Vài ḍng về tự túc lương thực

Ngô Khôn Trí (Exryu Canada)

Khi công nghiệp phát triển, nhiều nhà máy xuất hiện, nhiều đô thị được thành h́nh, nhu cầu về nhân lực cho các cơ xưỡng, công ty dịch vụ, kinh doanh tăng, lôi kéo nhiều nông dân tham gia vào kinh tế thị trường, tạo ra chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở khu vực nông thôn. Nông nghiệp bị ảnh hưởng. Từ đó, cuộc sống của gia đ́nh nông thôn, phương thức sản xuất và sản lượng nông nghiệp trước đó cũng bị thay đổi theo.

Những vấn đề phát sinh ở nông thôn trong quá tŕnh phát triển công nghiệp có thể được nêu lên như sau:

1. Dân số giảm nhanh.

2. Thiếu lao động sản xuất, nhiều người trẻ di cư vào thành phố lớn hay những khu đang phát triển công nghiệp để t́m việc làm với tiền lương cao hơn.

3. Năng suất lao động thấp v́ phần lớn dân số c̣n lại ở nông thôn là thành phần lao động có tuổi cao.

4. Đất nông nghiệp giảm do bị thu mua để xây dựng nhà máy, khu nghỉ mát, sân gôn. Đất đai để hoang lâu ngày bị tàn phá khó khai thác.

5. So với đô thị, đời sống nông thôn phát triển chậm, thiếu đầu tư cơ sở hạ tầng , thiếu các dịch vụ công cộng do nguồn ngân sách địa phương có giới hạn.

6. Nhiều đàn ông là trai trưởng trong gia đ́nh v́ phải ở lại để phụng dưỡng cha mẹ, ǵn giữ quê cha đất tổ, không có cơ hội t́m được vợ để nối dơi tông đường. Từ đó phát sinh ra những công ty môi giới giới thiệu các cô dâu đến từ các nước nghèo hơn.

Tại Việt Nam ḿnh, trung b́nh mỗi năm dân số tăng khoảng 1 triệu người, tăng 1%. Từ năm 2000 đến năm 2007, mỗi năm dân số ở nông thôn tăng không đáng kể, khoảng 0,3%, trong khi đó mức tăng dân số ở đô thị tăng khoảng 3,5%. Vào năm 2008, dân số ở đô thị tăng đến 3,9% nhưng dân số ở nông thôn giảm đi 0,04 %.

Nhóm người trong tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi chiếm khoảng 66% tổng dân số. Lực lượng lao động chủ yếu tập trung ở nông thôn 71% (năm 2011), chỉ có 2,6 % có tŕnh độ trung cấp, 91,4% không có tay nghề. Một thách thức hiện nay của Việt Nam ḿnh trong tiến tŕnh công nghiệp hóa.

Tỳ lệ dân số nông thôn trên tổng dân số đang giảm dần từ 88,4% vào năm 1950, đến năm 1975 giảm xuống thành 81,2%, đến năm 2010 giảm xuống c̣n 69,6%. Kể từ khi mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào năm 1986 trở đi dân số ở nông thôn giảm liên tục, từ 80% giảm xuống 66% vào năm 2014. Theo dự đoán th́ dân số ở nông thôn sẽ giảm xuống cho tới 41% vào năm 2050.

Tại các đô thị lớn, nhiều cây cầu lớn và nhiều cao tốc hiện đại được đầu tư xây dựng để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Tuy nhiên, ở nông thôn, cơ sờ hạ tầng c̣n yếu kém, hệ thống giao thông ít được quan tâm, thiếu cầu giao thông, hàng trăm học sinh phải lội suối để đi học, người dân phải đi qua những câu cầu treo mong manh kém an toàn để đi làm, ….

Hiện nay, nông nghiệp đóng góp khoảng 35% giá trị xuất khẩu, đóng góp trên 20% GDP cho nên kinh tế chung của đất nước nhưng nông thôn không nhận lại được ngân sách đầu tư phát triển theo tỷ lệ tương xứng ?

