32 NĂM XA XỨ:  ĐƯỜNG VÀO MỸ VÀ GIẤC MƠ HOA KỲ

Người viết: LÊ HIỀN - Bài tham dự số 3188-786-vb40423
Trích từ VietBao Online

Lê Hiền là bút hiệu của anh Lê Văn Hiền (Exryu 71 - Ashikaga daigaku). Anh Hiền đă được trao tặng giải thưởng đặc biệt với nhiều bài viết về nước Mỹ xuất sắc đăng trên "Thi Viết về nước Mỹ" do Việt Báo tổ chức.

 

CHUYỆN DU HỌC NHẬT

Cùng đi trên con đường hội nhập b́nh đẳng, làm thế nào thành công về một trong những Giấc Mơ Hoa Kỳ, đó là câu hỏi mà ai cũng muốn có một giải đáp cho riêng ḿnh. Đây chỉ là một phần đời sống hội nhập vào nước Mỹ của hàng trăm cựu sinh viên du học Nhật, đây cũng chỉ là tiếng thở than riêng lẻ có nhiều thiếu sót, không thể nói lên hết được những thăng trầm của tất cả anh em cựu sinh viên.

Giấc mơ Hoa Kỳ (American Dream) bao gồm sự thở hít không khí tự do: tự do tôn giáo, ngôn luận, hội họp, báo chí, những nổ lực làm ra của cải vật chất để thăng hoa thêm đời sống: work and wealth, những thành tựu về giáo dục của con cái: cử nhân, cao học, tiến sĩ, bác sĩ, luật sư, giáo sư, khoa học gia.

Phạm vi bài viết chỉ nói đến giấc mơ Hoa Kỳ (American Dream) nổ lực làm ra của cải vật chất, có được một căn nhà trú ngụ như bao người khác, hay cao hơn trở thành triệu phú. Và riêng tặng cho anh NXT người vừa đến nước Mỹ vài tháng cũng đang bắt đầu cuộc hành tŕnh khó khăn như tôi đă trải qua một trong những cựu sinh viên du học Nhật năm 1967, một tiến sĩ kinh tế, người vợ anh một bác sĩ không có đất dụng vơ trên đất Nhật. Anh đến đất Mỹ cũng chỉ v́ tương lai của con cái chứ không phải của anh nữa, anh tự hỏi ở cái tuổi 55 anh c̣n làm được ǵ? Giấc Mơ Hoa Kỳ có ǵ lôi cuốn mà anh một người đă gắn bó đời sống hơn 35 năm ở Nhật lại muốn đi Mỹ? Có lẽ anh là đợt di dân cuối cùng trong nhóm anh chị em.

Tôi cũng thân tặng các bạn DVD, PNB, LGB những nhân vật sống trong câu chuyện đă cùng tôi đi một quăng đường khá dài: 32 năm xa xứ, mong các bạn chữ đại xá nếu có đọc những ḍng viết này.

Giă biệt Saigon

Chiếc máy bay từ từ cất cánh, trên không trung nh́n qua cửa sổ, tôi vẫy tay chào tạm biệt khu phố Ngă Ba Ông Tạ, đường Thoại Ngọc Hầu, trường trung học Tô Ma thời đệ nhị cấp, chào cha mẹ thân quyến. Chào người t́nh trong mộng, người vợ tương lai chưa một lần gặp mặt, cô bé 14 tuổi dù chưa biết mặt vẫn chờ đợi tôi 11 năm sau trên đất Cali. Cái vẫy tay định mệnh tưởng là tạm biệt không ngờ đó là cái vẫy tay vĩnh biệt.

"Sài G̣n ơi tôi có ngờ đâu rằng

Một lần đi là một lần vĩnh biệt"

Cơn địa chấn lịch sử đang chuyển động ngầm từ từ để rồi rung động mạnh tạo thành làn sóng người Việt di dân tràn ra khắp thế giới. Không một ai ngờ trước.

NHỮNG NGÀY Ở NHẬT 1971-81

Máy bay hạ cánh xuống phi trường Đông Kinh vào mồng 5 tháng 2 năm 1971, tuyết đổ ngoài trời dầy đặc, mới đó ở Saigon cái nóng nhễ nhăi mồ hôi, vài tiếng đồng hồ sau tôi đă đặt chân đến thành phố Đông Kinh lạnh run người. Lúc đó là một giờ sáng khuya, tôi được 5 sinh viên đàn anh ra đón mang về căn pḥng trọ, tôi bầy bánh mứt kẹo và gị lụa để anh em hưởng chung cái Tết ta lần đầu tiên trên xứ người.

Sau buổi tŕnh diện xứ quán Việt được sự chào đón chân t́nh và những lời nhắn nhủ cố gắng học hành sau này về đóng góp cho đất nước, những ngày kế tiếp bắt đầu nhập học Nhật ngữ sửa soạn cho năm kế vào đại học.

Thường anh chị em tụ họp tại cư xá quốc tế Kokusai gồm đủ mọi sinh viên các nước đông nam á khác, để rồi sau đó mọi người tản mạn đi vào các trường đại học Nhật rải rác từ Bắc Hokaido xuống miền cực nam. Mỗi người sinh viên tuổi vừa đôi mươi không ai nói nhưng đều ngầm hănh diện là được học tại một quốc gia có nền kinh tế đứng hàng thứ hai thế giới.

Hắn cũng như tôi có may mắn được đi du học Nhật qua trước tôi vài tháng vào cuối năm 1970, sinh viên du học ở Nhật chia làm 3 thành phần: quốc phí là những sinh viên được học bổng chính phủ Nhật, quốc gia là những sinh viên được học bổng chính phủ Việt Nam, tư phí là những học bổng gia đ́nh. Tôi và hắn thuộc loại học bổng gia đ́nh nên sau ngày mùa hè đỏ lửa 1972, giá hối đoái tăng vọt lên bất ngờ học bổng gia đ́nh cũng bị cắt.

Cuộc biến động thứ nhất đẩy tôi và hắn phải lăn lưng vừa đi học vừa đi làm dokata ở nhà ga Takadano-baba. Nghề dokata là ǵ nghe sao có vẻ cao sáng chứ nhỉ? Dạ thưa, xin đó là nghề đứng bến, sáng sớm 5 giờ sáng đă phải ra ga xe lửa đứng xếp hàng lớp để cho các tay đầu nậu người Nhật mướn người lựa tựa như lựa cá rồi cho đi thu dọn rác rưởi ở các công trường xây cất, hay ở các địa đạo để làm đường rầy xe lửa. Làm nghề này chỉ cần một tuần thôi bảo đảm bạn sẽ giống dân homeless thứ thiệt, quần áo mặc đi làm nếu lười giặt là mùi chua bốc lên chịu không nổi, một tuần đi làm khi về nhà người bạn ê ẩm khỏi nói, bù lại tiền được trả hơi cao. Một tuần lương 35 ngàn Yen nếu chịu tiện tặn có thể sống một tháng để ngồi học tiếp. Mới đầu các cậu sinh viên chúng tôi hơi ngỡ ngàng, rồi sau cũng vào đấy. C̣n có một nghề khác kiếm tiền không kém nghề dokata là nghề khiêng hộp cá hay tôm trong các pḥng đông lạnh.

