TRÀ VIỆT NAM

 

Trà Việt Nam có một lịch sử lâu dài 2,000 năm như China 1). Theo truyền thuyết, trà trồng ở Việt Nam có xuất xứ từ vùng Tam Giác Vàng (Golden Triangle), vùng này nằm giữa biên giới của China, Laos, Burma (Myanmar), Thailand và Việt Nam 2) 

Kỷ nghệ trà của Việt Nam được khai thác bởi người Pháp vào cuối thế kỷ 19 và từ năm 1980 sau thời kỳ “Đổi Mới”, tiếp tục phát triển, hiện tại Việt Nam đã trở thành một trong những nước sản xuất và xuất khẩu trà lớn nhất của thế giới 3).

                                     Hình 1.   Hoa và trái của cây trà (Camellia Scinensis).

Môi trường trồng trọt

Môi trường trồng trọt của trà thích hợp với những vùng nhiệt đới hay bán nhiệt đới, có nhiệt độ từ 10-30 C, khí hậu ẩm ướt và cần một lượng nước ít nhất là 125 cm mỗi năm. Lý tưởng là nơi đất có thể thoát nước tốt (có độ dốc 0.5-100) và acid nhẹ. Trà có thể trồng ở nơi có độ cao 600-2000 m so với mặt nước biển. Việt Nam nhờ đất đai có phẩm chất tốt và khí hậu thích hợp nên trà được trồng nhiều từ vùng nhiệt đới trung phần tới vùng núi non bán nhiệt đới ở bắc phần, trên khắp hơn 30 tỉnh. Trà được trồng tập trung tại các tỉnh như Lâm Đồng (cao nguyên trung phần), Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang (đông bắc), và Yên Bái (tây bắc). Hơn 80.000 ha đất được dùng để trồng trà, cung cấp việc làm cho người dân. Cơ sở trà của Việt Nam hầu hết thuộc loại nhỏ 2), tuy nhiên về sản xuất Việt Nam đứng thứ 6 và xuất khẩu đứng thứ 5 của thế giới 4).  

Các loại trà được trồng ở Việt Nam và sản phẩm   

1.    Các loại trà được trồng ở Việt Nam 3)

Để trà Việt Nam tiếp tục tăng trưỡng, nông dân được khuyến khích trồng những loại trà có khả năng thu hoạch cao, chống được thời tiết hạn hán, bịnh tật và sâu bọ. Những loại giống này chủ chốt gồm: 

PHI (camellia sinensis var assamica của India), để chế biến black tea.  

TRI 777 (camellia sinensis var publilimba của Sri Lanka) để chế biến green tea.  

Kim Tuyen (Jin Xuan của Taiwan) thích hợp để chế biến oolong tea và green tea.

Phúc Vân Tiên (hybrid của China) để chế biến black tea và green tea. 

LDP1 (hybrid, của NOMAFSI, Việt Nam), thích hợp để chế biến black tea.

LDP2 (hybrid, a higher yield NOMAFSI, Việt Nam) để chế biến black tea.

Gần đây các loại giống trà khác cũng được trồng khá nhiều như: Bát Tiên (China), Thúy Ngọc, Tứ Quý, Thanh Tâm (tất cả từ Taiwan) và nhiều nhất là Trung Du (Varsinensis f. Macrophylla) của Việt Nam. Hạt giống Trung Du được cung cấp từ trung tâm Phú Thọ, nơi bảo tồn các loại trà giống của Việt Nam, được trồng rộng rãi ở Thái Nguyên. (Trung tâm nghiên cứu về trà được thành lập ở Phú Thọ vào năm 1918, là tiền thân của NOMAFSI (Northern Mountainous Agriculture & Forestry Science Institute) ngày nay. 

