Nền Giáo Dục Đại Học Nhật Bản

Quá Tŕnh Thành Lập, Đặc Điểm và Hiện Trạng

 

TS. Lê Thành Nghiệp
Giáo Sư Khoa Trưởng Phân Khoa Kinh Doanh Quốc Tế
Viện Đại Học Quốc Tế Josai (JIU), Tokyo, Nhật Bản

 

  Bài này tŕnh bày sơ lược quá tŕnh thành lập, đặc sắc và hiện trạng của nền đại học Nhật Bản. Quá tŕnh thành lập của nền giáo dục Nhật Bản dễ nhận thức được bằng cách so sánh với trường hợp của Việt Nam, qua các điểm tương đồng và dị đồng trên khía cạnh  lịch sử và văn hóa giữa hai quốc gia. Tương tợ với Việt Nam, trước khi bước vào thế kỷ 20 Nhật c̣n chịu ảnh hưởng rất nặng của nền văn hóa Trung Quốc, và c̣n chậm trễ trên mặt khoa hoc kỹ thuât so với các quốc gia Âu Mỹ. V́ vậy công tŕnh thành lập nền đại học Nhật Bản có mục đích chính là thu hấp và truyền bá văn minh Âu Mỹ, và trên quá tŕnh này có sự xung đột và ḥa hợp giữa Hán hoc và dương học. Nhưng mặc dầu cùng chịu ảnh hưởng của Hán học (Nho học) và chậm trễ về mặt khoa học kỹ thuật nhưng Nhật khác với Việt Nam trên một vài điểm. Trong khi Nho học là yếu tố chính chi phối tư tưởng lớp người trí thức Viêt Nam, xă hội cổ truyền của Nhật c̣n có thêm môt yếu tố khác: vũ sỹ đạo. Sự hiện diện của lớp người samurai đưa đến một vài đặc điểm trong nền giáo dục Nhật Bản, như có trường dạy kiếm thuật trong toàn quốc trong thời kỳ Edo (xem bên dưới) và việc Nhật tích cực thu hấp binh pháp và và bắt đầu tổ chức hải quân và lục quân theo lối, Anh, Pháp và Mỹ trong các thập niên 1850, 1860, v.v. Nhật c̣n khác Việt Nam ở điểm trước khi các liệt cường bắt đầu ḍm ngó vào lănh thổ quốc gia này, một số kiến thức và khái niệm sơ đẳng của khoa học kỹ thuật Âu Mỹ đă được truyền bá trong các trường học ở cả hai bậc trung ương và địa phương.

  Phần hiện trạng của nền đại học Nhật Bản bao gồm một số tiết mục triển khai chung quanh hai yếu tố chính: tính đặc thù của quan niệm về giá trị trong xă hội Nhật và khuynh hướng thuyên giảm suất sinh trong các thập niên gần đây. Những đặc tính như đánh giá cao tính cần lao, tinh thần ḥa đồng và tính chất thực dụng, và ngươc lại hoài nghi các hành động độc đoán cá nhân có cả hai tác dụng tốt và xấu vào nền giáo dục và khoa học kỹ thuật của quốc gia này. Sự sút giảm trên suất sinh làm mất quân binh trên lượng cung và lượng cầu của sản phẩm giáo dục và mang đến một vài hiện tượng hệ trọng như giảm sút chất lượng sinh viên, khó khăn tài chính trong các đại học tư lập, v.v.

 

1. Cơ Cấu Xă Hội và Nền Giáo Dục Nhật Bản trước Ngày Khai Quốc

  Hai chiến hạm Mỹ ghé vào vịnh Edo tháng giêng năm 1854 gây một chấn động lớn trong chính quyền và giới sỹ phu toàn quốc Nhật.Theo sau sự kiện này là một loạt tranh chấp sôi động trên cả hai phương diện quân sự và chính trị giữa các thế lực trong nước trong các năm 1855-67, và cuối cùng đưa đến việc thành lập chánh phủ duy tân năm 1868, biến đổi Nhật Bản thành môt quốc gia Á Châu đầu tiên thích dụng dạng thức xă hội dân chủ Âu Mỹ. Những hàng bên dưới tŕnh bày một cách sơ lược cơ cấu xă hội và chánh trị, và thể chế giáo dục Nhật Bản trước thời kỳ Minh Tri Duy Tân (Meiji-ishin)

  1-1 Cơ cấu xă hội Nhật thời đại Edo

Thời đại Edo, kéo dài khoảng 250 năm (1615- 1868) đựơc gọi với danh hiệu này v́ chính quyền trong thời kỳ này đặt cơ sở trong thành phố Edo (Giang Hộ, tên cũ của thành phố Tokyo ngày nay)[1]. Thiên Hoàng (Tenno), bakufu (mạc phủ, chính quyền quân sự) và  daimyo (đại doanh, lănh tụ địa phương) là ba thành phần chính trong cơ cấu chính trị này. Trong thời kỳ Edo, trên h́nh thức tenno= thiên hoàng bổ nhiệm seii-taishogun (chinh di đại tướng quân) để cầm đầu chính quyền bakufu. Nhưng trên thực tế hầu hết quyền hành chính và luật pháp đều nằm trong tay tai-shogunbakufu. Trong thời đại Edo tai-shogun được tuyển chọn theo lối cha truyền con nối trong ḍng họ Tokugawa (Đức Xuyên)[2]. Liên quan giữa hoàng tộc, cư ngụ trong thành phố Kyoto và Tokugawa- bakufu, đặt cơ sở trong thành phố Edo, là một liên hệ căng thẳng. và tế nhị. Tokugawa- bakufu luôn luôn t́m cách kềm hảm tenno và hoàng tộc, nhưng thường không thể đi quá bước v́ trên danh nghĩa tenno là người trưỡng quốc gia, được số đông quần chúng tôn kính[3].

Dạng thức chính trị trong thời đại Edo dựa trên thể chế baku-han (mạc phiên thể chế), với bakufu nắm quyền ở bậc trung ương và các han-shu (phiên chủ, tức các daimyo) nắm quyền ở cấp địa phương. Han-shu= phiên chủ được bổ nhiệm bởi Tokugawa tai-shogun, và thường là người trong họ hàng Tokugawa hoặc lựa chọn từ các gia đ́nh đă có công trong quá tŕnh thành lập thời đại Edo- Tokugawa. Dân chúng trong mỗi phiên bao gồm hai thành phần: han-shi (phiên sỹ, tức giai tầng thượng lưu, phần nhiều là lớp người samurai) và thường dân. Các gia đ́nh han-shi sống trong các khu vực có rào cách với thường dân. Giới han-shi đươc hưỡng ruộng đất và ngược lại có trách nhiệm phụng sự việc công.

Trong khoảng một thế kỷ đầu của thời kỳ Edo-Tokugawa, tổ chức chính quyền trung ương bakufu thống trị rất chặc chẽ các han=phiên ở địa phương. Nhưng đến đầu thế kỷ 19 th́ quan hệ giữa bakufu và các han lần lần biến đổi. Những phiên như Satsuma-han, Choshu-han, Saga-han, Tosa-han trở nên hùng mạnh về cả hai mặt tài chính và quân lưc, và từ đó đă có tiếng nói mạnh trên chính sách đối nội và đối ngoại của chính quyền bakufu[4]. Cho đến khoảng giữa thế kỷ 19, binh lực của chính quyền bakufu c̣n cấu tạo phần lớn bởi các thành phần trang bị với đao kiếm (lớp người samurai), và trang bị binh khí Âu Mỹ c̣n giới hạn trong phạm vi rất nhỏ. Nhưng ngay trong thời kỳ này, một số địa phương mạnh như Satsuma-han và Choshu-han đă mua được khá nhiều binh khí tân tiến do các thương thuyền ngoại quốc mang đến qua các hải cảng như Nagasaki.

