Tuỳ bút Lưu An

Tôi một Swissmaker

( Người nhập tịch Thụy Sĩ )

Năm 1978, đạo diễn Rolf Lyssy người Thụy Sĩ cho ra thị trường một cuốn phim với đề tựa : Die Schweizermacher ( The Swissmakers ; Les Faiseurs de Suisses) Dịch nôm na ra tiếng Việt là “Những người nhập tịch Thụy Sĩ “, nội dung cuốn phim mô tả những thủ tục hành chánh rất phức tạp kèm theo nhiều góc cạnh mù mờ trong diễn biến liên quan đến việc xin vào quốc tịch của người ngoại quốc tại Thụy Sĩ. Thời gian và đường di chuyển của đơn xin qua các cơ quan chính phủ trung ương ( Federal ); tiểu bang ( Kanton ) cuối cùng là làng xă ( Gemeinde) là những vấn đề mà người xin phải vượt qua với rất nhiều khó khăn.

Việc thẩm xét không chỉ dựa trên giấy tờ, tài liệu cá nhân mà c̣n soi mói vào những điều riêng tư nơi làm việc,nơi sinh sống của người xin và có cả những cái mập mờ do cá tính của nhân viên xét đơn. Kết quả tốt hay xấu, kéo dài lê thê trong vô vọng… người xin cũng chỉ biết chấp nhận mà thôi. Trong khuôn thước một cuốn phim khoảng 90 phút dĩ nhiên không thể lột tả được tất cả những khác biệt hoàn cảnh của những người xin vào quốc tịch Thụy Sĩ nhưng cũng đủ cho người xem hiểu một cách khái quát về những nỗi trần ai khi muốn nhập tịch Thụy Sĩ. Nội dung cuốn phim kín đáo cho người ta biết một ứng viên muốn có quốc tịch Thụy Sĩ phải có những đức tính liên quan đến : - Tánh chăm chỉ ( hard working ) ; - Tánh ngăn nắp (tidy) ; - Tánh trầm lặng ( quiet) ; - Tánh đàng hoàng ( decent) ; - Sự sạch sẽ ( clean) ; - Tánh tự lập (defensive) ; - Tánh trung thực (intimate ), Tánh khách quan (neutral) và – Ḷng yêu Thụy Sĩ (fatherland-loving ).

Với những tiêu chí đó, ứng viên nhập tịch Thụy Sĩ, người trí thức hay lao động chân tay khi muốn thành công để lấy quốc tịch Thụy Sĩ họ phải hoàn toàn trong sạch trong xă hội, ít nhất không có một vết bụi nhơ nào liên quan đến pháp luật và tội phạm.

Trong phạm vi bài viết này tôi muốn nêu lên những điểm khái quát về đời sống, xă hội cũng như tổ chức chính trị của Thụy Sĩ để người đọc có cái nh́n trung thực về một quốc gia Thụy Sĩ nhỏ bé nhưng rất đáng nể, xứng đáng là một góc nhỏ của thế giới với quá nhiều ưu ái của thượng đế. Nơi đây người dân được bảo vệ gần như tuyệt đối trong cuộc sống, an toàn trong chính trị và kinh tế. Tôi sẽ dựa vào chính con đường Swissmaker của cá nhân tôi, kèm theo những hiểu biết về một vài người khác. Họ có thể là một người Việt Nam đến Thụy Sĩ dưới dạng tỵ nạn như tôi hay một người nhập cư khác từ Nhật bản, Thổ nhĩ Kỳ, Italy ..v..v.. đến Thụy Sĩ làm việc, học hành… rồi v́ một lư do nào đó họ cũng mong muốn nhập tịch Thụy Sĩ .

Vài hàng sơ lược về đất nước Thụy Sĩ

Thụy Sĩ là một quốc gia nhỏ ở trung tâm Âu châu, diện tích khoảng 41300 Km vuông ( tương đương đồng bằng sông Cửu Long của VN), nằm kẹp giữa 2 dẫy núi lớn của Âu châu. Dẫy núi Alpes chạy dọc theo biên giới vùng đông và đông bắc với Pháp, Ư, Áo và Đức và dẫy núi Jura theo bên giới hướng tây với Pháp. Hầu hết lănh thổ của Thụy Sĩ đều là vùng cao nguyên nên khi hậu của Thụy Sĩ lạnh như vùng cận bắc Âu châu.

Thụy Sĩ chiếm trọn thượng nguồn của 2 con sông lớn là sông Rhine và sông Rhône, với khoảng 1500 hồ nước lớn nhỏ, 2 hồ nổi tiếng và lớn nhất Âu châu là hồ Lehman (c̣n gọi là hồ Genève) và hồ Bodensee, diện tích mặt nước chiếm khoảng 6% toàn Thụy Sĩ. Với 48 ngọn núi cao trên 4000m, Thụy Sĩ đúng nghĩa là quốc gia của núi và cao nguyên, đỉnh Rosa cao nhất Thụy Sĩ với 4634m trong dẫy Alpes, không xa ngọn Mont Blanc cao nhất Âu châu (cao 4811m ).

Dân số Thụy Sĩ khoảng 8,5 triệu, với 23% ( 1.9 triệu ) là dân ngoại quốc (không có quốc tịch TS ), phần lớn là dân Âu châu như Đức, Ư, Pháp, Tây ban Nha, Bồ Đào Nha…dân Tamil (Siri Lanca ) khoảng trên 30000 người, là người gốc Á nhiều nhất. Khoảng 20000 người gốc Á khác gồm Việt Nam, Cambodge, Lào và Tibet, họ đến Thụy Sĩ dưới dạng tỵ nạn, phần lớn đă nhập tịch Thụy Sĩ.

Thụy Sĩ có 4 ngôn ngữ chính thức là Đức (73% dân số); Pháp ( 21%) ; Ư ( 5% ) và Roman (1%). Thành phố lớn của Thụy Sĩ là Zuerich với gần 400000 người; tiếp theo là Basel khoảng 200000 người; Genève 160000 người và Thủ đô Bern khoảng 150000 người. Là quốc gia nhỏ trên thế giới nhưng nền kinh tế rất vững mạnh và an toàn về mọi lănh vực, phân chia lợi tức có sự cân bằng xă hội thuộc hàng nhất thế giới, gần như không có người vô gia cư. Tổng sản lượng (GDP) của Thụy Sĩ luôn luôn thuộc top 5 của thế giới. Những sản phẩm made Thụy Sĩ luôn luôn được khắp thế giới tín nhiệm và yêu dùng như Dược phẩm, Vàng bạc, Đá qúi, Máy móc, Điện khí, Hoá chất; Đồng hồ, Thiết bị y tế, Thực phẩm, Chocolate, Babyfoods ..v..v… Ngoài ra các dịch vụ như Khách sạn, Du lịch; Ngân hàng, Bảo hiểm … đều thuộc top thế giới. Chỉ có khoảng 35% dân Thụy Sĩ có căn hộ hay nhà riêng, thuộc hàng thấp nhất Âu Châu v́ bất động sản tại Thụy Sĩ rất mắc do đất đại nhỏ hẹp. Tỷ lệ thất nghiệp của Thụy Sĩ thường ở khoảng 2 – 3%, hàng năm có nhiều trăm ngàn người lao động đến Thụy Sĩ làm việc dưới dạng theo mùa ( giấy phép làm việc 3 – 6 tháng ), phần lớn đến từ các quốc gia Âu châu yếu kém kinh tế hơn như Ư, Pháp, Tây ban Nha, Bồ đào Nha ..v..v...

Mọi cấp độ trong nền giáo dục của Thụy Sĩ, từ mẫu giáo, tiểu trung học đến cấp đại học cũng như hệ thống trường dạy nghề của Thụy Sĩ có thể nói vào hàng nhất thế giới nhờ chương tŕnh học rất qui mô bài bản từ khâu lư thuyết đến thực hành. Một quốc gia nhỏ mà đă có hơn 100 giải Nobel đủ lănh vực đă nói lên vị trí đáng cảm phục của một nước Thụy Sĩ nhỏ bé tại Âu châu.

Về môi trường thiên nhiên, Thụy Sĩ có chính sách bảo vệ môi trường thiên nhiên rất nghiêm ngặt, máy móc lớn nhỏ của cá nhân, công xưởng liên quan đến môi trường đều được kiểm soát hàng năm. Với 56% năng lượng từ Thuỷ điện, 39% từ điện hạt nhân và khoảng 5% từ dạng năng lượng khác, hiện nay năng lượng tái tạo ( gió, mặt trời, nước ngầm… ) đang được xử dụng càng lúc càng phổ biến. Với kết quả đó, có thể coi Thụy Sĩ là quốc gia duy nhất không có chất thải vào môi trường.