Ngoài ra Việt Nam còn có vài loại trà chế biến từ loại cây trà dại (wild tea tree), có nguồn gốc từ giống camellia sinensis var assamica và vài giống khác như camellia taliensis. Khác với các loại trà thông thường có chiều cao khoảng 60 cm, loại trà dại có chiều cao từ 5-15 m 5), tập trung ở các tỉnh Hà Giang, Lao Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu và Điện Biên do người thiểu số H’Mang và Dao trong đời sống du mục, họ mang theo hạt giống và trồng lại tại những nơi họ đến (hình 2 và 3).

Mùa thu hoạch của trà bắt đầu từ tháng 3 tới đầu tháng 11, nhưng tốt nhất là trà được hái từ tháng 4 tới tháng 9. Tùy theo thời tiết và địa lý, có nơi, trà được hái quanh năm, cách nhau 6-9 ngày, nhưng trung bình trà Việt Nam hái được 8 lần mỗi năm 22).

                       

   Hình 2.  Vườn trà ở Thái Nguyên               Hình 3.  Cây trà dại (wild tea tree)    

2.    Sản phẩm trà của Việt Nam 6)

a)    Trà sen (Lotus tea): Là loại trà có phẩm chất cao, do trà xanh có phẩm chất cực cao, được ướp vào giữa đóa hoa sen trong khoảng thời gian một ngày hoặc trộn lẫn với những cánh hoa sen để có hương vị của hoa sen. Trà sen có vị ngọt hơn trà lài.

b)    Trà lài (Jasmine tea): Có mùi vị đậm hơn trà sen, nhưng trà sen là loại trà đặc biệt dùng cho những buổi họp mặt quan trọng, còn trà jasmine là loại trà thông thường có thể dùng cho mọi khi.

c)    Trà atiso (Artichoke tea): Là một loại herb tea, chế biến từ lá, rễ, thân cây và hoa của cây artichoke. Loại trà này được trồng nhiều ở Lâm Đồng 7).

d)    Trà đắng (Kuding tea): Có thể chế biến từ mướp đắng như trà khổ qua, có chứa nhiều chất chống oxy hóa (antioxidants).

e)    Trà nụ (Bud tea): Chế biến từ nụ của hoa trà.

f)     Trà vối: Chế biến từ nụ và lá của loại cây cleistocalyx operculatus.

Ngoài ra, Việt Nam còn có các loại trà khác như trà cúc (Chrysanthemum tea), trà ngâu (Aglaia tea) và trà sói (Chloranthaceae tea).

Tuy nhiên ở Việt Nam, có 3 loại trà chính (hình 4), được xem phổ biến nhất:

Trà xanh (Green tea): Lá trà xanh, sau khi hái, có thể trực tiếp đun sôi trong nước nóng, khoảng 15 phút để uống mà không cần phải biến chế. Trà xanh sau khi chế biến thành sản phẩm, chỉ cần dùng nước nóng ở nhiệt độ 80-85 C để pha trà. Nếu để lâu hơn trà sẽ có vị đắng, tuy nhiên có nhiều người vẫn thích vậy, vì trà có vị mạnh hơn (hình 4a).

Trà mạn (Black tea): Loại cây để chế biến trà mạn thường có chiều cao gần 1 m, trồng thành bụi,  ở những vùng đất thấp (low land) hay nơi có địa hình phức tạp như ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, hoặc vùng cao nguyên như ở Lâm Đồng, Gia Lai và Kon Tum (hình 4b). Trà mạn có thể dùng nước nóng ở nhiệt độ 90 C hay cao hơn để pha trà. Trà mạn còn có thể chế biến từ lá trà dại.

Trà hương (Scented tea): Loại trà này chế biến từ trà mạn, trộn với các loại hoa và thảo mộc (herbs), cho ra các loại trà, vừa có vị ngọt, đắng, mùi thơm đặc biệt cũng như texture và màu của nước trà (hình 4c).  

            

Hình 4a. Trà xanh (green tea).       Hình 4b. Trà mạn (black tea).          Hình 4c. Trà hương (scented tea).