  V́ lich sử Nhật Bản không là đề tài của bài viết này, sau đây chỉ xin tóm tắt quá tŕnh đi đến cải cách chính trị và xă hội thời Minh Trị Duy Tân trong thập niên 1860. Sự uy áp của sức mạnh quân sự và khoa học kỹ thuật Âu Mỹ gây một xáo động lớn trong chính quyền bakufu, triều đ́nh và giới sỹ phu trong các han. Sau nhiều cuộc tranh chấp chính trị và xung đột quân sự khốc liệt giữa các bè phái[5], giữa tháng 10 năm 1968 các thế lực trong nước đi đến một thoả thuận băi bỏ thể chế baku-han và thành lập một chính phủ mới theo tổ chức Âu Mỹ. Một loạt chính sách cải cách trên mặt tổ chức xă hội (bài trừ phân chia giai cấp), tổ chức quân sự (giải tán tổ chức quân lực trong các han và thành lập quân đội thống nhứt cho quốc gia), mở rộng giao lưu với các liệt cường Âu Mỹ, tích cực hấp thụ và truyền bá khoa học kỹ thuât Âu Mỹ, v.v. Như đă biết, với một loạt chính sách duy tân này Nhật đă tránh khỏi được ngoại xâm và trở nên một thế lực ngang hàng với các liệt cường Âu Mỹ trước khi quốc gia này bước chân vào Đại Chiến thứ hai.

  1-2. Thể chế giáo dục trong thời kỳ Edo

  Trong thời kỳ Edo, mỗi phiên=hanhanko (phiên hiệu, trường của phiên) để dạy con em các hansi (phiên sỹ), tức tầng lớp sỹ phu trong các phiên. Lúc đầu tiêu chuẩn nhập học vào các trường này dựa trên nguyên tắc bắt buộc và chỉ dành riêng cho giai tầng sỹ phu. Nhưng trong các năm cuối thời kỳ Edo, các hanko này lần lần trở nên khai phóng hơn và bắt đầu thu nhận con em trong các gia đ́nh thường dân.

  Hanko thịnh hành nhất trong thời kỳ 1751-1764 với tỗng số 255 trường trong toàn nước Nhật. Tất cả các hanko, v́ thành lập và vận dụng bởi các chính quyền địa phuơng, đều đặt vị trí trong phạm vi địa phưong. Nhưng cho đến các năm 1831-1834 th́ các phiên như Etsugo-Nagano-han và Choshyu-han có mở trường trong thành phố Edo để giáo dục con em xuất thân từ các địa phương này nhưng cư ngụ trong thành phố Edo[6].

Cũng như Việt Nam, nền giáo dục Nhật Bản trước ngày khai quốc chịu rất nặng ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc. Hán hoc (Tứ Thư, Ngũ Kinh) và quốc học (văn chương, văn hoá, xă hội Nhật) là hai thành phần căn bản trong chương tŕnh giáo dục ở các trương hanko này. Nhưng đến cuối thời kỳ Edo th́ một số trựng trong các địa phương như Saga-han, Kanazawa-han, Yamaguchi-han, Nakazu-han, Satsuma-han đă mở rộng chương tŕnh giáo khoa, cho thêm vào một số ngành học mới như y học, hoá học, vật lư, và binh pháp Âu Mỹ. Cũng biết được rằng từ khoảng năm 1774, Rangaku (Lan hoc, học về văn hoá Hoà Lan) bao gồm các ngành học thuật, văn hoá và kỹ thuật đương thời của Hoà Lan được giảng dạy trong một số trường và bắt đầu có ảnh hưởng trong giới sỹ phu của Nhật. Một số sách và tài liệu tham khảo viết bằng ngoại ngữ về thiên văn học, y học, vật lư (thuyết Newton), và tổ chức Hải quân của Anh và Pháp v.v. đă được dịch ra Nhật ngữ và truyền bá khá rộng răi trong toàn nước Nhật cho đến khoảng giữa Thế kỷ 19, khi mà bakufu ra lệnh cấm lưu hành các tài liệu này v́ sợ ảnh hưởng của Âu Mỹ vào t́nh trạng chánh trị trong nước.

  Một đặc điểm khác của nền giáo dục Nhật Bản trong thời kỳ Edo là sự hiện diện của các trường kiếm thuật, tổ chức và vận dụng bởi các hào kiệt trong toàn quốc. Các dojo (đạo trường) kiếm thuật này tuy chỉ là nơi tập luyện kiếm thuật và thường là những tổ chức riêng rẽ của tư nhân, có thể được xem như một trụ cốt trong nền giáo dục thời đại Edo trong đó giai tầng samurai nắm giữ một vai tṛ quan trọng trong xă hội cũng như trong các tổ chức hành chánh trung ương và địa phương.

 

2. Nền Đại Học Nhật Bản trước Đại Chiến Thứ Hai.

  Nhật bắt đầu thành lập trường đại học theo thể chế Âu Mỹ vào cuối thế kỷ 19. Theo lối phân loại ngày nay, trong đó đại học được chia ra ba phân loại: quốc lập (kokuritsu, đại học quốc gia), công lập (koritsu, đại học thành lập và vận dụng ở bậc chính quyền địa phương) và tư lập (shiritsu, đại học tư thành lập và vận dụng bởi tư nhân), chín trường đại học tŕnh bày trong Bảng 1 là các đại học quốc gia đầu tiên thành lập bởi chánh phủ Nhât. Đây là các trường đại học tổng hợp trước mang danh hiệu teikoku-daigaku (đế quốc đại học), phản ảnh màu sắc chánh trị và văn hoá Nhật Bản trước Đại Chiến thứ hai, khi mà quốc gia này tiến hành công tŕnh khuếch đại lănh thổ trong khu vực Á Châu. Có thể nhận xét được rằng trong chín trường đại học này, (6) và (7) có địa điểm ở Seoul (Hàn Quốc) và Taipei (Đài Loan) v́ hai thành phố này nằm trong thuộc địa của Nhật trong thời kỳ đó. Các trường đại học quốc gia đầu tiên này là những cơ quan giáo dục chính đào tạo lớp người lănh đạo trong các ngành hành chính, thương nghiệp và khoa hoc kỹ thuât của Nhật từ sau Đại Chiến thứ hai. Hiện nay, mặc dầu một số đại học tư lập như trường Waseda và trường Keio (xem bên dưới) và các đại học quốc gia khác đă xây đấp được một địa vị vững chắc trong việc đào tạo nhân tài ở cả hai khu vực trung ương và địa phương, các teikoku-daigaku này, và nhất là hai trường Tokyo và Kyoto, vẫn c̣n đứng hàng đầu trên phương diện đào tạo và nghiên cứu.

