không được nhắm, không th́ mặt mầy sẽ giống như mặt đàn bà chết. Nếu lưỡi kiếm bị chậm lại, hay không c̣n sức nữa, th́ hăy đem hết can đảm ra, cố rạch cho hết.” Thằng bé nh́n cách làm của hai anh, và khi cả hai tắt thở, nó lặng lẻ cởi áo, mổ bụng ḿnh theo đúng những điều hai anh đă dạy.”

  Xem việc được mổ bụng là điều danh dự làm nẩy sinh ra nhiều lạm dụng. Nhiều người trẻ thiếu suy nghĩ đă vội vàng t́m đến cái chết như con thiêu thân, chỉ v́ những lí do không đáng chết hoặc v́ những chuyện hoàn toàn không phù hợp với đạo lí. Số vơ sĩ chết v́ những động cơ không rơ ràng, khó hiểu nhiều hơn số phụ nữ đi tu. Sinh mạng rẻ mạt - rẻ mạt khi được đo bằng tiêu chuẩn danh dự của thế gian. Điều đáng buồn nhất là danh dự luôn luôn giữ được lăi trong việc đổi chác, nhưng thật ra danh dự ở đây không phải luôn luôn là một loại vàng ṛng, mà là một thứ hợp kim với nhiều kim loại hèn mọn. Dante (nhà thơ vĩ đại người Ư, 1265-1321, ND) đă giam tất cả những người tự sát vào lao ngục thứ bảy trong phiên bản “địa ngục” của ḿnh, nhưng chắc không ai có thể khoe rằng con số người đó nhiều hơn con số người Nhật đă tự sát.

  Thế nhưng, đối với một vơ sĩ chân chính, việc vội chết hoặc liều chết bị xem như đồng nghĩa với nhút nhát. Một vơ sĩ tiêu biểu (Yamanaka Shikanosuke 1740?-78, ND), khi bị thất trận liên tục, bị truy kích từ đồng lên núi, từ rừng vô hang, cuối cùng bị đói lă, phải ẩn náu trong bộng cây, gươm cùn, cung găy, tên cũng không c̣n mũi nào … trong hoàn cảnh giống như thế, chiến binh La Mă (Brutus, ND) cao quí nhất đă không phải tự vận bằng chính thanh gươm của ḿnh ở Philippi hay sao? Nhưng, vơ sĩ này đă nghĩ rằng nếu chết đi th́ quả là nhút nhát nên đă ngâm câu thơ sau đây với tâm trạng chịu đựng gần với tinh thần của người Cơ đốc tuẫn đạo để an ủi ḿnh.

          Đến đi! Cứ đến
          Kinh hoàng, khổ nhục, buồn đau.
          Nặng nề cứ chất
          Thử xem sức ḿnh c̣n được bao lâu.

  Đây là điều vơ sĩ đạo dạy. Nhẫn nhục, đối đầu với khốn khổ và nghịch cảnh bằng tấm ḷng trong sạch và sự nhẫn nại của ḿnh; v́ Mạnh tử dạy rằng: “Khi Thượng đế muốn giao việc lớn cho người ta, trước hết Thượng đế sẽ làm khổ người đó cả linh hồn lẫn thể xác, đặt người đó trong hoàn cảnh đói khổ, làm đảo lộn mọi dự định của người đó”. Danh dự thật sự chỉ có được khi làm tṛn nhiệm vụ Thượng đế giao cho, và chết v́ nhiệm vụ đó, nhất định không phải là điều nhục nhă. Ngược lại chết để tránh những ǵ Thượng đế mong muốn, quả thật là việc khiếp nhược. Trong quyển sách ḱ quái “Religio Medici” (Tôn giáo của bác sĩ) của Thomas Brown (bác sĩ y khoa người Anh, 1605-82, ND), có một đoạn văn hoàn toàn giống với điều vơ sĩ đạo chỉ dạy. Tôi xin trích dẫn ra đây. “Coi thường cái chết là điều can đảm. Nhưng nếu sống c̣n khủng khiếp hơn cả chết, dám sống mới thật là can đảm vậy.” Một danh tăng (Tenkai 1536-1643, ND) ở thế kỉ thứ 17 có nói. “B́nh sinh dẫu có ăn nói không khéo thế nào đi nữa, kẻ sĩ chưa có chết lần nào, trong những lúc cần phải chết thường hay lách tránh. Kẻ sĩ đă một lần chết trong tim, th́ thương của Sanada (danh tướng thời chiến quốc của Nhật Bản, ND) hay tên của Tametomo cũng không đâm thủng được.” Thật là gần với chỉ dạy của Chúa rằng. “Người bị mất mạng v́ ta, sẽ t́m được sinh mạng”. Có người cố t́m cách giải thích về sự khác biệt giữa người Cơ đốc với người khác đạo, nhưng thí dụ trên cho thấy nhân loại, về đạo đức, đều có điểm trùng hợp với nhau.