3.    Vài loại trà trên thế giới 7)

Trà của China: Gunpowder Green Tea, Pai Mu Tan White Tea, Keemun Black Tea, Lapsan Soucxhon Black Tea, Chinese semifermented Oolong Tea, Pu-Erh Red Tea, Pressed Red Tea and Jasmine Tea (blend).

Trà của Nhật Bản: Green Tea Bancha, Green Tea Gyokuro, Green Tea Kukicha (three years old tea), Green Tea Sencha, Matcha (powdered green tea), Genmai cha Tea (blend).

Trà của Ấn Độ: Darjeeling Black Tea, Assam Black Tea, Chai Tea (blend). Trà của Sri Lanka: Ceylon Tea.

Trà của Great Britain: Earl Grey Tea, English Breakfast Tea (blend.

Phương pháp chế biến các loại trà 8)

Lá trà có thể dùng máy (có cơ năng như máy hút bụi vacuum cleaner) hoặc dùng tay. Dùng máy thường cho các loại trà có phẩm chất thấp vì khi hút, không phân biệt được loại lá trà có phẩm chất cao ở đầu nhánh với lá trà có phẩm chất thấp ở phía dưới của nhánh cây, nên hầu hết hái lá trà bằng tay vẫn thịnh hành. Cùng một loại lá trà nhưng với phương pháp chế biến khác nhau cho ra những loại trà có mùi vị, màu và texture khác nhau như trong hình 5 ở dưới. Thông thường, chế biến trà căn bản dựa theo hai phương pháp, đó là phương pháp CTC và Orthodox.

a)    Phương pháp CTC (crush, tear, curl): Dùng máy để ép hầu hết chất nhựa ra từ lá trà đã được ủ (withering), sau đó xé nhỏ (tearing) và cuốn (curl) lại thành cục. Tiếp theo là làm giảm thành phần nước (dehydration) trong lá trà bằng nhiệt như đốt nóng “fired”.

Phương pháp này thích hợp cho những hảng xưởng chế biến có lượng lá trà lớn cần xử lý nhanh. Trà chế biến theo phương pháp này có phẩm chất trung bình, tuy nhiên phương pháp CTC vẫn đóng một vai trò quan trọng và phổ biến để chế biến các loại trà.

b)    Phương pháp Orthodox: Phương pháp này hầu hết dùng tay và hơi phức tạp hơn phương pháp CTC. Trà sản xuất theo phương pháp CTC có mùi vị mạnh hơn trà sản xuất bởi phương pháp Orthodox.

1.    Cách chế biến trà mạn (black tea):

Ủ lá trà (withering): Trải lá trà tươi trên sàng, ở nơi thoáng khí và che nắng, ủ tới khi lá trà trở nên héo và mềm. Lý do là để lá trà không bị gảy khi qua giai đoạn lăn (rolling).           

Lăn lá trà (rolling): Giai đoạn này thường đều dùng máy, giúp trộn lẫn những thành phần hóa học trong lá trà rĩ ra ngoài và để bắt đầu qua giai đoạn oxy hóa (oxidation).

Oxy hóa (oxidation): Phản ứng oxy hóa phần nào đã bắt đầu từ giai đoạn rolling, do các chất polyphenols, enzymes trong lá trà rĩ ra ngoài trong khi lăn, phản ứng với oxygen trong không khí, làm thay đổi màu như từ màu xanh của green tea ra màu nâu của trà mạn. Phản ứng oxy hoá càng lâu, sản phẩm trà sẽ mất đi mùi thơm và có vị cay, nồng.

Trong hình 5, danh từ fermentation (lên men) được thay thế bởi oxidation (oxy hóa), vì fermentation không đúng nghĩa của nó ở đây, nhưng lại thích hợp với oxidation. Vì để lên men, phản ứng cần phải có vi sinh vật như bacteria hay yeast như trong trường hợp làm beer hay bánh mì, còn oxidation thì chỉ là một phản ứng hóa học, không cần phải có thêm bacteria hay yeast.

Sấy khô (firing): Sấy khô vừa để giãm lượng nước trong trà vừa để chấn dứt phản ứng oxy hóa, thích hợp để tồn trữ.

