Nước Ḍng Sông Cái
Akutagawa Ryunosuke

 Nguyên Tác: Ôkawa no Mizu
Người dịch : Nguyễn Nam Trân

Lời Người Dịch:

 Người dịch dùng nguyên tác Nhật ngữ của nhà Kadogawa, bản bỏ túi in lại năm 1989. 

Akutagawa hoàn tất Nước Ḍng Sông Cái vào tháng giêng năm 1912 lúc ông hăy c̣n là cậu sinh viên 20 tuổi. Bài được đăng trên tạp chí thi văn Kokoro no hana (Hoa Tim). Những nhà nghiên cứu thường xem Rônen (Tuổi Già, 1914) mới là tác phẩm đầu tay của ông nên ít người để ư đoản văn này ( vốn có tính cách tùy bút hoặc trường ca nhiều hơn là truyện ngắn). Tuy nhiên, những ai sành Akutagawa đều nhận thấy trong mấy trang sau đây đă ngưng đọng tất cả cái tinh anh và tươi tắn nhất của tâm hồn ông, ở thời điểm mà yếu tố trữ t́nh và mỹ cảm của tuổi hoa niên chưa bị những hoài nghi và mệt mỏi trong cuộc sống làm cho phai nhạt. 

Nước Ḍng Sông Cái có nhiều chi tiết khiến người ta nghĩ nó là thiên tự truyện nhưng thật ra cái duyên dáng của đoản văn hàm chứa trong sự mơ hồ bàng bạc của những chi tiết ấy. Cái mơ hồ bàng bạc ở đây ta từng t́m được trong Tôi Đi Học của Thanh Tịnh, Phấn Thông Vàng của Xuân Diệu hay Chơi Giữa Mùa Trăng của Hàn Mặc Tử, đọc thuở thiếu thời.

Ngoài hai thi nhân ngoại quốc Grabriele d’Annunzio (Ư) de Hugo von Hofmansthal (Áo) mà Akutagawa nhắc đến tên, dịch giả Edwige de Chavanes trong lời chú dẫn cho bản dịch tiếng Pháp (L’eau du Fleuve, trong La vie d’un idiot et autres nouvelles, Unesco, Gallimard, Paris, 1987) đă nhận ra ảnh hưởng Kitahara Hakushu (1885-1942) qua một số chữ dùng, mượn từ tác phẩm Chuổi Ngày Thơ Ấu (Waga Oitachi) của nhà thơ. 

Sông Cái ngầm chỉ khúc hạ lưu của Sumidagawa, con sông xiết bao gần gũi đối với người dân Tokyo, đă đưa cậu bé Niihara ( về sau sẽ thành Akutagawa của chúng ta) vào một ḍng sông lớn hơn, ḍng văn học. 

Như tiên tri về số phận ḿnh, trong đoản văn đầu tay nầy, Akutagawa đă nói đến cảm tưởng mơ hồ trực diện Thần Chết đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước, khi ḍng sông của đời ông đang rong ruổi về miền Vĩnh Cữu "vô thủy vô chung" . Khi chuyển ngữ, người dịch không khỏi xúc động liên tưởng đến những ḍng sông thân yêu trong đời mỗi một chúng ta, tự thời Lư Bạch (Dao liên cố viên thủy, Vạn lư tống hành chu) tác giả hai câu thơ mà một người thầy học cũ, nhà mô phạm Trần Trọng San, đă dịch:

Thương sao ḍng nước quê nhà,
Tiễn đưa muôn dặm thuyền ra xứ người.