Nói đến việc vừa đi học vừa đi làm để hoàn tất văn bằng cử nhân quả là điều khó khăn. Những ai hoặc các bạn sinh viên trẻ nào đang ở t́nh cảnh này có lẽ hiểu thấu được điều tôi than văn. Những tháng ngày buồn khổ và tủi thân, buổi sáng thức dậy đầu nhức như búa bổ v́ cảm lạnh nh́n ra bầu trời từ căn gác trọ tuyết phủ trắng ngoài trời tôi chỉ c̣n biết kêu thầm "mẹ ơi sao con cực quá thế này" nhớ lại những ngày c̣n ở bên mẹ khi đau ốm được mẹ chăm sóc mua cháo già hay tô phở nóng về cho ăn. Tôi cũng như hắn và các bạn sinh viên khác đă làm đủ mọi nghề để mưu sinh từ quét dọn nhà cửa, hầu bàn rửa chén, làm cơ xưởng lắp ráp dép, cơ xưởng lắp ráp motor quạt máy, tiệm chơi game pachinko.

Pachinko là một tiệm chơi game b́nh dân nổi tiếng thu hút từ người trẻ cho đến già, những viên bi sắt được búng lên để thẩy vào lỗ, mỗi viên bi vào lỗ là có khoảng hơn 5 viên bi thắng được chuyển xuống hộp chứa, người thắng nhiều ngàn viên bi có thể đổi đồ chơi hoặc tiền mặt, có những tay chuyên nghiệp chuyên sống bằng nghề này. Tôi được thu nhận giúp việc cho tiệm game này, công việc chỉ là coi nếu có những viên bi nào vị kẹt giữa hai cái đinh, nh́n đèn chớp tôi đến gỡ viên bi ra vào bỏ vào lỗ, những công việc lặt vặt khác như quét nhà, thu dọn tàn thuốc lá của khách.

Sau giờ học khoảng 4 giờ là tôi bắt đầu đạp chiếc xe đạp lọc cộc đến tiệm làm việc cho đến 10 giờ tối, ăn uống th́ được cho ăn cơm với trứng sống quay bỏ vào trong bát cơm với một chút x́ dầu và món đậu hột tṛn ủ chua trộn với cơm nóng mà người Nhật kêu là natto, bữa nào ngon th́ được nguyên miếng cá bằng nữa bàn tay, có ăn là măn nguyện lắm rồi tôi đâu có cầu mong hơn. Làm xong về nhà đến tối th́ đă hơn 11 giờ, ôn bài vở cho đến hai ba giờ sáng cho ngày hôm sau.

Sau đó là làm hăng thêu h́nh trên vớ qua sự giới thiệu của thằng bạn Nhật với ông anh họ của nó, giờ làm cũng khoảng từ 4 đến 10 giờ đêm, ông anh họ thằng bạn thỉnh thoảng mua sushi cho ăn, tôi biết ăn món sushi từ lúc này, món này tương đối mắc ở Nhật. Công việc này tôi làm cho đến khi ra trường và may mắn được một hăng Nhật thu nhận qua lời giới thiệu của vị giáo sư dạy học trong trường. Một vài anh em đă không chịu đựng được sự chấn động tâm lư trở thành mát, có người trở về Việt nam trước 1975, có người sống lây lất cho đến sau biến cố thuyền nhân đă gia nhập hẳn đạo ngũ homeless Nhật lấy nhà ga xe lửa Shinjuku làm chỗ trú ẩn, anh đi qua Nhật du học để được đời ban thưởng cho một kiếp người nghèo tận cùng xă hội, nghe sao mà thảm thương muốn khóc. Qua ḷ luyện khổ này sinh viên du học Nhật sau này qua Mỹ sống đều vượt qua được hầu hết trở ngại. Đó là cái rủi nhưng mà đó là cái may mắn cho tôi và hắn đă có được một hành trang chịu đựng cực khổ để sửa soạn hội nhập vào nước Mỹ sau này.

Trong những ngày trước biến cố 1975, tin tức trên đài truyền h́nh Nhật chiếu rơ làn sóng đỏ từ từ bao bộc thủ đô Saigon, sinh viên hoảng loạn không c̣n ai có tinh thần học tập. Cư xá Kokusai tràn ngập những anh chị em sinh viên tụ tập lại từ khắp miền đất nước, tay nắm tay để cố cùng nhau trấn áp cơn sợ hăi, sự hoảng hốt tột độ trên mỗi khuôn mặt c̣n quá trẻ để chịu đựng. Biến cố 1975 xảy ra, sinh viên bị chấn động nặng nề về tâm lư nhiều người như điên lên, sau những hoang mang hốt hoảng những ai có thân nhân ở Mỹ hay ở Pháp th́ đều lũ lượt lên đường. Một số không nhỏ c̣n sót lại v́ không có thân nhân cha mẹ hay anh em bên Mỹ.

Nói chung dù đi trước hay đi sau các anh em sinh viên du học Nhật đều đă thành công tại xứ Mỹ, có những người đang làm giám đốc hoặc phó giám đốc của những chi nhánh công ty Nhật Bản hay công ty Mỹ, thông thạo cả hai thứ tiếng Mỹ Nhật, tiếng Việt th́ dĩ nhiên rồi. Điều này chứng minh rằng sự quyết định di dân vào Mỹ của các anh em là đúng, chỉ có xứ Mỹ mới mở rộng bàn tay chào đón và tạo những cơ hội thành công về mọi mặt đúng với khả năng của từng người. Hội cựu sinh viên du học Nhật Bản đă được thành lập mấy năm qua tại hai miền Bắc và Nam Cali, những buổi họp mặt hàng năm đă và đang được tổ chức. Tinh thần Sempai (tiền bối) và Cohai (hậu bối) vẫn được tôn trọng như thởu nào. Gặp nhau thường ôn lại những ngày làm dokata cực khổ nhưng mà vui. Người trẻ nhất cũng đă trên 50 tuổi, dù vậy mỗi người vẫn c̣n mang trong ḷng hoài băo như thởu sinh viên mong được đóng góp phần nhỏ cho đất nước Việt Nam, hoàn cảnh đất nước bây giờ chưa cho phép, trách nhiệm và bổn phận của anh em bây giờ là mỗi người cố gắng đào tạo ra thêm 2 hoặc 3 chuyên viên đó là những con cái của chính chúng tôi.

