Lạm bàn về mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc (*)

Ngô Khôn Trí (Exryu Canada)

Mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là mối quan hệ của 2 người láng giềng, 2 người bạn, tuy thỉnh thoảng có gây gổ với nhau nhưng lại là 2 người bạn lâu đời và hiểu nhau nhất. Gần đây, mối quan hệ này thay đổi như thời tiết, lúc mưa lúc nắng. Không ai mà không đặt câu hỏi: “ Tại sao mới thấy căng thẳng về chuyện tranh giành chủ quyền trên những quần đảo ở Biển Đông, tưởng chừng như bên bờ chiến tranh mà bây giờ lại tuyên bố hợp tác toàn diện. Giống như cặp vợ chồng son mới căi nhau hôm qua, hôm nay lại làm ḥa với nhau.? ”

Nếu mối quan hệ của 2 nước được phát triển giống như những ǵ mà 2 nước đă từng cam kết với nhau th́ chắc có lẽ đă không có chuyện xích mích kéo dài trong mấy năm nay. Vậy nguyên nhân phát xuất từ đâu? Ai là người đă không tuân thủ những ǵ đă cam kết với nhau? Việc ǵ đă gây ra sự hiểu lầm?. Việc này không ai hiểu rơ hơn bằng chính 2 người trong cuộc, người ngoài không biết rơ nguyên nhân, bột phát không đúng lúc, bị kích động bởi tinh thần dân tộc quá khích sẽ làm cho vấn đề trở nên phức tạp thêm .

Kể từ khi b́nh thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, - Các cuộc gặp gỡ giữa Lănh đạo cấp cao hai nước được duy tŕ đều đặn hàng năm. Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tháng 2/1999, lănh đạo cấp cao hai nước đă xác định phương châm 16 chữ thúc đẩy quan hệ hai nước trong thế kỷ 21 là "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Dịp Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Trung Quốc tháng 12/2000, hai bên đă kư Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, cụ thể hoá phương châm 16 chữ đó thành những biện pháp cụ thể phát triển quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực. Hai bên cũng đă thoả thuận đưa hai nước trở thành "láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt".

Năm 2004, Trung Quốc đă trở thành một đối tác thương mại lớn của Việt Nam, với kim ngạch hai chiều đạt 7,19 tỷ USD (tăng 190 lần so với năm 1991). Tám tháng đầu năm 2004 đạt khoảng 5,56 tỷ USD, tăng 30,2%.

Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là dầu thô, hàng nông sản, thủy-hải sản, khoảng sản, lâm sản, hàng dệt may, giày dép, hàng điện tử vi tính. VN mua lại của TQ xăng dầu, sắt thép, nguyên phụ liệu dệt may-da-giày, phân bón, thiết bị và linh kiện ôtô, xe máy.

Ngày 14/3/2005, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam), Công ty Dầu khí quốc gia Philippines (PNOC) và Tổng công ty Dầu khí quốc gia ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) đă kư “thỏa thuận ba bên về khảo sát địa chấn biển chung trong khu vực thỏa thuận tại biển Đông”. Theo đó, các bên cam kết thực hiện nghiêm chỉnh công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông kư năm 2002 giữa ASEAN - Trung Quốc và bày tỏ quyết tâm biến biển Đông thành khu vực ḥa b́nh, ổn định, hợp tác và phát triển.

Theo thỏa thuận, các bên sẽ cùng tiến hành nghiên cứu chung về tiềm năng tài nguyên dầu khí trong một khu vực tại biển Đông với thời hạn ba năm (2005-2008). Thỏa thuận nhấn mạnh nguyên tắc b́nh đẳng, nhất trí giữa các bên liên quan trong quá tŕnh thực hiện khảo sát chung.

Các bên cũng khẳng định việc kư thỏa thuận này không làm phương hại đến lập trường cơ bản của chính phủ mỗi bên về vấn đề biển Đông.