2.    Cách chế biến trà oolong (Wulong tea): Loại trà này chế biến tương đối giống trà mạn, nhưng chỉ giữ ngắn lại thời gian oxy hóa. Trà oolong có màu đậm và mùi vị nặng hơn trà xanh, nhưng có màu nhạt và mùi vị nhẹ hơn trà mạn.

3.    Cách chế biến trà xanh (green tea): Loại trà này đặc biệt không có phản ứng oxy hóa, Lá trà được xử lý ở nhiệt độ cao ngay sau khi hái bằng hơi nước (95 C) hay pan-frying để làm ngưng hoạt tính của các loại enzymes trong lá trà để giữ nguyên màu và mùi vị của lá trà.

4.    Cách chế biến trà trắng (white tea):  Loại trà này không cần ủ, chỉ cần sấy khô trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời và cuốn bằng tay để thành chế phẩm.

Hình 5.  Phương pháp chế biến các loại trà.

 

Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của trà

1.    Thành phần hóa học

     Bảng 1. Thành phần hóa học của trà tươi, trà khô và của nước trà (%, dry weight basis)

Thành phần

Trà tươi

Black tea

Nước trà black tea*

Green tea

Phenolic compounds

30

5

4.5

30

Oxidized phenolic compounds

0

25

15

0

Protein

15

15

Traces

15

Amino acids

4

4

3.5

4

Caffeine

4

4

3.2

4

Crude fiber

26

26

0

26

Other carbohydrates

7

7

4

7

Lipids

7

7

Traces

7

Pigments (Chlorophyll & Carotenoids)

2

2

Traces

2

Volatile compounds

0.1

0.1

0.1

0.1

Minerls

5

5

4.5

5

*Brewing for 3minutes

Thành phần phenolics đại diện cho phenols và polyphenols, chiếm từ 25-35% của trà khô. Chồi (bud) và lá trà trà đầu tiên ở tận ngọn, có lượng polyphenols cao nhất và giãm dần xuống từ những lá ở phía dưới. Có khoảng 30.000 hợp chất polyphenols trong trà và flavonoids của polyphenols là loại quan trọng nhất vì có đặc tính chống oxy hóa (bảng 1).

Flavonoids gồm flavanols, flavonols, flavones và anthocyanins. Flavanols lại gồm có catechin (C), epicatechin (EC), epicatechin gallate (ECG), gallocatechin (GC0, epigallocatechin (EGC) và epigallocatechin gallate (EGCG), các loại catechins chiếm gần 25% của lá trà khô 10). Flavanol cũng thường là đối tượng để nghiên cứu về chống oxy hóa của trà. Flavanols khi bị oxy hóa, cho ra theaflavins có màu đỏ (bright red) và thearubigins, có màu vàng đỏ (reddish-yellow) như thấy trong nước trà của black tea. Flavonols, flavones, isoflavones và anthocyanins còn tạo ra màu và mùi vị của nước trà.

Amino acids cho ra mùi vị ngọt và umami trong trà. Ánh nắng mặt trời biến đổi amino acids ra polyphenols, trà trồng dưới bóng râm cho ra nhiều amino acids hơn trà trồng trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời. Có nơi người ta che cho trà dưới bóng râm vài tuần lễ trước khi hái để có thành phần amino acids cao hơn và cho ra vị ngọt umami nhiều hơn. Theo một nghiên cứu, nếu được che lại trong 22 ngày, lượng amino acids sẽ tăng gần 4 lần so với trà không được che nắng 11). Trà gồm có nhiều amino acids, nhưng nhiều nhất là theanine. 

Enzymes trong lá trà, quan trọng nhất là polyphenol oxidase, peroxidase và chlorophyllase. Các loại enzymes này ảnh hưởng đến màu sắc của trà sau khi lá trà được lăn và ép (press and rotating). Khi lăn và ép, tế bào của lá trà bị vỡ và chất polyphenols lộ ra ngoài, trực tiếp tiếp xúc với oxygen trong không khí, cùng với các loại enzymes trên, tạo ra quá trình oxy hóa,

Caffeine chiếm 2.5-5.5% của lá trà dưới dạng khô, ảnh hưởng tới vị của trà.