 

 Tôi sinh ra ở một xóm kề Ôkawabata, Vùng Băi Sông. Ra khỏi nhà, chỉ cần len lỏi xuyên mấy con hẻm khu Yokoami (Lưới Ngang) san sát phên giậu đen điu nấp dưới những tàng lá dẻ xanh non là đă ra đến ven bờ Happongui (Trăm Cọc) để được nh́n mặt nước mênh mông. Từ hồi thơ dại cho đến khi học hết cấp hai, hầu như mỗi ngày tôi đều có dịp đứng ngắm con sông. Nào nước, nào thuyền, nào cầu, nào cồn cát, nào cuộc đời tất tả ngược xuôi của những người sinh ra và sống trên mặt nước. Cho đến bây giờ, dù bao năm đă trôi qua, tôi vẫn c̣n nhớ da diết cái mùi nồng chưa ngửi mà đă cảm thấy của nước sông vào những trưa giữa hè nắng gắt, khi chân tôi giẫm lên cát bỏng trong những lần đến lớp học bơi.

Cớ sao tôi yêu con Sông Cái nầy đến thế! Phải chăng v́ cảm thấy trong cái hâm hẩm của làn nước ngầu bùn có ǵ dễ thương vô hạn. Thật t́nh đến tôi cũng không thể nào giải thích lư do. Chỉ biết, tự ngày xưa, mỗi lần cứ nh́n ḍng nước là trong ḷng tôi không khỏi dậy một nỗi trống vắng và một nguồn an ủi đến ứa nước mắt. Tôi thấy ḿnh như hoàn toàn tách ra khỏi thế giới đang sống, tâm hồn bay vút vào một cơi đất trời đầy nhớ nhung, luyến tiếc. Nhờ có ḍng sông mà mang được cái tâm t́nh ấy, thưởng thức được nguồn an ủi và thú cô đơn ấy, nên tôi đâm ra yêu nó hơn mọi thứ trên đời. 

Làn sương xám bạc, ḍng nước như vệt dầu xanh , âm hưởng c̣i tầu mơ hồ tựa tiếng thở dài, cánh buồm nâu h́nh tam giác của con thuyền chở than đá…mỗi chi tiết của phong cảnh trên sông đều khơi dậy trong tôi nỗi buồn khó nén, khiến cho chút ḷng thơ dại của tôi cũng không khỏi lao xao như ngàn liễu bên bờ.

Ba năm sau nầy, tôi dành thời giờ chăm chú đọc sách trong pḥng văn cất giữa một vùng lùm bụi thanh u ngoại ô khu Yamanote sang trọng nhưng vẫn không quên t́m ngắm gịng sông lớn ấy mỗi tháng hai ba lần . Màu sắc của nước sông di động lại tựa hồ đứng yên, trôi mà như lười chảy, làm tan biến những căng thẳng trong tâm trí tôi, vốn đang chịu áp lực và kích thích của bầu không khí quá tịch mịch của pḥng văn và nhịp làm việc dồn dập không đương nổi. Nước ḍng Sông Cái mang đến cho tôi niềm tiếc nuối buồn thương và giải thoát của kẻ đi hành hương lâu ngày mới về đến quê nhà, giúp cho cái tâm hồn xao động trong tôi t́m ra thanh thản. Cũng nhờ nó mà lần đầu tiên tôi mới sống được những t́nh cảm không thoáng gợn và thực sự của ḿnh. 

Biết bao lần tôi đă được nh́n những cánh hoa keo trắng toát nghiêng ḿnh xuống ḍng nước xanh, bay lả tả trước cơn gió nhẹ một ngày đầu hè. Biết bao lần tôi đă được nghe tiếng chim di se sắt lạnh tầng không ngang tầm mặt nước tối của những đêm tháng mười một trời thường làm sương giá. Những điều nghe thấy như thế đă làm t́nh yêu trong tôi đối với gịng sông mỗi ngày một mới. Cũng run rẩy như cánh chuồn đen sinh ra từ nước sông mùa hạ, tấm ḷng niên thiếu của tôi lúc đó mở thật to để thu biết bao đổi thay mới mẻ cho đầy đôi ngươi kinh ngạc. Nhớ nhất là lúc tựa mạn thuyền thả lưới đêm, trôi theo ḍng, ngắm mặt nước đen không gây mảy may tiếng động, để khi nghe tiếng thở phập phồng của Thần Chết đang lềnh bềnh giữa khoảng đêm khuya và mặt nước, mới cảm thấy một nỗi buồn bơ vơ xâm chiếm tâm hồn. 