SỬA SOẠN ĐI MỸ 1980-81

Tôi đi làm cho hăng Nhật thấm thoát đă được mấy năm. Vào thời kỳ này làn sóng thuyền nhân đang lên cao độ, nh́n thấy ngày trở về Việt Nam thật sự quá xa vời, bố mẹ tôi bên Việt Nam và họ hàng bên Mỹ viết thư thúc giục qua Mỹ. Không kể số sinh viên đi qua Mỹ trước đó vào năm 1975 mà sau 6 năm trời đều đă an cư và lạc nghiệp. Làng sóng thuyền nhân ngày càng tăng đă là đ̣n bay để anh chị em sinh viên rời bỏ nước Nhật.

Thời kỳ sau này số sinh viên c̣n sót lại Nhật chia ra làm 3 hướng đi, người xin đi Úc, người xin đi Canada, c̣n lại đa số t́m đường vào Mỹ. Số sinh viên t́m đường vào Mỹ bằng nhiều cách, người th́ theo diện cha mẹ, người theo diện hăng xưởng, c̣n tôi di dân lậu bằng visa du lịch 3 tháng. Tôi lên xứ quán Mỹ nộp đơn xin đi du lịch, họ đ̣i hỏi tôi phải khai báo trong ngân hàng có bao nhiêu và tờ giấy cam đoan của hăng nói là tôi sẽ trở lại Nhật làm việc, ông xếp tôi rất sốt sắng kư ngay tại chỗ dù biết rằng tôi một đi sẽ không bao giờ trở lại Nhật nữa. Đi nộp đơn mà ḷng thấp thỏm chỉ sợ sứ quán Mỹ biết cái tẩy của tôi sẽ trốn qua Mỹ sau 3 tháng th́ khốn, tôi nghĩ sứ quán Mỹ biết được điều này nhưng họ bỏ lơ qua quư hồ tôi tŕnh đủ giấy tờ hợp lệ, ṭa nhà sứ quán Mỹ trông rất to lớn và bề thế, nhân viên gọi tôi vào pḥng riêng phỏng vấn khiến tôi muốn té đái, h́nh như cái mặt tôi có khắc chữ "Di dân lậu" sau đó họ nh́n tôi từ đầu đến chân như con quái vật. Cái nh́n của họ như muốn nói, ê tớ biết tỏng chú mày qua đó sẽ ở luôn khôn hồn th́ khai báo thật đi. Tôi đành phải gồng ḿnh nói láo thề thốt là sẽ trở lại Nhật làm việc.

Càng gần đến ngày đi Mỹ trong lúc làm việc tôi buột miệng huưt sáo bản quốc ca Mỹ khiến cho những người bạn Nhật cười ầm lên. Trước ngày đi Mỹ ông xếp tôi mời cả nhóm khoảng 10 người đến nhà làm một bữa tiệc tiễn đưa, bữa tiệc cảm động mọi người đều đề cập đến nước Mỹ, ôi thôi đủ mọi chuyện tốt xấu, nhưng tựu trung nước Mỹ vẫn là số một đối với những người bạn Nhật.

NHỮNG NĂM ĐẦU DI DÂN LẬU ĐẾN MỸ 1981-1982

Sau những mong chờ rốt cuộc rồi tôi cũng đặt chân đến được phi trường San Francisco, tay cầm visa tŕnh cho nhân viên kiểm soát, miệng khấn vái v́ lo sợ họ bắt giữ lại không cho vào, đúng là có tật th́ giật ḿnh. Chỉ khi tôi vượt được qua cổng bắt được tay thằng bạn lúc đó mới hoàn hồn.

Tôi đă vượt biên thành công bằng đường hàng không đến xứ Mỹ, ḷng tràn ngập niềm vui. Lần đi này tuổi đă 30 với một tâm trạng nữa vui nữa buồn, vui là v́ đă được đặt chân đến miền đất mà mọi người đều mơ ước, buồn v́ ḿnh là thân phận một di dân lậu, tương lai bấp bênh chưa biết đi về đâu. Thằng bạn thân đem hành lư ra rời khỏi phi trường hướng về thị xă San Jose, gớm mới có qua Mỹ mấy tháng màsao nó rành rọt đường xá Mỹ quá trời, tôi nể phục nó lắm lắm.

Tôi có may mắn sống trên đất Nhật đă thấy sự tiến bộ vượt bực của nước Nhật về kiến trúc nhà cửa cao tầng, những đường xa lộ rộng lớn, đường xá Tokyo chằng chịt với xe cộ đi lại, những siêu thị tân tiến, những trường đại học quy mô, phi trường quốc tế Narita tân kỳ, mà tôi vẫn thấy giật ḿnh v́ sự to lớn của nước Mỹ.

Trời tháng tư đen nên c̣n hơi lạnh, đêm nằm ngủ chập chờn v́ giờ giấc khác nhau, suy nghĩ vẫn vơ về tương lai chưa có định hướng, chân trời của kẻ di dân lậu c̣n mờ tịt xa tít, đâu là bến đậu, tôi đă rươm rướm nước mắt cho một cuộc đời c̣n mới đầy những bất ngờ trước mắt, sự cô đơn tột cùng. Di dân lậu cũng có nghĩa là tôi sẽ bị bắt và sẽ ở tù, không có việc làm sống vất vưởng.

Sáng hôm sau thằng bạn dắt tôi đi làm ID và xin thẻ social security dắt tôi đi chợ super market, dăy apartment nằm gần đường Center nơi tập trung hỗn độn giữa người Việt và Mễ. Lần đầu tiên được nh́n thấy tận mắt người Mễ họ to con và béo phệ, nước da bánh mật ngâm ngâm đen, tôi nh́n họ hoài không chớp mắt. Nh́n thấy họ đi trên những chiếc xe huê kỳ to lớn cồng kềnh mà thèm nhỏ dăi, ước ǵ ḿnh được một chiếc xe như thế. Tôi biết ḿnh nghèo c̣n thua cả giai tầng thấp cổ bé miệng. Nh́n họ sung sướng ăn uống ca hát có công ăn việc làm dù chỉ ở mức lương tối thiểu, tôi cũng chỉ cầu mong có thế. Thằng bạn cũng chịu khó bỏ thời gian tập lái xe cho tôi. Nh́n thấy nó chạy xe ào ào tôi khâm phục thật bởi v́ cả đời tôi đă được lái xe hơi bao giờ đâu. Hiện tại thằng bạn tôi đang ở San Jose có thú câu cá biển nên tậu chiếc tàu đánh cá to tổ bố, cuối tuần là vọt đi biển câu cá từ sáng sớm, đó là thú vui của nó.

