Nón lá Việt, một nét văn hóa đặc trưng

MN

Ai về thăm nón làng Chuông,
Ra đi bịn rịn, nhớ thương nụ cười,
Nón tinh xảo, người tuyệt vời,
Thẳm sâu đáy mắt rạng ngời Thanh Oai,

Nón làng Chuông đă tạo cảm xúc không nhỏ khi tôi đặt chân đến đâỵ Một phần là khung cảnh hữu t́nh của một vùng quê Bắc Bộ, phần khác do người làm nón quá dễ thương, từ cử chỉ, ánh mắt, nụ cười và cách họ tṛ chuyện với nhau. Họ ân cần với khách lạ, nhiệt t́nh hướng dẫn cho du khách biết được các công đoạn làm nên chiếc nón. Sự tỉ mỉ, nhẫn nại khiến vẻ đẹp của họ càng đằm thắm hơn. Mỗi khi tụ tập lại làm nón, họ như một gia đ́nh lớn, người người rộn ràng cười nói, ánh mắt tŕu mến, nụ cười thân t́nh trong khi hai bàn tay th́ nhanh nhẹn khâu từng mũi kim tinh xảo trên khung nón và lá cọ, một kết hợp hài ḥa giữa sự vững vàng và mỏng manh để tạo ra sự che chở yêu thương đến với mọi miền. Những chiếc nón trắng thơm được lần lượt tạo ra trong sự ấm áp của con người với con người, trong chia sẻ yêu thương và ngọt ngào thắm đượm.

Làng Chuông thuộc tỉnh Hà Tây cũ, nay đă nhập về thành Hà Nội. Cái tên huyện nghe thanh b́nh, giản dị lại tiềm ẩn nét uy phong mà lịch lăm: “Thanh Oai ”. Có người c̣n tưởng tượng ra h́nh ảnh trai gái của huyện lỵ này rất có dũng khí, oai vệ và đầy nhiệt huyết. Những điều đó có thể phần nào gắn liền với chiếc nón khéo léo của làng Chuông. Bàn tay điêu luyện của các nghệ nhân đă tạo ra chiếc nón lá với kích cỡ vừa phải, nhẹ nhàng, dễ thương, tưởng chừng như rất mỏng manh nhưng có thể che nắng che mưa, cùng người ra chợ bán buôn, ra đồng cày cấy. Chiếc nón c̣n tham dự trong các lễ hội truyền thống của các làng nghề, tạo dịp cho các đôi thanh niên thiếu nữ họp mặt. Từ niềm vui trong công việc này, họ c̣n chỉ bảo lẫn nhau để sáng tạo cho chiếc nón lá thêm hiện đại nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp truyền thống. Nón có thể được đem tặng bạn bè bốn phương, làm cầu nối để kết bạn, kết duyên, và c̣n được mang ra dùng trong các điệu múa dân gian.

Chiều về, những chiếc nón nhấp nhô trên con đường làng cùng những tà áo dài trắng của các nữ sinh nhẹ nhàng tung bay trong gió tô điểm thêm nét tươi vui trong trẻo nơi này. Với những bức tường rêu phủ, những tàng cây rợp bóng mát cùng những ao làng lớn nhỏ xen lẫn, bức tranh nên thơ của làng Chuông lại càng hữu t́nh với h́nh ảnh cô gái làng duyên dáng cầm chiếc nón lá che mặt giấu nét thẹn thùng.

G̣ Găng gió cát mệt nhoài
Nhớ t́m nón lá tặng người phương xa,
Thấm vào nỗi nhớ quê nhà,
Món quà tuy nhỏ, bao la nghĩa t́nh…