 Mỗi lần nh́n ḍng Sông Cái, tôi không thể nào quên được cái kinh thành của sóng nước măi bên trời Ư vẫn đón buổi chiều về với tiếng hát thiên nga và hồi chuông tu viện, nơi mà giữa hàng lan can rợp bóng hồng bóng huệ được tô vẽ bằng những tia sáng xanh từ vầng trăng đang ch́m dưới nước hắt lên, có những chiếc thuyền gondola đen tựa quan tài lướt đi như trong một giấc chiêm bao từ ṿm cầu này sang ṿm cầu nọ theo nhịp chèo lơi – tất cả làm tôi bây giờ càng chạnh ḷng nhớ tới tâm t́nh nồng nàn tha thiết mà D’Annunzio (1)  đă để tuôn trào v́ cảnh sắc của Venezia. 

Những xóm ven bờ được nước ḍng Sông Cái yêu dấu vỗ về đối với tôi đều khó quên và rất đỗi thân thương. Từ phía cầu Azuma xuôi về hạ lưu, nào là Komakata, Namiki, Kuramae, Daichi, cầu Yanagi hay Yakushimae ở Tada, Umebori, Yokoami, chốn nào cũng thế. Khách bộ hành qua lại các thôn xóm này đều được nghe từ giữa những bức tường trắng bằng đất nện của các kho hàng nằm hong nắng, từ giữa những ngôi nhà tối nhờ nhờ có khung cửa chấn song, hay từ giữa những lối đi rợp hàng liễu hàng keo mà lá chỉ mới nhú mầm nâu bạc, vọng vào tai âm hưởng quen thuộc của gịng nước xanh loang loáng mà con Sông Cái, sáng như tấm kính mới mài, đă mang đến cho họ cùng một lượt với mùi nước triều lành lạnh trong chuyến xuôi Nam, cuộc hành tŕnh mà ḍng sông đă quen làm từ một thuở xa xưa.

Ôi, cái tiếng nước sông thân thuộc kia, như th́ thào, như van lơn, như chậc lưỡi, gịng nước màu xanh vắt ra từ ngọn cỏ, hết ngày đến đêm, gột rửa những kè đá hai bên bờ. C̣n nhớ bi kịch của nàng Hanjo (2)  hay chàng Narihira (3) chứ nhỉ ? Tôi không ngược lên đến tận thời (khi Tôkyô c̣n là) giải b́nh nguyên Musashi, nhưng kể đă từ lâu, đă có những thầy tuồng kịch múa rối Jôruri ở Edo, gần đây là Kawatake Mokuami (4) , bậc đại sư Kabuki, thường đưa tiếng chuông thiền viện Sensô (5) cũng như âm hưởng trầm buồn của nước ḍng Sông Cái vào các pho tuồng nói về nhân t́nh thế thái của họ để làm nổi bật cái die Stimmung (6) , không khí căng thẳng trong một lớp lang xảy ra án mạng. Lúc Izayoi và Seishin (7) gieo ḿnh xuống nước, khi cu cậu Gen.nojô (8) mải mê nh́n người đẹp Okoyo trong bộ áo người săn chim (9) hay ngay cả khi anh chàng bán đồ đồng nát Matsugorô (10) gánh đôi quang thúng đi qua cầu Ryôgoku khi chiều hè sụp tối và bầy dơi liệng đầy, th́ ḍng Sông Cái, như đến tận giờ, vẫn chây lười th́ thầm vỗ sóng vào cầu tàu của hàng quán cho thuê thuyền, bên ngàn lau xanh, dưới lườn những con thuyền mũi nhọn đỗ hai bên bờ. 