Tháng sau tôi liên lạc được với người bà con ở dưới Long Beach, nhân tiện họ lên dự đám cưới trên San Jose hỏi tôi có muốn xuống dưới Long Beach sống không. Thân cù bơ cù bất th́ ở đâu chẳng là nhà thế là tôi OK liền. Buổi tối hôm sau được chở đi về từ San Jose xuống Los lần đầu tiên, chạy từ fwy 5 mới thấy nước Nhật về hệ thống xa lộ c̣n thua xa. Ít lâu sau có dịp ghé thăm nhà những người bạn cùng du học ở Nhật đă qua Mỹ năm 1975, nhà nào tôi cũng thấy to lớn và đẹp, cái ǵ cũng thấy sang, ḷng tự nghĩ không biết đời nào mới tới phiên ḿnh có được một căn nhà khang trang và rộng lớn như bọn hắn. Về nhà cảm thấy hoang mang và mất tự tin thấy con đường hội nhập vào Mỹ sao mà nó lê thê và dài ngoằn. Măi sau này khi từ từ hội nhập vào nước Mỹ tôi mới thấy là b́nh thường, nhưng thời điểm bắt đầu cuộc hội nhập th́ khác, ḷng mang nặng nhiều tự ti mặc cảm thua thiệt và muốn tránh né bạn bè. Có lẽ đây là cái tâm lư chung của những kẻ mới đặt chân đến xứ Mỹ như tôi.

Ở nhà bà bác được ít lâu tôi kiếm văn pḥng của cặp vợ chồng mới qua tỵ nạn được hơn một năm để share pḥng, mỗi tháng anh chị chủ tốt bụng chỉ lấy có lệ hai trăm c̣n được ăn thêm bữa tối. Tôi ở chung với 3 người bạn trẻ khác thêm tôi nữa căn pḥng nhỏ chật chội chứa đựng đến 4 người, chuyện tắm rửa th́ nhà khá đông nên cách 2 hoặc 3 bữa mới tắm một lần. Khu này nằm lẫn lộn với dân da đen. Đây là lần thứ nhất tôi được nh́n thấy dân da đen, thoạt đầu trông họ đen bóng nên cũng hơi sợ, sau riết rồi cũng quen, nhưng tôi có ǵ phải sợ họ chứ, những người da đen dễ thương bởi v́ tôi cũng đang là thành phần nghèo như họ, có ǵ khác biệt với họ đâu, có chăng chỉ là màu da.

Hàng ngày tôi vẫn phải dậïy sớm lúc 5 giờ sáng lên Los bằng xe bus vừa học thêm tiếng Mỹ vừa có thể gia hạn thêm visa vài tháng. Trường sinh ngữ này có khả năng xin gia hạn visa cho học viên. Có nhiều người da đen đi trên xe bus từ Long Beach lên downtown LA để làm việc, số tiền ít ỏi mang được từ Nhật cũng từ từ cạn dần, ăn không ngồi rồi th́ đến tiền núi cũng lở.

Học xong khóa tiếng Mỹ, công việc đầu tiên của tôi dự định là đi bỏ báo sau khi đă mua được chiếc wagon Pinto đời cũ rích đă hơn 200 ngàn miles. Chiếc xe thổ tả bốc khói mịt trời lâu lâu nằm ăn vạ ngoài đường, nhưng tuần sau đó kiếm được công việc sửa máy radio cassette khá hơn trong một hăng Nhật trong vùng Torrance, lương giờ lúc đó là 4 đồng, mừng hết lớn. Thật ra tôi cũng chỉ là một thứ di dân lậu dưới cái nhăn hiệu du lịch, nên gồng ḿnh đi làm lậu chứ đâu được phép chính phủ cho đi làm, người chủ Nhật thấy tôi biết nói tiếng Nhật nên họ cũng sẵn sàng giúp đỡ. Đă nghèo c̣n nghèo thêm, sống trong khu hỗn tạp nên chiếc xe cũ mèm của tôi cũng bị đập bể kiếng để lấy hộp đựng dụng cụ sửa xe.

Tôi vẫn sống như một di dân lậu, chưa có thẻ xanh th́ tôi đâu có thể xin làm việc chính thức, nhất là công việc kỹ sư. Người chủ họ hỏi tôi có bằng cấp ǵ không, tôi nói mới học hết trung học, chỉ sợ nói có bằng đại học họ không nhận th́ khổ.

Tháng sau nhờ có tiền đi làm ít ỏi tôi bèn dọn lên vùng Santa Ana mướn một pḥng riêng để share, tôi đă có được một chút riêng tư không phải như lúc chung đụng 4 người một pḥng, kể cũng đă khá, ăn uống th́ ra nhà hàng ăn Việt vùng Little Saigon. Vào năm 1982 nhà hàng rất ít, nơi đông đúc nhất là khu Bolsa Mini Mall. Khu phố Việt thời đó “đi dăm bước đă về chốn cũ.”

T́nh trạng ở chung nhà rất là phiền phức, tối đến nghe vợ chồng người chủ nhà căi cọ nhau đến mất ngủ, v́ là t́nh trạng vợ chồng chấp vá bên đảo, con anh con em, nên người chồng hạ cẳng chân cẳng tay hơi nặng. Tôi đă có dịp nh́n thấy những người dân Mễ nhiều hơn, v́ khu vực này đa số là dân Mễ nhập lậu.

THÀNH DI DÂN HỢP LỆ 1982-1988

Hạn visa du lịch sắp hết, tôi sắp trở thành kẻ di dân lậu, ḷng bồn chồn, tương lai như lớp sương mù dày đặc che phủ trước mắt, người vợ tương lai đâu sao vẫn thấy xa ngh́n trùng, cô bé 14 tuổi của tôi đâu sao tôi vẫn chưa t́m được em.

Những ngày sắp hết hạn là những ngày buồn chán, nh́n những người Việt đi theo diện di dân chính thức mà thấy thèm thuồng, một ước muốn nhỏ là trở thành người di dân chính thức mà cũng thấy khó khăn chập chùng.

Tôi ở lẫn lộn chung khu xóm đa số là những người di dân lậu gốc Mễ, những kẻ ngày ngày đứng trước sân chung cư hỗn tạp uống rượu tán dóc để cho hết đi những tháng ngày chui nhủi, tôi đang là một kẻ như họ không hơn kém, chẳng lẽ cuộc sống này là đoạn kết cuộc đời tôi.