Tuy có rất nhiều nơi ở Việt Nam làm nón nhưng nón lá của G̣ Găng, B́nh Định có ít nhiều khác biệt so với nón làng Chuông, có thể do đặc thù của vùng miền nên cũng dễ nhận thấy. Nón G̣ Găng xuất phát từ truyền thống dâng cho vua quan nên những hoa văn trên nón cũng được đặc biệt chú trọng, ví dụ như trên chóp nón sẽ có thêm các viền bạc chạm trổ những con vật trong truyền thuyết. Với những viền bạc dày mỏng tùy theo từng thể loại và cũng tùy theo cách sáng tạo của mỗi nhà, chiếc nón lá B́nh Định không dừng lại ở sự giản dị thông thường mà trở nên rất độc đáo. Những chiếc nón này xuất hiện ở các lễ hội của dân làng nơi đây, và khách du lịch được thích thú thưởng lăm những kiểu nón gắn liền với lịch sử thời vua Quang Trung, vị anh hùng xuất thân từ đất B́nh Định đă thần tốc kéo binh ra tận Thăng Long đánh đuổi quân Thanh xâm lược ra khỏi bờ cơi.

Tiết trời B́nh Định vào mùa hè nóng gắt, G̣ Găng cũng là nơi khô cằn nên càng oi nồng nếu tới thăm vào mùa này. Nhưng khi bắt gặp những nụ cười toả nắng của các em nhỏ ở đây th́ mọi mệt nhọc dường như tan biến. Nh́n những bàn tay đen đúa của những người làm nón với những nếp nhăn to nổi trội, những móng tay dày cộm trên những ngón tay chai sạn mới thấu được công lao vất vả của người làm nón, để ḷng càng thêm trân quư chiếc nón đang cầm trên tay.

Nón lá thường được đan bằng các loại lá cây khác nhau như lá cọ, lá dừa, lá hồ, lá du quy diệp chuyên dùng làm nón v.v. Các công đoạn chuẩn bị để làm nên chiếc nón cũng đ̣i hỏi nhiều kinh nghiệm, từ việc chọn lá, chuốt tre làm vành, đến việc lợp nón, chằm nón... đều làm bằng tay. Người nghệ nhân làm nón phải kiên nhẫn, tinh tế để làm ra những chiếc nón đẹp từ đường kim mũi chỉ. Mỗi một chiếc nón thường sẽ có quai đeo làm bằng vải mềm như tơ, lụa hoặc nhung. Những người thổi được hồn vào nón, làm nên những chiếc nón đẹp tinh tế là những người thực sự có đôi bàn tay khéo léo và một tâm hồn chan chứa t́nh yêu nghề. Ngoài việc dùng cho người lao động, chiếc nón c̣n được các nữ sinh ngày xưa dùng để đi về giữa hai mùa mưa nắng. Nón lá kết hợp với tà áo dài trắng thướt tha tạo nên vẻ đẹp thanh tân duyên dáng, nét đan thanh như tranh Tố nữ đă làm mềm ḷng bao đấng tu mi nam tử.

Tuy sản phẩm của nón G̣ Găng phong phú, đa dạng nhưng ưu tiên của họ vẫn là chế tác những nón có hoa văn lịch sử, chủ yếu cho khách du lịch và lễ hội. C̣n những làng lân cận khác th́ phần lớn làm nón thường, dùng cho việc đồng áng, che nắng che mưa.

G̣ Găng có những khu đồi đất khô, phủ lên trên là một lớp cát mỏng nên mỗi khi gặp gió to th́ bụi cát bay, những chiếc lá cọ đang phơi cũng bay theo. Lúc đó người làm nón như đang chạy trận để gom những chiếc lá cọ lại, dáng vẻ vội vă, bàn tay nhanh nhẹn cùng nét mặt lo âu của họ làm người nh́n không khỏi thấy ḷng nao nao.

Nghề làm nón chỉ đủ ăn, nếu không chăm làm th́ cuộc sống sẽ khó khăn nên họ thường phải ngày đêm làm lụng. Họ làm bất kể lúc nào, bất kỳ nơi đâu, cả khi ra đồng chăn trâu họ cũng mang nón ra làm. Tuy cầu kỳ trong mỗi công đoạn nhưng nếu khéo thu xếp th́ họ vẫn có thể làm xen kẽ với việc nhà. Có lẽ nhờ thế nên ở B́nh Định có rất nhiều làng làm nón phát triển song song cùng với một số ngành nghề khác. Lúc mệt mỏi, bị bệnh hay có việc bất chợt phải đi xa, họ có thể mang cất rồi tiếp tục làm khi thuận tiện. Vậy nên, nghề nón chẳng sợ sự gấp rút về thời gian. Nếu có đơn hàng nào cần gấp, họ mang chia đều cho các nơi để kịp giao mà không phải chần chừ e ngại, bởi người làm nón ở đây đều ư thức được việc đảm bảo phẩm chất để giữ uy tín cho làng nghề.

