Bushido - The soul of Japan

 Nitobe Inazo

 VƠ SĨ ĐO

LINH HN CA NHT BN

 Lê Ngọc Thảo dịch (*)

 

CHƯƠNG XIV

GIÁO DỤC

ĐỊA VỊ CỦA PHỤ NỮ

 

  Phụ nữ, một phân nửa của nhân loại, đôi khi bị gọi là tiêu biểu của mâu thun, v́ tâm lư của phụ nữ thường được vận dụng theo trực giác vượt qua tầm hiểu biết có tính số học của đàn ông. Trong hán tự, chữ diệu () có nghĩa là ḱ lạ, không thể biết được, được tạo ra bằng cách ghép chữ nữ () và chữ thiếu () có nghĩa là trẻ, v́ dung mạo dễ thương và tư duy tinh tế của phụ nữ không thể nào lí giải được bằng tâm lư thô lỗ của đàn ông.

  Thế nhưng người phụ nữ lí tưởng trong vơ sĩ đạo không có chỗ nào có vẻ ḱ lạ và có chăng chỉ là vẻ mâu thun ở bên ngoài. Tôi có nói vẻ bên ngoài đó giống như của đàn bà Amazon (can đảm như đàn ông) nhưng chỉ trúng được có phân nửa. Chữ “phụ” () trong hán tự có nghĩa là người vợ được tạo ra từ chữ nữ () và chữ trửu () chỉ người đàn bà cầm cây chổi. Nhất định đây không phải là cây chổi dùng để tấn công chồng hay để pḥng thủ, cũng không phải dụng cụ để phù thủy hóa phép (thường xuất hiện trong chuyện cổ tích tây phương, ND), mà đây là chổi được dùng theo cách vô hại có từ xưa. Khái niệm về chữ “phụ” giống như chữ “wife” của tiếng Anh được phái sinh từ chữ weaver (người dệt vải, ND) và chữ “daughter” được phái sinh từ chữ duhitar (người vắt sữa, ND), đều có tính cách gia đ́nh. H́nh ảnh lí tưởng của người phụ nữ trong vơ sĩ đạo có tính cách gia đ́nh nhiều hơn, không giới hạn trong ba phạm vi hoạt động như hoàng đế nước Đức đă nói là nhà bếp, nhà thờ và con cái. Vừa là phụ nữ đảm đang, vừa can đảm như đàn ông, hai đặc tính có vẻ trái ngược nhau, nhưng với giáo huấn của vơ sĩ đạo th́ chúng ta sẽ thấy là không có ǵ mâu thun cả.

  Vơ sĩ đạo là những giáo huấn căn bản dành cho đàn ông, nên những đức tính mà vơ sĩ đạo đ̣i hỏi ở phụ nữ rơ ràng khác xa với tính cách của phụ nữ. Winckelman (sử gia mỹ thuật người Đức, 1728-79, ND) đă lưu ư rằng “vẻ đẹp tối cao của nghệ thuật Hy Lạp không phải là ở chỗ có tính đàn bà mà là ở chỗ có tính đàn ông” và Lecky (trong “History of European morals”, ii, p. 383) thêm rằng điều này cũng có trong quan niệm đạo đức của người Hy Lạp, giống như trong quan niệm nghệ thuật của họ. Giống như vậy, vơ sĩ đạo tán dương những người phụ nữ “thoát khỏi sự mềm yếu của giới tính, hành động cương cường không thua ǵ những người đàn ông mạnh mẽ, dũng cảm nhất”. V́ thế, phụ nữ từ lúc c̣n thơ đă được huấn luyện để có một thần kinh sắt đá, trấn áp t́nh cảm, sử dụng vơ khí, đặc biệt là cách sử dụng “nagi-nata” (dao găm cán dài) để giữ thân khi gặp t́nh huống bất trắc. Tuy nhiên, vơ nghệ của phụ nữ không nhằm mục đích chiến đấu, mà chỉ nhằm để giữ thân và giữ gia đ́nh. Giống như việc chồng ḿnh bảo vệ chúa quân, phụ nữ nhiệt thành bảo vệ sự tôn nghiêm của ḿnh bằng vơ khí của ḿnh. Vơ nghệ của phụ nữ được sử dụng trong việc giáo dục con trai như chúng ta sẽ thấy sau đây.