Rồi việc phải đến đă đến, cô bé 14 tuổi nữ sinh Trưng Vương ngày nào chưa một lần biết mặt giờ đă trở thành một thiếu nữ 25 tuổi mặn mà, đă đến trong đời tôi như một giấc mơ. Nàng đến đúng lúc như vị cứu tinh, tôi như kẻ sắp chết đuối vớt được phao. Ngày hôm hai chúng tôi lên sở di trú xin di dân theo diện vợ chồng c̣n có được vài ngày phù du. Chỉ cần trễ vài ngày thôi th́ có lẽ cuộc đời tôi rẽ sang hướng khác, nhiều chuyện rắc rối sẽ xảy ra, tôi có thể bị giam và nhờ đến luật sư mà tiền bạc th́ không có. Nhạc phụ và nhạc mẫu thông cảm để cho chúng tôi làm giấy tờ với nhau theo luật định trước, sau đó mới làm đám cưới ngoài đời. Không có nàng và sự thông cảm của nhạc phụ và nhạc mẫu th́ có lẽ tôi đă sống kiếp di dân lậu vất va vất vưởng trên góc đường Euclid & Westmisnter.

Hai chúng tôi đă lên ṭa thị chính làm giấy tờ hôn thú, họ đ̣i phải đi thử máu, lại thêm một trở ngại mới, nếu chúng tôi có bệnh di truyền th́ coi như hôn thú không thành. Tuần kế lấy kết quả thử máu chỉ sợ có ǵ trục trặc. Nàng cũng trở thành kẻ thông dịch bất đắc dĩ v́ nhiều khi tôi nghe không hiểu được chỉ lơm bơm khi nào không hiểu tôi nh́n qua nàng cầu cứu. Sau những thủ tục rườm rà tôi đă được cấp giấy tạm cho đi làm, 3 tháng sau mới có thẻ xanh chính thức.

Mùa giáng sinh năm đó 1982 tôi mới có được một niềm vui trọn vẹn sau 11 năm xa xứ, đi bên một người t́nh người vợ mới cưới, hạnh phúc không ngờ. Tôi như cảm nhận d0ược khuôn mặt ḿnh rạng rỡ sau những lo âu được bỏ lại đằng sau. Xin chào những ngày di dân lậu sống phập phồng bất an.

Vợ chồng cũng là cái duyên số, qua sự giới thiệu của bà bác nàng biết tôi là ai mà dám lấy, nàng th́ cứ chối đây đẩy c̣n tôi th́ cứ ĺ điếc không sợ súng, rốt cuộc nàng cũng phải gật đầu gá nghĩa cùng kẻ cù bất cù bơ như tôi. Nàng sinh ra để làm vợ tôi không c̣n chọn lựa nào khác, ông trời h́nh như đă sắp đặt sẵn.

Vợ tôi qua Mỹ năm 1975, ở cái tuổi 18. Nghe nàng kể lại cuộc hành tŕnh đến Mỹ cũng không kém sôi nổi và cực khổ. Cũng như bao gia đ́nh khác, gia đ́nh nàng đă có mặt ở Vũng Tàu trước đó một tuần, ra đi bằng những thuyền thúng để rồi được hạm đội Mỹ vớt ngoài khơi. Tới Mỹ, là chị cả nàng đă đi làm phụ giúp gia đ́nh công việc quét dọn và chùi rửa cầu tiêu cho trường học mỗi tháng được hơn 200 đồng, nàng đă dấu mẹ nhưng sau bà cụ biết được đă khóc hết nước mắt v́ thương con.

Lương giờ 4 đồng th́ làm sao nuôi vợ. Được thẻ xanh tôi gởi giấy xin việc khắp nơi như bươm bướm để rồi chỉ nhận được những lá thư cám ơn. Vợ tôi an ủi nói tôi học tiếp cao học nàng sẽ đi làm để chi dùng trong gia đ́nh. Kể ra tôi cũng là kẻ may mắn, có một số bạn học du học Nhật cùng theo chương tŕnh di dân lậu như tôi mà măi mấy năm sau mới có thẻ xanh.

Cám ơn người bạn đường đă giúp tôi trong những năm đầu hội nhập vào Mỹ, cho tôi hết đi những cô đơn buồn chán, mang lại mùa xuân mới cho cuộc đời, con đường đă được nàng sửa soạn nhiều phần trôi chảy. Cám ơn người bạn đường đă cho tôi những đứa con kháu khỉnh ngoan ngoăn, đóng vai người mẹ hiền chăm sóc tôi và con cái trong những lúc ốm đau.

32 năm xa xứ tôi được ǵ, người vợ và 3 đứa con, đó là tài sản quư giá nhất mà tôi có. Nàng đă chăm sóc lo lắng cho tôi khi bệnh sa ruột phải mổ mất 2 tuần lễ, và những tháng trời cặp mắt tôi bị ḷa đi. Dù đi làm 8 tiếng như tôi về đến nhà nàng vẫn chu toàn bổn phận làm vợ, làm mẹ nấu cơm và dạy dỗ con cái.

Đang trong cơn túng bấn định trở lại học tiếp chương tŕnh cao học th́ thằng bạn cùng đi du học bên Nhật gọi lại nói có Job opening. Kiếm được công việc kỹ sư tập sự nơi hăng mới lănh được 10 đồng, tôi nhảy cẩng lên v́ mừng rơ. Đây là bước nhảy vọt vĩ đại đối với tôi thời đó, gọi điện thoại cám ơn thằng bạn rối rít, ông là cứu tinh của tôi đó biết không.

Vào sở làm ngày đầu tiên được dắt đi tham quan một ṿng trong hăng, khâu nào tôi cũng thấy người Việt, từ assemble line đến technician, đến warehouse, h́nh như có hơn một nữa là người Việt. Có lẽ tôi vào được hăng này cũng gián tiếp là do sự việc cần cù của các người Việt đi trước, và sự giúp đỡ trực tiếp của thằng bạn tôi.

Có thêm chút ít tiền chúng tôi dọn đến khu vực chung cư trên đường Newland gần ṭa thị chính Westminster có nhiều người Việt và tương đối dễ sống hơn. Xin chào biệt người anh em di dân lậu gốc Mễ, chúng tôi đă mướn được căn 2 pḥng riêng rẻ để ở, cho bỏ hết những ngày sống chung đụng 2 hoặc 3 gia đ́nh xa lạ, cái hạnh phúc nhỏ nhoi của kẻ di dân đến Mỹ được vài năm trời. Đổi hăng lần thứ hai th́ chúng tôi đă có dư tiền để mua một căn nhà ở, đó là vào đầu năm 1988, căn nhà nằm sau tiệm phở 79 góc Hazard-Brookhurst, cái vui mừng thật khó diễn tả khi có được căn nhà đầu tiên sau những năm sống trôi nổi, một giấc mơ nhỏ.

Sau đó tôi tạm rời thị trường nhà cửa để mở tiệm beer & wine, v́ trong những ngày đầu đến Mỹ tôi thấy một số người Việt đi vào ngành buôn bán này làm ăn cũng khấm khá, rồi tôi phải vội từ giă tiệm này sau một năm thử thách, công việc th́ dài giờ, nguy hiểm mà chẳng lời bao nhiêu. Có lẽ tôi đă chọn lựa không đúng địa điểm nên không có khách nhiều.