  Chế độ tự sát của vơ sĩ đạo thoạt nh́n có lẽ chúng ta sẽ ngạc nhiên về sự lạm dụng của nó, thế nhưng nhất định đây không phải là một chế độ bất hợp lí, cũng không phải là dă man. Sau đây chúng ta thử xem chế độ anh em với seppuku, được gọi là “phục thù” có điểm nào tốt hay không. Hy vọng tôi có thể tŕnh bày gọn ghẽ trong vài chữ, v́ chế độ như thế này, hay hăy gọi là phong tục, có trong tất cả mọi dân tộc, và hiện nay cũng chưa được băi bỏ hoàn toàn, được minh chứng bằng việc ngay bây giờ cũng vẫn c̣n tồn tại những trận quyết đấu hay những cuộc xử h́nh cá nhân. Tại sao một quân nhân người Mỹ đă đ̣i quyết đấu với Esterhazy (điệp viên, thủ phạm trong x́-căn-đan Dreyfus, ND)? V́ muốn trả thù cho việc Esterhazy đă đổ tội oan cho Dreyfus phải không? Trong một bộ tộc lạc hậu không có chế độ hôn nhân, gian thông không phải là một cái tội, sự ghen tuông của người yêu đă bảo vệ phụ nữ khỏi bị lợi dụng, giống như vậy, trong thời đại không có toà án h́nh sự, sát nhân không phải là tội, việc người thân của kẻ bị hại trả thù, đă duy tŕ trật tự xă hội. (Trong thần thoại Ai Cập) Osiris[5] hỏi Horus: “Trên thế giới này, cái ǵ đẹp nhất?” Horus trả lời: “Đó là việc trả thù kẻ đă giết cha mẹ ḿnh”. Đối với người Nhật th́ chắc phải thêm vào “…và kẻ đă giết chúa quân ḿnh… ”

  Trong hành vi trả thù, có một điều ǵ đó làm cho ḷng tôn trọng chính nghĩa được thoả măn. Lí lẽ của người trả thù như thế này. “Cha tôi là người hiền lương, không có lí do nào để phải chết. Kẻ giết cha tôi đă làm một điều xấu xa gớm ghiếc. Cha tôi, nếu sống, nhất định sẽ không tha thứ cho những hành vi như thế đó. Trời cũng ghét những việc ác đức. Không cho kẻ ác làm điều xấu là ư chí của cha tôi và cũng là ư chí của trời. Hắn phải chết bằng bàn tay của tôi; v́ hắn đă làm cho cha tôi đổ máu, tôi, là huyết nhục của cha tôi, tôi phải làm cho kẻ giết cha tôi đổ máu. Tôi không thể đội trời chung với hắn.” Lí lẽ này đơn thuần và ấu trĩ (mặc dầu chúng ta biết rằng Hamlet[6] cũng không có lí do nào sâu xa hơn). Dẫu thế, qua lí lẽ này, ta thấy bẩm sinh con người có cảm giác quân b́nh chính xác và cảm giác công lí như nhau. “Mắt đổi mắt, răng đền răng”. Cảm nghĩ của chúng tôi về phục thù chính xác như toán số, và khi hai vế của phương tŕnh này chưa bằng nhau, th́ chúng tôi vẫn c̣n có cảm giác như quên làm một điều ǵ đó.

