QUẢ ĐẤT - QUÊ HƯƠNG
 
Dẫn nhập  : Lịch sử của lịch sử
Chương I   : Thời đại toàn cầu
Chương II  : Tấm thẻ căn cước địa cầu
Chương III : Sự hấp hối toàn cầu 
Chương IV : Mục tiêu của người trái đất chúng ta
Chương V : Cái chủ nghĩa hiện thực không thể có 
Chương VI : Chính trị nhân loại
Chương VII : Cải  tạo  tư  duy
Chương VIII : Phúc âm  của sự  trầm  luân
Kết luận

Dẫn nhập :
Lịch sử của lịch sử

 
Tiền sử và lịch sử

Trong hàng chục ngh́n năm, các xă hội "cổ sơ " của những người săn bắt-hái lượm đă lan tràn trên các vùng đất địa cầu, họ không hề biết đến nhau v́ sự cách biệt địa lư, ngôn ngữ, lễ nghi, tín ngưỡng, phong tục. Không xă hội nào giống xă hội nào, có nơi th́ cởi mở, phóng khoáng, nơi khác lại khép kín, câu thúc, có chỗ theo chế độ tản quyền, chỗ theo chế độ tập quyền. Nhưng dù khác biệt, nói chung đó là những loại h́nh cơ bản ban sơ của xă hội những "con người tinh khôn" (homo sapiens) (1) Qua hàng chục ngh́n năm cái cộng đồng lưu lạc (2) của những xă hội tiền sử không hề biết lẫn nhau này đă tạo thành nhân loại.

Sự phát triển của nền văn minh thành thị / thôn quê không những đă không hề biết đến cái nhân loại đó mà c̣n tiêu diệt nó. Những xă hội có lịch sử đă bành trướng, đẩy lùi xă hội cổ sơ vào trong rừng, trong sa mạc rồi ở chính nơi đó các nhà thám hiểm và thăm ḍ của thời đại toàn cầu lại t́m thấy họ để rồi cũng lại nhanh chóng đưa họ đến chỗ diệt vong. Cho đến nay, trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, các xă hội này đă vĩnh viễn bị sát hại mà những kẻ sát hại lại không hề thu lượm được những kiến thức họ đă tích luỹ được qua mấy ngh́n năm.

Lịch sử rất tàn nhẫn đối với các nền văn minh đă chết v́ chiến bại, lại cực kỳ tàn bạo đối với tất cả những ǵ thuộc về tiền sử. Cái tiền sử này thật ra không phải tự nó chết đi mà chính nó đă bị tiêu diệt. Những kẻ sáng lập ra văn hoá và xă hội "con người tinh khôn" ngày hôm nay đă bị diệt chủng. Mà chính cái nhân loại kia, trong giai đoạn lớn lên đă giết hại kẻ sinh ra nó.

Lịch sử ra đời có lẽ cách đây 10.000 năm ở Lưỡng Hà (Mésopotamie), cách đây 4.000 năm ở Ai Cập, cách đây 2.500 năm ở thung lũng Indus (In-đu) và lưu vực sông Hoàng Hà Trung quốc. Qua một sự hoá thân ghê gớm, những xă hội nhỏ bé không nông nghiệp, không nhà nước, không thành phố, không quân đội đă biến thành những đô thị, những vương quốc, đế quốc với hàng chục, hàng trăm ngh́n, rồi hàng triệu dân, có nông nghiệp, thành phố, nhà nước, phân công lao động, giai cấp, chiến tranh, nô lệ, rồi những tôn giáo lớn, những nền văn minh lớn.