Từ công việc đầu tiên, sau nhiều năm làm việc, tôi đă trải qua bốn hăng điện tử hăng nào tôi cũng thấy người Việt chiếm hơn nửa, t́nh đồng hương thân thiết sẵn sàng giúp đỡ người mới, tôi không thấy có ǵ là chia rẽ hay ngầm hại lẫn nhau. Nếu có sự đụng chạm lẫn nhau là sự thường t́nh của con người, anh em trong nhà c̣n căi vă không ưa nhau mà nếu không hợp tính.

Có một giai thoại về thằng bạn này, số là ông xếp gốc Ba Lan sinh đẻ ở Mỹ có cái tật hay chửi thề. Nhiều lần ông "F" và chửi "bô-sit" đều chi khi máy bị trục trặc. Có lần hắn kể cho tôi nghe.

- F….you, mày chế tạo máy như "bô sịt" tôi hỏi hắn "bô-sịt" là ǵ v́ mới qua nên tôi không hiểu rơ, hắn bèn dịch ngay cho tôi hiểu đó là "cục cứt thối", mẹ thằng xếp nó chửi tôi là "cục cứt thối" ông ạ, thiết kế máy như đếch hư lên hư xuống, nhiều lần như thế tôi chịu không được, con giun xéo quá cũng oàn, tôi bèn quay lại hắn làm một lèo.

- F…you "bô-sịt you" mà cũng là cục cứt thối. Ông đếch làm nữa mày tự làm lấy một ḿnh đi.

Nói xong tất cả các nổi bực tức hắn bỏ về nhà một mạch hai ngày hôm sau không trở lại hăng. Ông xếp biết chắc lỗi do ḿnh trước, nên đă gọi điện năn nỉ hắn trở lại làm việc. Thằng này có bệnh "hào hoa phong thấp" lấy vợ rất sớm, đứa con đầu đă tốt nghiệp đại học 4 năm và đang học tiếp lên cao ở đại học UC Berkerly, đứa thứ hai sắp ra trường. Hiện tại chàng đang an nhàn hưởng thụ v́ con đă lớn không thích bon chen như thằng thứ hai tôi sắp đề cập đến.

CHUYỆN ÔNG BẠN TRIỆU PHÚ

Vào những năm 1975 đến 1976 những sinh viên du học Nhật nào nếu có thân nhân bên Mỹ đều được chính phủ Mỹ giúp đỡ cho đoàn tụ, thật là một chính sách nhân đạo hiếm có quốc gia nào như thế.

Có được chiếu khán nhập cảnh Mỹ hắn xin sứ quán Mỹ cho ở lại Nhật để hoàn tất văn bằng cử nhân và đă được chấp nhận. Tôi thua hắn ở điểm này v́ không có thân nhân nên măi đến năm 1981 mới đánh bạo nhập lậu vào Mỹ bằng chiếu khán du lịch, nếu không có bà xă tôi đă trở thành di dân lậu thực sự.

Qua Mỹ năm 1976, hắn cũng vừa đi học, vừa đi làm để hoàn tất thêm văn bằng cao học cơ khí, cũng nhờ những năm được đào luyện cực khổ ở Nhật nên cũng không lấy ǵ làm khó khăn, ra trường xong hắn có Job ngay, vào thời kỳ này sinh viên mới ra trường kiếm việc có vẻ dễ dàng. Có ít tiền hắn down mua một căn condo hai pḥng ngủ khoảng hơn 30 ngàn, vài năm sau hắn mua căn nhà 4 pḥng lớn hơn c̣n căn condo để cho thuê.

Con đường cùng hội nhập của hắn và tôi: 10 năm từ 1988 đến 1998.

Vào năm 1988 tôi đổi qua hăng mới, hăng này người Việt cũng chiếm hơn nữa. T́nh cờ trong buổi họp hàng tuần về vấn đề kỹ thuật th́ tôi gặp hắn, tay bắt mặt mừng hắn hỏi thăm về anh em c̣n kẹt lại bên Nhật.

Hắn cũng có một giai thoại. Có lần trong dịp review để lên lương hàng năm hắn không chịu kư tên bằng ḷng với số lương mới, hắn nói bỏ công nhiều sao được thưởng ít quá, công nhận thường th́ hắn làm việc trong sở rất trễ và giải quyết nhiều vấn đề hóc búa cho hăng. Nói đi nói lại không biết làm sao ông xếp bèn đưa tờ review lương của ông cho hắn coi, nè ông coi lương của ông c̣n cao hơn manager nhiều lắm, có đời thuở nào lương thuộc cấp hơn lương xếp, ông là trường hợp ngoại lệ, làm xếp của ông nhức đầu quá không biết tăng lương thế nào cho ông vừa ư.

Trong những hăng lớn thường khuyến khích nhân viên có những sáng kiến mới. Vào pḥng hắn thấy bày la liệt những tấm bằng sáng chế ước lượng cũng vào khoảng hơn chục cái, về điểm này tôi thua hắn xa lắc trong 10 năm làm cho hăng mà chỉ có được một cái bằng sáng chế. C̣n về stock option hắn mỗi năm mỗi được mà tôi chỉ được có một lần duy nhất, cũng hơi buồn cho tôi. Hắn dùng tiền thưởng này đem vào việc đầu tư nhà cửa luôn, có thể nói hắn tận dụng tất cả những nguồn tiền hắn có. Với số tiền 4 ngàn đồng tiền thưởng cho một bằng sáng chế, hăng thưởng 2 ngàn c̣n chính phủ thưởng thêm 2 ngàn nữa, hắn đă có được trong tay sấp sỉ gần 50 ngàn đồng, nếu tính trên 5% down hắn có thể mua được căn apartment bạc triệu.

Tiết kiệm cho đầu tư, đó là khẩu hiệu làm giàu của hắn. Vào nhà hắn những đồ đạt trang trí không có vẻ ǵ là một người có tiền. Chiếc tivi cũ to cồng kềnh và nặng đời tổng thống Nixon để ngay góc pḥng khách, ở giữa là bộ salon trong tầm thường người nghèo nhất nước Mỹ cũng có thể mua được. Những chiếc xe thường là đời cũ mua lại của người khác. Hỏi hắn là tại sao không mua sắm hắn chỉ cười và nói tiền này để dành vào việc đầu tư có lợi hơn.