 

   Bảng 1 Những đại học quốc gia thành lập đầu tiên (Teikoku-daigaku, Đế quốc đại học)

     Danh hiệu cũ                                     Danh hiệu ngày nay                    Năm thành lập    Địa điểm          

(1) Tokyo Teikoku Daigaku       Tokyo-daigaku hoặc Todai                             1872     Tokyo

   (Đông Kinh Đế Quốc Đại Học)

(2) Kyoto Teikoku Daigaku       Kyoto-daigaku hoặc Kyodai                             1897     Kyoto

   (Kyoto Đế Quốc Đại Học)

(3) Tohoku Teikoku Daigaku      Tohoku-daigaku hoặc Tohokuudai                   1907     Sendai

   (Tohoku Đế Quốc Đại Học)

(4) Kyushu Teikoku Daigaku      Kyushu-daigaku hoặc Kyudai                           1911    Fukuoka

   (Kyushu Đế Quốc Đại Học)

(5) Hokkaido Teikoku Daigaku   Hokkaido-daigaku hoặc Hokudai                        1918    Sapporo

   (Hokkaido Đế Quốc Đại Học)

(6) Keijo Teikoku Daigaku        Đại Học Seoul (Hàn Quốc)                                  1924     Seoul

   (Keijo Đế Quốc Đại Học)

(7) Taihoku Teikoku Daigaku      Đại Học Đài Loan                                             1928     Taipei

   (Taihoku Đế Quốc Đại Học)

(8) Osaka Teikoku Daigaku       Osaka-daigaku hoặc Handai                               1931    Osaka

   (Osaka Đế Quốc Đại Học)

(9) Nagoya Teikoku Daigaku      Nagoya-daigaku hoặc Meidai                             1939   Nagoya

   (Nagoya Đế Quốc Đại Học)

 Chú ư:  (6) và (7) là hai trường thành lập trong thời kỳ Hàn Quốc và Đài Loan nằm trong thuộc địa của Nhật. Ngày nay, người Hàn Quốc không chấp nhận Keijo Teikoku Daigaku là tiền thân của Seoul University.

 

  Trong phân loại đại học quốc lập (đại học quốc gia), ngoài bảy trường tỗng hợp tŕnh bày trong Bảng 1, trường Hitotsubashi-daigaku (Đại Học Hitotsubashi, chuyên về các ngành kinh tế và luật) trường Tokyo-Kogyo-daigaku hoặc Tokodai (Đại Học Công Nghiệp Tokyo, chuyên các ngành công nghiệp) là hai trường có uy tín lớn được thành lập trong thập niên 1920. Về các đại học tư lâp, trước hết phải kể hai trường Waseda (thành lập năm 1920, Tokyo) và trường Keo (thành lập năm 1920, Tokyo). Đây là hai trường tư có truyền thống, có nhiều sinh viên tốt nghiệp đang giữ các vai tṛ trọng yếu trong chính phủ và trong các hoạt động kinh tế chủ yếu của Nhật. Ngoài hai trường Waseda va Keo, các trường Chuo-daigaku, Nihon-daigaku, Hosei-daigaku, Meiji-daigaku cũng là những đại học tư có uy tín, thành lập trong thập niên 1920.

 

  Trong thời kỳ qui định kế hoạch sáng lập đại học (các năm đầu của chính phủ duy tân), có sự đua tranh khốc liệt giữa ba yếu tố (a) quốc học (đặt trên nền tảng văn hóa và truyền thống Nhật), (b) hán học (tứ thư, ngủ kinh) và (c) dương học (thu hấp và truyền bá văn hóa Âu Mỹ). Cho đến đầu năm 1868, khi mà chính phủ duy tân c̣n đặt căn cứ ở thành phố Kyoto, yếu tố (a) chi phối nội dung các cuộc bàn luận, phản ảnh tính cách phục hoàng của vận đông chính trị lúc đó[7]. Nhưng từ khi chính phủ dời căn cứ về thành phố Tokyo (tháng 6 năm 1968) th́ yếu tố (c) dần dần gia tăng thế lực, và khi trường Todai (Đại học Tokyo) được thành lập th́ dương học trở nên nền tảng chính.

  Xă hội Nhật Bản bắt đầu chịu ảnh hưởng văn minh phương tây qua hai ngành y học (Ḥa Lan) và binh pháp (Anh và Pháp) từ giữa thế kỷ 18. Vào khoảng các thập niên 1850, 1860 th́ chính quyền trung ương (bakufu) và một số chính quyền các địa phương (han dưới quyền thống trị của các daimyo) tích cực thu hấp văn hóa Âu Mỹ qua hai lối: bổ nhiệm chuyên viên người nước ngoài vào giảng dạy trong các trường trong nước, và gởi sinh viên Nhật du học ngoại quốc[8]. Từ năm 1871, ba năm sau ngày chính phủ duy tân thành lập, việc sinh viên du học ngoại quốc càng trở nên thịnh vượng nhờ vào nghị định mới của chính phủ qui định rằng các đại học được quyền quyết định trong việc phái sinh viên du học. Phản ảnh các sự kiện này, tổ chức đại học Nhật trong các năm đầu chịu ảnh hưởng rất lớn của các tổ chức đại học trong các quốc gia Âu Châu. Về y học, lúc đầu Ḥa Lan có ảnh hưởng mạnh, nhưng sau đó giới khoa học và giáo dục Nhật chú trọng vào việc tham cứu ngành y học của Anh và nhất là của Đức, và nhận thức rằng Đức có ưu thế trong ngành khoa học này. Cũng v́ lư do này, ngày nay c̣n quan sát được vết tích của khoa học và tổ chức đại học của Đức trong tổ chức đại học Nhật.

 

3. Nền Đại Học Nhật Bản sau Đại Chiến Thứ Hai

  Nền đại học Nhật Bản từ sau Đại Chiến thứ hai đến cuối thế kỷ 20 bao gồm hai gia đoạn với t́nh trạng hoạt động khác nhau: giai đoạn vàng son (1945-1990), và giai đoạn khó khăn (1990-2010).

  3-1. Giai đoạn vàng son của đại học

  Nhờ vào gia tăng trên xuất khẩu quân nhu cho chiến tranh Triều Tiên, vào khoảng năm 1955 nền kinh tế Nhật Bản hồi phục lại được mức sản xuất trước Đại Chiến, và đến khoảng năm 1980 th́ mức thu nhập trên đầu người trong nước đă vượt qua các quốc gia Âu Châu. Sự thinh vượng của nền kinh tế đă tạo ra một giai đoạn vàng son cho nền đại học Nhật trong các thập niên 1950, 1960, 1970 và 1980, qua gia tăng trên nhu cầu người tốt nghiệp đại học phát sinh bởi khuếch đại sản xuất nhằm đáp ứng gia tăng nhu cầu sản phẩm trong và ngoài nước. Yếu tố quan trọng nhất trong giai đoạn này là các công tŕnh thiết lập đại học không đáp ứng kịp với tốc độ quá nhanh của gia tăng nhu cầu đại học (tham khảo thống kê về số trường và số sinh viên trong Bảng 3, và giải thích trong tiết 3-2) nhất là trong các thập niên 1960 và 1970, gây ra t́nh trạng thiếu trường và từ đó có sự tranh đua mănh liệt trong giới học sinh và phụ huynh bậc trung học.

  Thời kỳ 1960-90 và nhất là các thập niên 1960 và 1970 được xem là giai đoạn vàng son của nền đại học Nhật Bản không chỉ v́ lư do số cầu lớn hơn số cung, và do đó các đại học không gặp khó khăn trên mặt tài chính. Chất lượng cao của sinh viên cũng là một yếu tố quan trọng. V́ sinh viên tốt nghiệp đại học trong thời kỳ này được trọng dụng trong các cơ quan hánh chánh và các hăng xưởng lớn trong nước, đại học được xem như một cánh cửa hẹp dẩn đến thinh vượng trong tương lai. Sự việc này đương nhiên gây ra tinh thần cạnh tranh mănh liệt trong ban giáo chức, học sinh và phụ huynh bậc tiều và trung học toàn quốc. Kết quả của sự cạnh tranh này là hầu hết sinh viên đậu vào các trường đại học đều có tiềm năng cao và đầy đủ kiến thức căn bản để hấp thụ một cách dễ dàng nội dung các bài giảng bậc đại học. Giáo viên đại học không phải bỏ nhiều công lao vào việc khai thác phương pháp giảng dạy và chuẩn bi tài liệu[9].