Liên bang Thụy Sĩ được thành lập đầu tiên vào năm 1291 với 3 tiểu bang, hiện nay có 26 bang gồm 20 tiểu bang và 6 bán tiểu bang. Theo hiến pháp liên bang th́ các bang đều b́nh đẳng về chính trị và địa vị trong liên bang. Mỗi bang đều có hiến pháp riêng, hội đồng nghị viên ( quốc hội ), Toà án (tư pháp ) và chính phủ (hành pháp ) riêng cho mỗi bang. Mỗi bang lại phân chia ra những làng xă ( Gemeiden) có nhiều quyền hành độc lập với chính quyền tiểu bang và liên bang. Tóm lại hệ thống phân chia quyền hành chính trị của Thụy Sĩ rất chi tiết, nhưng nhờ tinh thần trọng luật lệ, trọng ư kiến riêng tư và bản chất văn hoá của vùng miền nên guồng máy hành chánh của Thụy Sĩ rất trôi chảy. Vấn nạn đ́nh công hoàn toàn không có tại Thụy Sĩ bởi v́ giới công nhân và chủ nhân đồng ư với nhau phải giải quyết bằng cảm thông và bàn thảo.

Theo hiến pháp Liên bang năm 1848 th́ Thụy Sĩ được điều hành bởi 3 cơ quan chính trị :

-Cơ quan lập pháp gồm 2 viện do dân bầu ra, Viện Liên bang (Bundesrat) gồm 46 đại biểu, nhiệm kỳ 4 năm, mỗi tiểu bang 2 vị và bán tiểu bang có 1 vị. Viện Tiểu bang (Nationalrat) cũng do dân bầu ra , nhiệm kỳ 4 năm, số lượng tuỳ theo dân số.

- Chính phủ Liên bang ( cơ quan hành pháp ) gồm 7 thành viên, do lưỡng viện bầu ra từ 46 vị nghị viên liên bang. 7 vị này là cơ quan chính quyền trung ương, gồm 1 vị tổng thống, 6 vị khác là bộ trưởng của liên bang, cũng có nhiệm kỳ 4 năm. Riêng vị nắm vị trí tổng thống được thay đổi luân phiên trong 7 vị của chính phủ và mỗi nhiệm kỳ là 1 năm.

-Toà án Liên bang ( tư pháp ) có nhiệm vụ phân xử những bản án quan trọng do kháng nghị từ toà án liên bang hay tiểu ban gửi lên. Các vị thẩm phán của toà án liên bang được lưỡng viện quốc hội bầu ra với nhiệm kỳ là 6 năm.

Với hệ thống chính trị như vậy, Thụy Sĩ là quốc gia đa đảng có sự phân quyền rất rơ ràng dựa trên nền móng của một nền dân chủ khắt khe, trực tiếp từ người dân. Với 50000 chữ kư có thể đề nghị bầu lại một đạo luật của liên bang. Với 100000 chữ kư có thể đề nghị sửa đổi hay đưa ra một điều lệ mới trong hiến pháp của liên bang. Cũng với hệ thống phân quyền tương tự như vậy, tại các tiểu bang và làng xă những thay đổi hay thêm vào luật lệ mới trong địa phương, ư kiến của người dân luôn luôn được tham khảo. Việc bỏ phiếu để bầu đại diện trong hệ thống hành chánh, chính trị của Thụy Sĩ rất thường xẩy ra, 5,6 lần trong một năm là chuyện b́nh thường. Có thể bỏ phiếu bằng thư hay trực tiếp đến trong phiếu bầu luôn luôn có 3 vấn đề liên quan đến làng xă, tiểu bang và liên bang.

Ngoại kiều và quốc tịch Thụy Sĩ

Gần 2 triệu ngoại kiều đến Thụy Sĩ với nhiều mục đích khác nhau, nên Thụy Sĩ phân chia ra từng dạng thức để cấp phát các loại giấy nhập cư theo từng trường hợp. Chẳng hạn thẻ G ( Grenzgaenger ) cho dân cư sát biên giới sangThụy Sĩ làm việc; Thẻ L ( Kurzaufenthalt ) cho người làm việc theo mùa; Thẻ N ( Asylsuchende ) cho người chờ xét đơn xin tỵ nạn..v..v.. Bài viết đề cập nhiều đến 2 dạng thẻ cư trú khác quan trọng và thông thường hơn:

1.-Thẻ tạm trú B (Aufenthalts-bewilligung B hay Ausweis B).

Thẻ B dành cho sinh viên du học, tỵ nạn, làm việc ...v..v.. tại Thụy Sĩ lâu hơn 1 năm, thẻ này phải xin gia hạn hàng năm. Khi làm việc hay thay đổi chỗ ở phải xin phép tiểu bang.

2.-Thẻ định cư C (Niederlassungs-bewilligung C hay Ausweis C).

Thẻ C dành cho người được cư trú dài hạn, giống như thẻ xanh tại Mỹ. Mỗi 3 năm xin gia hạn một lần, có quyền làm việc và cư trú như dân Thụy Sĩ trừ một số việc dành riêng cho dân Thụy Sĩ như quân đội, cảnh sát …

3.-Điều kiện đổi từ thẻ B sang thẻ C.

Theo luật định th́ cần 10 năm cư trú, làm việc và kèm theo điều kiện làm việc tốt, không phạm luật… sẽ được chuyển từ t́nh trạng tạm cư ( thẻ B) sang cư trú định cư ( thẻ C). Tuy nhiên có vài trường hợp ngoại lệ thu ngắn thời gian:

-Với những công dân thuộc các quốc gia bên cạnh như Pháp, Ư, Đức, Áo, Lichstenstein hay kết hôn với công dân Thụy Sĩ hay người ngoại quốc đă có thẻ C th́ thời gian chuyển tử B sang C chỉ cần 5 năm.

-Người tỵ nạn đến Thụy Sĩ dưới chương tŕnh nhận người tỵ nạn như người Hung Gia Lợi (1956) ; người Tibet (1961) ; người Tiệp Khắc và Nam Tư (1968) ; người Uganda (1972) ; Người Chile (1973) hay người Vietnam, Cambodge và Lào ( năm 1975-1979), khi vào Thụy Sĩ họ được ngay thẻ tạm cư B và sau 5 năm được chuyển sang thẻ C.

Nhóm người khác, họ đến Thụy Sĩ dưới dạng bộc phát, không có chương tŕnh thu nhận tỵ nạn của Thụy Sĩ, chẳng hạn như người Tamin (Sri Lanka) hay người từ các quốc gia Bắc Phi châu vượt biển rồi t́m cách vào Thụy Sĩ. Nhóm người này thuộc diện “ chờ xét đơn tỵ nạn” với thẻ N ( Ausweis N, Asylsuchende ). Họ được phép đi làm nhưng với khá nhiều điều kiện khắt khe và có thể bị hồi hương nếu điều kiện cho phép. Dạng thẻ N này cũng phải chờ 10 năm kèm theo khá nhiều điều kiện khó khăn mới được chuyển sang thẻ C.

4.-Điều kiện nhập quốc tịch Thụy Sĩ.

Gần như hầu hết người nhập tịch Thụy Sĩ thường đă có thẻ C. Theo luật lệ muốn nhập tịch phải cư trú tại Thụy Sĩ ít nhất 12 năm, kèm theo nhiều điều kiện khác của tiểu bang( Kanton) hay làng xă ( Gemeinde). Phần lớn người tỵ nạn Đông dương nhập tịch không có ǵ khó khăn nhờ sự cảm thông của chính quyền, trừ một số ít v́ có vấn đề với pháp luật, không hoà thuận với hàng xóm, dựa dẫm vào trợ cấp xă hội, trên 60 tuổi ..v..v.. nhưng họ vẫn sở hữu thẻ định cư C. Kết hôn với công dân Thụy Sĩ hay đến Thụy Sĩ ở tuổi từ 10 đến 20 tuổi, thời gian sống tại Thụy Sĩ được tính gấp 2 lần ( 6 năm thay v́ 12 năm ).

Thời gian xét đơn nhập tịch không được xác định rơ ràng, tuy nhiên với người tỵ nạn nếu không có ǵ bất thường th́ cần khoảng 1 đến 2 năm. Đơn xin nhập tịch sẽ được thẩm xét từ làng xă đến tiểu bang và sau cùng lên liên bang. Khi Liên bang xét và chuẩn thuận sẽ chuyễn trở lại cho tiểu bang rồi làng xă để thẩm xét lại một lần nữa kỹ lưỡng, chi tiết hơn để chấp nhận hay từ chối người xin là công dân của tiểu bang và làng xă hay không. Giai đoạn thẩm xét này rất quan trọng v́ trải qua nhiều thủ tục rất tế nhị của tiểu bang, nhất là của làng xă. Người xin sẽ phải gặp trực tiếp nhân viên của chính quyền tiểu bang và làng xă nhiều lần, như sở cảnh sát, sở thuế hay cơ quan hành chánh để khảo sát về khả năng ngôn ngữ, hiểu biết về văn hoá, xă hội Thụy Sĩ, xét đoán trực tiếp phẩm chất của người xin nhập tịch ...v..v.. Cuối cùng, đơn xin nhập tịch được quyết định bởi phiếu bầu của các nghị viên làng xă.

5.-Những góc cạnh thực tế.