Trông hắn có vẻ ngon lành quá tôi bắt đầu nhào vào thị trường nhà cửa trong lúc giá nhà đang xuống nhưng vẫn c̣n hơi cao, tôi mới chỉ có một căn fourplex th́ đă sất bất sang bang, than khổ thầm. C̣n hắn th́ đă có vài căn nhà, mấy căn duplex và fourplex cho thuê. Đi sâu vào việc cho mướn nhà mới cảm thấy phục hắn một con người chịu đựng dẻo dai. Có những lần vào hăng mặt mày lem luốc sơn với bộ mặt c̣n ngái ngủ. Tôi hỏi hắn làm sao trông thảm thế, hắn nói mới từ căn nhà sơn phết xong tối qua không ngủ để kịp cho khách mướn. Gặp tôi chắc là đợi cho đến ngày hôm sau mới làm tiếp, gấp gáp chi cho nó cực nhọc. Đó là điểm khác giữa tôi và hắn. Nhiều nhà th́ nhiều bệnh phải sửa chữa, hết chỗ này gọi cầu tiêu kẹt đến nhà kia kêu nóc nhà bị dột.

Sau đợt thuyền nhân, đợt di dân theo diện ODP, diện HO và diện con lai đă làm bùng nổ phong trào mua nhà cửa và apartment cho những người Việt di dân mới qua mướn, một điều không thể chối căi số người đi sau này cũng đă đóng góp không nhỏ vào sự thịnh vượng của Little Saigon và ngành địa ốc. Cái nh́n của hắn rất xa, hắn đă thấy được nhu cầu trước mắt.

Thời kỳ 1990 đến 1995 giá nhà xẹp từ từ xuống chỉ c̣n 120 ngàn đồng cho căn nhà 3 pḥng ngủ. Nhiều người đầu tư trong ngành địa ốc có nhiều căn nhà mua lúc giá cao không cầm cự nổi tiền nhà hàng tháng, họ đă bỏ của chạy lấy người. Tôi cũng là người mua căn fourplex trong thời giá cao vẫn c̣n có thể cầm cự được nhưng không đủ vốn mua thêm những căn khác. Đợi mọi người tháo chạy khỏi thị trường địa ốc hắn bắt đầu đi lùng kiếm mua những căn nhà giá rẻ hoặc bị tịch thu. Công thức trở thành triệu phú thật đơn giản:

Millionaire= 5% Investment+work hard+ right time

Hắn mua nhà không bao giờ down hơn 5% trên những giấy tờ mà hắn thường cho tôi coi khi offer, chính mắt tôi trông thấy có đến hơn 10 căn nhà mỗi căn chỉ vào khoảng trên dưới 120 ngàn đồng, hắn đă mua được với giá quá hời.

Mỗi căn hắn mua bằng cách mượn tạm từ credit card với 10 ngàn đồng từ credit card hắn có thể mua được căn nhà rồi, 6 ngàn đồng down và tiền giấy tờ 4 ngàn, 10 căn nhà hắn mua bằng 10 thẻ credit card khác nhau. Hắn là người hùng của thẻ tín dụng, càng mượn nhiều tiền hắn càng có uy tín với nhà băng.

Vào năm 1995, hắn bắt đầu mon men mua được 20 units sau khi đă chán những căn fourplex và duplex lẻ tẻ. Giá căn nhà này người chủ bên Florida tuổi đă hơn 80 đ̣i bán với giá 1 triệu rưỡi, biết là thời điểm bán khó, hắn ép người chủ bán với giá 1 triệu hai và chỉ down có 5%, 30% người chủ cho mượn, 65% hắn mượn tiền nhà băng. Thật sự khi mua căn 20 units này hắn không có tiền, làm sao để có 60 ngàn đồng down cộng với 10 ngàn tiền giấy tờ và tiền sửa chữa lặt vặt, vị chi tất cả gần 100 ngàn. Cái đầu computer tính toán rất nhanh, rồi đă có cách, hắn nói với tôi "Tớ sẽ mượn 50 ngàn đồng tiền về hưu trong 401K, làm loan lại căn nhà đang ở lấy ra 40 ngàn, c̣n 10 ngàn có ǵ đâu dễ ợt ông mượn từ credit card" thế là xong không có đồng nào mà hắn xoay sở có thể mua được căn apartment hơn một triệu. Tôi chưng hửng với cách tính toán của hắn thật táo bạo, chuyện như thể thần thoại và giởn chơi. Bà vợ hắn th́ cứ như ngồi trên đống lửa, sợ đến muốn rụng tim ra ngoài, c̣n hắn th́ vẫn tỉnh bơ như không. Tôi nói làm sao không kham nổi với số tiền nợ như chúa chổm, nếu giá nhà không lên mà xuống th́ chẳng lẽ nên khai phá sản và chạy làng. Hắn chỉ cười, ḿnh đến nước Mỹ với hai bàn tay trắng, th́ trở về với hai bàn tay trắng đâu có ǵ mất mát, rồi sẽ làm lại từ đầu cũng chưa muộn.

Cái quan trọng không chỉ là tiền bạc, làm sao hắn có thời gian để trông nôm nhà cửa mà không phải mướn manager, hắn chủ trương tự làm lấy tự sửa chữa lấy, chỉ khi nào kẹt lắm hắn mới mượn người. H́nh như suốt hai ngày thứ bảy và chủ nhật hắn chỉ nhông nhổng ngoài đường, sửa chữa cái này sửa chữa cái kia, đi làm về buổi tối là chạy thẳng đi coi các căn cho mướn đến đêm khuya mới về, mỗi ngày trung b́nh hắn chỉ ngủ từ 4 cho đến 5 tiếng.

Có thời gian cứ hai tháng hắn làm thủ tục đuổi nhà (evic) một lần v́ nhiều lư do, người mướn nhà trả trễ, ở ồn ào phá phách. Có lần hắn đi vào một căn nhà cho Mễ ở, thiếu chút nữa là hắn bị hại, tụi Mễ mặt thành nào cũng cô hồn các đảng dân buôn bán thuốc phiện đ̣i làm dữ hắn với cây súng hắn kịp chạy ra khỏi nhà và đi báo cảnh sát. Từ lần đó hắn rất cẩn thận không bao giờ nói chuyện thẳng mà nhờ luật sư lo. Gặp hắn tôi hay nói chuyện nhà cửa, để học hỏi kinh nghiệm nhưng không dám táo bạo như hắn, tôi đă để mất cơ hội làm giàu. Nhiều lần hắn thúc giục tôi mua thêm nhà.

TRIỆU PHÚ VÀ TRIỆU PHÚ BẤT ĐẮC DĨ 1998-03

Đầu năm 1998 hăng sập tiệm lỗ mất 1 tỷ tiền đôla tươi. Tôi và hắn bị đuổi sở, sau đó mỗi đứa đi hai hăng khác nhau. Thỉnh thoảng gặp lại, kể chuyện nhà cửa, tôi hay chọc hắn là nhà triệu phú. Chuyện tưởng giởn chơi mà không ngờ thành thật, chờ cơn sốt nhà cửa trong những năm 2000-2003, hắn đă thành công trở thành triệu phú, một bất ngờ hay là một tính toán trước. Cho đến bây giờ tôi mới thấy cái nh́n xa của hắn. Nhà cửa lên ào ào, căn 3 pḥng ngủ từ 120 ngàn lên đến 300 ngàn. Căn 20 units bây giờ rẻ lắm cũng phải hơn 2 triệu hai.