Kinh nghiệm từ Trung Quốc:

Trung Quốc có dân số đông nhất thế giới, khoảng 1,35 tỷ dân , quốc gia này sản xuất ra một lượng lương thực lớn nhưng vẫn không đủ cung ứng cho người dân. Bởi v́ từ khi công nghiệp hóa đất nước, hàng năm có khoảng 20 triệu nông dân di cư vào thành thị. Dự đoán dân số thành thị sẽ đạt đến 1 tỷ người vào năm 2025. Số người làm ngành nông giảm đi trầm trọng, từ năm 1997 đến năm 2008, diện tích ruộng đất canh tác giảm 6,2%, số lượng lương thực sản xuất ra giảm nhanh, trong khi nhu cầu tiêu thụ tăng nhanh.V́ thế, Trung Quốc phải nhập lương thực từ khắp nơi trên thế giới. Nhập 8 triệu tấn lúa ḿ (phần lớn tử Mỹ và Úc), là nhà thu mua lúa ḿ số một trên thế giới. Dự định nhập hàng triệu tấn gạo từ Thái Lan trong 5 năm tới mà trước đây Trung Quốc là quốc gia sản xuất gạo nhiều nhất thế giới

Để tránh nguy cơ bị lệ thuộc quá nhiều vào bên ngoài v́ phải nhập khẩu một lượng lớn nông sản, Chính phủ Trung Quốc đă đưa ra một chính sách hỗ trợ cho ngành nông nghiệp bằng cách giúp cơ khí hóa để tăng năng suất (40% lương thực bị lăng phí trước khi đến người tiêu thụ), xóa thuế khóa, hỗ trợ các dịch vụ công cộng để duy tŕ nông dân ở lại nông thôn, lập các kho dự trữ lớn(55 triệu tấn lúa ḿ), để pḥng trường hợp cấp bách, thuê đất canh tác ở nước ngoài để sản xuất lương thực đưa về mẫu quốc . Vào năm 2013, Trung Quốc đă chi hơn 12 tỷ để mua những cơ sở sản xuất thực phẩm trên thế giới, đă đầu tư nhiều nào Ukraine, là nước xuất khẩu ngủ cốc lớn nhất thế giới, mua 3 triệu hec ta đất nông nghiệp ở Ukraine .

Kinh nghiệm từ Nhật Bản:

Dân số nông dân Nhật Bản là 2,6 triệu, chỉ chiếm có 3% trên tổng dân số. Phần lớn là những người lớn tuổi, tuổi trung b́nh của người làm ngành nông là 65,8 tuổi, chỉ có 5% nông dân có tuổi dưới 35 tuổi. Diện tích canh tác so với các nước châu Âu là 1 phần 9, so với Mỹ là 1 phần 99, so với Úc là 1 phần 1862.

Nh́n vào đồ thị trên, ta thấy tỷ lệ tự túc lương thực của Nhật Bản trong năm 2013 ở mức 39%, thấp nhất trong nhóm các nước phát triển công nghiệp cao. V́ thế chính phủ Nhật đă và đang cố gắng, t́m cách nâng cao tỷ lệ tự cung tự cấp về lương thực, mục tiêu là 50% vào năm 2020. Những nỗ lực này bao gồm việc tăng cường tự sản xuất thức ăn gia súc trong nước. Thế nhưng, cho tới nay vẫn chưa có dấu hiệu ǵ cho thấy có sự cải thiện.

Theo giáo sư Itagaki Keishiro của khoa nghiên cứu Nông Nghiệp và Lương thực Quốc tế tại Đại học Nông nghiệp Tokyo th́ những nguyên nhân tại sao tỷ lệ tự túc lương thực của Nhật Bản không tăng là v́:

Thiếu nhân lực trong ngành nông nghiệp khiến diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang ngày càng tăng, trong khi đồng yên mạnh tạo điều kiện cho nhập khẩu.(giá nhập thấp hơn giá bán trong nước).

Trong 20 năm qua, thu nhập từ làm nông luôn thấp, lợi tức từ vụ mùa không đủ để trang trải các chi phí. Đối với sản phẩm nông nghiệp và chăn nuôi có giá trị gia tăng cao, th́ tỷ lệ tự túc của Nhật Bản cao và Nhật Bản phụ thuộc vào nhập khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng thấp.