Thụy Sĩ là quốc gia thịnh vượng, thu nhập cao, yên b́nh, xă hội và chính trị không lộn xộn… nên nhiều người trên thế giới kể cả những quốc gia giàu có Âu Mỹ cũng mong có có dịp để sở hữu quốc tịch Thụy Sĩ, v́ vậy việc nhập tịch Thụy Sĩ rất khó khăn v́ thủ tục phiền phức từ những rào cản của diễn gỉăi luật lệ trong thực tế. Bài viết cố gắng thu gom những hiểu biết thực tế để giúp cho những ai có ư định đến Thụy Sĩ định cư, hiểu rơ vấn đề một cách rất trung thực để không bị thất vọng v́ toan tính của ḿnh không như ư. Có thể nói đến Thụy Sĩ mong t́m được thẻ định cư C của một người ngoại quốc cũng đă là chuyện rất khó khăn rồi, c̣n việc nhập tịch để thành dân Thụy Sĩ, đúng là một chuyện gần như rất hiếm hoi vậy.

Tôi biết một gia đ́nh Việt Nam gồm bố mẹ và 5 người con, người con trai cả và 2 cô em gái kế đều trên 20 tuổi, họ đến Thụy Sĩ trong chương tŕnh tỵ nạn vào năm 1978. Gia đ́nh được nhóm bảo trợ giúp t́m nhà ở, việc làm cho ông bố và 3 người con lớn. Có lẽ v́ khác biệt văn hoá, ư thức cộng đồng chưa tốt với nếp sống mới nên rất thường có những rắc rối với dân cư sống trong cùng chung cư. Những cảnh ồn ào v́ âm nhạc, phim ảnh, karaoke, tụ họp bạn bè đánh bạc, ăn nhậu, đi tối về khuya … gây nhiều phiền hà cho chung cư. Nhất là ông con trai nhiều lần rắc rối tiền bạc với dịch vụ mua bán trả góp. Cảnh sát khu vực đă phải nhiều lần đến tận nhà giải quyết v́ những lộn xộn với hàng xóm và công ty bán trả góp. Nhưng cũng đúng 5 năm theo nguyên tắc ưu ái cho người tỵ nạn họ đều được thẻ định cư C như hầu hết người Việt tỵ nạn khác. Nhưng khi đủ 12 năm, xin nhập tịch, đơn của họ đă bị từ chối ngay tại điểm khởi đầu (làng xă ) với lư do không đủ phẩm chất, c̣n bố mẹ v́ trên 60 tuổi. Với hiểu biết của tôi qua khá nhiều người quen biết gốc Nam Tư, Italy, Spanien…đă qua mấy thế hệ nhưng con cháu họ vẫn là người ngoại quốc tại Thụy Sĩ dưới dạng thẻ định cư C. Với gia đ́nh người Vietnam này, tôi nghĩ họ cũng sẽ như vậy v́ họ đă làm mất sự ưu ái đặc biệt của chính phủ Thụy Sĩ dành cho người tỵ nạn Đông dương để có pasport Thụy Sĩ.

Một trường hợp khác, cũng rất đặc biệt mà tôi có chút liên quan. Vào khoảng năm 1986, tôi làm việc cho một viện khảo cứu về dinh dưỡng, thời gian đó tỷ lệ thất nghiệp của Thụy Sĩ ở khoảng 0.5 – 1.0% là vấn đề khốn khổ cho chúng tôi, v́ t́m không có nhân viên thí nhiệm. Nếu t́m được một người, mất 3, 4 tháng đầu tiên chỉ dẫn họ vừa quen công việc th́ đúng lúc họ làm đơn xin nghỉ v́ t́m được nơi khác nhiều quyền lợi hơn. Chính v́ vậy thời gian đó tôi “cày” muốn phờ phạc, đi sớm về khuya, nhiều khi cuối tuần cũng phải dẫn vợ con chơi đùa trong khuôn viên của viện c̣n ḿnh lên labor làm cho xong việc.

May mắn, qua giới thiệu chúng tôi t́m được một cô Thái Lan vừa tốt nghiệp sinh hoá (Biochemistry) của đại học Bern và vừa xong 6 tháng thực tập tại một công ty hoá chất. Qua thư xin việc và phone tôi được biết cô ta có thẻ B và là con gái của một nhân viên cao cấp của toà đại sứ Thái lan tại Thụy Sĩ. Cô ta theo gia đ́nh đến Thụy Sĩ học vài năm cuối trung học rồi ở lại Thụy Sĩ tiếp tục học đại học dù ông bố hết nhiệm vụ đă về lại Thái Lan. Chúng tôi cấp giấy tờ cho cô ta bổ túc hồ sơ xin giấy phép làm việc của kanton Zuerich v́ cô ta có thẻ B. Tưởng rằng mọi chuyện trôi chảy, nhưng cơ quan cảnh sát không đồng ư. V́ quá cần nhân viên nhất là cô ta quá chuẩn cho công việc, ông viện trưởng đă viết thư, điện thoại trực tiếp lên sở di trú của tỉnh và được họ cho biết là cô ta đă đến Thụy Sĩ lúc 18 tuổi, học đại học và thực tập tại công ty hoá học tổng cộng 5 năm, như vậy tổng cộng thời gian sống tại Thụy Sĩ theo luật th́ chỉ c̣n khoảng gần 2 năm nữa là cô ta được quyền chuyển từ thẻ tạm cư B thành thẻ định cư C, điều này thành phố không muốn cho cô ta giấy phép làm 1 năm mà chỉ cho phép 6 tháng mà thôi. Rồi với rất nhiều than van, thảo luận, cuối cùng sở di trú bằng ḷng cấp giấy 1 năm và là nhân viên lâu dài của viện, nhưng chỉ được làm có lương 6 tháng sau đó viện sẽ cho cô ta nghỉ không lương để về Thái lan hay đi đâu ngoài Thụy Sĩ khoảng 6 tháng. Khi trở lại tiếp tục làm việc th́ cô ta đi lại từ đầu với thẻ B (theo luật không sống ở Thụy Sĩ quá 6 tháng ) và không thể xin dễ dàng thẻ C được.

V́ quá cần nhân viên, nhất là cô ta quá tốt cho công việc nên chúng tôi đành phải chấp nhận giải pháp “ xiêu vẹo “ đó. Dĩ nhiên chúng tôi cũng nói rơ vấn đề cho cô gái Thái Lan hiểu rơ sự việc. Cô ta bằng ḷng vào làm việc, chỉ sau vài tuần lễ, cô ta bắt nhịp với chúng tôi rất tốt. Rồi đúng 6 tháng làm việc cô ta phải về Thái lan như dự định. Nhưng chỉ khoảng 3 tháng sau từ Thái lan, cô ta điện thoại cho biết là không có ư định sang Thụy Sĩ làm việc nữa v́ đă có được một công việc rất tốt tại một bệnh viện quốc tế tại Bangkok và chuẩn bị lập gia đ́nh với môt người bạn cùng ngành từ Mỹ về. Dù không c̣n làm việc với nhau nhưng gia đ́nh tôi và gia đ́nh cô ta cho đến nay vẫn giữ t́nh bạn rất thân thiết, thăm viếng nhau mỗi khi có dịp.

Trường hợp khác cũng tương tự, một người bạn Nhật thân thiết của gia đ́nh tôi, khoảng năm 1987 anh ta làm cho chi nhánh ngân hàng Mitsubishi tại Zuerich vào lúc kinh tế Nhật bản phát triển rất mạnh. Nhưng khi kinh tế Nhật bản suy thoái anh ta bị mất việc và xin vào làm cho ngân hàng UBS của Thụy Sĩ được khoảng 3 năm, nhưng sau đó khi xin gia hạn thẻ B, cũng bị vấn đề tương tự như cô Thái lan. Cuối cùng anh ta phải chuyển sang làm việc cho chi nhánh UBS tại Luxembourg khoảng 1 năm rồi mới trở lại Thụy Sĩ cũng với thẻ tạm trú B và đi lại từ đầu.

Đó là sự thật, tôi chỉ nêu lên vài trường hợp điển h́nh để nói lên cái góc cạnh thực của thực tế. Việc vào Thụy Sĩ mong có một cái thẻ định cư C cũng không dễ huống chi cuốn passport của Thụy Sĩ ! Với khoảng gần 2 triệu người ngoại quốc trong một quốc gia với khoảng 6 triệu dân bản xứ, phải có những rào cản cho việc nhập cư cũng là lẽ tự nhiên mà thôi. Nếu suy nghĩ sẽ thấy một hăng xưởng hay cơ quan không thể nào thu nhận một người vào làm việc trong một vị trí tàm tạm là cao cấp khi người đó chỉ có thẻ B với t́nh trạng cư trú tạm thời. Ngay cả với người có thẻ C, trên lư thuyết có quyền hạn gần như dân bản xứ nhưng thực tế vẫn có những khác biệt tế nhị mà người ta phải hiểu rơ. Đó cũng là một rào cản dành ưu tiên cho người có quốc tịch Thụy Sĩ mà thôi, nhất là Thụy Sĩ chỉ cần thành phần lao động trong sản xuất hơn là giới quản trị ở phía trên.