Ngày 16/11/2006, Tại Hà Nội, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cùng Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào chứng kiến kư kết hơn 11 văn kiện hợp tác. Khẳng định Việt Nam hết sức coi trọng và luôn luôn coi việc phát triển quan hệ hợp tác toàn diện và bền vững với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Biên bản ghi nhớ về triển khai hợp tác “Hai hành lang một vành đai” kinh tế Việt - Trung; Công hàm trao đổi về lao động và nguồn nhân lực giữa hai chính phủ; Bản ghi nhớ về công tác kiểm dịch y tế biên giới; Bản ghi nhớ về xây dựng nhà máy nhiệt điện than miền Nam giai đoạn 2; Thoả thuận thăm ḍ dầu khí chung trong khu vực; Thoả thuận ngoài khơi vịnh Bắc Bộ; Thoả thuận khung về hợp tác đầu tư các dự án thuộc hai hành lang một vành đai và các dự án liên quan; Dự án sản xuất phân đạm từ than cám Ninh B́nh...

Kim ngạch buôn bán hai chiều tăng từ 32,23 triệu USD năm 1991 lên 8,739 tỷ USD năm 2005. Riêng 9 tháng đầu năm , kim ngạch thương mại giữa hai nước đă đạt 7,2 tỷ USD và với đà này cả năm 2006, hai nước hy vọng con số trên sẽ lên tới 10 tỷ USD, bằng mức kim ngạch dự kiến vào năm 2010.

Ngày 17/1/2007, Cty Talisman Energy, Canada, tuyên bố đă t́m thấy dầu tại Hải Sư Trắng , phía tây VN, khả năng 14,863 thùng /ngày.

Ngày 22/3/2007, Cty Talisman Energy tiếp tục t́m thấy dầu hỏa tại Hải Sư Trắng và Tê Giác Trắng, 4886 thùng/ngày. Được biết Talisman giữ 60% cổ phần, PetroVietNam giữ 40% cổ phần.

Ngày 7/5/2007, Talisman lại tiếp tục t́m thấy dầu ở vùng Tê Giác Trắng.

Ngày 17/5/2007, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tiếp chủ tịch Nguyễn Minh Triết. Hai bên thỏa thuận tăng cường các chuyến thăm cấp cao, trao đổi kinh nghiệm về lư luận và thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng Đảng, quản lư Nhà nước; phát huy vai tṛ của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương VN - TQ cũng như các cơ chế hợp tác giữa các ngành; mở rộng hợp tác thiết thực trong các lĩnh vực kinh tế thương mại, khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục; sử dụng bền vững nguồn nước sông Hồng và sông Me Kong.

Phía Việt Nam bày tỏ coi trọng việc phát triển quan hệ kinh tế thương mại với Trung Quốc, coi TQ là một trong những đối tác hàng đầu. Hai bên nhất trí tiếp tục đẩy nhanh tiến tŕnh đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và tiếp tục trao đổi ư kiến về hợp tác phát triển ở khu vực này; đồng thời cùng nhau ǵn giữ ḥa b́nh, ổn định ở biển Đông.

Ngày 22/6/2007, PetroVietNam kư hợp đồng khai thác dầu khí ở ngoài khơi thềm lục địa phía bắc VN với cty Petronas Carigali Overseas SDN.BHD (trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Malaysia, Petronas).

Ngày 9/10/2007, Kư hợp đồng thăm ḍ, khai thác dầu khí ngoài khơi thềm lục địa Nam Việt Nam với cty Mitra Energy Limited

Ngày 15/1/2008, Talisman lại t́m thấy dầu tại Hải Sư Đen.

Từ 30/5-2/6/2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc. Hai bên ra Tuyên bố chung, nhất trí phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt. Hai bên cũng đang triển khai việc thiết lập đường dây nóng giữa Lănh đạo cấp cao hai nước.

Ngày 12/5/2008, Petro Vietnam liên doanh với Nga khai thác dầu, Phía Nga nắm giữ 51% và PetroVietnam giữ 49% vốn góp trong liên doanh này.