  Trong đạo Do Thái, nơi người ta đặt niềm tin ở Thượng đế ganh tị, hoặc trong thần thoại Hy Lạp nơi có thần Nemesis (nữ thần phục thù, ND), việc phục thù có thể nhường cho những sức mạnh siêu nhân. Thế nhưng, vơ sĩ đạo đă lập một chế độ phục thù dựa vào thường thức, với tính cách như một ṭa án về đạo đức để người ta xử những sự kiện không thể xử được bằng luật pháp thông thường. Chúa quân của bốn mươi bảy vơ sĩ bị xử tội chết. Không có toà án để cho họ kháng cáo, nên họ đă sử dụng chế độ phục thù, một toà án tối cao duy nhất thời đó. Và như thế đến phiên họ, họ phải chịu h́nh phạt tử h́nh bằng luật thông thường, nhưng bản năng của dân chúng đă có phán quyết khác và nhờ vậy tên tuổi của họ luôn được ghi nhớ, mồ mả họ ở chùa Sengaku vẫn c̣n hương khói. Tuy nhiên, Lăo tử đă dạy đáp oán bằng đức, và Khổng tử đă nói rơ hơn là oán phải được đáp lại bằng chính nghĩa. Phục thù v́ thế chỉ được xem là đúng khi đó là hành vi v́ người trên hay v́ người ơn. Đối với những tổn hại của ḿnh hay của vợ con ḿnh th́ cần phải nhẫn nhịn và tha thứ. V́ thế vơ sĩ hoàn toàn cảm thông với lời thề của Hannibal[7] (mănh tướng của Carthago, ND) báo thù cho tổ quốc của ḿnh, nhưng lại khinh miệt James Hamilton (nhân vật trong chiến tranh giữa England và Scotland vào thế kỉ thứ 16, ND) v́ đă để trong thắt lưng của ḿnh một nắm đất lấy từ mồ vợ để luôn thúc giục ḿnh trả thù những việc ác của nhiếp chính Regent Murray.

  Cả hai chế độ tự sát và phục thù đều không c̣n lí do để tồn tại trong bộ h́nh luật hiện đại. Chúng ta không c̣n dịp nghe được chuyện mạo hiểm lăng mạn của một cô gái trẻ đẹp giả trang đi t́m dấu kẻ giết cha mẹ ḿnh. Kiếm khách Miyamoto (1584-1645) bây giờ đă thành “chuyện nay đă xưa”. Ngày nay, cảnh sát có tổ chức hẳn hoi sẽ điều tra, t́m bắt phạm nhân cho người bị hại và pháp luật sẽ thực thi chính nghĩa. Toàn thể quốc gia và xă hội sẽ sửa phạt những điều sai trái. Có chính nghĩa xă hội, việc phục thù sẽ trở thành không cần thiết. Nếu phục thù là sự đói khát của con tim chỉ muốn được thỏa măn bằng máu sống của người để cúng như học giả thần học người New England đă diễn tả th́ một vài điều trong luật h́nh đă không thể chấm dứt hoàn toàn việc phục thù được như thế này.

  Tuy seppuku không c̣n được cho phép tồn tại trong pháp chế, thế nhưng thỉnh thoảng vẫn c̣n nghe có. Có lẽ khi kí ức của quá khứ vẫn c̣n tồn tại th́ vẫn c̣n tiếp tục nghe thấy. Khi con số người muốn tự sát trên khắp thế giới gia tăng với tốc độ đáng sợ th́ cách tự sát không mất nhiều th́ giờ, không đau đớn lắm sẽ được hoan nghênh. Nhưng giáo sư Morselli (tác giả “Tự sát luận”, ND) đă đặc ân cho seppuku địa vị quí tộc trong các phương pháp tự sát. Giáo sư cũng đă chủ trương “trong một trăm trường hợp tự sát bằng phương pháp đau đớn nhất, hoặc cần nhiều thời gian, th́ chín mươi chín trường hợp có thể coi như là hành vi của cuồng tín, hoặc phát điên, hoặc cuồng loạn tinh thần do những kích thích bịnh hoạn gây ra.” Nhưng, seppuku b́nh thường không có một dấu hiệu nào cho thấy có vẻ cuồng tín, phát điên hay mê loạn, và để làm được việc này việc cần nhất là phải có một thái độ trầm tĩnh cao độ. Tiến sĩ Strahan (trong “Suicide and Insanity” (Tự sát và hổn loạn tinh thần), ND) chia tự sát ra thành hai loại “tự sát một cách hợp lí hay là tự sát một cách hoài nghi” và “tự sát một cách bất hợp lí hay là thật sự tự sát ”. Seppuku là tỉ dụ tốt nhất cho loại h́nh đầu tiên.