Thực tế là như vậy, nó hoàn toàn không đúng với một lần ngẫu nhiên tôi tạt vào một đại sảnh đường trên đường Đồng Khởi ( Công Lư cũ ). Hàng trăm ông cha, bà mẹ cùng với những đứa con đến nghe một nhóm người của một công ty dịch vụ du học Thụy Sĩ, nói về những ưu ái, tốt đẹp khi du học Thụy Sĩ. Nào là vừa học vừa làm thêm kiếm ít nhất 2000 hay 3000 USD/tháng dư đủ cho tiền học phí, bảo hiểm và nhà cửa ..v..v.. Rồi khi tốt nghiệp xin được việc làm với số lương èo nhất cũng 4000 – 5000 USA/tháng kèm theo biết bao nhiêu phụ cấp ..v..v.. và ..v..v.. Nghe họ quảng cáo, tôi lắc đầu, thở dài im lặng rời xa, bởi v́ đó chỉ là những cái bánh vẽ không bao giờ có thật ! Dĩ nhiên cũng có sự may mắn nào đó, nhưng chỉ là một trường hợp rất hiếm hoi, đặc biệt mà thôi.

Tôi, một Swissmaker

Tôi cũng như nhiều người VN tỵ nạn khác tại Thụy Sĩ, đă là những Swissmakers thành công, dù con đường đến đích của mỗi người có những khác nhau nho nhỏ. Sự khác nhau đó có thể từ luật lệ của địa phương nơi ḿnh sinh sống hay v́ bản chất tốt xấu của mỗi người trong sự thẩm xét của nhà cầm quyền Thụy Sĩ ..v..v…Tuy nhiên không ai dám phủ nhận yếu tố may mắn hay xui xẻo đă đóng góp vào sự nhanh chóng hay dài lâu, khó khăn hay dễ dàng cho sự việc. Trong phần này tôi sẽ mô tả về con đường Swissmaker với vài điều rất lư thú của tôi, như kể một câu truyện t́m vui trong tuổi già của một ông lăo đă bước vào tuổi 75 khơi lại một kỷ niệm cuối đời của ḿnh trước khi ra đi về với cỏ cây, cát bụi. Có lẽ trước khi vào chủ đề con đường Swissmaker của ḿnh, tôi muốn tóm tắt sơ sài con đường đến Thụy Sĩ của tôi để câu truyện có phần thoáng khoát, dễ hiểu hơn cho người đọc.

Đầu năm 1979 tôi từ Nhật bản đến Thụy Sĩ với visa du lịch, rồi nhờ có thân nhân tại đó tôi đă nộp đơn xin tỵ nạn, nhờ vài ba người bạn Thụy sĩ, nhất là những tờ giấy giới thiệu ( references ) tuyệt hảo về phẩm chất và chuyên môn của tôi từ vị giáo sư đỡ đầu chương tŕnh học của tôi và cũng là giám đốc phân khoa thực phẩm của Đại học Kagoshima nơi tôi đă tốt nghiệp. Đặc biệt sau khi tốt nghiệp ông giới thiệu tôi đi làm và giúp tôi tham dự vào một chương tŕnh cộng tác khảo cứu của ông với một nhóm giáo sư đại học Canada sự đào thải hợp chất Thuỷ ngân ra khỏi cơ thể con người sau khi bị nhiễm do ăn hải sản lậm độc tại các vùng biển gần khu kỹ nghệ. Công việc của tôi là dựa vào sự hấp thụ quang phổ của nguyên tử thuỷ ngân trong phẩm vật khi bị đốt cháy bởi nhiệt độ cao qua máy đo ( Atomic Absorption Spectrophozometer AAS ), loại máy rất tân tiến thời bấy giờ, được Mỹ phát minh khoảng 5, 6 năm. Công việc của tôi là đo lường chất độc hại này được thải ra khỏi cơ thể con người bằng đường râu, tóc, lông, c̣n các pḥng thí nghiệm khác đo lường sự đào thải qua phân, nước tiểu, qua da, qua máu..v..v... Đó là một vấn đề liên quan đến môi trường đang được thế giới chú ư và lo lắng ở thời điểm đó.

Với những lời giới thiệu quá tốt của vị giáo sư, cũng phải kể đến những giấy khen tặng của công ty nơi tôi làm việc tại Nhật bản. Thêm vào sự giúp đỡ của người bạn Thụy Sĩ tôi đă được nhận vào Thụy Sĩ dưới dạng người VN tỵ nạn rất nhanh chóng và làm việc khảo cứu cho đại học bách khoa zuerich (ETHZ) dưới vị thế một người phụ khảo (Assistant). Làm việc ở đó được khoảng gần 4 năm tôi theo vị giáo sư sang làm cho viện khảo cứu về dinh dưỡng ( Intitute of nutrition ) được khoảng gần 10 năm th́ viện khảo cứu đóng cửa, tôi được chuyển về Trung tâm kiểm tra thực phẩm ( Central Labor) chuyên đo lường những chất độc hại c̣n sót trong thực phẩm biến chế . Làm việc tại đây được khoảng hơn 2 năm tôi bị di ứng với hoá chất quá mạnh, phải giảm thời gian làm việc trong pḥng thí nghiệm từ 50%, rồi 75% và chấm dứt vào năm1995 khi tôi chuẩn bị tuổi 50. Tôi phải giă từ công việc liên hệ đến hoá chất, người bạn tâm giao, chân thành đă theo tôi từ ngày c̣n cực nhọc sống, làm việc tại VN, rồi theo tôi sang Nhật bản, tiếp theo là Thụy Sĩ nơi đă giang rộng bàn tay đón nhận, cho tôi chốn định cư để tiếp tục mầy ṃ với hoá chất… Đúng như vậy Thụy Sĩ đă nuôi sống tôi, cho tôi biết bao nhiêu niềm đam mê, học hỏi về hoá thực phẩm và dinh dưỡng. Nhưng biết làm sao khi căn bệnh lạ kỳ đă chen vào bản nhạc đam mê của tôi, để rồi tôi phải rời xa người bạn tâm giao đó trong tiếc nuối.

Đúng 12 năm cư trú tại Thụy Sĩ, đủ điều kiện, tôi làm đơn xin nhập tịch để thành một Swissmaker và tôi đă thành công một cách ngoạn mục, nhanh chóng không ngờ khi đó tôi vừa 47 tuổi. Chỉ với khoảng khoảng 11 tháng trời sau ngày nộp đơn tôi đă có cuốn Passport mầu đỏ chói của một công dân Thụy Sĩ, so với rất nhiều người khác phải chờ đợi nhiều năm. Trong cái khoái cảm của một người may mắn, tôi sẽ dùng khả năng văn chương, chữ nghĩa để mô tả con đường đi Swissmaker của tôi, qua những giai đoạn mà mỗi khi tôi nhớ lại vẫn cho tôi cái cảm giác thú vị, cười vang.

Nếu nhớ không lầm, tôi đă tốn khoảng 700 Sfr phí tổn (thời điểm 1992 ) cho hồ sơ xin nhập tịch của tôi và 3 đứa con nhỏ dưới 10 tuổi ( vợ tôi không xin ). Khoảng hơn một tháng sau tên chúng tôi đă có trong danh sách người xin nhập tịch trên tờ công báo Zuerich – Tageblatt, nghĩa là đơn xin đă bước vào ṿng đi, tức là ṿng thẩm xét sơ khởi của thành phố rồi lên tiểu bang và Liên bang. Sau khi Liên bang thẩm xét tổng quát sẽ gửi trở lại cho tiểu bang và cuối cùng là thành phố, đó là ṿng về. Ṿng này rất quan trọng với những cuộc thẩm vấn, điều tra rất kỹ lưỡng, thất bại hay thành công đều do ṿng này quyết định. Với con đường đi của ṿng về, tôi đă được gọi lên văn pḥng của tiểu bang và thành phố tổng cộng 3 lần.

a.- Lần thứ nhất, sở cảnh sát tiểu bang (Kanton Polizei ). Có lẽ khoảng 4,5 tháng sau khi có tên trên báoTageblatt tôi nhận được giấy mời lên văn pḥng cảnh sát tiểu bang ( Kanton-Polizei). Phỏng vấn tôi là một sĩ quan cảnh sát, với một xấp hồ sơ trên bàn, ông ta hỏi tôi về tất cả những diễn tiến của đời tôi, từ nơi sinh ra, học hành, làm việc,vào quân đội… tại VN cũng như tại Nhật bản. Sau đó ông ta hỏi sự hiểu biết của tôi về Thụy Sĩ liên quan đến lịch sử, văn hoá , kinh tế ..v..v.. Qua khoảng gần một giờ đồng hồ hỏi đáp tôi có cảm tưởng mục đích của họ là muốn chứng thực lời khai của tôi trong hồ sơ khi xin tỵ nạn cũng như xét đoán hiểu biết căn bản của tôi về Thụy Sĩ, đồng thời qua đàm thoại cũng biết được khả năng ngôn ngữ của tôi ra sao.

b.- Lần thứ hai, sở cảnh sát thành phố (Stadt Polizei). Sau đó khoảng hơn 1 tháng, tôi nhận được giấy mời của cảnh sát thành phố, vào lúc 10 giờ sáng tại một căn pḥng gần trung tâm thành phố, một cuộc phỏng vấn khó quên. Hôm đó tôi đến khá sớm nên ngồi ở chiếc ghế dài sát cửa căn pḥng thẩm vấn được vài phút th́ một người VN cũng v́ nhập tịch mà đến theo giờ hẹn. Anh ta là người tỵ nạn, đến Thụy Sĩ sau tôi khoảng 1 năm khi ở tuổi 15, có tật ở chân là thợ điện. Gia đ́nh tôi và anh ta rất thân v́ nhiều lần vợ tôi nhờ anh ta bắt điện cho trường nhà trẻ (Kindergarten) của vợ tôi gần trung tâm thành phố. Qua vài câu nói chuyện, tôi có chút ngạc nhiên, v́ lư do ǵ mà đến nay anh ta mới xin nhập tịch? Theo luật lệ khi đến Thụy Sĩ với tuổi từ 10 đến 20, th́ thời gian cư trú sẽ được nhân lên 2 lần, nghĩa là anh ta chỉ cần 7 năm trời là đủ điều kiên xin nhập tịch. Đang định hỏi anh ta lư do v́ sao mà bị chậm trễ, đúng lúc một sĩ quan cảnh sát đứng tuổi mở cửa căn pḥng, ra dấu cho tôi vào pḥng.