Ngày 9/7/2008, PetroVietNam và Exxonmobil kư hợp đồng khai thác dầu khí trên hai lô 134 - 133 trên thềm lục địa Việt Nam, nhân chuyến đoàn T/t Nguyễn Tấn Dũng đến Houston.

Giữa tháng 7/2008, Trung Quốc gây áp lực với ExxonMobil yêu cầu không được cộng tác với Việt Nam trong một dự án thăm ḍ dầu khí ở bồn trũng Nam Côn Sơn.

Ngày 28/8/2009: Tổng Bí thư khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, trước sau như một, coi trọng và làm hết sức ḿnh để ǵn giữ và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống giữa hai nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông xây dựng và được các thế hệ lănh đạo, nhân dân hai nước dày công vun đắp.

Ngày 4/12/2008, Talisman tuyên bố lấy dầu đầu tiên tại block 4/62 vùng Song Doc, 25 000 thùng/ngày. Talisman chiếm 30%, Cty Truong Son của Petro Vietnam giữ 40% và cty Petronas của Mă Lai chiếm 30%.

Ngày 12/12/2008, Thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng tuyên bố: “Tất cả các dự án Việt Nam đang tiến hành đều nằm trong vùng thềm lục địa tối thiểu 200 hải lư của Việt Nam. Những dự án khai thác hiện nay trên thềm lục địa Việt Nam thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam. Quyền của chúng ta th́ chúng ta làm. Chúng tôi đă nói rơ quan điểm với Trung Quốc rằng việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển có diện tích khoảng 75% Biển Đông là hoàn toàn sai trái, vô lư, không có cơ sở pháp lư ngay cả khi đang tồn tại tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 15/3/2009, Trung Quốc đă phái chiếc tàu Ngư Chính 311 - tàu tuần tra ngư trường hiện đại nhất - tới Biển Đông.

Tháng 5/2009, nhằm đáp lại việc Việt Nam đệ đơn lên Ủy ban LHQ về ranh giới thềm lục địa để xem xét và xác định vị trí các vùng ngoại biên thềm lục địa ở vùng biển. Trung Quốc đệ đơn lên Tổng Thư kư LHQ Ban Ki Mun, nhận 80% diện tích Biển Đông là “lănh hải” nước này, trong đó bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 23/11/2009, Việt Nam thông qua Luật dân quân tự vệ, quy định 86 triệu dân toàn quốc, nam từ 18-45 tuổi, nữ từ 18-40 tuổi phải tham gia nghĩa vụ dân quân.

Ngày 24/11/2009, PetroVietNam và Sinopec của Trung Quốc hợp tác khai thác dầu mỏ trong và ngoài Việt Nam cũng như lĩnh vực xây dựng nhà máy lọc hóa dầu. Được biết PetroVietNam đă có 21 hợp đồng hợp tác khai thác dầu khí với nước ngoài.Việt nam mong muốn Sinopec cùng tham gia trong các hợp đồng này cũng như tham gia mua cổ phần của Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Sinopec là tổng công ty có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực dầu khí. Hiện Sinopec có sản lượng khai thác đạt 42 triệu tấn dầu thô/năm (tại Trung Quốc), 12 triệu tấn dầu thô/năm ở nước ngoài và 10 tỷ m3 khí hóa lỏng LPG/năm. Công suất các nhà máy lọc dầu của Sinopec lên tới 200 triệu tấn/năm và 8 triệu tấn sản phẩm hóa chất/năm.

Đầu tháng 12/2009, CNOOC cũng đă hợp tác với tập đoàn Husky Oil China để khảo sát khí gas vùng nước sâu tại khu mỏ LiuHua (LH) 34-2 trên biển Đông. LH 34-2 là mỏ khí gas nước sâu thứ hai (sau mỏ Liwan 3-1) được phát hiện tại tại bồn địa Pearl River Mouth nằm ở phía tây biển Đông.