Lịch sử, đó là sự h́nh thành, phát triển và đấu tranh một mất một c̣n giữa các quốc gia với nhau. Đó là sự chinh phục, xâm lăng, nô lệ hoá và cũng là sự chống trả, nổi loạn, khởi nghĩa. Lịch sử là những trận chiến, những điêu tàn, những cuộc lật đổ chính quyền, mưu phản. Đó là sự ồ ạt của thế lực và sức mạnh, là sự vô chừng mực của quyền hành, sự thống trị kinh rợn của các bạo chúa khát máu, cũng là sự nô dịch, giết chóc quần chúng hàng loạt. Lịch sử là sự xây dựng cung điện, đền đài, kim tự tháp hùng vĩ, cũng là sự phát triển kỹ thuật, nghệ thuật, sự ra đời và hoàn thiện của chữ viết (3), là sự trao đổi hàng hoá, tư tưởng bằng đường biển và trên đất liền. Lịch sử cũng c̣n là ở nơi này một thông điệp của t́nh thương và đồng cảm, ở nơi kia một tư tưởng đặt nghi vấn về lẽ huyền bí của trời đất.

Lịch sử, là tiếng ồn ào và lời thịnh nộ, nhưng đồng thời cũng là sự h́nh thành của những nền văn minh lớn, tưởng ḿnh sẽ đời đời tồn tại, nhưng rồi cũng phải chết : Đó là trường hợp của Ai-cập thời Pha-ra-ông, đế quốc Assyrie (Ax-xê-ri), vương quốc Babylone (Ba-bi-lon), đế quốc Mi-no-en, văn hoá Dravida (Dra-vi-da), Etrusci (Ê-trux-ci), Olmèque (Ôn-mé-cơ), thành quốc A-ten, đế quốc Ba-tư, đế quốc La-mă, thành quốc Maya (Ma-ya, đế quốc Toltèques (Tôn-téc), văn hoá Zapotèques (Da-pô-téc), đế quốc Byzance (Bi-giăng), vương quốc Angkor (Ăng-co), đế quốc Aztèque (Ax-tec), nước Incas (In-ca), vương triều Sassanides (Xát-xa-nít), đế quốc ốt-tô-man, vương triều Habsbourg (Háp-xbuốc), Đệ Tam Đế Quốc (Troisième Reich), Liên bang Xô viết...

Trong khi đế quốc La-mă chỉ kéo dài được vài thế kỷ th́ riêng hai trung tâm văn minh duy nhất vẫn tồn tại qua cả ngh́n năm sau bao cuộc xâm lăng và thay đổi triều đại, đó là ấn độ và Trung hoa.

Lịch sử truyền thống kể cho ta nghe âm thanh và cuồng nộ của các trận chiến, các cuộc đảo chính, những tham vọng điên rồ. Nó ở trên đầu sóng ngọn gió, ở nơi mà "lịch sử mới" chỉ thấy được toàn bèo bọt các sự kiện. Cái lịch sử mới này mà hôm nay đă trở thành cũ lắm rồi, cũng tưởng ḿnh đă nắm bắt được thực chất của tương lai nhân loại bằng cái tất định luận kinh tế - xă hội, nhưng rồi nó lại bắt đầu quay về với nhân chủng học, theo phía đa chiều (hướng). Ngày nay các hiện tượng ngẫu nhiên và đột phát vốn dĩ đầy dẫy trong các khoa học vật lư, vi sinh cũng đă trở lại với khoa học lịch sử. Chúng không chỉ c̣n là bèo bọt mà biến thành thác ghềnh, những khúc ngoặt trong ḍng cuồng lưu lịch sử kia.