Chlorophyll bị phân giải bởi chlorophyllase trong quá trình chế biến cho ra chlorophyllid và pheophorbides, có màu nâu, hai thành phần này trong giai đoạn sấy khô (firing), biến đổi thành pheophytines, cho ra màu đen như của trà mạn.

 Minerals, nguyên tố khoáng chất trong lá trà gồm 28 loại, so với những loại thực vật khác, trà chứa nhiều khoáng chất, nhất là fluorine, manganese, arsenic, nickel, selenium, aluminum, iodine và potassium.    

2.    Giá trị dinh dưỡng của trà 12)

Trà được xem là một trong những thức uống phổ thông và tốt nhất cho sức khỏe vì có chứa nhiều chất kháng oxy hóa polyphenols, vitamins, khoáng chất và amino acids. Trong các loại trà, trà xanh (green tea) và trà mạn (black tea) là hai loại trà được tiêu thụ nhiều nhất, nên giá trị dinh dưỡng được chú ý nhiều hơn các loại trà khác.

Polyphenols: Trà xanh và trà mạn đều chứa chất kháng oxy hóa flavonoids, một loại của polyphenols, tuy nhiên khác nhau ở nồng độ và loại flavonoids, như trà xanh chứa nhiều chất catechins, trong khi trà mạn chứa nhiều theaflavins. 

Flavonoids được cho là có thể ngăn ngừa bịnh tim mạch 13, 14), giúp giảm lượng cholesterol trong máu 15) và huyết áp 16, 17). Thành phần tannins và proanthocyanidins của flavonoids còn có hiệu quả ngăn ngừa mạch máu bị nghẻn và tốt cho sức khỏe của mắt.

Caffeine: Trà xanh chứa ít caffeine hơn trà mạn, như 15-25 mg caffeine trong trà xanh thì trà mạn chứa 40-70 mg, nhưng ít hơn nhiều so với cà phê (bảng 2) 18).

                           Bảng 2. Caffeine in tea vs. coffee 19)

Green tea

15-25 mg

Black tea

40-70 mg

Oolong tea

18-33 mg

Espresso

108-180 mg

Brewed coffee

80-115 mg

Instant coffee

65 mg

Caffeine có hiệu quả kích thích (stimulatory effect) hệ thống thần kinh bằng cách ngăn chận inhibitory neurotransmitter adenosine và phóng xuất mood-enhancing neurotranmitters như dopamine và serotonin, giúp cảnh giác, phản ứng nhanh hơn 19). Trà còn có chứa theobromine và theophylline, là những chất có tác dụng kích thích thần kinh hệ.

Khoáng chất: Trà có chứa magnesium, potassium, calcium, manganese và fluoride. Các khoáng chất này có hiệu quả lợi tiểu (diuretic), kiềm hóa (alkalizing) và tốt cho thân thể. Ngoài ra fluoride còn giúp làm giảm sâu răng và tannins có tác dụng chống vi khuẩn.

Amino acids: Trà xanh và trà mạn có chứa L-theanine, một thành phần của amino acids không có trong cà phê. L-theanine giúp giải phóng chất inhibitory neurotransmitter trong nảo, có tên là gamma-aminobutyric acid (GABA), giúp thư giản và cảnh giác. L-theanine còn giúp giải phóng chất hóc môn như dopamine và serotonin vì vậy L-theanine được xem có vai trò cân bằng với caffeine, chẳng hạn, người dùng cả hai loại caffeine và L-theanine, có được sự chú ý tốt hơn đối với người dùng chỉ một loại 20). Tóm lại, caffeine có tác dụng gia tăng sự cảnh giác và chú ý, L-theanine giúp giải phóng stress và làm dịu cơ thể. Trà xanh chứa nhiều L-theanine và vitamin C hơn trà mạn vì vitamin C của trà mạn ở giai đoạn oxy hóa, bị phân giải.