3-2. Quá tŕnh đại chúng hoá giáo dục cấp đại học và giai đoạn khó khăn

  Số người vào tuổi gia nhập đại học ở Nhật, lấy một tượng trưng là nhân khẩu 18 tuổi, lên xuống giữa 1,6 ~2,0 triệu người trong ba thập niên 1960-90 rồi bắt đầu chỉ khuynh hướng thuyên giảm rơ rệt kể từ năm 1992 (xem Bảng 2 và H́nh 1). So với tỗng dân số ở tuổi vào học bậc đại học, số sinh viên được nhận vào các trường đại học mỗi năm tăng rất nhanh, từ 163 ngàn trong năm 1960 đến 600 ngàn trong năm 2000. Nhưng từ khoảng cuối thập niên 1990, tốc độ gia tăng số người vào đại học xuống nhanh khiến tỗng số chỉ đạt đến 608 ngàn trong năm 2008. Một điểm cần chú ư ở đây là, mặc dầu số người nhập học không gia tăng, số trường đại học thiết lập trong nước vẫn tiếp tuc gia tăng nhanh từ 649 trường trong năm 2000 đến 765 trường trong năm 2008 (xem Bảng 3). Những con số thống kê đề cập ở đây chứng tỏ một đăc điểm thường được đề cập trong các thảo luận về quá tŕnh tiến triển của nền giáo dục bậc đại học Nhật từ sau Đại Chiến Thứ Hai. Đó là quá tŕnh đại chúng hoá giao dục và khác biệt giữa hai thời kỳ trước và sau năm 2000.

 Quá tŕnh đại chúng hoá giao dục bậc đại học được thấy rơ qua biến chuyển trong tỷ suất người nhập hoc. Bảng 2 và H́nh 1 tŕnh bày tỗng nhân khẩu 18 tuổi, số người và tỷ suất người nhập học bậc đại học (số người nhập học ÷ nhân khẩu 18 tuổi) trong khoảng thời gian 1960-2008. Tỷ suất người nhập học bậc đại học tăng từ 8,2% vào năm 1960 đến 49,0%  vào năm 2008. Có thể nói rằng trong bán thế kỷ gần đây cung cấp giáo dục đại học đă biến dạng từ một dịch vụ khan hiếm (rất ít người được hấp thụ) đến một món hàng b́nh dân (ai cũng mua được). Trong quá tŕnh đại chúng hoá này một điểm thường được đề cập là khác biệt giữa thời kỳ trước năm 2000 và thời kỳ sau năm 2000. Trong thời kỳ trước năm 2000, lượng cầu (tức tỗng số người nộp đơn thi vào đại học) lớn hơn lượng cung (tức khả năng thu nhận sinh viên của các đại học). Nhưng kể từ khoảng năm 2000 th́ ngược lại phát sinh ra hiện tượng dư thừa, lượng cung lớn hơn lượng cầu.

Quá tŕnh đại chúng hoá giao dục bậc đại học kể trên có ảnh hưởng rất mạnh vào nền giáo dục bậc đại học trên ba phương diện: thuyên giảm chất lượng của sinh viên, thay đổi trong nội dung và phương pháp giảng dạy, và suy nhược trong t́nh trạng tài chính của các trường đại học, nhất là các đại học tư thành lập trong các thập niên gần đây.

3-3. Biến chuyển trong chất lượng sinh viên:

 Theo giỏi t́nh h́nh giáo dục ở bậc đại học từ thập niên 1960 đến ngày nay cho thấy một khuynh hướng rơ rệt: suy giảm chất lượng của sinh viên từ sau khoảng năm 1990. Sự suy giảm chất lượng này là hậu quả của nhiều yếu tố. Trước hết v́ suất người nhập học lên cao, so với các thập niên 1960, 1970 trong đó chỉ những học sinh có thành tích cao trong các trường trung học được tuyển vào đại học, vào các năm cuối của thập niên 1990, và nhất là sau khi bước vào thập niên 2000 th́ tất cả học sinh muốn vào đại học đều có nơi để đi. Lư do thứ hai là thuyên giảm trong ư thức cạnh tranh trong lớp người trẻ ơ Nhât. Trong các thập niên 1960, 1970 v́ chỉ một số ít người đựoc nhận vào đại học, phụ huynh và học sinh bậc tiểu học và trung học rất tích cực trong việc chuẩn bị trí thức và năng lực cho lớp học sinh tham dự các kỳ thi nhập học. Với hy vọng thi đậu vào đại học, phụ huynh thường cho con em dự các lớp học thêm vào ban tối hoặc cuối tuần. Trong các thập niên này nẩy ra một hiện tượng nổi bậc: rất nhiều người mẹ mà thường được gọi là kyoiku-mama (người mẹ giáo dục), ngày ngày hy sinh hết cả th́ giờ của ḿnh vào việc sưu tầm tài liệu, chuẩn bị món ăn thức uống và lái xe đưa rước các cô các cậu đến các lớp học tối với hy vọng con ḿnh sẽ lọt được vào số it người đậu vào các đại học. Nhưng song song với quá tŕnh đại chúng hoá đại học, qua các biến đổi lớn trên cung và cầu, ngày nay  học sinh và phụ huynh không c̣n bận rộn nhiều vào việc thi cử nữa. Cuối cùng, nguyên nhân thứ ba của sự suy giảm chất lượng sinh viên là phong trào đ̣i hỏi “thoải mái trong giáo dục” (yutori kyoiku, xem bên dưới) chủ trương bởi Công Đoàn Giáo Chức Nhật Bản (Nihon Kyoshokuin Kumiai, Nhật Bản Giáo Chức Viên Tổ Hợp).

  Kết quả của quá tŕnh đại chúng hoá đại học là ngày nay một số không nhỏ sinh viên không có đủ kiến thức căn bản cần để hấp thụ nội dung các bài giảng trong đại học . V́ vậy một số trường đại học đă phải chuẩn bị chương tŕnh dạy bổ túc các môn như toán và quốc ngữ cho sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai.

  3-4. Biến chuyển trong nội dung và phương pháp đào tạo:

Ngược với biến đổi trong chất lượng sinh viên, nội dung và phương pháp đào tạo ở bậc đại học cho thấy nhiều cải thiện lớn song song với quá tŕnh đại chúng hoá. Trong các thập niên 1960, 1970 và 1980 giáo viên bậc đại học có khuynh hướng chú tâm nhiều vào mặt nghiên cứu và ít quan tâm đến việc cải thiện phương pháp đào tạo. Cũng quan sát được rằng trong các thập niên này phần lớn sách giáo khoa tiếng Nhật, nhất là trong các ngành khoa học xă hội, là các bảng dịch từ sách giáo khoa xuất bản ở các quốc gia Mỹ Âu, và rất ít có sách trực tiếp viết bởi người Nhật, và khi hoặc là các kết quả của các chương tŕnh nghiên cứu liên quan. Sự kiện này có thể khởi nguồn ở chỗ không có đ̣i hỏi mạnh trong giới sinh viên và phụ huynh. V́ hầu hết sinh viên trong thời kỳ  này là người đă được lựa chọn qua các kỳ thi khó khăn, có tiềm năng cao và đă chuẩn bị đầy đủ kiến thức trong các năm tiểu học và trung học, và trong các lớp học tối nên họ không đ̣i hỏi nhiều vào năng lực đào tạo của giáo viên. Thêm vào đó, xă hội Nhật trong các thập niên này cũng không đ̣i hỏi người tốt nghiệp có kiến thức chuyên môn. V́ “suốt đời làm viêc trong một sở” (shushin-koyo, chung thân cố dụng) là một tập quán chung trong mọi hoạt động kinh tế, kiến thức chuyên môn không là một chỉ biểu quan trọng trong việc chọn người lao động. Hăng xưỡng Nhật Bản trong các thập niên này có khuynh hướng chung là chọn người có tiềm năng và kiến thức căn bản. Kiến thức chuyên môn sẽ được bổ túc bởi các chương tŕnh đào tạo tại sở.