Muốn nghe cho được âm thanh ngùi nhớ của nước sông, phải leo đ̣ làm một chuyến sang ngang. Nếu tôi không lầm, từ phía cầu Azuma đổ xuống cầu mới Ôhashi, có tất cả năm cái bến. Trong số đó th́ bến Komakata, bến Fujimi và bến Ataka, cả ba đă lần hồi biến mất, bây giờ chỉ có bến ở cầu Ichi để qua xóm Hamachô và cái nữa từ cầu Mikura sang xóm Sugachô là hăy c̣n lưa. So với hồi tôi c̣n bé tẹo, con sông cũng đă đổi ḍng, những cồn cát điểm xuyết lùm lau băi sậy như bị lấp vùi không c̣n h́nh tích. Thế nhưng hai bến cũ c̣n nguyên bóng dáng con đ̣ đáy nông, vẫn ông lái đ̣ già mỗi ngày chèo chống bao nhiêu bận đưa khách qua ḍng nước xanh rờn tiệp màu cùng rặng liễu ven sông.

Lắm lúc chẳng có việc ǵ, tôi cũng ra bến theo đ̣ qua sông, sung sướng để mặc sóng nước bồng bềnh đu đưa thân thể ḿnh như trong một chiếc nôi. Đi mấy chuyến đ̣ càng trễ bao nhiêu th́ mới thưởng thức những niềm vui và nỗi buồn thấm thía bấy nhiêu. Kề bên ngoài mạn thuyền thấp chỉ có làn nước xanh lục trải dài. Ném một cái nh́n đă thấy trọn mặt sông mượt mà, đang ánh lên chút màu đồng nhạt nếu tầm mắt không vướng mỗi cái cầu mới Ôhashi măi đằng xa. Nhà cửa hai bên bờ sông giờ ấy đă tuyền một màu tro, đèn đóm cư dân hắt vàng vọt lên những khung cửa phết giấy, thấp thoáng đôi nơi trong sương. Theo ngọn triều lên, thỉnh thoảng lại có một hai chiếc bè lớn chở hàng, buồm xám buông nửa vời, bơi ngược ḍng nhưng chiếc nào chiếc nấy yên ắng lạ lùng, chả biết có người cầm lái hay không nữa. Không hiểu sao cảnh mấy lá buồm trôi trong lặng lẽ và cái mùi của ngọn triều xanh rộng đă gợi trong tôi một nỗi buồn không nói được nên lời, tương tự khi đang đọc những vần Erlebnis cuả Hofmannsthal (11) và cùng lúc, trong ḷng tôi, một t́nh cảm dịu ngọt như thể đang khẽ muốn cất lên lời hát để ḥa nhịp cho bằng được với tiếng nước của ḍng Sông Cái đang ch́m giữa đáy trời sương.

Không chỉ riêng cái âm hưởng của ḍng nước mới lôi cuốn tôi đâu. Mầu sắc của nó nữa, vừa mềm mại vừa ấm áp, cái màu mà tôi nghĩ khó t́m được ở nơi nào khác. 