  Từ chế độ có mùi máu cũng như từ khuynh hướng tổng quát của vơ sĩ đạo, ta có thể suy ra dễ dàng rằng thanh kiếm giữ vai tṛ quan trọng trong sinh hoạt và qui luật xă hội, đến nỗi đă có câu cách ngôn nói rằng “thanh kiếm là linh hồn của vơ sĩ”.


 

[1] Cato (95TCN-46TCN): Cato Uticensis, triết gia phái stoa (được sáng lập vào khoảng 400 trước CN, luận về luận lí, thiên nhiên, luân lí) thời La Mă, giữ chức quan “hộ dân” dưới thời Ceasar nhưng đă chống Ceasar và sau đó đă tự tử.

[2] Đại đế Constantine (280-337): Hoàng Đế La Mă đầu tiên theo đạo Cơ đốc. Ông có công lớn trong việc phát triển đạo Cơ đốc ở Âu châu.

[3] Descartes (1596-1650): một trong những triết gia quan trọng nhất ở Tây phương. Ông cũng là nhà vật lí, sinh lí học và toán học nổi tiếng.

[4] Petronius (27-66): văn sĩ trào phúng La Mă. Tuy bị kết tội phải chết bằng cách tự tử nhưng trong qua tŕnh tự tử Petronius đă điềm nhiên ăn uống và làm thơ.

[5] Osiris: con của thần trời và thần đất, bị em là thần sa mạc Set giết. Con là Horus đă trả thù cho cha.

[6] Hamlet: nhân vật trong bi kịch Hamlet của Sheakespeare. Hoàng tử Hamlet xứ Đan mạch thề trước vong linh của vua cha, nguyện phục thù người giết cha ḿnh là thúc phụ và người mẹ đă kết hôn với thúc phụ khi cha vừa mới mất. V́ tính t́nh hay suy tư dằn dật, Hamlet trách móc trọng thần Polinius, cha của người yêu Ophelia. Hamlet giết Polinius và bỏ Ophilia khiến Ophilia đau khổ, tự tử. Hamlet sau đó tuy trả được thù nhưng đă phải chết trong khổ đau.

[7] Hannibal (247 trước CN –183 trước CN): Mănh tướng Hannibal của Carthago (đô thị thuộc Tunisia nay) năm lên chín, đă cùng cha thề trước tế đàn, quyết hi sinh v́ tổ quốc đánh đuổi quân La Mă. V́ lời thề này mà Hannibal đă phải chiến đấu với quân La Mă suốt đời.

 

  Xem tiếp :  Chương 13       Trở về  : Mục Lục

 


* Lê Ngọc Thảo :

Sinh quán: Quơn long, quận Chợ gạo, tỉnh Định Tường (tỉnh Tiền Giang nay). Tiểu học Chợ gạo, Trung học Nguyễn đ́nh Chiểu (Mỹ tho) (1959-1966). Sang Nhật năm 1967, Đại học Tohoku, Cao học Công nghệ Thông tín. Hiện là Kỹ sư thiết kế hảng Sony EMCS Nhật bản. Sở thích: Săn lùng (&T́m hiểu) Rau dại (Sansai) và Nấm (Kinoko) Nhật bản. Nghiệp dư: Dịch thuật dữ liệu văn hóa và văn học Nhật bản sang tiếng Việt. E-mail: lnthao@erct.com 

.............

® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của dịch giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

.....