  Từ các năm đầu của thể kỷ 21, giới giáo viên và ban chấp hành các trường đại học bắt đầu ư thức đến phương pháp đào tạo để thích ứng với nhu cầu mới của số đông sinh viên chất lượng thấp (ai cũng vào được đại học) nhưng đ̣i hỏi nhiều (cung lớn hơn cầu). Hầu hết các trường đại học ngày nay đều chuẩn bị và công bố đầy đủ tài liệu giới thiệu, giải thích nội dung của từng môn học, và thực thi các cuộc điều tra ư kiến và mức độ hấp thụ của sinh viên đối với từng môn học. Kết quả của các cuộc điều tra này thường được dùng như một chỉ biểu quan trọng trong việc b́nh giá giáo viên và cải thiện chương tŕnh giáo khoa thích dụng cho các năm sau.

  Một nguyên nhân khác đưa đến biến đổi trong phương pháp và nội dung đào tạo ở bậc đại học trong Thế kỷ 21 này là biến đổi trên nhu cầu của xă hội Nhật nói chung, trong đó xí nghiệp dần dần từ bỏ tập quán shushin-koyo (suốt đời làm việc trong một xí nghiệp). V́ người lao động không tiếp tục làm việc nhiều năm trong một xí nghiệp, xí nghiệp không c̣n tích cực thực thi các chương tŕnh đào tạo tại xí nghiệp, và từ đó có khuynh hướng nhận sinh viên tương đối có đầy đủ kiến thức thực dụng ngay ở thời điểm ra trường.

  3-5. Suy nhược t́nh trạng tài chính của các trường đại học:

Trên đất Nhật cung cấp dịch vụ đào tạo ở cấp đại học là một ngành kinh doanh có nhiều lợi từ thời kỳ Minh Trị Duy Tân. Bắt đầu từ các thập niên cuối của thế kỷ 19 các trường đại học tư lập tiếp tục thu hưởng rất nhiều quyền lợi trên mặt tài chính, nhờ vào trợ cấp của chính phủ và gia tăng trên nhu cầu. Nhưng kể từ khoảng giữa thập niên 1990, và nhất là sau khi bước vào Thế Kỷ 21, một số khá lớn trường đại hoc tư lập gặp phải nhiều khó khăn trên phương diện tài chính v́ số người thi vào đại học giảm trong khi số trường đại học vẫn tiếp tuc gia tăng. Sự kiện này ngày càng trở nên trầm trọng, nhất là đối với các đại học thành lập trong các thập niên gần đây. Sau đây xin tŕnh bày một số chỉ biểu thống kê căn bản để chứng minh hiện tượng này.

 

         Bảng 2 Biến chuyển trong tỷ số người nhập học bậc đại học

              Số người nhập học  Tổng nhân khẩu 18 tuổi  Tỷ số người

                (1.000 người)         (1.000 người)                nhập học (%)

    1960           163                     2000                             8.2

    1970           333                     1950                             17.1

    1980           412                     1580                             26.1

    1990           492                     2010                             24.5

    2000           600                     1510                             39.7

    2008           607                     1240                             49.0

    Tài liệu: Bộ Giáo Dục và Khoa Học, Gakko Kihon Chosa (Điều Tra Căn Bản về Trường Học) và Bộ Nội Vụ, Jinko Tokei (Thống Kê Nhân Khẩu)

   Bảng 3 tŕnh bày biến chuyển trên số trường và tỗng số sinh viên bậc đại học từ năm 1960 đến ngày này. Phân loại “đại học 4 năm” cho thấy cả hai số trường và số sinh viên tại trường đều tiếp tục gia tăng trong suốt thời kỳ 1960-2008. Nhưng khi nh́n vào tốc độ gia tăng của số trường và số sinh viên sẽ thấy được một khác biệt rơ rệt giữa hai thời kỳ 1960-1990 và 1990-2008. Trong thời kỳ trước năm 1990, trên trung b́nh mỗi năm số trường và số sinh viên gia tăng 2,5% và 4,2%, so với 2,4% và 1,6 % trong thời kỳ sau năm 1990. Trong khi suất tăng hàng năm của số sinh viển giảm từ 4,2% đến 1,6%, số trường đại học vẫn tiếp tục tăng rất nhanh, tạo ra t́nh trạng thặng dư cung cấp trong các năm gần đây. T́nh trạng này trầm trọng đến nổi một số trường tư phải đóng cửa, và khoảng 30% số trường tư c̣n lại cũng lâm vào t́nh trạng thiếu sinh

 

4. Định Hướng Phát Triển Đại Học Nhật Bản trong Thế Kỷ 21

4-1. Biến đổi trong cơ cấu đại học theo phân loại

  Các trường đại học ở Nhật bao gồm hai loai, đại học (4 năm) và đoản kỳ đại học (2 năm). Phần lớn trong các trường thuộc phân loại đại học (4 năm), ngoài ban cử nhân và kỷ sư (4 năm) c̣n có ban cao học (daigakuin đại học viện) trong đó có ban thạc sỹ (shushi-katei, tu sỹ khoa tŕnh) và ban tiến sỹ (hakkase-katei, bác sỹ khoa tŕnh). Các trường đại học c̣n có thể phân chia theo ba dạng thức kinh doanh: quốc lập (thiết lập và vận dụng bởi chính phủ trung ương), công lập (thiết lập và vận dụng bởi các tỉnh huyện) và tư lập (thiết lập và vận dụng bởi các đoàn thể tư nhân).

  So với phân loại đại học (4 năm), đoản kỳ đại học là một phân loại tương đối nhỏ, xét trên cả số trường và số sinh viên (xem Bảng 3). Tuy vậy đoản kỳ đại học cũng đă đóng một vai tṛ khá quan trọng trong nền kinh tế và xà hội Nhật trong gần một nửa thế kỷ sau Đại Chiến Thứ Hai.

  Như tŕnh bày trong Bảng 3, số trường đại hoc (bốn năm) trong toàn quốc tăng từ 245 trường trong năm 1960 đến 765 trường trong năm 2008. Trong khoảng nửa thế kỷ này số sinh viên tăng từ 626 ngàn đến 2 triệu 836 ngàn. Cố hai điểm cần được lưu ư. Trước hết, tỗng số sinh viên cho thấy rơ khác biệt giữa hai thời kỳ 1960-1990 và 1990-2008. Tỗng số sinh viên chỉ suất tăng trung b́nh hàng năm rất cao (4,2%) trong 30 năm đầu, và rất thấp trong 18 năm gần đây (1,6%), v́ ảnh hưởng của hiện tượng giảm suất sinh. Kế đến, không có sai biệt rơ trong suất tăng của số trường giữa hai thời kỳ này (2,4% hàng năm và 2,3% hàng năm).  Hai điểm này cho thấy rằng về măt kinh doanh trong ngành giáo dục bậc đại học, kể từ thập niên 1990 lượng cung (số trường) không điều chỉnh kiệp với biến chuyển trong lượng cầu (số sinh viên), và đây là một trong những nguyên nhân đưa đến các vấn đề khó khăn mà nền giáo dục Nhật đang phải đương đầu, như khó khăn tái chính, thuyên giảm chất lượng sinh viên, v.v.