  Kiếm thuật và những tập luyện tương tự, tuy thực tế ít có dịp để dùng nhưng có công dụng trong việc giữ ǵn sức khỏe, bổ túc cho tập quán ít cử động của phụ nữ. Nhưng vơ nghệ này không chỉ rèn luyện với mục đích giữ ǵn sức khỏe mà thực sự là để sử dụng khi cần thiết. Thiếu nữ khi đến tuổi trưởng thành sẽ được ban cho một dao găm, gọi là kaiken (kiếm đựng trong bọc, ND), giắt ở ngực dùng để đâm vào ngực kẻ tấn công ḿnh hoặc để đâm vào ngực ḿnh khi cần thiết. Trường hợp sau rất thường xảy ra, nhưng ở đây tôi không muốn xét xử nghiêm khắc những người này v́ việc này. Chắc đạo Cơ đốc cũng sẽ không phê phán họ dữ dội, dẫu theo lương tâm của đạo th́ việc tự sát là việc đáng ghét. Pelagia[1] và Dominina[2] đă tự sát nhưng cả hai đă được phong thánh v́ sự trong sạch và ḷng thành kính của họ. Virginia[3] Nhật Bản sẽ không đợi lưỡi dao của cha ḿnh khi biết sự trinh bạch của ḿnh bị đe doạ. Vơ khí luôn được giắt ở trong ngực và nếu không biết cách tự giết ḿnh th́ đó là điều nhục nhă đối với nàng. Nàng không có học về giải phẩu học nhưng nàng phải biết chính xác chỗ cần phải đâm ở cổ họng; và trước khi chết dẫu có đau đớn đến mấy nàng cũng cần phải biết cách dùng dây lưng của ḿnh buộc hai bắp chân lại để xác ḿnh được phát hiện trong tư thế đàng hoàng nhất với hai chân vẫn được khép kín. Sự cẩn thận như thế này không xứng đáng để so sánh với hành vi của tín đồ Cơ đốc Perpetua[4] hay của trinh nữ Corneria[5] hay sao? Bất ngờ, tôi đặt ra câu hỏi như thế này là v́ có người hiểu lầm là ở xứ chúng tôi không có quan niệm trinh tiết khi nh́n thấy một vài chuyện nhỏ nhoi như phong tục tắm chung[6] của chúng tôi. Ngược lại, trinh tiết là đức tính quan trọng nhất của vợ samurai, được coi trọng hơn cả sinh mạng. Có một người đàn bà trẻ bị địch bắt, biết ḿnh sẽ bị bọn vơ sĩ thô bạo làm nhục, nói rằng nàng sẽ nghe theo ư muốn của họ nếu họ cho phép viết vài hàng gởi đến cho các chị em bị li tán do chiến tranh. Khi viết xong bức thơ, nàng liền chạy đến một giếng nước gần đó và gieo ḿnh xuống giếng để giữ danh dự cho ḿnh. Trong bức thơ để lại có ḍng chữ sau đây.

  Đường trần thế, sợ rằng có ngày bị mây che lấp.
  Chỉ c̣n cách lẩn dưới vầng trăng thanh vắt ngang đồi.

  Thật là không có công bằng một chút nào nếu tôi đă để cho độc giả nghĩ rằng chỉ phụ nữ có tính cách đàn ông mới là lí tưởng cao cả nhất của chúng tôi. Hoàn toàn trái ngược! Những điều cần có ở phụ nữ là học thức cùng với tài nghệ và sự thanh nhă, uyển chuyển trong cuộc sống. Không coi thường âm nhạc, vũ múa, văn học. Trong những bài thơ haiku hay, điêu luyện, có nhiều bài diễn tả tâm t́nh phụ nữ và họ đă giữ một vai tṛ quan trọng trong lịch sử văn học Nhật Bản. Vũ múa (tôi nói về con cái của samurai chứ không phải nói về geisha (kĩ nữ Nhật Bản, ND)) chủ yếu giúp dáng điệu trở nên dịu dàng, thanh nhă. Âm nhạc dùng để úy lạo chồng, cha. Có nghĩa là không nhằm mục đích v́ nghệ thuật, mục đích tối hậu của nghệ thuật, của âm nhạc ở đây là tạo ra sự thanh khiết trong ḷng v́ nếu ḷng không b́nh thản th́ âm nhạc tự nó sẽ loạn điệu. Trong việc giáo dục thiếu niên, như đă nói ở phần trước, tài nghệ luôn ở vị trí phụ thuộc so với những giá trị đạo đức. Trường hợp của phụ nữ cũng giống như vậy. Vũ múa, âm nhạc chỉ nhằm làm cho cuộc sống trở nên thanh nhả, tươi sáng, và chỉ có thế, nhất định không nhằm mục đích nuôi dưỡng ḷng kiêu căng và lăng phí. Tôi đồng t́nh với hoàng tử Ba Tư khi được mời nhảy trong buổi tiệc khiêu vũ ở Luân Đôn, đă thẳng thắn nói: “Ở nước tôi, chúng tôi dành thứ công việc này cho bọn gái đặc biệt làm.”