Trà Việt Nam sản xuất và xuất khẩu

Theo Euromonitor, World Bank8),  căn cứ trên mỗi đầu người dùng trà thì người Việt chỉ dùng 0.437 lbs mỗi năm, so với những nước tiêu thụ trà như Turkey, 6.961 lbs, Ireland, 4.831 lbs, UK, 4.218 lbs, Russia, 3.051 lbs, Japan, 2.133 lbs; China, 1,248 lbs; India, 0.715 lbs; Taiwan, 0.651 lbs.

Việt Nam, China và Japan là những nước ưa chuộng trà xanh, nhưng loại trà được dùng nhiều nhất thế giới vẫn là trà mạn (black tea), Turkey, Ireland, UK, Russia là những nước tiêu thụ trà nhiều nhất cũng đều dùng trà mạn.

Tổng sản lượng trà của thế giới trong năm 2018 là 5,896,644 tấn 21) (bảng 3).

Hơn 60% trà sản xuất tại Việt Nam là Cut-Tear-Curl (CTC) trà mạn, 35% là trà xanh và 5% là các loại trà đặc biệt như trà sen hoặc trà hương. Việt Nam còn sản xuất vài loại trà đặc biệt như Sơn Tuyết, chế biến từ trà dại.

Theo FAO của United Nation, trà mạn tăng 2.2% mỗi năm trong những thập niên tới, sẽ đạt 4.4 triệu tấn trong năm 2027, trong khi trà xanh tăng 7.5%, sẽ đạt 3.6 triệu tấn, do đó, lượng trà tiêu thụ dự đoán cũng sẽ tăng.   

Bảng 3. Những nước sản xuất trà nhiều nhất thế giới trong năm 2018 22) 
 

Vị trí

Nước sản xuất

Sản xuất trong năm 2018 (tonnes)

1

China

2,414,802

2

India

1,252,174

3

Kenya

473,000

4

Sri Lanka

349,308

5

Turkey

243,000

6

Vietnam

240,000

7

Indonesia

144,105

8

Argentina

89,609

9

Japan

80,200

10

Iran

75,000

                  

 

 

 

 

 

 

Source: Food and Agriculture Organization (FAO)

Về xuất khẩu, trong năm 2018, theo thống kê của General Department of Customes, Việt Nam xuất khẩu hơn 127.3 ngàn tấn trà có giá trị 217.8 triệu US và Pakistan là nước nhập khẩu trà Việt Nam nhiều nhất, chiếm 30%, sau đó là Taiwan, 14.6% của tổng lượng trà xuất khẩu. Trung bình giá trà xuất khẩu trong 3 tháng đầu của năm 2019 là $1,727 US/tấn, tăng gần 11% so với 3 tháng đầu của năm 2018 23).

Tổng kết

Việt Nam là nước có lợi thế về điều kiện khai thác nông nghiệp mà cụ thể, kỷ nghệ trà là một điển hình. Dù vậy, theo Vietnam News (Sept. 14/19) bộ Nông nghiệp và Phát triễn Nông thôn (MARD) đã chỉ ra rằng, kỷ nghệ trà của Việt Nam cần chú trọng hơn về phẩm chất, đa dạng hóa sản phẩm và xây dựng bản hiệu (brand) để phát triễn được bền vững (sustainability).

Những nổ lực để giải quyết những vấn đề trên, bộ MARD đã đưa ra một project 3 năm kể từ năm 2017, chú trọng đến cách quản lý thuốc trừ sâu và cải thiện cách trồng trọt để hợp với tiêu chuẩn của VietGAP.

Một hội nghị do MARD, Unilever Vietnam và vài tổ chức tư vấn quốc tế tổ chức tại Hà Nội, có ý kiến cho rằng, Việt Nam dù có điều kiện tốt về đất đai để trồng trà, và có thu hoạch cao so với nhiều nước khác, nhưng lại không theo tiêu chuẩn quốc tế về phẩm chất.