Mang tính sự kiện, tính kinh tế-xă hội, tính dân tộc học, rồi đôi khi đă trở thành đa chiều (hướng), lịch sử của các nhà sử học lại cũng phải trở thành nhân loại học. Nhân loại học lịch sử phải biết quan sát những trật tự, đảo lộn, tổ chức đối nghịch, liên kết, quyện vào nhau trong quá tŕnh lịch sử, trong tương quan với những thế lực của trật tự - hỗn loạn - tổ chức vốn thuộc về tinh thần, tư tưởng của con người tinh khôn-rồ dại (Homo Sapiens-demens). Nó cần soi rọi những h́nh thức tổ chức xă hội đă xuất hiện trong quá tŕnh lịch sử, từ Ai-cập dưới thời Pha-ra-ông, thành quốc A-ten thời Périclès (Pé-ri-cléx) cho đến những nền dân chủ và những chủ nghĩa chuyên chế đương đại mà xem đấy là các biểu hiện của tính tiềm tại xă hội nhân loại. Nó phải nh́n rơ vào những cuộc chiến, những cuộc tàn sát, nô dịch, hăm hại, tra tấn, vào ḷng cuồng tín cũng như ḷng tin với những nhiệt t́nh ở đỉnh cao của chúng, vào triết học như những biểu hiện đương đại của tính tiềm tại nhân loại học. Nó có lẽ cũng phải thấy được tính cá biệt của các nhân vật từ Aknaton (Ac-na-ton), Périclès (Pê-ri-clex), Alexandre de Macédoine (A-léc-xan-đơ của Ma-xê-đoan) cho đến Na-pô-lê-ông, Xta-lin, Hít-le, Đờ-gôn như sự cụ thể hoá, đương đại hoá những tiềm năng của con người tinh khôn-rồ dại.

Chúng ta cần có một lịch sử đa chiều mang tính nhân loại học, bao gồm cả những thành phần của âm thanh và cuồng nộ, hỗn loạn và chết chóc. V́ về mặt nhân loại học, lịch sử của những sử gia đă tụt hậu so với những bi kịch Hy lạp, kịch thời Ê-li-da-bét, và đặc biệt là kịch thời Sếch-xpia. Những kịch này đă chứng tỏ rằng bi kịch của Lịch sử là bi kịch của đam mê, vô độ và mù quáng của con người.

Vĩ đại lẫn ghê tởm. Rực rỡ và tàn khốc. Huy hoàng cùng khốn khổ. Những thực tại hai mặt và phức tạp của "bản chất con người" (4) đă được diễn đạt một cách hoang đường trong cái Lịch sử mà cuộc phiêu lưu vẫn tiếp diễn, lan ra, tăng thêm trong thời đại toàn cầu của chúng ta. Hiện nay, số phận của nhân loại đang thôi thúc chúng ta trong một câu hỏi then chốt: Chúng ta có thể nào thoát khỏi cái lịch sử đó hay không? Cuộc phiêu lưu đó sẽ vẫn c̣n là con đường duy nhất của chúng ta ư ?

Những lịch sử trọng đại

Từ thủa gọi là Thời cổ đại và trong 5.000 năm sau đó, Lịch sử đă dàn trải, lan toả ra trên nhiều đại lục. Nhưng cho đến thế kỷ thứ XIV của thời đại chúng ta, nó vẫn chưa có tính toàn cầu. Đó chỉ là những Lịch sử riêng lẻ, giữa chúng không có liên hệ ǵ với nhau. Nhưng rồi, những văn minh lớn, bành trướng bằng chiến tranh và nghề hàng hải bắt đầu khám phá được quả đất.

Trước kia cũng đă từng có những trào lưu sôi sục thúc đẩy con người đi chinh phục thế giới, những trào lưu to lớn mà ngắn ngủi này c̣n để lại những tên tuổi như A-léc-xăng-đơ, Thành cát tư hăn, Ta-mẹc-lăng. Đă có những cuộc mạo hiểm trên biển ở quy mô lớn đến những miền đất lạ như chuyến đi của người Vi-king, họ đă đến châu Mỹ mà không hề biết điều đó và có lẽ cả người da đỏ châu Mỹ đă đến Âu châu mà không hề ư thức được cái họ từng khám phá...