  Phụ nữ học tập tài nghệ không nhằm mục đích để biểu diễn hay để đạt địa vị trong xă hội. Tài nghệ chỉ được dùng vào việc mua vui trong gia đ́nh và dẫu có dịp phô trương trong tiệc xă giao th́ đó cũng chỉ là công việc của bà chủ nhà, nói một cách khác đó chẳng qua chỉ là một cách tiếp đăi khách của gia đ́nh. Vấn đề quan trọng nhất trong giáo dục phụ nữ là giữ ǵn gia đ́nh (trị gia, ND) và có thể nói rằng tài nghệ của phụ nữ Nhật Bản xưa, chủ yếu nhằm vào việc gia đ́nh, bất kể văn hay vơ. Phụ nữ dẫu có xa nhà đến mấy, họ cũng không bao giờ quên cảnh gia đ́nh xúm xít quanh ḷ sưởi và để duy tŕ danh dự và sự tôn nghiêm cho gia đ́nh họ sn sàng làm việc vất vả, và hi sinh cả đời ḿnh. V́ tổ ấm của ḿnh, ngày cũng như đêm , họ tiếp tục hát những bài ca lúc mạnh lúc yếu, lúc hùng dũng lúc bi ai. Phụ nữ hi sinh đời ḿnh cho cha, cho chồng, cho con. Từ thời thơ ấu, phụ nữ được dạy phải quên ḿnh. Cuộc đời của phụ nữ không phải là một đời sống độc lập mà là một đời sống phụng sự có tính phụ thuộc. Là người nội trợ, nếu sự hiện diện của ḿnh có lợi cho chồng th́ phải cùng chồng lên khán đài, nếu sự hiện diện của ḿnh cản trở công việc của chồng th́ phải rút ra phía sau màn. Tỉ dụ có một thanh niên yêu một cô gái và cô gái đáp lại bằng cả nhiệt t́nh của ḿnh. Nhưng nếu cô gái biết được v́ yêu ḿnh mà người thanh niên kia quên mất nhiệm vụ th́ sao? Chắc hẳn cô gái sẽ t́m cách làm mất sức quyến rũ bằng cách hủy hoại nhan sắc của ḿnh và đó không phải là chuyện hiếm có. Azuma (khoảng thế kỉ 12-13, Azuma có pháp danh là Kesa, lấy chồng lúc 14 tuổi, chồng là Minamoto Wataru, ND), người đàn bà lí tưởng của những cô gái samurai, biết kẻ t́m cách hảm hại chồng ḿnh yêu thương ḿnh, đă giả vờ tham gia âm mưu giết chồng, nhưng sau đó đă lợi dụng đêm tối thay chồng để lưỡi kiếm của kẻ thích khách yêu ḿnh chặt lấy đầu ḿnh. Dưới đây là bức thơ của vợ một daimyo (lănh chúa Kimura Shigenari 1593-1615, ND) trẻ tuổi gởi lại cho chồng trước khi kết liễu đời ḿnh. Chắc không cần phải chú giải.