Trong hội nghị này, Flavio Corsin, một chuyên gia về nông nghiệp, là giám đốc của IDH Vietnam, có ý kiến rằng, Việt Nam còn có quá nhiếu bất cập về phương hướng của chính sách phát triễn đối với kỷ nghệ sản xuất trà của Việt Nam, đặc biệt không có sự đồng thuận giữa khu vực công và tư, giữa chính quyền trung ương và địa phương về cấu trúc chiến lược, làm sao để cải thiện phẩm chất và nâng cao tính bền vững cho ngành kỷ nghệ trà.

Những cơ chế độc lập quốc tế có thể chứng nhận trà sản xuất gồm Rainforest Alliance, Fairtrade, UTS và Organic. Những cơ chế này cũng áp dụng cho kỷ nghệ sản xuất cà phê, cocoa và trái cây 25). Trà sản xuất được chứng nhận bởi những cơ chế này, thì khi xuất khẩu, giấy chứng nhận sẽ được ghi trên bao bì. Unilever được chứng nhận bởi Rainforest Alliance cho trà Lipton và PG Tips, xuất khẩu sang Âu châu, Úc và Mỹ.

Sản xuất trà của Việt Nam cũng còn có vài vấn đề nữa, như có những công ty muốn sản phẩm đạt tiêu chuẩn của chính phủ, nhưng không có đủ khả năng về kinh tế để trang bị thêm máy móc và thiết bị, vài công ty khác lại không thích hoặc không chú ý đến việc có được các cơ chế quốc tế chứng nhận về sản xuất (tea production certification) vì thị trường nội địa phần lớn của họ không cần được chứng nhận. Trong quá trình chế biến trà, lại có nhiều chất thải (waste) làm giãm hiệu quả sản xuất, ảnh hưởng đến phẩm chất và giá cả xuất khẩu của trà Việt Nam, những vấn đề này cần được chính phủ quan tâm.

Tham Khảo

1. Vietnamonline.com/best-of-vietnam/3-most-popular-tea-varieties-in-vietnam.html

2. https://www.umiteasets.com/blog/tea-history-in-Vietnam.html 

3. https://www.specialteaalliance.org/world-of-tea/Vietnamese-tea-origin/ 

4. World tea production and Trade. Current and future development, (Food and Agriculture Organization of the United Nations, Rome, 2015): a-i4480e.pdf

5. https://specialteaalliance.org/world-of-tea/Vietnamese-tea-production-history 

6. https://en.m.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_tea 

7. Botanical-online.com/en/medicinal-plants/tea-types

8. dreamtravelvietnam.com/follow-the-guide-details/tea-process-2094.html

9. Wenner, Robert “The Deep Roots of Vietnamese tea”

(digitalcollections.sit.edu/isp collection/1159)

10. qz.com/168690/where-the-worlds-biggest-tea-drinkers-are/

11. Wei-Wei Deng, et al.: Plant Growth Regulation 71, 3 (2013), 295-299

12. teaepicture.com/tea-chemistry

13. nature.com/articles/1602489

14. ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19668087

15. ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/15161246

16. ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4117505

17. ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4150247

18. Cabrera C et al. (2006): Beneficial effects of green tea-A review. Journal of the American College of Nutrition, 25(2), 79-99

19. ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/ PMC 2748160/

20. ncbi.nlm.nih.gov/pmc/ articles/PMC 4728665

21. https://www.haelssen-lyon.com 

22. Bizvibe.com/blog/textiles-and-garments/top-tea-producing-countries 

23. Vietnamnews.vn/economy/519866/tea-industry-needs-to-focus-on-quality.html 

24. https://en.vbcsd.vn/detail.asp?id=575 

25. https://en.m.wikipedia.org/wiki/tea 

 

November, 2019

Nguyễn Duy Khải (Exryu Canada)