Theo hợp đồng đă kư với tập đoàn Husky, CNOOC sẽ có 51% lợi nhuận đối với bất kỳ sản phẩm nào được khai thác tại lô 29/26 thuộc khu mỏ 34-2 này

Ngày 04/1/2010, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia của Trung Quốc (CNOOC) đă kư kết hợp đồng phân chia sản phẩm với công ty BG International (BG Group) của Anh để thăm ḍ và khai thác dầu khí tại khu vực biển Đông.

Theo quy định của hợp đồng, công ty BG Group sẽ chịu trách nhiệm cho toàn bộ chi phí trong quá tŕnh tiến hành khảo sát địa chấn 3 chiều (3D) và khoan thăm ḍ. Tập đoàn CNOOC sẽ có 51% lợi nhuận khi khai thác được sản phẩm tại lô này.

Ngày 6/1/2010, Đại sứ của Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường cho rằng giải pháp thiết thực hiện nay, đó là tạm gác lại tranh chấp Biển Đông, chờ điều kiện chín muồi giải quyết, trong khi ưu tiên cho hoạt động phát triển kinh tế xă hội ở hai nước. Ông nói:

-Kinh nghiệm quư báu nhất rút ra trong tiến tŕnh 60 năm quan hệ Trung - Việt là "hợp tác sẽ phát triển, đấu tranh sẽ thất bại".

-Trong quan hệ song phương của chúng ta chắc chắn tồn tại một số vấn đề. Làm thế nào giải quyết vấn đề đó cũng nêu ra thách thức to lớn đối với ư chí và thiện chí, trí tuệ và khả năng giải quyết vấn đề này. Nếu điều kiện chín muồi, hai bên giải quyết được vấn đề, chắc chắn sẽ thúc đẩy phát triển quan hệ hai bên chúng ta.

-Quan hệ Trung - Việt có 3 vấn đề lịch sử để lại: phân định biên giới trên đất liền, phân định Vịnh Bắc Bộ và giải quyết vấn đề biên giới trên biển. Hai bên đă cố gắng giải quyết hai vấn đề trước và chỉ c̣n lại vấn đề biên giới trên biển..

-Để giải quyết tranh chấp, hai bên cần xuất phát từ đại cục, toàn cục và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, tạm gác lại tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển b́nh thường, thuận lợi của quan hệ hai nước. Ư nghĩa của nó là không nhắc đến vấn đề tranh chấp mà hai bên có thể tiến hành hoạt động phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xă hội của hai bên. Bời v́ đó là lợi ích hai bên cùng có lợi và cùng chia sẻ.

- 3 điều kiện cơ sở quan trọng trong phát triển quan hệ hai nước là :

(1).Tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau.

(2).B́nh đẳng cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau.

(3).Xuất phát từ đại cục, cầu đồng, tồn dị.

-Cần tăng cường sự hiểu biết chính trị để đảm bảo sự phát triển lâu dài của quan hệ song phương.

Ngày 8/1/2010, tại Bắc Kinh Đại sứ Việt Nam Nguyễn Văn Thơ nói : "Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lư khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lănh thổ của Việt Nam. Các hoạt động kinh tế của Việt Nam ở trên vùng biển này hoàn toàn thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam, nằm trong thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam".

Đại sứ Nguyễn Văn Thơ cho rằng: Trong quá tŕnh giải quyết, hai bên cần cùng nhau nỗ lực duy tŕ ổn định trên biển, không có những hành động làm phức tạp thêm t́nh h́nh, không sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực, xử lư thỏa đáng các vấn đề nảy sinh, phù hợp với quan hệ hữu nghị giữa hai nước, kể cả vấn đề nghề cá.