  “Thiếp nghe rằng mọi việc đều suôn sẻ, không có bất cứ tai nạn hoặc rủi ro làm hỏng những việc đă định. Cùng ở dưới một bóng cây, cùng uống nước một ḍng sông, giống như mọi chuyện đă được sắp đặt từ kiếp trước. Tính ra cũng gần được hai năm, từ ngày thiếp có duyên thành vợ thành chồng với chàng, thiếp đă sống dựa vào chàng như h́nh với bóng. Vừa rồi thiếp có nghe chàng sắp phải đánh trận chiến cuối cùng trong đời. Ngày xưa ở Trung Quốc, vơ sĩ dũng mănh nhất thế gian, Hạng Vơ trên đường cùng, vẫn tưởng nhớ h́nh bóng của Ngu Cơ. Dũng sĩ Yoshinaka của chúng ta cũng đă mềm ḷng khi phải từ giă vợ ḿnh (tên là Matsu, ND). Thế nên thiếp, kẻ không c̣n có mong muốn ǵ trong cuộc đời này nữa, ít ra cũng phải quyết thực hành việc cuối cùng thiếp cần phải làm trong lúc chàng c̣n sống, và hẹn sẽ đợi chàng trên con đường vào cơi chết. Xin chàng đừng bao giờ quên, đừng bao giờ quên ơn nghĩa như trời biển của chúa quân Hideyori đă ban cho chúng ta.”

  Phụ nữ đường đường, vui ḷng xả thân v́ chồng con, và gia tộc giống như nam nhi xả thân v́ chúa quân, và xứ xở. Từ bỏ bản ngă - không một bí ẩn nào của nhân sinh được giải quyết nếu thiếu điều này - là điều chủ yếu của tính gia đ́nh của phụ nữ, tương tự như việc trung nghĩa của nam giới. Phụ nữ không bao giờ là nô lệ của đàn ông giống như chồng họ không bao giờ là nô lệ của chúa quân. Vai tṛ của phụ nữ có tính cách “naijo” có nghĩa là “trợ giúp bên trong”. Trên bậc thang cao dần của việc phụng sự, phụ nữ xă thân v́ nam giới, từ đó nam giới có thể bỏ ḿnh cho chúa quân và trên cơ sở đó chúa quân có thể vâng theo ư trời. Tôi biết khuyết điểm của việc giáo quấn như thế này và tôi cũng biết điểm ưu việt nổi bật nhất của Cơ đốc giáo là đ̣i hỏi trách nhiệm trực tiếp của mọi người đối với đấng tạo hóa. Tuy nhiên, giáo nghĩa của việc phục vụ - có nghĩa là hi sinh cá tính của ḿnh để phục vụ cho một mục đích cao hơn mục đích của bản thân, là lời chỉ dạy lớn lao nhất của đức Jesus, tạo thành điểm chính thần thánh trong sứ mệnh của ngài – dựa vào điều này th́ có thể nói là vơ sĩ đạo cũng đă đặt cơ sở trên chân lí vĩnh viễn.

  Chắc độc giả sẽ không chỉ trích rằng tôi có thiên kiến thiên vị càn bậy, thừa nhận sự phục tùng có tính cách nô lệ của ư chí. Trên đại thể, tôi chấp nhận thuyết mà Hegel, triết gia học rộng nghĩ sâu, đă chủ trương và biện hộ rằng “lịch sử là sự phát triển và thực hiện của tự do”. Điều mà tôi muốn nói rơ ở đây là giáo huấn của vơ sĩ đạo, tất cả đều thấm nhuần tinh thần hi sinh cá nhân, không phải chỉ đ̣i hỏi ở phụ nữ mà ở cả nam giới. V́ thế, ngày nào mà ảnh hưởng của vơ sĩ đạo vẫn c̣n, xă hội chúng tôi sẽ không tán thành quan điểm khinh suất của người Mỹ chủ trương nữ quyền, kêu gọi “tất cả phụ nữ Nhật Bản, hăy đứng lên chống lại những tục lệ cũ xưa”. Liệu một cuộc phản nghịch như thế này có thể thành công? Và rồi, địa vị của phụ nữ có được nâng cao? Quyền lợi dễ dàng dành được như thế này có đủ để đền bù lại sự mất mát của những hành động dịu dàng, tính nết nhu ḿ mà phụ nữ đă kế thừa hôm nay không? Sự băng hoại đạo đức đă xảy ra khi một số phụ nữ La Mă không c̣n thiết tha ǵ với gia đ́nh, trầm trọng đến nỗi không thể tả phải không? Những người Mỹ chủ trương cải cách có thể làm cho chúng tôi hiểu và nh́n nhận rằng sự phản nghịch của phụ nữ đúng là con đường phát triển của lịch sử cần phải theo không? Đây là vấn đề hết sức quan trọng. Biến đổi phải và sẽ xảy ra không cần phải qua những phản kháng. Hăy thử xem địa vị của phụ nữ dưới chế độ vơ sĩ đạo có thật là tồi tệ đến độ cần phải thừa nhận một sự phản kháng?