Ngồi đối diện với ông ta qua một chiếc bàn khá lớn và một xấp hồ sơ khá dầy được mở rộng. Đưa mắt nh́n tôi ông ta cho biết là hồ sơ xin nhập tịch của tôi đă được chấp nhận của liên bang và tiểu bang, hiện nay đă xuống thành phố và ông ta được chỉ định thẩm xét. Ông ta cho biết qua những bản điều tra về sự hoà nhập vào xă hội, con người tại nơi cư ngụ, nơi làm việc của tôi được coi là rất tốt, chưa bao giờ dựa vào sự hỗ trợ của xă hội, việc làm rất chắc chắn… nói chung cuộc sống của tôi hoàn toàn tốt. Đưa tay lật nhẹ vào trang hồ sơ, ngước mắt nh́n thẳng tôi, chậm răi ông ta nói :

-Nhưng ông đă có 3 lần bị liên luỵ đến cảnh sát !

Nghe ông ta nói, tôi thẩn thờ, cau mắt nh́n ông ta ra vẻ hoàn toàn không nhớ ǵ về chuyện mà ông ta vừa nói. Lấy tay vỗ nhẹ vào tập hồ sơ, ông ta nói tiếp :

-Ông đă lái xe nhưng không mang biển số, bị cảnh sát bắt giữ !

Nghe ông ta nói, trí nhớ kéo tôi trở lại, khoảng 7, 8 năm trước, khi gia đ́nh tôi c̣n sống ở căn nhà liền kề (Reihen-Haus) của chính phủ cấp, không có garage tôi phải đậu xe dọc lề đường gần nhà. Một buổi sáng, như b́nh thường tôi lái xe đi làm, chạy khoang 10 phút, chưa ra khỏi thành phố, th́nh ĺnh có xe cảnh sát chạy phía sau, phát ḍng chữ mầu đỏ yêu cầu tôi dừng lại. Sau khi kiểm soát giấy tờ cá nhân của tôi họ cho biết bảng số phía sau xe của tôi không có ! Lúc đó tôi mới biết nó bị rơi mất hay bị ai tháo mất từ khi nào. Kết quả tôi bị phạt khá mắc cho sự lơ đễnh và chính cảnh sát họ gọi garage đến cẩu xe tôi đến sở giao thông để xin đúc số mới.

Khi đă nhớ ra sự việc, tôi nh́n vị cảnh sát và nói vài lời giải thích. Ông ta nghe cho có, rồi nói tiếp với tôi:

-Lần thứ hai đó là vụ lộn xộn v́ chụp ảnh tại trạm biên giới Thụy Sĩ và Đức thuộc tiểu bang Schaffausen!

Đúng như vậy, đó là một chuyện vô t́nh đă làm cho tôi khốn khổ. Vào khoảng mùa hè năm 1986 (?), một nhóm 6 người thầy, cô giáo tỉnh Yokohama, Nhật bản, nhân dịp du lịch Thụy Sĩ họ nhờ tôi liên hệ với vài ngôi trường tiểu học để thăm quan, học hỏi, mọi việc xẩy ra rất tốt đẹp. Rồi cuối tuần tôi lái xe chở cả nhóm đến tỉnh Schaffausen thăm viếng thác Rheinfall lớn nhất Âu châu. Từ Zuerich nếu đi xa lộ th́ khoảng 50km nhưng nếu đi tắt, xuyên qua một giải đất của Đức ăn sâu vào Thụy Sĩ th́ chỉ khoảng 30km, phong cảnh lại đẹp và cũng muốn cho nhóm bạn biết tí sinh hoạt của vùng biên giới nên tôi đă chọn con đường ngắn này.

Khi xe chúng tôi vào Đức, qua trạm kiểm soát, tôi xếp cả 6 passports Nhật bản và thẻ du hành cho người tỵ nạn ( Reiseausweis ) của tôi, cảnh sát Đức chỉ nh́n qua xấp passports Nhật, khoác tay cho qua, kèm theo câu từ giă “Sayonara” ! Tiếp tục đi khoảng 10 phút , chúng tôi lại đến biên giới, lần này từ Đức vào Thụy Sĩ. Cũng vậy với xấp passports, cảnh sát Thụy Sĩ cũng chỉ nh́n qua và cho chúng tôi đi qua.

Với sự nhập và xuất quá đơn giản như vậy đă làm mọi người thích thú và muốn có dấu đóng vào Passport để kỷ niệm. Tôi thấy cũng hợp lư nên chạy xe đến chỗ parking sát bên trạm kiểm soát rồi thu tất cả passorts mang vào trạm kiểm soát xin đóng dấu để kỷ niệm. Mọi việc chẳng có ǵ khó khăn, người cảnh sát trong trạm cũng vui vẻ đáp ứng. Nhưng khi mang xấp passports ra phân phát cho mọi người, chuẩn bị lùi xe ra khỏi chỗ đậu, đúng lúc đó 2 người cảnh sát chạy vội ra với thái độ giận dữ, ra dấu cho tôi dừng xe. Với vài câu nói gần như quát mắng của hai người cảnh sát, tất cả chúng tôi đă hiểu nguyên do. Khi tôi mang xấp Passport vào xin dấu đóng kỷ niệm, các ông bà giáo đă quay phim, chụp ảnh trong khu vực an ninh không được phép. Với thái độ lạnh lùng và quyết liệt của 2 người cảnh sát, cả nhóm chúng tôi bị dẫn vào một căn pḥng trong trạm. Tôi dùng đủ mọi lời lẽ, phân trần cho sự vô t́nh, thiếu ư thức của nhóm bạn nhưng vẫn vô ích. Họ cho biết đây là một hành động không đơn giản và họ đă liên hệ với cảnh sát tiểu bang Schaffausen chờ gửi người đến giải quyết.

Khi cảnh sát tiểu bang đến, cả nhóm chúng tôi bị khám xét, hỏi cung như kẻ tội phạm, tuy nhiên có lẽ họ nh́n thấy các ông bà giáo Nhật bản ( dân Âu châu rất quí mến dân Nhật bản ) quá sợ và chẳng ai nói được một câu tiếng Anh ! C̣n tôi th́ ngôn ngữ Đức cũng chỉ đủ nói để họ hiểu ở mức tối thiểu mà thôi. Cuối cùng họ đưa ra quyết định là ngoài tiền phạt vi cảnh cho mỗi người, c̣n phải huỷ bỏ tất cả phim ảnh trong máy ảnh, máy quay phim trước sự kiểm chứng của họ. Thế là các ông bà giáo muốn khóc v́ biết bao nhiêu h́nh, phim ảnh kỷ niệm của cả tuần lễ coi như thành mây gió, với tôi là một bài học nhớ đời.

Câu chuyện xẩy ra 5, 6 năm trước, tưởng rằng im lặng đi qua, nhưng câu nói của người cảnh sát đă kéo kư ức tôi trở lại, với vẻ lo lắng tôi nói vài câu ân hận biện minh cho lần vô t́nh sai trái đó. H́nh như cũng nh́n thấy vẻ buồn chán trong mắt tôi, ông cảnh sát im lặng, đưa bàn tay lật qua, lật lại vài trang hồ sơ, ông ta nói với tôi:

-Lần thứ 3, ông cũng đă làm việc với pḥng cảnh sát thành phố ( Stadt Polizei), ông có nhớ không?

Tôi cau mày, lắc nhẹ đầu nhẹ, ông ta mỉm cười, vẻ thân thiện lộ ra rơ ràng trên khuôn mặt, nói với tôi :

-Ông khỏi lo, lần này ông đến pḥng cảnh sát với một việc rất tốt.( chẳng để tôi thắc mắc, ông ta nói tiếp )Đó là lần ông nhặt được cái bóp có tiền và đă đem nó nguyên vẹn đến nhờ cảnh sát trả cho người bị mất. Một hành động tuyệt vời, tốt không ngờ ! ( ông ta dùng chữ Đức gốc tiếng Nhật : Subarashii, das ist Unmöglich! ).

Nghe ông ta nói, trí nhớ kéo tôi về một lần khó quên trong đời tôi. Hôm đó vào ngày cuối tuần, tôi lái xe cùng với gia đ́nh đi mua sắm tại môt siêu thị trong thành phố. Khi lái xe vào chỗ đậu, thằng con trai 6 tuổi của tôi, khi mở cửa xe đă nhặt được một cái bóp khá cộm, có thể do người đậu xe trước đánh rớt ngay dưới nền chỗ cửa xe. Thằng bé mở ra xem, mừng vui nó nói to:

-Bố ơi, trong chiếc bóp có rất nhiều tiền…!