Ngày 12/1/2010, Giáo sư Joseph Nye đă có cuộc gặp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bàn về câu chuyện phát triển của Việt Nam trong bối cảnh hậu khủng hoảng và sự trỗi dậy của Trung Quốc. Ông nói: "nếu VN đối xử tốt với Trung Quốc th́ VN cũng có thể thuyết phục được TQ đi theo con đường là chủ thể có trách nhiệm của thế giới".Ông nói thêm rằng: "Song song với việc hợp tác cùng Trung Quốc, VN cũng phải phê b́nh khi họ có hành xử không đúng đắn"

Ngày 11/2/2010, cty Talisman treo cờ tŕ hoăn tại Hải Sử Trắng. kế hoạch trị giá 1 tỷ đô la tại Hải Sử Trắng và Hải Sử Đen được tŕ hoăn 12 tháng để tái thiết kế triển khai. Talisman và PetroVietnam đă có kế hoạch phát dầu đầu tiên vào năm 2012, năng suất có thể đạt đến 35,000 thùng/ ngày.

Ngày 12/3/2010, Việt Nam tiếp tục phản đối Trung Quốc vi phạm chủ quyền lănh thổ.

Ngày 17/3/2010, Mỹ muốn đẩy mạnh hợp tác dầu khí ngoài khơi VN. Bộ Ngoại giao Mỹ cho hay Mỹ đă tuyên bố "không chấp nhận sức ép của bất cứ chính phủ nào lên hoạt động của các công ty này dù ở VN hay ở đâu".Mỹ sẵn sàng thảo luận với bất cứ chính phủ nào gây khó khăn cho quyền hoạt động chính đáng của các cty của chúng tôi", ông Goldwyn khẳng định.

Trước đó, Trung Quốc đă gây sức ép mạnh mẽ lên hăng dầu khí Exxon Mobil của Mỹ để buộc hăng này rút lui khỏi thoả thuận hợp tác thăm ḍ dầu khí ngoài khơi Việt Nam với Petro Vietnam.

Ngày 25/03/2010 Nga sẽ giúp Việt Nam xây dựng một căn cứ cho sáu chiếc tàu ngầm mà Hà Nội đă đặt mua của Nga. Được biết trong hai năm 2008-2009 VN đă kư các hợp đồng mua 4,5 tỷ đôla vũ khí của Nga, trong bối cảnh căng thẳng gia tăng với Trung Quốc trên vấn đề chủ quyền biển Đông.

Ngày 14/4/2010, Trung Quốc bắt 1 tàu cá và 9 ngư dân Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 24/4/2010, Bộ trưởng quốc pḥng TQ tuyên bố: “hợp tác quân sự song phương là một bộ phận quan trọng của quan hệ đối tác hợp tác toàn diện Việt-Trung. Ông kêu gọi đôi bên tăng cường sự tin tưởng và hợp tác lẫn nhau để phục vụ quyền lợi của nhân dân hai nước và t́nh hữu nghị Việt-Trung.”. Bộ trưởng quốc pḥng VN tuyên bố: “Đối với Việt Nam quan hệ Việt-Trung là mối quan hệ song phương quan trọng nhất.”

Ngày 30/4/2010, nhân dịp sang dự lễ khai mạc Triển lăm Thế giới Thượng Hải Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đă khẳng định VN sẽ làm hết sức ḿnh để thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa hợp tác toàn diện với Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam khẳng định thực hiện nhất quán chủ trương là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia, các dân tộc v́ ḥa b́nh, hữu nghị, hợp tác phát triển, b́nh đẳng và cùng có lợi; và sẽ luôn thực hiện nghiêm túc những cam kết của ḿnh với cộng đồng

Ngày 2/5/2010, Trung Quốc hợp tác với một công ty Devon Energy của Mỹ khai thác dầu khí trên biển Đông.

Ngày 4/5/2010, Việt Nam chuẩn bị xây nhà máy lọc dầu Vũng Rô (thứ ba) tại Tỉnh Phú Yên, sau 6 năm chậm trễ. 100% vốn nước ngoài (công ty Anh quốc Technostar Ltd và công ty Nga Telloil). Được biết nhà máy lọc dầu đầu tiên đă đi vào hoạt động từ năm ngoái với năng suất 6,5 triệu tấn. Với chi phí dự kiến ban đầu là 1,3 tỷ đôla, việc xây dựng gặp nhiều khó khăn và gây tốn kém gấp 3 lần cho ngân sách. Nhà máy thứ hai, được Nhật Bản và Koweit khởi công cách nay hai năm ở Thanh Hóa, sẽ hoàn tất vào năm 2013 với năng suất dự trù là 10 triệu tấn.