  Chúng tôi có nghe nhiều về sự tôn kính ngoài mặt mà kị sĩ Âu châu dành cho “Thượng đế và quí bà”. Sự không cân đối của hai từ ngữ này đă làm cho Gibbon (sử gia , nghị viên người Anh, 1737-94, ND) đỏ mặt. Vả lại, theo Hallam (sử gia người Anh, 1777-1859, ND), đạo đức của kị sĩ đạo rất thô tục, rằng sự chiều chuộng phụ nữ tiềm ẩn t́nh yêu bất chính. Ảnh hưởng của kị sĩ đạo đối với phụ nữ là đề tài suy ngẫm cho các triết gia. Guizot (sử gia người Pháp, 1787-1874, ND) cho rằng chế độ phong kiến và kị sĩ đạo đă tạo ra những ảnh hưởng lành mạnh, trong khi đó Spencer nói rằng trong xă hội quân sự (và xă hội phong kiến nếu không phải là xă hội quân sự th́ là ǵ?) địa vị của phụ nữ đương nhiên sẽ thấp, và chỉ được cải thiện khi xă hội có công nghiệp phát đạt hơn. Thuyết của Guizot hay của Spencer đúng đối với Nhật Bản? Tôi nghĩ rằng cả hai đều đúng. Giai cấp quân nhân ở Nhật Bản giới hạn trong phạm vi samurai, gồm khoảng hai triệu người. Ở trên họ là những quí tộc quân nhân, những “daimyo”, những quí tộc triều đ́nh, những “kuge”. Những quí tộc có địa vị cao, sống an dật này chỉ là những vơ nhân trên danh nghĩa. Dưới vơ sĩ là đám thường dân, nông, công, thương, suốt đời chuyên làm những công việc yên b́nh. Những điều mà Herbert Spencer đưa ra xem như là những h́nh thái đặc biệt của xă hội quân sự, có thể nói rằng tất cả chỉ có ở giai cấp vơ sĩ. Trong khi đó những h́nh thái đặc biệt của xă hội công nghiệp lại chỉ có thể thấy được ở những giai cấp trên và dưới giai cấp vơ sĩ. Nh́n vào địa vị của phụ nữ th́ sẽ thấy rơ được điều này. Nghĩa là, phụ nữ ít được hưởng tự do nhất ở giai cấp samurai. Lạ lùng thay, ở giai cấp càng thấp - tỉ dụ như giai cấp thợ thủ công - địa vị vợ chồng càng trở nên b́nh đẳng hơn. Ở hàng quí tộc địa vị cao hơn, cũng giống như vậy, sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới không đáng kể, chủ yếu v́ sinh hoạt của quí tộc nhàn rỗi đúng là đă bị phụ nữ hóa. V́ vậy thuyết của Spencer đă được minh chứng trong xă hội Nhật Bản cũ. C̣n thuyết của Guizot, những người đă đọc những quan niệm về xă hội phong kiến của ông này chắc sẽ nhớ rằng đối tượng khảo sát đặc biệt của Guizot là những quí tộc có địa vị cao, do đó có thể áp dụng thuyết của ông vào giai cấp daimyo và kuge.

  Nếu những giải thích của tôi khiến ai đó nghĩ rằng địa vị của phụ nữ rất thấp trong vơ sĩ đạo, th́ tôi đă phạm lỗi thiếu công chính lớn lao đối với sự thật của lịch sử. Tôi sẽ không do dự mà nói rằng phụ nữ không được đối xử b́nh đẳng với nam giới. Nhưng nếu không biết nhận rơ sự khác nhau giữa dị đồng và bất b́nh đẳng th́ thường khó tránh khỏi hiểu lầm về vấn đề này.