Người xứ Huế yêu thơ và nhạc lễ
Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay
Thầm lặng bước những khi trời dịu nắng . . .

Nhà thơ Bích Lan từng viết những câu thơ đằm sâu về con người miền Hương Ngự như ở trên. Đặc biệt ở Huế, chiếc nón bài thơ đă đi vào ca dao và nhạc họa để thể hiện nét thanh lịch, thâm trầm sâu lắng. Người Huế đội nón là đội cả những vần thơ trên đầu mà mơ mộng. Nón t́nh em đội trên đầu, chiếc nón là món trang điểm nhuần nhị cho cô gái Huế.

Do nhu cầu cuộc sống của các vương triều nhà Nguyễn, nhiều làng nghề thủ công nổi tiếng trên vùng đất Huế đă được h́nh thành, phát triển và tồn tại cho đến tận ngày nay, trong đó có chiếc nón bài thơ. Đặc biệt chiếc nón Huế khi đưa lên ánh sáng có thể thấy một bài thơ hay những h́nh ảnh hoa văn được tạo nên khéo léo, bố cục cân đối hiện lên giữa hai lớp lá lợp nón. Ở đó, phong cảnh Huế ḥa quyện cùng những vần thơ t́nh tứ. Phải là một tâm hồn mẫn cảm với cái đẹp, người thợ thủ công Huế mới tạo nên một tuyệt phẩm như thế. Nghề làm nón ở Huế đă tồn tại và phát triển hàng trăm năm, qua nhiều làng nghề thủ công như Dạ Lê, Phú Cam, Đốc Sơ, Triều Tây...Nón bài thơ có sức quyến rũ với những du khách mỗi khi thăm Huế:

Ai ra xứ Huế mộng mơ
Mua về chiếc nón bài thơ làm quà

Người Huế đội nón lá không đơn thuần là che nắng che mưa mà c̣n mang bao nhiêu t́nh tự trong đó. Cô gái Huế có khi đội nón trên đầu, có khi cầm nón nghiêng nghiêng che nửa mặt như một cách làm duyên kín đáo. H́nh ảnh đài các duyên dáng của cô gái Huế thấp thoáng trong bài hát “Rất Huế” mang vẻ đẹp ngoan hiền, đoan trang không nơi nào có được, “Gặp anh nón hỡi đừng nghiêng xuống, cho anh xem mắt ngọc mày ngài...”

Nón lá c̣n là một phần không thể thiếu khi tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Tà áo dài, chiếc nón lá đă trở thành một h́nh ảnh chuẩn mực của người phụ nữ vừa đẹp người vừa đẹp nết, nhẹ nhàng và trang nhă. Nếu tà áo dài tôn lên vẻ đẹp thướt tha, duyên dáng, thùy mị, đoan trang của người con gái th́ nón lá lại làm cho vẻ đẹp ấy kín đáo, dịu dàng và đậm đà thêm. Nét riêng của chiếc áo dài và nón bài thơ của Huế là giá trị thẩm mỹ của con người chốn thần kinh.

Những cô gái Huế duyên dáng, dễ thương, nói năng nhỏ nhẹ

Áo trắng hỡi, thuở t́m em không thấy,
Nắng mênh mang trải mấy nhịp Tràng Tiền
Nón rất Huế, nhưng đời không phải thế
Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng . . .

(Thu Bồn)

Nh́n một cách phổ quát, làng nghề nào cũng rất giản dị, yên b́nh, trong lành như những chiếc nón trắng kia, những chiếc nón tuy bé nhỏ nhưng đă chở che cho những cuộc đời từng trải qua bao giông băo gió mưa. Người phụ nữ Việt Nam đồng hành cùng chiếc nón lá tạo nên vẻ đẹp nền nă, duyên dáng bằng chính yêu thương cuộc sống và tấm ḷng của ḿnh.

MN, 2018