Con đường hội nhập vào nước Mỹ để trở thành triệu phú quả là chông gai. Hắn đă trở thành nhà triệu phú lúc nào không biết. C̣n phần tôi v́ lười biếng nên nữa đường găy gánh, giấc mộng của tôi mua thêm apartment thêm nhà cho mướn đă "tan theo ngày năng vội" tất cả cũng chỉ v́ cái tính ngại gian khổ, thay v́ phải mua thêm cuối năm 2001 tôi đă bán căn fourplex. Nhưng chữ nhưng dễ thương làm sao, đất Mỹ vẫn c̣n cơ hội để cho tôi trở thành triệu phú, chỉ cần hơn mười năm sau khi tôi trả xong món nợ nhà và cộng thêm số tiền hưu cá nhân 401K tăng trưởng theo nhịp độ 5% tôi sẽ trở thành triệu phú bất đắc dĩ, dẫu tôi muốn hay là không. Thực sự tôi vẫn muốn nghèo như bây giờ chả muốn thành triệu phú làm chi nhưng đất nước Mỹ sẽ không để tôi như thế. Chỉ có đất Mỹ mới có phép lạ triệu phú như vậy. Điều tôi muốn nói ở đây, Mỹ là đất của cơ hội nếu anh bỏ công ít th́ anh hưởng lợi ít, c̣n nếu anh bỏ công nhiều chịu cực khổ như hắn th́ sẽ được đền bù rất xứng đáng, nước Mỹ rất công bằng với tất cả mọi người cho mọi người di dân nhiều cơ hội nhưng chỉ đ̣i hỏi có một điều anh phải chịu khổ cật lực làm việc "work hard". Đất Mỹ đă và đang sản sinh ra hàng chục ngàn và sẽ nở ra hàng trăm ngàn triệu phú Vietnamese American. Trong cộng đồng Mỹ gốc Việt sau 27 năm trời hội nhập vào nước Mỹ đang có rất nhiều nhà triệu phú ngầm, chỉ có một biến cố nào đó người ta mới được biết đến. Hiếm có triệu phú nào ngay cả người Mỹ chơi banh như triệu phú gốc Việt tặng một lúc 2 triệu dollars cho nạn nhân 911. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây đó là tinh thần của di dân gốc Việt. Nhiều triệu phú là chủ khách sạn, chủ hăng, chủ nhà hàng, chủ những bất động sản, chủ nông trại, bác sĩ, kỹ sư, luật sư ….Có triệu phú Việt là người đứng bán tiệm Starbuck là một trong 13 nhân viên trúng Super Lotto, câu chuyện này đă trở thành giai thoại về con đường trở thành triệu phú, một may mắn bất ngờ, một triệu phú bất đắc dĩ. Ở xứ Mỹ này có cái lạ lùng, một ông già Mỹ ngày ngày đi lượm lon, những người láng giềng chung quanh cứ tưởng ông ta nghèo thường hay giúp đỡ ông cái này cái nọ, nhưng đùng một cái khi ông chết, ông đă để lại di chúc biếu cả triệu đồng cho cơ quan từ thiện. Is your neighbor a millionaire? Đó là câu hỏi người Mỹ thường hay hỏi. Bởi vậy đừng có nh́n một người Việt trung niên nhỏ con gầy g̣ ăn mặc lôi thôi lếch thếch lem luốc cáu bẩn những sơn và bụi ngày ngày lái chiếc xe pick up cà tàng móp méo thu dọn rác chung quanh thùng rác mà tưởng ông ta là dân homeless rồi cho ông ta một đồng v́ tội nghiệp, đó là một trong những nhà triệu phú ngầm. Đọc đến đây, xin đọc giả bỏ ra một phút nghĩ về chính ḿnh coi có thể quư độc giả đă và sắp là những triệu phú bất đắc dĩ, độc giả có bao nhiêu căn nhà, tiền hưu trí và tiền saving trong nhà băng. Oh my god, I am a Vietnamese American Millionaire, really. Yes, you are, xin đừng đánh giá ḿnh quá thấp.

Con đường hội nhập vào Mỹ không phải là con đường trải thảm, nó chính là con đường đầy chông gai. Ông có thể là bác sĩ, luật sư, kỹ sư, giáo sư ở xứ ông nhưng khi đặt chân đến nước Mỹ ông sẽ bắt đầu lại bằng đôi bàn tay trắng và bằng những công việc lao động cực nhọc lương chỉ vài đồng một giờ, nếu hiểu được điều này là ông đă đạt được một nữa giai đoạn thành công ở nước Mỹ, âu đây cũng là điều công bằng của nước Mỹ. Tôi và hắn cùng đến Mỹ với hai bàn tay trắng đều có cơ hội b́nh đẳng mà nước Mỹ dành cho họ, đều được trang bị "hành trang khổ cực" trong những ngày ở Nhật, tôi th́ ù ĺ c̣n hắn th́ trở thành triệu phú, cái ǵ đă làm hắn hơn hẳn tôi, có lẽ nhờ sự chăm chỉ chịu cực chịu khó và sự quyết tâm đi đến mục đích. Phải công tâm mà nói nhờ đi đến nước Mỹ mà những con người tầm thường như tôi và hắn mới có chỗ đứng, con cái một số người bạn đă vào được y khoa, mà vào được y khoa là một điều khó xảy ra trên đất Nhật nếu bạn là di dân. Cám ơn nước Mỹ là điều tôi ngại mở miệng, nhưng giờ phút này tôi không thể dấu ḷng ḿnh, dù sao tôi cũng đă là một công dân Mỹ: Thanks America, 32 năm xa xứ cuộc đời tôi đă biến chuyện theo vận mệnh đất nước, từ người sinh viên mặt búng ra sửa đă được thẩy vào đời lăn lộn trong cuộc sống, tưởng là yên giấc mộng trên xứ phù tang hoa anh đào, nhưng biến cố thuyền nhân đă lại đẩy đưa tôi đến xứ Mỹ sống chung đụng với những di dân lậu gốc Mễ, tưởng nghèo đến thế là cùng, ḍng đời lại đưa đẩy tôi trôi nổi đến khu vực trung lưu vùng Irvine sánh vai với những dân Mỹ trắng học thức, điều này h́nh như là một phép lạ, một American Dream.

Lê Hiền

    


Cảm tưởng về thơ văn của Lê Hiền xin gởi về : lehien@erct.com