  Khi nghĩ rằng ngay cả đối với nam giới, nam giới cũng chỉ được b́nh đẳng với nhau trong một vài trường hợp hiếm hoi như ở ṭa án hay trong lúc bầu cử, th́ việc thảo luận về b́nh đẳng giới là điều vô ích chỉ gây phiền hà. Tuyên ngôn độc lập của Mỹ có câu nói mọi người được tạo ra đều b́nh đẳng, nhưng không có nghĩa là b́nh đẳng về năng lực thể xác hay tinh thần. Đây chỉ muốn nhắc lại lời nói của Ulpian (luật gia người La Mă, ?-228, ND) xưa kia, rằng “mọi người đều b́nh đẳng trước pháp luật”. Trong trường hợp này, quyền lợi về pháp luật là thước đo của sự b́nh đẳng. Nếu pháp luật là một thước đo duy nhất đo được địa vị của phụ nữ trong xă hội th́ việc nói lên sự cao thấp của địa vị phụ nữ cũng dễ dàng như việc đo trọng lượng của họ. Thế nhưng vấn đề là : có tiêu chuẩn chính xác để so sánh địa vị tương đối trong xă hội giữa nam và nữ hay không? So sánh giá trị giữa nam và nữ rồi đưa ra một tỉ lệ bằng một con số giống như là so sánh giá trị giữa vàng và bạc, và như vậy có đúng và đầy đủ không? Phương pháp tính toán như thế đó sẽ để một thứ giá trị quan trọng nhất của con người là giá trị nội tại ra ngoài việc khảo sát. Nếu nghĩ rằng để hoàn thành sứ mệnh trong cơi đời, nam nữ cần rất nhiều thứ năng lực khác nhau, th́ thước đo dùng để đo địa vị tương đối giữa nam nữ phải là một thứ có tính chất phức hợp. Hoặc nếu dùng từ ngữ kinh tế th́ đó phải là một “tiêu chuẩn đa nguyên”. Vơ sĩ đạo có tiêu chuẩn của riêng ḿnh, và đó là tiêu chuẩn của phương tŕnh có hai số hạng. Giá trị của phụ nữ được đo bằng hai số hạng là chiến trường và gia đ́nh. Ở số hạng đầu phụ nữ bị đánh giá rất nhẹ, nhưng ở số hạng sau th́ là tuyệt hảo. Đối đăi dành cho phụ nữ tương ứng với sự đánh giá hai tầng này. Nghĩa là, thấp với tư cách là đơn vị chính trị, xă hội, trong khi nếu là mẹ và là vợ, phụ nữ được thương yêu và kính trọng vào bậc nhất. Tại sao ngay giữa những quốc dân nghiêng về quân sự như người La Mă xưa, phụ nữ vẫn được kính trọng hết mức? V́ họ là những “matronae” , có nghĩa là những bà mẹ phải không? Không phải v́ là chiến sĩ, cũng không phải v́ là chính trị gia mà v́ là những bà mẹ của họ nên người La Mă đă cúi ḿnh trước phụ nữ. Chúng tôi cũng như thế. Trong những lúc cha hoặc chồng ra chiến trường, việc quản lí gia đ́nh được giao cho người mẹ hoặc người vợ. Những người phụ nữ này được giao phó việc giáo dục con trẻ, kể cả việc bảo vệ chúng. Như tôi đă tŕnh bày ở phần trước, việc luyện tập vơ nghệ của phụ nữ chủ yếu nhằm mục đích tạo cho họ khả năng sáng suốt hướng dẫn và theo dơi việc giáo dục con cái.

  Trong những người ngoại quốc có kiến thức nửa vời về người Nhật, một số thấy người Nhật gọi vợ ḿnh là “gusai” (con vợ ngu của tôi), từ cái nh́n bề ngoài, đă cho đây là bằng chứng người vợ bị khinh miệt, ít được kính trọng. Nhưng chỉ cần nói những chữ như “gufu” (người cha ngu của tôi), “tonji” (thằng con như heo của tôi), “sessha” (kẻ ngốc này, để xưng “tôi”) cũng được dùng trong đối thoại hằng ngày, th́ câu trả lời đă đủ rơ.