Vợ chồng tôi bàng hoàng, cầm lấy chiếc bóp từ tay thằng con. Đúng như vậy, với 4 tờ 100 Sfr,1 tờ 50 Sfr và khá nhiều tiền “ kim loại “, tổng cộng cũng khoảng gần 500 SFr. Ngoài ra c̣n 6 tấm thẻ đủ loại, thẻ ngân hàng UBS, thẻ kiểm tra,thẻ bảo hiểm…v..v.. Thành thật khi nh́n thấy giá trị của cái bóp đă làm tôi ngẩn ngơ, cảm giác gặp may mắn với món tiền “ trời rơi xuống “ đă làm tôi ngạc nhiên với vui mừng ( Có lẽ tôi xấu xa chăng ??!!). Nhưng đưa mắt nh́n 3 đứa con, nh́n vợ và nh́n vào những giấy tờ cá nhân của nạn nhân đă làm tôi suy nghĩ và sự vui mừng, tham lam đă biến mất ngay, thay vào đó là những tính suy theo hướng của thiện tâm !

Tôi tự nghĩ, nếu chiếm đoạt món tiền đó sẽ nói ǵ với vợ, với con? Những đứa con tôi có thể c̣n bé, c̣n ngây ngô chưa hiểu ǵ, chúng nó sẽ vui vẻ cùng với bố khi có một món tiền từ trời rơi xuống. Nhưng khi lớn khôn, biết suy nghĩ phải trái, nhớ lại việc làm của bố, chúng sẽ nghĩ sao, có c̣n tôn trọng kính yêu ông bố mà chính chúng đă chứng kiến hành động không đẹp đó không? Với người vợ, đă 3,4 thế hệ làm nghề giáo của một quốc gia thuộc hàng đạo đức trên thế giới, c̣n nh́n tôi với ánh mắt kính yêu, nể trọng nữa hay không? Rồi tôi mường tượng ra những khốn khổ, phiền phức của nạn nhân với 5, 6 loại giấy tờ phải khai báo, làm mới bao nhiêu là phiền phức và tốn kém. Tôi có đành ḷng không ? dù chẳng biết họ là ai. Suy nghĩ xa hơn, tôi tự hỏi với khoảng gần 500 Sfr, món tiền đó có làm thay đổi cuộc sống của tôi không hay chỉ đủ mua một vài món quà, thêm một bữa ăn đơn sơ cho cả gia đ́nh tại nhà hàng rẻ tiền vào cuối tuần mà thôi! Nghĩ như vậy, tôi quyết định t́m cách trả lại chiếc bóp toàn vẹn cho người mất để làm gương cho lũ con và giữ được sự tôn trọng của vợ tôi.

Cuối cùng vợ tôi và 2 đứa con gái vào siêu thị mua sắm, tôi lái xe cùng với thằng con trai 6 tuổi đến một chi nhánh ngân hàng UBS không xa siêu thị. Khi tôi đưa cái bóp có giấy tờ và tiền bạc cùng cái thẻ ngân hàng UBS cho nhân viên, họ nh́n tôi có chút ngạc nhiên và cho tôi biết, nếu chỉ có thẻ ngân hàng th́ rất đơn giản cho họ và cả cho tôi, v́ chỉ thông báo cho nạn nhân đến lấy thẻ là xong. Nhưng vấn đề là có món tiền khá nhiều, thêm nhiều loại giấy tờ khác th́ việc báo tin, trả lại không đơn giản. Họ khuyên tôi nên mang đến văn pḥng cảnh sát rất gần, ở ngay phía sau ngân hàng của họ, nó đơn giản và chính xác hơn. Thấy họ nói có lư, tôi để xe tại ngân hàng, cùng với thằng con đi bộ đến chi nhánh cảnh sát ở con đường sát phía sau.

Khi chúng tôi bước vào pḥng đầu tiên sát cửa ra vào của trạm cảnh sát, một cảnh sát viên duy nhất trong pḥng, khá đứng tuổi đang cúi đầu chăm chỉ làm việc trước bàn đánh máy. Tiếng động mở cửa đă làm ông ta ngước đầu im lặng nh́n bố con chúng tôi. Tôi lễ phép nói với ông ta là có vấn đề xin ông giúp đỡ, ông ta chau mày với vẻ không vui, hất nhẹ đầu, dùng lối văn nói coi thường, không lịch sự :

-Mày muốn cái ǵ? (Was willst du ?)

Thái độ lạnh lùng, giọng nói sấc sược làm tôi có chút bực ḿnh, nhưng cũng phải trả lời ông ta :

-Thưa ông, tôi nhặt được một cái bóp, trong đó có khá nhiều tiền trong băi đậu xe, xin ông t́m người mất, trả lại cho họ hộ tôi.

Có lẽ thấy tôi cầm chiếc bóp để lên quầy gỗ, nghe tôi nói trong bóp có nhiều tiền, đă làm ông ta ngạc nhiên, dừng vội công việc, đôi mắt chau lại ngước lên nh́n chúng tôi, rồi bước ra khỏi chiếc bàn làm việc tiến đến chiếc quầy mà chúng tôi đang đứng. Vẫn vẻ rất ngạc nhiên nh́n chúng tôi, ông ta đổi ngay lối nói sấc sược bằng thể lịch sự “Sie” thay v́ “Du” lúc ban đầu để hỏi tôi về sự việc. Tôi chậm răi kể rất kỹ sự việc cho ông ta nghe. Rất rơ ràng, ánh mắt nh́n, lời nói, câu văn, ngôn từ xử dụng của ông ta hoàn toàn êm nhẹ và lịch sự khi đối thoại với tôi. Cuối cùng, ông ta đưa mắt rất thân thiện, miệng cười vui nh́n bố con tôi, ông ta nói:

-Nói thật với ông, hơn 20 năm làm cảnh sát, rất nhiều lần tôi đă được người ta mang đến đủ mọi thứ, nào là Passport, thẻ ngân hàng, đồng hồ và cả ví đựng tiền ..v..v… yêu cầu t́m người mất để trả lại. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp một người nhặt được một cái bóp có tiền, mà c̣n nhiều tiền nữa ! Đúng là một sự lạ kỳ khó tin !

Rồi với sự cảm mến chúng tôi ra mặt, ông ta nói chuyện với tôi và cả thằng con trong không khí rất thân thiện, ông ta hỏi tôi từ đâu đến. Dĩ nhiên tôi cho ông ta biết là tôi từ Viêt Nam. Khi vừa nghe tôi trả lời là người Viêt Nam, ông ta nhíu mắt nh́n tôi rồi chậm rải tâm t́nh :

-Ông đă làm tôi rất ngạc nhiên, một người Việt Nam đặc biệt. (với tí ngần ngừ ông ta nói tiếp), xin lỗi ông, tôi đă bao lần khốn khổ với nhiều người Việt Nam tỵ nạn, họ làm phiền hàng xóm, đánh nhau, ăn nhậu, cờ bạc…cuối cùng cảnh sát chúng tôi phải đến tận nhà giải quyết !

Dĩ nhiên nghe ông ta nói điều không đẹp về đồng hương của ḿnh cũng cho tôi cảm giác buồn, nhưng biết làm sao hơn khi đó là sự thật! Nhưng có lẽ một điều mà rất rất nhiều người bản xứ họ không hiểu là phần rất lớn người VN đến tỵ nạn tại Thụy Sĩ vào khoảng 5, 6 năm sau 1975, phần lớn là giới lao động ra đi từ những vùng quê nghèo hay vùng biển… tŕnh độ văn hoá của họ không cao, khi bước vào một xă hội văn minh và giàu có như Thụy Sĩ th́ làm sao tránh được những lủng củng xẩy ra được? V́ vậy chê bai hay kết án họ là một sự sai lầm rất vô lư, khó cảm thông. Với suy nghĩ như vậy, tôi đă chậm răi nói cho vị cảnh sát hiểu rơ vấn đề. Cuối cùng tôi đưa ra một thí dụ và hỏi ông ta, nếu ông là một người VN giống như họ, sống ở một vùng quê không điện nước, không TV, Tủ lạnh, Video, máy quay phim …v..v.. Rồi một lần nào đó, cũng như họ, ông được đón chờ tại một nơi có điều kiện để có những món đồ trong mơ hay tưởng tượng của ông. Rồi ông được đi làm việc trong nhàn nhă, lương cao, dư dă… vậy ông có ngại ngần hay đắn đo mà không bỏ tiền ra mua những thứ mà ông ao ước không ?? Đă thế ông c̣n được trả góp quá dễ dàng th́ làm sao ông phải từ chối nhỉ ?

Cuối cùng với lời tâm sự, trần t́nh rất thực tế của tôi, ông cảnh sát nh́n tôi gật gù ra vẻ rất thông hiểu, ông ta cũng không quên hỏi về cuộc đời tôi khi c̣n ở VN. Dĩ nhiên tôi cũng chẳng có ǵ để phải giấu giếm, tôi nói rơ về ḿnh tất cả những ǵ ông ta muốn biết. Cuối cùng ông ta nói với tôi :

-Cám ơn ông Vũ, ông đă giúp tôi hiểu rơ vấn đề, tôi đă cảm thông với người VN hơn.