Ngày 6/5/2010, Việt Nam lên tiếng phản đối lệnh cấm đánh bắt cá trên biển Đông (16/05~1/8) của Trung Quốc.

Ngày 9/5/2010, Theo báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (South China Morning Post) xuất bản tại Hong Kong, Bắc Kinh cương quyết bảo vệ các vùng biển mà Trung Quốc coi là của mình.

Những dự kiện ghi trên, được t́m thấy trong khả năng có giới hạn, được xếp theo thứ tự thời gian nhằm mục đích giúp cho chúng ta có cái nh́n và đánh giá đúng với sự thật hơn.

***

Trung Quốc có dân số gấp 15 nước ta, về kinh tế có GDP gấp 50 lần nước ta, là 1 thành viên cố định của Hội đồng Bảo an , có quyền phủ quyết các quyết định của Liên Hiệp Quốc nếu có sự xung đột vũ trang giữa 2 nước.

Việc sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp, xem thường sự tồn tại và suy nghĩ của các dân tộc khác của Trung Quốc không được sự đồng t́nh của thế giới, nhất là đối với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, Việt Nam ḿnh chưa hoàn toàn thuyết phục bằng luận chứng lịch sử của ḿnh về các quần đảo Biển Đông ,chưa tranh thủ được sự ủng hộ của các nước lớn như Nga, Mỹ, Anh và Pháp và ngay cả những quốc gia lân cận. Chưa có một Liên minh Quận sự với các nước trong khu vực.

Lịch sử cho thấy khi điều kiện chưa thuận lợi ta có thể phải nhượng bộ nhưng không khuất phục.Chọn cách ứng xử khôn ngoan, đó là phúc đức cho hậu thế. Tập trung việc phát triển kinh tế, nâng cao dân trí (như Nhật Bản, Hàn Quốc), có tính bền vững lâu dài sẽ tác dụng tốt trong tương lai .

Việc tranh chấp lănh hải với 1 nước láng giềng lớn mạnh như Trung Quốc là 1 việc vô cùng khó khăn và có thể kéo dài trong nhiều năm v́ nó có tác động đến tinh thần dân tộc của cả 2 phía, một yếu tố quan trọng mà không có nước nào chịu nhượng bộ nước nào.Bởi v́ nếu nhân nhượng sẽ bị phe đối lập trong nước coi là nhu nhược và uy quyền trên thế giới cũng bị giảm sút. Do đó, không ai chọn thái độ mềm dẻo khi đàm phán.

Việc tranh chấp chỉ có thể được ḥa giải khi 2 nước thật sự tin nhau và tôn trọng lẫn nhau, không mù quáng nghe theo những luận điệu tuyên truyền mà không hề cảnh giác trước mưu đồ của các thế lực giật dây. Bản thân TQ cũng phải thay đổi thái độ ỷ lớn của ḿnh do áp lực của những thành phần tiến bộ trong nước. Đó là điều mong muốn ?

T́nh bạn:

Nếu anh không thể nói với bạn một cách thẳng thắn, công khai, thậm chí gay gắt nữa, tất cả những ǵ anh nghĩ về bạn, hành vi của bạn hoặc nếu anh không thể nghe bạn nói một sự thật như thế về bản thân anh th́ các anh chưa thật sự tin nhau, chưa hiểu nhau, chưa tôn trọng nhau (Gôn-sa-rốp)

Lạm bàn (bàn luận ngoài phạm vi hiểu biết của ḿnh)

Montréal, ngày của Mẹ 09/5/2010

Ngô khôn Trí

 

© "Khi phát hành lại bài này cần phải có sự đồng ư của tác giả ( ngoktri@gmail.com
và ghi rơ nguồn lấy từ
www.erct.com"