  Số sinh viên, đa số là nữ, và số trường trong phân loại đoản kỳ đại học (hai năm) gia tăng khá nhanh trong thời kỳ trước năm 1990, nhưng thuyên giảm trong 20 năm gần đây. Nhất là chỉ trong 8 năm từ khi bước vào Thế Kỷ 21, số sinh viên giảm đi gần 50%. Có thể nhận xét được rằng đoản kỳ đại học vốn có chức năng cung cấp chuyên viên bậc trung và nhân viên văn pḥng trong thời kỳ mà nền kinh tế Nhật c̣n đặt trên cơ sở sản xuất lượng to giá thấp.[10]

 

Bảng 3  Biến chuyển trong số trường và số sinh viên ở bậc đại học trong  thời gian 1960-2008

                     Đại học (4 năm)             Đoản kỳ đại học (2 năm)

             Số trường    Số Sinh viên        Số trường     Số Sinh viên

                                tại trường                                tại trường

  1960          245         626.421             280              83.457

  1970          382      1.406.521              479             263.219

  1980          446      1.835.312              517             371.124

  1990          507      2.133.362              593             479.389

  2000          649      2.740.024              572             327.692

  2008          765      2.836.127              417             172.726

  Tài liệu: Bộ Giáo Dục và Khoa Học Kỹ Thuật Monbukagaku Hakusho 2010

(Bạch Thư Giáo Dục và Khoa Học 2010).

  Tài liệu thống kê trong Bảng 4 tŕnh bày một cách sơ lược cấu tao giáo dục bậc đại học theo phân loại quốc, công và tư lập, theo phân loại đại học (bốn năm) và đoản kỳ đại học (hai năm), và theo giới tính trong các năm gần đây. Nh́n trên số lượng, các trường tư lập chiếm khoảng 75% trên cả số trường và số sinh viên trong phân loại đại học bốn năm và gần 95% trên số trường và số sinh viên trong phân loại đoản kỳ đại học. Các đại học công lập bốn năm, thiết lập và vận dụng bởi các chính quyền địa phương tuy có nhiều trường (90 trường so với 86 trường quốc lập) có ít sinh viên (131.970 so với 628.811 thuộc trường quốc lập). Đoản kỳ đại học (2 năm) là một phân loại tương đối nhỏ, phần nhiều dành cho sinh viên nữ, và chỉ khuynh hướng thuyên giảm rất nhanh trên cả số trường va số sinh viên trong các thập niên gần đây.

 

   Bảng 4 Số trường và số sinh viên bậc đại học trong năm 2008

                        Đại học (bốn năm)         Đoản kỳ đại học (hai năm)

                      Trường      Sinh viên         Trường     Sinh viên

     Quốc lập            86       623.811              2               52

     Công lập            90       131.970             29           10.565

     Tư lập             589     2.080.346            386          162.109

     Tỗng số            765     2.836.127            417          172.726

         Nam                  (1.695.372)                         (19.208)

         Nữ                   (1.140.755)                         (153.518)

     Tài liệu: Như trong Bảng 3

 

4-2. Một vài nhận xét về đặc tính của tổ chức giáo dục và nghiên cứu bậc đại học ở Nhật

  Tiết 3 đă đế cập một số vấn đề các trường đại học Nhật đang phải đương đầu, như thuyên giảm trong chất lượng của sinh viên và khó khăn tài chính (nhất là trong trường hợp của các đại học tư lập). Khuynh hướng giảm suất sinh trong toàn quốc (đưa đến thuyên giảm nhân khẩu ở tuổi thi vào đại học) và vận động “thoải mái giáo dục” của Công Đoàn Giáo Chức (đ̣i hỏi giảm thiểu nội dung và giờ học trong các học tŕnh bậc tiểu học và trung học, và phỉ báng tinh thần cạnh tranh trong giáo dục) trong các thập niên 1980 và 1990 được xem là những nguyên nhân chính đưa đến hiện trạng này. Trong tiết 4-2 này tác giă thử đưa ra một vài nhận xét về đặc điểm của nền giáo dục và nghiên cứu Nhật Bản khới nguồn từ một vài đặc điểm của xă hội Nhật.

    Ảnh hưởng của tư tưởng Karl Marx

  Từ sau Đại Chiến thứ hai đến khoảng giữa thập niên 1980, giáo viên đại học và các nhà nghiên cứu trong các ngành khoa học xă hội và nhân văn của Nhật, và nhất là trong ngành kinh tế học, chịu ảnh hưởng rất nặng của các tư tưởng gia xă hội chủ nghĩa (Karl Marx, Friedrich Engels, v.v). Trong các thập niên này khoa kinh tế học trong các đại học bao gồm hai trường phái, kinh tế Karl Marx (Marukusu-kei) và kinh tế cận đại (Kinkei), và thông thường mỗi trường phái chi phối khoảng phân nửa số giáo viên và số sinh viên trong các trường. Trên phương diện nghiên cứu, các giáo sư theo hệ kinh tế Karl Marx, nhất là các giáo sư trường Todai đă có công gia cố lư thuyết Karl Marx qua các công tŕnh nghiên cứu về quá tŕnh phát triển nền kinh tế tư bản của Nhật. Về mặt xă hội, học thuyết kinh tế Karl Marx đă tạo ra một cơ bản tư duy cho một số khá đông sinh viên trong một thời kỳ, khởi nguồn cho một phong trào vận động xă hội sống động trong thập niên 1960, như thúc đẩy sinh viên “xuống đường” đ̣i hỏi cải cách tổ chức đại học, đ̣i hỏi Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam, đ̣i hỏi chủ quyền của Nhật trên vùng Okinawa, v.v. Mặc dầu từ khoảng cuối thập niên 1980 kinh tế học theo hướng Karl Marx đă dần dần mất ảnh hưởng trong lănh vực giáo dục và nghiên cứu, ngày nay chúng ta vẫn c̣n thấy được dấu vết của học thuyết này trong tư tưởng và quan niệm giá trị trong xă hội Nhật, như đặc tính xem trọng quyền lợi người lao động, khuynh hướng giới hạn mức thu nhập của ban giám đốc trong các hăng xưởng, thái độ thận trọng đối với cạnh tranh thị trường, v.v..

  Nhưng nh́n từ một khía cạnh khác, có thể nói sự chi phối của các tư tưởng gia xă hội chủ nghĩa trong lănh vực giáo dục và nghiên cứu như tŕnh bày bên trên có một ảnh hưởng không tốt là đă chi phối một số khá lớn nhân tài, gây ra sút kém, chậm trễ về mặt đào tạo và nghiên cứu theo hướng kinh tế thị trường ở Nhật. Điểm này có thể xác nhận được qua sự thiếu mặt của các học giả người Nhật trên diễn đàn quốc tế trong địa hạt kinh tế học.

    Đánh giá cao kinh nghiệm và tính chất thuần ứng trong tập thể, và xem trọng khía cạnh thực dụng

  Một yếu tố căn bản trong hệ thống tư duy và quan niệm về giá trị trong xă hội Nhật là đánh giá cao kinh nghiệm và tính chất thuần ứng trong tập thể, và xem trọng khía cạnh thực dụng. Nói một cách khác, xă hội Nhật có thái độ bài tha đối với ư kiến và hành động cá nhân không hợp với tập thể, và có khuynh hướng hoài nghi các lư thuyết, biện chứng không căn cứ trên kinh nghiệm và quan sát thực tiễn. Sau đây là một vài dẫn chứng.