Chính phủ Nhật khuyến khích nông dân trồng ngũ cốc, thay v́ trồng lúa. Thế nhưng, nếu người nông dân trồng đậu tương thay v́ trồng lúa, th́ họ không thể hy vọng tăng được thu nhập, v́ giá đậu tương thấp. Sau khi trừ đi chi phí tăng đối với phân bón, nhân công, nhiên liệu và những chi phí khác, có thể thấy rằng người nông dân không có động cơ kinh tế để chuyển từ trồng lúa sang trồng loại ngũ cốc khác.

Để đạt được mục tiêu tự túc lương thực lên 50% trong 5 năm tới, chính phủ Nhật đă đặt ra những biện pháp, như cải thiện khả năng cạnh tranh giá cả bằng cách hợp nhất các vùng nông nghiệp nhỏ và có các nhà nông hoặc các tổ chức nông nghiệp có khả năng quản lư những vùng đất này; ổn định thu nhập từ làm nông bằng cách đảm bảo có sự chênh lệch khi mức giá trong nước giảm thấp hơn mức giá quốc tế. Nếu không, tỷ lệ tự túc của Nhật Bản không tăng. V́ vậy, từ nay trở đi, công tác quản lư nông nghiệp có thể cần được hỗ trợ ngày càng mạnh, để giúp các nông dân tăng được thu nhập.

Nhật Bản ngày càng phụ thuộc vào thực phẩm nhập khẩu và ngày càng nhiều công ty Nhật Bản chuyển cơ sở sản xuất ra nước ngoài. V́ vậy, việc cân bằng giữa sản phẩm nội địa và sản phẩm nhập khẩu là một bài toán nhức đầu nhất hiện nay của chính quyền Nhật Bàn .

Kết luận:

Thế giới có 29 nước tiên tiến hay c̣n gọi là các nước có công nghiệp phát triển. Ở những nước này thu nhập b́nh quân đầu người thường cao hơn các nước nông nghiệp.

V́ thế, hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều muốn phát triển công nghiệp để mau chóng đạt được mức thu nhập cao, để nâng cao cuộc sống của người dân, để hiện đại hóa đất nước, để được hội nhập vào cộng đồng các quốc gia có thu nhập cao. Thế nhưng, nếu chỉ chú tâm lo phát triển công nghiệp mà không quan tâm đến phát triển nông nghiệp đúng mức th́ không chỉ hứng chịu những tác động tiêu cực như đă nêu trên, mà c̣n phát sinh nhiều bất công trong xă hội, dễ rơi vào khủng hoảng kinh tế và xă hội hỗn loạn một khi có biến động lớn về giá năng lượng, khủng hoảng tài chánh, nhất là khi kinh tế toàn cầu bị suy thoái.

Nông nghiệp là nền tảng căn bản cung cấp lương thực cho con người để duy tŕ cuộc sống. Vấn đề an ninh lương thực là vấn đề quan trọng như là an ninh quốc gia. Xét về mặt chiến lược, nếu một quốc gia không tự túc được lương thực th́ không đảm bảo được tính độc lập của quốc gia đó? . V́ thế:

-Cần phải xây dựng hạ tầng cơ sở tốt ở nông thôn .

-Giúp nâng cao năng suất và hỗ trợ thêm nguồn thu nhập mới cho nông dân để tránh t́nh trạng nông dân rời bỏ nông thôn di cư ồ ạt vào các đô thị lớn.

-Không cho phép xử dụng vùng đất tốt của nông nghiệp để xây dựng nhà máy, sân gôn.

-Mở rộng đầu tư thuê, mua đất canh tác ở nước ngoài.

-Tập trung đầu tư mua lại các cơ sở sản xuất lương thực lớn trên thế giới.

-Liên kết kinh tế với những quốc gia thân thiện.

Muốn phát triển bền vững cần duy tŕ tự túc lương thực ?

Một vài ư kiến thô thiển.

Montreal, ngày 1 /3/2015

Ngô Khôn Trí

 

© "Khi phát hành lại bài này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"
Ư kiến, cảm tưởng xin gởi về nktri@yahoo.com