  Tôi nghĩ rằng quan niệm kết hôn của người Nhật, ở một điểm nào đó, tiến bộ hơn những người được gọi là tín đồ Cơ đốc. “Trai và gái hợp lại thành một thể xác”. Chủ nghĩa cá nhân của Anglo-Saxon không thể thoát ra khỏi quan niệm chồng và vợ là hai nhân cách khác nhau. V́ thế khi vợ chồng bất ḥa, họ thừa nhận quyền lợi của nhau, và khi họ đằm thắm, họ dùng mọi thứ từ ngữ ngọt ngào vô nghĩa để nịnh hót nhau. Thế nhưng vẫn chưa đủ, đối với người ngoài, họ nói người bạn đời của ḿnh nào là tử tế, là thông minh, là dễ thương - thật sự tốt hay xấu, không biết - những điều nghe hết sức trái tai. Khi nói tới ḿnh mà cứ bảo là “thằng tôi thông minh” hoặc “thằng tôi dễ thương” th́ thử hỏi nghe có được không? Chúng tôi nghĩ rằng khen vợ ḿnh đồng nghĩa với khen một phần nào đó của ḿnh. Và chúng tôi cũng xem việc khen ḿnh ít nhất cũng là một sở thích không tốt. Tôi hi vọng trong những dân tộc Cơ đốc cũng có cách nghĩ như thế ! Gọi vợ ḿnh một cách lễ phép nhưng xấu miệng là cách gọi quen thuộc trong hàng ngũ vơ sĩ. V́ thế tôi đă rẽ ngang lâu lắc để bàn về vấn đề này.

  Người dân tộc Teuton (tiền thân của dân tộc Đức, ND) bắt đầu cuộc sống của bộ lạc ḿnh trong nỗi kinh sợ có tính cách mê tín đối với phụ nữ (trên thực tế, việc này mất dần ở nước Đức!), và người Mỹ bắt đầu cuộc sống xă hội của ḿnh với nhận thức đau đớn của sự thiếu nhân số phụ nữ (ngày nay, nhân số phụ nữ gia tăng nên tôi sợ rằng đặc quyền mà người mẹ có được trong thời kỳ thực dân sẽ nhanh chóng mất đi) nên trong văn minh Tây phương sự kính trọng của nam giới đối với nữ giới đă trở thành tiêu chuẩn đạo đức chính yếu. Nhưng đạo đức của vơ sĩ đạo đă t́m ngả rẽ của thiện ác ở một nơi khác. Ngả rẽ nằm dọc theo con đường nghĩa vụ nối linh hồn thiêng liêng của ḿnh với linh hồn của người khác dựa theo đạo ngũ luân mà tôi đă nói ở phần trước. Trong đạo ngũ luân, tôi đă giải thích “trung nghĩa”, quan hệ của một người với tư cách là thần hạ đối với người có tư cách là chúa quân. Những điểm c̣n lại, tôi chỉ đề cập đến khi có cơ hội v́ đó không phải là những đặc chất của vơ sĩ đạo. Đó là những điều đặt căn bản trên t́nh ái tự nhiên của con người, là điểm chung cho tất cả nhân loại. Tuy nhiên một vài điểm đặc biệt đă được nhấn mạnh tùy theo t́nh huống được rút ra từ giáo huấn của vơ sĩ đạo. Liên quan đến điều này, tôi nghĩ đến nét đẹp và sức mạnh cố hữu có trong t́nh bằng hữu giữa nam giới với nhau. T́nh bằng hữu như thế này nhiều lúc tạo ra ḷng yêu mến lăng mạn trong việc thề nguyền kết nghĩa anh em. Và chắc chắn là ḷng yêu mến này trở thành sâu đậm hơn bởi tập quán khi c̣n trẻ nam nữ phải ở riêng. Việc nam nữ ở riêng đă bít kín con đường lưu thông tự nhiên của t́nh ái có trong kị sĩ đạo Âu châu, hay có trong việc giao tế tự do của nam nữ ở những vùng đất Anglo-Saxon. Chúng tôi có thể dùng nhiều giấy mực kể những chuyện ở Nhật Bản giống như chuyện của Damon và Pythias[7] hay của Achilles với Patroclos[8], và những câu chuyện của vơ sĩ đạo về t́nh bằng hữu sâu đậm, không thua ǵ t́nh bằng hữu giữa David và Jonathan[9].

  Mặt khác, đạo đức và những chỉ dạy độc đáo của vơ sĩ đạo không chỉ giới hạn trong giai cấp vơ sĩ. Điều này khiến tôi phải gấp rút khảo sát sự cảm hóa của vơ sĩ đạo trong phạm vi toàn quốc dân.

 

[1] Pelagia: trinh nữ Pelagia 15 tuổi của xứ Antioch (nay thuộc Thổ Nhĩ Ḱ) đă chọn cái chết bằng cách nhảy từ nóc nhà xuống biển để khỏi bị lính hăm hiếp nhục nhă.