Rồi ông ta trở lại bàn làm việc điện thoại cho ai đó, quay ra nói với tôi :

-Tôi vừa điện thoại cho người bạn, anh ta sẽ xuống và làm việc với ông về cái bóp mà ông đem đến, xin ông chờ tí chút nhe.

Đúng như vậy, một người cảnh sát trẻ tuổi hơn từ trên lầu đi xuống, h́nh như đă nghe ông cảnh sát nói qua điện thoại, anh ta rất vui vẻ, bắt tay tôi, lịch sư mời bố con tôi vào một căn pḥng nhỏ phía sau để làm bài tường tŕnh về món đồ mà tôi đem đến.

Sau khoảng nửa tiếng đồng hồ người cảnh sat vừa hỏi vừa đánh máy theo lời kể của tôi về sự việc, rồi anh ta tóm tắt bài tường tŕnh cho tôi nghe, yêu cầu tôi kư vào bản tường tŕnh cùng với anh ta. Trước khi nói những lời cám ơn “ có cánh “ với bố con tôi, anh ta cho biết theo luật lệ của Thụy Sĩ th́ tôi sẽ nhận được 10% món tiền của người chủ nhân.

Đúng như vậy khoảng 2 tuần lễ sau, tôi nhận được một tờ check không phải 10% như luật lệ mà anh cảnh sát nói, mà là gần 300 Sfr ! Tờ check chẳng có ghi tên hay địa chỉ người gửi mà từ sở cảnh sát thành phố gửi đến. Tôi chẳng hiểu sao lai nhiều hơn luật định như thế, rất có thể người mất tiền đă nhờ cảnh sát tặng cho tôi nhiều hơn chăng ? Dĩ nhiên là tôi và cả lũ con rất vui v́ đă có một món tiền “trên trời rơi xuống “ nhưng đầy trong sáng và trọn vẹn niềm hoan ca cho cả gia đ́nh. Riêng cá nhân tôi ngoài niềm vui với món quà, tôi c̣n có tí chút tự hào về tánh ngay ngắn trong cuộc sống vốn dĩ buồn nôn này !

H́nh như cảm thấy tôi đă nhớ lại câu truyện “ nhặt được cái bóp đựng tiền “, ông cảnh sát tiểu bang nh́n tôi, ánh mắt khá nhiều thiện cảm với nụ cười nhẹ ông ta nói với tôi :

-Thật ra 2 chuyện rắc rối với cảnh sát của ông chỉ là những h́nh phạt vi cảnh ( micro-police penalties), không phải là h́nh sự (Criminal offences). Với trường hợp thứ 3, ông là một người rất chính trực, chẳng có ǵ phải lo lắng, theo tôi hồ sơ xin nhập tịch của ông không có ǵ ngăn cản cả. Có lẽ vài ba tuần nữa hồ sơ của ông sẽ được quyết định trong cuộc họp thường kỳ của nghị viên thành phố.

Nghe ông ta nói, những áng mây đen, lo buồn trong ḷng tôi như đă được thổi bay tất cả. Khi tôi chuẩn bị đứng dậy ra về, với chút ngại ngần, ông ta hỏi tôi :

-Ông Vũ, ông quen biết với người ngồi bên ngoài phải không ? Nếu không có ǵ phiền phức xin ông vui ḷng cho tôi biết vài điều về anh ta.

Dĩ nhiên tôi bằng ḷng. Qua ông ta tôi mới biết người VN đó nộp đơn xin nhập tịch đă gần 7 năm nhưng hồ sơ vẫn bị dừng lại ở cấp tiểu bang v́ những nghi ngại về lối sống của anh ta. Tôi chẳng tí ngại ngần cho ông ta biết, anh ta là một người rất chăm chỉ, nhiều lần đến bắt điện, sửa chữa máy móc cho nhà trẻ (Kindergarten) của vợ tôi tại trung tâm thành phố. Nhưng anh ta mang khá nhiều mặc cảm tự ti ( Inferiority-complex ) v́ thân thể tàn tật nên bề ngoài có những luộm thuộm, một dạng người tốt đáng thương. Nghe tôi nói về người VN đó xong, ông ta nói vài lời cám ơn, bắt tay và tiễn tôi ra cửa.

Đúng như ông ta nói, khoảng 3 tuần lễ sau đó, tôi nhận được tờ giấy mời đến Nhà họp thành phố (Stadt Haus) để chứng kiến cuộc bỏ phiếu của hội đồng nghị viên thành phố Zuerich, cho đơn xin nhập tịch của tôi. Đúng ngày giờ hẹn, tôi và 5 người khác gồm một cặp vợ chồng người Italy khá đứng tuổi, c̣n lại 2 thanh niên và một phụ nữ đều c̣n trẻ người gốc Bồ đào nha, Thổ nhĩ Kỳ và Nam Tư. Đúng giờ chúng tôi được một nhân viên từ trong pḥng họp bước ra, mời cả nhóm chúng tôi vào ngồi ở dẫy ghế sau cùng, sát cửa ra vào. Phía trên, khoảng 15, 16 nghị viên thành phố ngồi trên những dẫy ghế ṿng cung, đối diện là bàn của chủ toạ có 3 vị. Một vị đọc từng tên của mỗi chúng tôi kèm theo vài chi tiết cá nhân và yêu cầu bỏ phiếu cho từng người. Sau khoảng nửa tiếng đồng hồ, tất cả 6 người chúng tôi đều được các nghị viên giơ tay đồng ư thông qua, không một ai phản đối. Người đă mời chúng tôi vào pḥng, đến bắt tay, nói lời chúc mừng và yêu cầu chúng tôi ra về, cuộc họp của các nghị viên vẫn tiếp tục cho các vấn đề khác.

Chúng tôi bắt tay nhau, chia xẻ vui mừng rồi hả hê đi về, có lẽ ai ai cũng mường tượng ra cuốn passport mầu đỏ chói với dấu chữ thập trắng của Thụy Sĩ đă gần tầm tay với. Khoảng hơn một tuần sau tôi nhận được tờ giấy mời từ văn pḥng hành chánh tỉnh (Stadt Verwaltung ) để làm thủ tục nhập tịch.

C.- lần thứ 3, Pḥng hành chính thành phố (Stadt Verwaltung).

Đây là lần thứ 3, cũng là lần cuối cùng tôi tŕnh diện cơ quan công quyền Thụy Sĩ để hoàn tất con đường “Swissmaker” của tôi. Lần tŕnh diện này không phải là văn pḥng cảnh sát như 2 lần trước mà là pḥng làm việc của một bà Thụy Sĩ khá trẻ khoảng trên dưới 35 tuổi. Đây cũng là cuộc gặp gỡ nhiều ấn tượng, đă kết nối t́nh thân rất khắng khít giữ chúng tôi và bà ta cho đến ngày nay.

Tôi đến đúng ngày giờ trong giấy hẹn, được bà Thụy Sĩ trưởng pḥng với thái độ rất thân thiện, thay v́ để tôi ngồi đối diện với bà ta qua chiếc bàn làm việc. Bà lại mang xấp hồ sơ ra bộ salon, đưa tay mời tôi ngồi vào chiếc ghế bành đối diện như là một người khách thăm viếng. Bà ta hỏi tôi rất nhiều về sự điều hành, tổ chức cũng như số lượng trẻ con Nhật bản và lai Nhật bản đang theo học tại trường mẫu giáo mà vợ tôi đang kinh doanh tại tầng trệt của một chung cư gần trung tâm thành phố. Dĩ nhiên tôi trả lời bà ta rất rành mạch từng chi tiết, nhưng tôi có cảm tưởng có điều ǵ đó lạ thường. Có lẽ sau cả nửa tiếng đồng hồ, bà ta mới giở tập hồ sơ của tôi và cho tôi biết tất cả đă hoàn thiện để nhập quốc tịch Thụy Sĩ, nhưng có một vấn đề khác liên quan đến phí tổn theo luật định mà tôi có chấp nhận hay không mà thôi.

Qua lời giải thích của bà ta, theo luật định của thành phố Zuerich, khi nhập quốc tịch ngoài tốn phí cho giấy tờ hành chánh, người nhập tịch nếu có tài sản trong bản khai thuế mới nhất nhiều hơn mức tối thiểu th́ phải đóng vào qũi tiểu bang 10% số tiền dôi dư đó. Với t́nh trạng của tôi, có tài sản cao hơn giới hạn nên tôi phải tuân hành nếu tôi muốn được cấp thẻ công dân Thụy Sĩ. Thành thật khi nghe bà ta giải thích tôi mới biết luật lệ này, có lẽ v́ có sự khác biệt giữa tiểu bang với nhau nên trong tài liệu mà tôi tham khảo không ghi rơ th́ phải ? Dù nghĩ như vậy, nhưng tôi chẳng cần suy nghĩ khi quyết định kư vào bản hồ sơ xin nhập tịch, v́ tương lai an định của chính ḿnh và 3 đứa con.