Rồi đến lượt những trào lưu khác như trào lưu của những tôn giáo mang tính thế giới, lấy mục tiêu là loài người, từ ấn Độ đă tràn sang viễn đông (Phật giáo), từ Tiểu á sang Tây phương (Thiên chúa giáo), từ A-ra-bi đi về phía Đông, sang Tây, xuống phía Nam (Hồi giáo). Nhưng những đấng thượng đế lớn đó vẫn là những con người tỉnh lẻ, họ c̣n mù tịt về thế giới, về quả đất, về nhân loại, những thứ tuy vẫn được xem là do các vị ấy đă tạo ra.

Vào thời Trung cổ tây phương, dù lịch sử của các miền vẫn chưa thống nhất, dù những nền văn minh c̣n khép kín, nhưng hoa quả, rau cỏ, gia súc cũng như tơ lụa, ngọc thạch, gia vị đă được du nhập từ Đông sang Tây, từ á sang Âu. Quả anh đào đă từ vùng biển Cax-piên đi đến Nhật bản và Âu châu. Quả mơ đă từ Trung quốc sang Ba tư, rồi từ Ba tư sang phương Tây. Con gà đă từ ấn độ mà bay khắp lục địa Âu-á. Việc dùng sức kéo súc vật, rồi sự sử dụng thuốc súng, la bàn, giấy, kỹ thuật in đều từ Trung quốc đến Âu châu và cung cấp cho nơi này kiến thức và công cụ cần thiết để cất cánh và đặc biệt đưa nó đến sự khám phá ra châu Mỹ. Những nền văn minh A-rập đă phát hiện con số Zê-rô của ấn độ và đem nó về truyền bá cho phương Tây.

Trước thời hiện đại, các nhà hàng hải Trung quốc, Phê-ni-xi, Hy-lạp, A- rập, Vi-kinh đă khám phá ra những không gian rộng lớn của cái mà họ vẫn chưa biết là hành tinh. Một cách ngây thơ, họ đă vẽ bản đồ về cái phần họ biết và xem đấy là tất cả thế giới. Tóm lại, Tây Âu, cái phần nhỏ của đại lục Âu-á suốt trong thời Trung cổ đă nhận được từ miền Viễn đông rộng lớn những kỹ thuật cho phép nó trang bị được đầy đủ kiến thức và phương tiện để khám phá và chiếm cứ châu Mỹ.

Từ đó một sự lên men dồn dập đă bắt đầu ở nhiều điểm trên quả đất để sửa soạn, báo trước, cho ra đời những công cụ, tư tưởng của cái sẽ trở thành kỷ nguyên toàn cầu. Và, ngay lúc Đế quốc ốt-tô-man, sau khi đă chinh phục By-zan-xơ, đến sát tường thành của thành phố Viên (áo), đe dọa trung tâm Châu Âu th́ cái miền viễn tây của Châu Âu này đă xông ra biển để sửa soạn mở ra kỷ nguyên toàn cầu.

Chú thích :

(1). E.Morin, "Phạm thức thất lạc" (Le Paradigme perdu), Paris, Editions du Seuil, "Points Essais". 1979, Tr.165-188

(2). Diaspora: (Tiếng Hy lạp) Lúc đầu để chỉ cộng đồng hoặc khu vực người Do thái lưu lạc ở các nước, nghĩa bóng chỉ tất cả các cộng đồng lưu lạc, tản mạn (Người dịch chú thích :ND).

(3). Khoảng 3.000 năm trước Tây lịch: Văn tự tượng h́nh của Ai cập, văn tự h́nh vẽ của Lưỡng Hà (Mêdôpôtami); khoảng 1500-1400 năm trước Tây lịch: văn tự ghi ư của Trung Quốc, văn tự đường nét của Crète (Cơ-rét) và Hy Lạp, văn tự h́nh góc ở Anatôli. Khoảng 1100 trước Tây lịch người Phênixi đă làm ra chữ mẫu tự.

(4). Về ư niệm "bản chất con người", xem (Le paradigme perdu), sách đă dẫn (sđd), Tr.148-164.