[2] Dominina: Dominina đă cùng với hai con gái d́m ḿnh xuống sông tự tử để khỏi bị lính hăm hiếp nhục nhă.

[3] Virginia: Nhà độc tài Claudius (La Mă) thấy Virginia đẹp nên muốn bắt làm nô lệ và t́ thiếp cho ḿnh. Cha của Virginia v́ quá phẫn nộ trước hành vi bạo ngược của kẻ độc tài, đă to giọng “Con ơi. Cha sẽ cứu con.” và ông đă đâm chết con ḿnh trước mặt công chúng để giữ ǵn trinh tiết cho con.

[4] Perpetua: phụ nữ người châu Phi theo đạo Cơ đốc. Trong chiến dịch đàn áp đạo Cơ đốc, Perpetua bị bắt và bị dẫn đến La Mă cho thi đấu với thú dữ. Theo lệ th́ phải lột y phục, nhưng Perpetua đă van xin quan hiến và với sự đồng t́nh của quần chúng, nàng đă được giữ nguyên y phục khi thi đấu. Bị thú dữ vồ chụp nhưng nàng vẫn cố gắng kéo y phục rách nát che thân. Cuối cùng Perpetua đă bị thú dữ cào chết.

[5] Cornelia: một trong 6 trinh nữ được phái đến cung điện của nữ thần Vesta (nữ thần La Mă) để giữ lửa trong ḷ thánh được cháy măi. Trinh nữ Cornelia đă phạm phải điều cấm nên bị xử tử h́nh bằng cách chôn sống. Cornelia đă cố giữ y phục của ḿnh được chỉnh tề khi bị chôn sống.

[6] Phong tục tắm chung của người Nhật (cha con hoặc vợ chồng tắm chung với nhau trong cùng một pḥng tắm, hoặc bồn tắm), ngày nay vẫn c̣n.

[7] Damon và Pythias: Damon là bạn thân của Pythias. Pythias v́ có tội nên bị bạo chúa Dionusios tuyên án tử h́nh. Trước khi thụ h́nh, Pythias xin được về quê thu xếp việc nhà. Damon đă đứng ra bảo lănh cho bạn. Damon vào ngục và sẽ thay bạn nhận án tử h́nh nếu bạn không trở lại. Đúng như lời hứa, sau khi thu xếp việc nhà, Pythias đă trở lại. Dionusios cảm kích t́nh bạn của hai người nên đă tha tội cho Pythias.

[8] Achilles và Patroclos: trong trận đánh ở thành Troia (cổ Hy Lạp), Achilles là dũng sĩ có sức mạnh vô địch, nhưng qua cuộc tranh luận với nguyên soái Agamemnon, Achilles đă rút quân khỏi chiến tuyến. Quân Hy Lạp sau đó đă bị người Troia tập kích đốt chiến thuyền. Bạn của Achilles là Patroclos thay Achilles mặc áo giáp ra trận nhưng đă bị tướng của Troia là Hector giết chết. Achilles đem quân trở lại đánh và đâm chết Hector, trả thù cho bạn ḿnh.

[9] David và Jonathan: David là thần hạ của vua Saul (vua của Israel) và Jonathan là con của Saul. Hai người kết bạn thân giao. Trong trận chiến với người Perisite, Jonathan bị giết chết, David đă làm “bài hát của cây cung “để tế bạn ḿnh.

 

  Xem tiếp :  Chương 15      Trở về  : Mục Lục

 


* Lê Ngọc Thảo :

Sinh quán: Quơn long, quận Chợ gạo, tỉnh Định Tường (tỉnh Tiền Giang nay). Tiểu học Chợ gạo, Trung học Nguyễn đ́nh Chiểu (Mỹ tho) (1959-1966). Sang Nhật năm 1967, Đại học Tohoku, Cao học Công nghệ Thông tín. Hiện là Kỹ sư thiết kế hảng Sony EMCS Nhật bản. Sở thích: Săn lùng (&T́m hiểu) Rau dại (Sansai) và Nấm (Kinoko) Nhật bản. Nghiệp dư: Dịch thuật dữ liệu văn hóa và văn học Nhật bản sang tiếng Việt. E-mail: lnthao@erct.com 

.............

® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của dịch giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

.....