Mặc dầu Nhật đă sớm có người lănh giải Fields (H. Hironaka, giáo sư đại học Kyoto, năm 1970) về toán và một số người lănh giải Nobel cho các công tŕnh nghiên cứu thiên về lư luận trong môn vật lư, phải nói rằng Nhật tương đối có khả năng hơn trong việc t́m ṭi qua các công tŕnh thực nghiệm trên mặt ứng dụng trong các môn như hóa hoc và sinh vật. Điều này có thể thấy rơ được qua con số khá đông học giả người Nhật lănh giải thưởng về các ngành như hóa học và sinh lư học trong các năm gần đây,.cũng như qua nội dung và kết quả của các chương tŕnh giáo dục và nghiên cứu trong các đại học và các trung tâm nghiên cứu công (thí dụ: các trung tâm nghiên cứu về nông nghiệp trung ương và ở bậc tỉnh) và tư (thí dụ: trung tâm nghiên cứu của các hăng ô tô) trong toàn nước Nhật.

  Khuynh hướng bài tha ư kiến và hành động cá nhân không hợp với tập thể là một truyền thống có ưu điểm duy tŕ trật tự và tính ḥa đồng, nâng cao năng suất của tổ chức. Nhưng ngược lại tính chất này có một khuyết điểm lớn là kềm hảm tự do trong tư duy, không tạo được môi trường tốt cho các tư tưởng sáng tạo. Cũng v́ lư do này một số không nhỏ người Nhật hấp thụ giáo dục trong nước nhưng chỉ khai hoa khi họ tham gia trong các tổ chức nghiên cứu ở nước ngoài..

   4-2. Những cải cách trong thập niên 2000

  Trong thời hạn tám năm kể từ khi bước vào thế kỷ 21 (2000~08) có tám người Nhật nhận được giải Nobel trong các ngành khoa học tự nhiên. Mặc dầu đây là một con số không nhỏ so với các quốc gia tiền tiến kháci[11], nhận thức chung trong nước và các cơ quan giáo dục quốc tế là nền giáo dục bậc đại học Nhật Bản c̣n mang nhiều khuyết điểm cần phải cải cách để đi kịp với biến chuyển ngày một nhanh trên thế giới. Như được tóm tắt trong bản phúc tŕnh của OECD:[12] và bài viết của giáo sư M. Kaneko[13], những khuyết điểm này khởi nguồn ở giới hạn trên mức độ tự trị và độ co giản của các tổ chức đại học. Nhận thức được t́nh huống này, bắt đầu từ năm 2004 Bộ Giáo Dục và Khoa Học Kỹ Thuật đă thiết kế và thực thi một loạt cải cách quan trọng nhằm mục đích nâng cao mức độ khoa hoc kỹ thuật Nhật (lên hàng đầu thế giới) và đáp ứng được biến đổi nhu cầu kinh tế và xă hội trong nước và toàn cầu. Sau đây là một vài thành phần chính của loạt cải cách này.

  Nới rộng phạm vi tự trị của đại học[14]

  Một cải cách mới bắt đầu thực hiện từ năm 2006 là thi hành điều lệ thừa nhận các đại học quốc lập như một đơn vị độc lập (kokuritsudagakui no hojinka=pháp nhân hóa đại học quốc lập). Điều lệ này đưa đến một số kết quả cụ thể như các trường có thể thống hợp toàn thể hoặc một vài phân khoa để nâng năng suất giáo dục và nghiên cứu, các trường có thể gia giảm học phí cho sinh viên trong phạm vi 20% của mức học phi quyết định bởi chính phủ, hiệu trưỡng đại học được quyền tuyển chọn nhân viên tư nhân và quyết đinh trong việc tuyển chọn giáo viên và định mức lương cho người từ nước ngoài, v.v. Song song với việc hưỡng được phạm vi tự trị rộng hơn, ngược lại các đại học quốc lập phải tự lập hơn trên mặt ngân sách như phải tự tạo một phần của ngân sách dùng trong các các công tŕnh nghiên cứu. Trước kia ngân sách chính phủ bổ trợ cho các đại học được quyết định theo truyền thống, dựa vào thông lệ trong quá khứ, ngày nay ngân sách này được quyết định dựa vào tiêu chuẩn cạnh tranh như thành quả nghiên cứu, thành quả giáo dục, tinh thần liên đới với xă hội địa phương, thành tích hoạt động quốc tế, v.v.

 Xúc tiến cạnh tranh trong nghiên cứu khoa học

  Từ lâu Nhật có mục ngân sách dành riêng cho việc xúc đẩy nghiên cứu khoa học, thường gọi tắt là kakenhi (kagakukenkyuhi = Khoa học nghiên cứu phí). Ngân sách này khá lớn (1470 ức yen, tức khoảng 16 ức đô la Mỹ trong năm 2010) nhằm vào mục đích bổ trợ tổn phí nghiên cứu và công bố thành quả của cá nhân và đoàn thể và được tuyển chọn mỗi năm trên tiêu chuẩn cạnh tranh. Song song với chương tŕnh cải cách giáo dục bậc đại học, từ năm 2006 chính phủ Nhật thực thi một chương tŕnh mới dựa trên mục ngân sách dưới danh hiệu Chấn Hưng Khoa Học Kỹ Thuật:(kagaku gijutsu shinko chosei-hi, Khoa học kỷ thuật chấn hưng điều chỉnh phí). Mục ngân sách mới này nhằm vào mục đích xúc đẩy hoạt động nghiên cứu dựa trên các căn bản như liên đới quốc tế (xúc đẩy các chương trinh nghiên cứu cộng đồng giữa các cơ quan trong và ngoài nước), nghiên cứu có tính cách tiền vệ, nghiên cứu phù hợp với nhu cầu địa phương, khuyến khích hoạt động nghiên cứu trong lớp người trẻ tuổi và nữ giới, v.v. Mục ngân sách mới này đă tạo ra một không khí cạnh tranh sôi động trong giới đại học trong các năm gần đây.

  Thành lập và xúc tiến hoạt động của Cơ Quan Đánh Giá Đại Học

  Một cơ quan độc lập được thành lập dưới danh hiệu Nihon Koto Kyoiku Hyoka Kiko (Nhật Bản Cao Đẳng Giáo Dục B́nh Giá Cơ Cấu), điều tra năng lực của tất cả các đại học trong nước trên phương diện giáo dục, nghiên cứu và tài chính. Cơ quan này là một cơ quan độc lập, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của chính phủ. Mặc dầu hoạt động của Cơ Quan Đánh giá Đại Học không mang tính cách câu thúc đối với các đại học, kết quả của tất cả các công tŕnh b́nh giá đều được công bồ trên internet và báo chí, và v́ thế có một tác dung rất mạnh trên sự tồn vong của các đại học

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Asahi-shinbun (Nhật Báo Asahi) ngày 8 tháng 10 năm 2010.

2.. Bộ Giáo Dục và Khoa Học Kỹ Thuật, Gakko Kihon Chosa (Điều Tra Căn Bản về Trường Học, nhiều năm) và Bộ Nội Vụ, Jinko Tokei (Thống Kê Nhân Khẩu, nhiều năm)

3. Bộ Giáo Dục và Khoa Học Kỹ Thuật, Monbukagaku-sho Hakusho 2010 (Bạch Thư Giáo Dục và Khoa Học Kỹ Thuật, 2010).

4. Bộ Giáo Dục và Khoa Học Kỷ Thuật, Gakusei Hyakunen-shi (100 Năm Lịch Sử về Thể Chế Giáo Dục và Trường Học, www.mext.go.jp/b_menu/hakusho/html, 2010)

5. Ishikawa, A., Ishikawa no Nihon-shi (Sử Nhật Bản của Ishikawa) Tokyo: Gakken, 2008.

6. Kaneko, N., “Japanese High Education: Contempory Reform and Tradition” ed. P. G. Altbach & T. Umakoshi, Asian University: Historical Perspectives and Contemporary Challenges, 2004 (Baltimore & London: Johns Hopkins)

7. Lê Thành Nghiệp, Betonamu Erito-zo no Utsurikawari (Biến Chuyển H́nh Tượng Giai Tầng Trí Thức Việt Nam) Josai International University Bulletin No. 2, Vol. 5, 1997.