Khi tôi kư vào tờ giấy, bà ta cười rất dễ mến với thái độ nồng nàn bắt tay tôi cùng những lời chúc mừng rất chân t́nh dành cho tôi. Rồi bà xếp tập hồ sơ vào kẹp giấy, nh́n tôi với nụ cười thân thiện cho biết chồng bà ta là người Nhật bản, họ đă có 2 đứa con gái 3 và 5 tuổi. Qua thông tin của vài người Nhật, họ biết vợ tôi đang điều hành một nhà trẻ dành cho trẻ con Nhật Bản. Đă nhiều lần vợ chồng bà ta có ư định đến thăm viếng, xin cho 2 đứa con vào học nhưng chưa được. Ngẫu nhiên lạ kỳ, trong công việc bà lại là người thẩm xét khâu cuối cùng hồ sơ xin nhập tịch của tôi. Ban đầu bà ta không biết nhưng khi xem xét kỹ hồ sơ mới nhận ra tôi là chồng của người mà ta muốn gặp.

Thế là cuộc nói chuyện của tôi và bà Thụy Sĩ trưởng pḥng trở nên rất thân thiện. Vài ngày sau đó như đă hẹn, vợ chồng bà ta cùng với 2 đứa con gái đến thẳng nhà trẻ thăm quan và chơi đùa với lũ trẻ con Nhật bản khác cho đến khi tan trường ( lúc đó tôi đang đi làm ). Rồi mọi chuyện tiếp theo, 2 đứa con của bà ta đă lần lượt hoàn tất xong cấp nhà trẻ tại cơ sở của vợ tôi cho đến khi chúng nhập học vào cấp tiểu học Thụy Sĩ nên chỉ tham dự lớp học bố túc của trường học Nhật bản tại Zuerich ( Japanische Schule in Zuerich ) mà thôi. Đứa con gái út là lớp nhà trẻ cuối cùng của vợ tôi v́ sau năm đó luật giáo dục nhà trẻ của Thụy Sĩ bị cưỡng bách, không cho phép trẻ con theo học tại các trường tư thục ngôn ngữ ngoại quốc nữa . Đó là lư do tại sao cơ sở giáo dục mẫu giáo của vợ tôi bị đóng cửa, vợ tôi chuyển về dậy kèm tiếng Nhật cho vài ba trẻ con lai Nhật tại tư gia coi như vui thú là chính cho đến ngày nay.

Có một điều rất lạ lùng, đến nay tôi sở hữu quốc tịch Thụy Sĩ đă gần 30 năm nhưng tôi vẫn không hiểu là tại sao tôi không nhận được giấy báo đóng món tiền 10% tài sản như bà bạn Thụy Sĩ nói. Thật lạ kỳ với sự im lặng đó, và tôi cũng chẳng dại ǵ mà “ thưa ông tôi ở bụi này “ để phải tốn kém. Theo tôi chẳng có chuyện sơ sót giấy tờ mà quên lăng! Mà cũng chẳng có chuyện v́ t́nh thân nên bà bạn Thụy Sĩ đă giúp tôi. Thụy Sĩ không có chuyện đó, luật là luật và chẳng ai ngớ ngẩn đi ra khỏi luật để nhận lấy rắc rối vào ḿnh, nhất là người có vị trí cao như bà ta trong guồng máy hành chánh trung ương. Theo tôi có thể là một sự thông qua tốt đẹp từ cấp nào đó cho trường hợp đặc biệt hay món tiền đó cũng chẳng đáng bao nhiêu mà bỏ qua cho một người đứng đơn có điểm nào đó tốt đẹp để thông qua như tôi ( chủ quan, tự tin quá lố lắm sao ?!).

Nhưng thế nào th́ tôi vẫn nghĩ ḿnh thật may mắn trong việc nhập quốc tịch Thụy sĩ. Chỉ với khoảng 11 tháng nộp đơn và chờ đợi mà tất cả diễn tiến rất xuôi chèo, thẳng lái. Đúng vậy tôi, một Swissmaker đến đich một cách nhanh chóng và rất bất ngờ, thú vị. Nhưng dù thế nào tôi cũng không phủ nhận được con đường Swissmaker của tôi có khá nhiều kỳ ngộ, ra ngoài dự đoán. Đúng hay sai không c̣n là điều quan trọng nhưng cuộc sống vẫn có những điều đến với ḿnh không phải do tính toán vậy, đúng là : “Cố ư trồng hoa, hoa không nở ! Vô t́nh cắm liễu, liễu xanh um ! “.

Vài hàng kết luận

Nếu sự hiểu biết của tôi không sai lầm th́ ngoài vài quốc gia nhỏ bé nhưng thịnh vượng trên thế giới như Monaco, Liechstenstein, Luxembourg… là những nơi việc nhập tịch coi như rất khó khăn, nếu không muốn nói là không thể. C̣n lại, hai quốc gia Thụy Sĩ và Nhật bản được coi là khó khăn nhất. Không phải khó khăn v́ luật lệ trên giấy tờ mà khó khăn v́ dẫn giải, thi hành những luật lệ đó trong thực tế. Với Thụy Sĩ th́ qua những kể lể phần trên đă nói lên điều đó, c̣n Nhật bản, với những ai sống, làm việc tại đó đă biết chính xác sự thật, theo tôi chỉ có con đường kết hôn với dân bản xứ và sống nhiều năm tại Nhật mới có cửa để nhập tịch mà thôi.

Chúng tôi có quen một phụ nữ gốc Hàn quốc, ông nội cô ta đă định cư tại Tokyo từ trước thế chiến thứ 2, cha của cô ta hiện nay đă làm chủ một cơ sở thương mại tại Tokyo, mấy người anh có người làm bác sĩ, kỹ sư và cô ta là một cô giáo âm nhạc cho một trường trung học tư thục tại Tokyo. Tất cả anh em họ hoàn toàn chẳng c̣n liên hệ ǵ với Nam và Bắc Hàn. Cá tính, ngôn ngữ, lối sống và cả suy nghĩ của họ hoàn toàn là người Nhật nhưng họ vẫn là người Hàn quốc trên giấy tờ. Cách đây khoảng 12, 13 năm một người Thụy Sĩ du lịch Nhật bản và quen biết cô ta, họ về Thụy Sĩ làm đám cưới, nhờ vợ chồng tôi làm chứng cho tờ hôn thú của họ, nhờ đó chúng tôi trở lên thân thiết. Đó là sự thật để nói lên sự khó khăn rất vô lư , kỳ lạ và h́nh như có tính bất nhân của xă hội Nhật bản. Thụy Sĩ có phần nhẹ nhàng hơn đôi chút nhưng thực tế, cánh cửa để sở hữu cuốn Passort mầu đỏ đậm có h́nh chữ thập trắng nho nhỏ ở b́a góc phải chỉ dễ dàng nếu đến bằng con đường kết hôn với dân Thụy Sĩ hay dưới dạng người tỵ nạn trong một chương tŕnh Thụy Sĩ tiếp nhận tỵ nạn ( như người VN, Tây tạng, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc… ) mà thôi. C̣n những dạng khác cánh cửa không khoá kín hoàn toàn nhưng cũng rất nhỏ hẹp.

Tuy nhiên, nếu ai có dịp du lịch thăm viếng Thụy Sĩ, sẽ nh́n thấy những lâu đài sang trọng trên sườn đồi cỏ hoa xanh mướt hay bên bờ hồ nước trong xanh lăng mạn tại Genève , Montreux … của những vương gia Trung Đông. Gần đây trên báo chí cho biết tài tử điện ảnh Alain Delon của Pháp, nữ danh ca da đen người Mỹ Tina Turner hay ông vua xe đua thế giới Schumacher người Đức ( hiện nay đang khốn khổ với đời thực vật v́ tai nạn trượt tuyết ) và nhiều danh nhân khác đă là công dân Thụy Sĩ sống tại những lâu đài sang trọng. Tôi không nghĩ nếu đem luật lệ ra xét đoán trường hợp của họ, như thời gian cư trú; bằng ḷng đóng 10% tài sản..v..v.. họ có đủ điều kiện để nhập tịch. Nhưng theo tôi họ là những người vượt trội thế gian nên có những ưu ái của thượng đế về một hướng nào đó để họ toả sáng như một người siêu hạng (superman ) giữa quần thể nhân gian tầm thường. Đó không phải là bất công mà là một biểu tượng trong mơ để cho nhân gian làm gương sáng mà tiến bước cũng như tạo sinh ra những người siêu hạng tiếp theo làm cho loài người tiến triển vậy./.

Hết

Tài liệu tham khảo:

-Handbuch für Fluechtlinge ( Suisse)

-Switzerland (Wikipedia )

Lưu An, Vũ ngọc Ruẩn

(Switzerland, Zuetich November 2020)

 


Vài hàng về tác giả :

Lưu An là bút hiệu của anh Vũ Ngọc Ruẩn. Anh Ruẩn  sinh năm 1946 tại Xuân Trường, Nam Định, Việt Nam. Bút hiệu Lưu An & Thượng Xuyên Lộ, cựu học sinh Chu Văn An 59-66, tốt nghiệp Master về Food Sciences đại học Kagoshima, Japan 1977. Anh Ruẫn hiện đang sinh sống tại Thụy Sĩ. Cảm tưởng về thơ văn của Lưu An xin gởi về  .....

........

® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"