8. OECD, “Review of Tertiary Education in Japan” đăng trong Tertiary Education for the Knowledge Society (2008, www.oecd.org/edu/tertiary/review)

9. Whitfield, D. J., Historical and Cultural Dictionary ̣ Vietnam, Menfuchen, N.J: The Scarecrow Press, 1976)

 

Về tác giả:

Lê Thành Nghiệp

1956-63: Pétrus Kư; 1965: Học bổng cp Nhật) 1975: Tiến sỹ (Nông Nghiệp Kinh tế, Đh Hokkaido); 1976-92: Senior Economist, International Development Center of Japan (Tokyo); 1992~:Professor, Josai International University (Chiba)

Sách Việt ngữ: 1998, Phát Triển Kinh Tế Theo Hướng Thị Trường. (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Thống Kê), 2006, Quá Tŕnh Phát Triển Kinh Tế Việt Nam (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học và Kỹ

[1] Edo đổi tên ra Tokyo năm 1868, cùng lúc với năm thành lập chánh phủ duy tân.

[2] V́ vậy thời đại Edo cũng được gọi là thời đại Tokugawa.

[3] Phần này dựa theo Akiyasu Ishikawa, Ishikawa no Nihon-shi (Sử Nhật Bản của Ishikawa), Tokyo:Gakken, 2008.

[4] Satsuma, Choshu và Tosa là những han đóng vai tṛ chủ yếu trong cuộc thành lập chính phủ mới thời Minh Trị.

[5] Chính quyền bakufu thiên về quyết định mở cửa v́ binh lực quá yếu. Nhóm cải cách của Choshu-han chủ trương ủng hộ Thiên hoàng và triều đ́nh, và lật đổ chính quyền bakufu. Satsuma-han nằm về phe bakufu (lúc đầu), giúp bakufu dẹp tắt được trận pháo kích lần đầu của nhóm quân Choshu-han khi nhóm này pháo kích Edo với mục đích lật đổ chính quyền bakufu.

[6] Để so sánh xin nhắc với đôc giả rằng ở Việt Nam trường Quốc Tử Giám thiết lập trong thành phố Hà Nội vào cuối thế kỷ 11 dưới Triều Lư, dời vào Huế năm 1803, dưới Triều Nguyễn. Mặc dầu vào thế kỷ 14 bắt đầu h́nh thành hệ thống thầy dạy hán học ở bậc địa phương, phải đợi đến năm 1903 Việt Nam mới bắt đầu công tŕnh xây dựng trường công trong các tĩnh lỵ (theo Danny J. Whitfield, Historical and Cultural Dictionary of Vietnam, Mentuchen, N. J. : The Scarecrow Press, Inc. 1976 và Lê Thành Nghiệp “Betonamu Erito-zo no Utsurikawari” (Biến Chuyển H́nh Tượng Giai Tầng Trí Thức Việt Nam) Josai International University Bulletin No. 2, Vol. 5, 1997)

[7] V́ vận động lật đổ chính quyển quân sự bakufu tiến hành qua danh nghĩa “trả lại quyền thống trị quốc gia” cho Thiên Hoàng.

[8] Sau đây là một vài dẫn dụ: Chính quyền bakufu gởi một số sinh viên du học Ḥa Lan vào năm 1862, 6 người du học Nga năm 1865, 12người du học Anh năm 1866, một số người du học Pháp năm 1867. Ở bậc địa phương, trong các năm này Choshu-han gởi một số người du học Anh, Satsuma-han gởi một số người du học Anh và Mỹ, v.v (dựa theo Bộ Giáo Dục và Khoa Học Kỷ Thuật, Gakusei Hyakunen-shi, 2010).

[9] Như tŕnh bày trong tiết 3-4, trong thời kỳ vàng son nền đại học Nhật có một khuyết điểm lớn là thiếu nhiệt tâm trong việc chuẩn bị sách giáo khoa và cải thiện phương pháp giáo duc.

[10] Biến chuyển xă hội cũng là một nguyên nhân đưa đến thuyên giảm lớn trong nhu cầu giáo dục trong phân loại đoản kỳ đại học. Trong các thập niên 1950, 1960 và 1970, các gia đ́nh khá giả thường cho con gái, em gái học bậc đoản kỳ như một điều kiện để lấy chồng, các hăng xưỡng cũng có khuynh hướng giới hạn nhân viên giới nữ tốt nghiệp đại học bốn năm.

[11] Theo nhật báo Asahi (Asahi-shimbun, ngày 8 tháng 10, 2010) th́ cho đến ngày nay, tính cả hai người nhận giải hóa học trong năm 2010, Nhật có tổng cộng 18 người lănh giải Nobel. Con số này được xếp vào hàng thứ bảy, sau Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Nga, Thụy Điển..Nhưng con số 8 người lănh giải trong thời gian 2000~2008 được xếp vào hàng thứ hai sau Mỹ.

[12] Review of Tertiary Education in Japan đăng trong Tertiary Education for the Knowledge Society (2008, www.oecd.org/edu/tertiary/review) cùng với phê b́nh về các quốc gia khác trong tổ chức OECD..

[13] M. Kaneko, “Japanese High Education: Contempory Reform and Tradition” ed. P. G. Altbach & T. Umakoshi, Asian University: Historical Perspectives and Contemporary Challenges, 2004 (Baltimore & London: Johns Hopkins)

[14]Cần tránh sự hiểu lầm khi bàn về phạm vi tự trị của đại học. Ở Nhật đại học quốc lập đặt dưới sự quyết định của chinh phủ trên mặt ngấn sách (v́ chính phủ trả lương cho giáo chức và gánh trả mọi chi phí ) và đại học tư lập chỉ được thành lập hoặc khuếch đại phạm vi hoạt động khi có được giấy phép của Bộ Giáo Dục (với mục đích kiểm soát năng lực) . Nhưng ngay các đại học quốc lập cũng có quyền tự trị trên việc bổ nhiệm nhân viên, như tuyển chọn hiệu trưởng, tăng chức giáo viên, v.v. Trong trường hợp tuyển chọn hiệu trường, thông thường giáo viên và nhân viên nhà trường bỏ phiếu quyết định, và Bộ Giáo Dục chỉ ra chỉ thị thừa nhận trên h́nh thức. Giáo viên cũng hoàn toàn tự do trên ngôn luận và tư tưởng chính trị. Các sự kiện như chuyên gia kinh tế, giáo viên đại học đương nhiên công kích một chính sách của chính phủ hoặc một hành động của thủ tướng trên báo chí không phải là chuyện lạ. Từ sau Đại Chiến thứ hai, nhận thức trong toàn xă hội Nhật nói chung và trong giới giáo chức Nhật nói riêng, là chính trị gia và các viên chức cao cấp trong chính phủ, kể cả thủ tướng và thành viên trong nội các, không phải là các “nhà lănh đạo” mà là người được quốc dân trả lương để phục vụ quốc dân.

 


® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

Cảm tưởng, ư kiến xin gởi về  Japan_OB@yahoo.com