Nước ngoài biển giống như ngọc bích, v́ sâu nên đọng thành khối nặng trong khi nước trên thượng nguồn không bị ảnh hưởng triều lên triều xuống, giữ một màu xanh cánh trả nhàn nhạt, lại quá nhẹ, quá mỏng và quá sáng. Duy có nước của khúc Sông Cái, chảy giữa b́nh nguyên, nơi nước ngọt và nước mặn giao ḥa, mới dung hợp được màu xanh lạnh lẽo và màu vàng đục ấm áp, để có vẻ thế nhân hơn, khơi được trong ta cái hoài cảm lifelike (12) một t́nh cảm hết sức đời thường. Nhất là khi con sông đă rong ruổi hết vùng b́nh nguyên Kantô nhiều đất sét nâu đỏ, b́nh lặng chảy về Tôkyô đô hội, cái màu nước vốn đục ngầu và nhăn nhó như một lăo Do Thái già khó tính, mồm thích cằn nhằn lầu bầu, giờ đây đă có cái ǵ thong thả, nuột nà, dễ thương. Và tuy cùng chảy ngang một thành phố, nhưng có lẽ nhờ trao đổi thường xuyên với đại dương thần bí, nước con Sông Cái không hề đen ng̣m như các kênh lạch nối những ḍng sông lại với nhau. Sông Cái không hề ngủ. Tôi có cảm tưởng nó luôn luôn di động nhưng chỉ để chấm dứt cuộc hành tŕnh ở đích đến nhất định: một miền Vĩnh Cữu "vô thủy vô chung". Dĩ nhiên vui là khi thấy ḍng nước xanh như vệt dầu thơm trôi dưới những cây cầu Azuma, Umaya, Ryôgoku, ôm ấp mấy chân cầu lớn xây bằng gạch hay đá hoa cương. Có khi nó nép vào bờ, in bóng những ngọn đèn giấy màu trắng các của cửa hiệu cho mướn thuyền cũng như những cḥm lá liễu nghiêng ngả khoe mặt trái bạc phấn. Có khi, tắc nghẽn v́ cái đập chắn nước, nó lặng lờ lấp lánh bên dưới những chái bếp không bóng người, than thở hộ cánh phù dung đỏ một trưa quá ngọ có tiếng đàn samisen (13) rời rạc uể oải, để rồi giật ḿnh bối rối v́ tiếng đập cánh bất chợt của một chú vịt trời. Cái màu phải gọi là nằng nặng của ḍng nước như thế cũng chan chứa ấm áp, hồn hậu. Cho dù khi ḍng sông về đến gần cầu Ryôgoku, cầu mới Ôhashi, cầu Eitai và vùng cửa sông lúc nước của nó được ḥa với cái màu xanh đậm của ngọn triều ấm hay phản chiếu ánh nắng lấp lóa của mặt trời trắng bạch tựa như tấm kim loại trải rộng dưới một tầng không ồn ào đầy bụi khói, nó vẫn tiếp tục lười biếng đong đưa đoàn thuyền khẳm lừ than đá và những con tàu kiểu cũ chạy bằng hơi nước mà lớp sơn trắng đă bong đi. Thiên nhiên với con người như chung nhịp thở, cái màu ấm áp mà ḍng sông không biết thâu nhận được lúc nào khi chảy qua thành phố đâu dễ ǵ mất đi cho được. 

Đặc biệt lúc chiều xuống, con sông bỗng đổi sắc theo lớp mù do hơi nước vựng lên và màu nắng càng ngày càng phai nhạt trên nền trời, để thành một thứ màu huyền hoặc khó tả. Ḿnh tôi, gối hai tay lên thành đ̣, lơ đăng lướt nh́n mặt sông chiều nắng xế mù dâng, và khi thấy từ bên kia bờ gịng nước lục đậm, trên không trung chỗ mấy nóc nhà sẫm tối, một vầng trăng to và đỏ ló ra, th́ tôi không tài ǵ cầm được nước mắt, điều mà có lẽ suốt đời, tôi chẳng thể nào quên. 

Theo Meljukovski (14), "Mỗi thành phố đều có cái mùi cố hữu của nó. Mùi của Florence là hương huệ trắng, mùi bụi bặm, sương mù và mùi véc-ni những khung tranh cổ quyện vào nhau". Nếu ai hỏi tôi về cái mùi của Tôkyô, tôi sẽ xin phép trả lời ngay đó là cái mùi của ḍng Sông Cái. Không riêng ǵ cái mùi! Màu sắc của ḍng sông, âm hưởng của ḍng sông chính là mầu sắc và tiếng động của Tôkyô mà tôi yêu dấu. Nhờ có ḍng sông, tôi mới biết yêu Tôkyô, và nhờ có Tôkyô, tôi mới biết yêu đời.

(tháng giêng năm 1912)
Tái bút: Dạo sau này, tôi nghe nói bến đ̣ ngang cầu Ichi đă mất đi rồi, bến đ̣ cầu Mikura cũng sắp sửa bị dẹp.
 Chú thích

(1) - G. D’Annunzio (1863-1938) thi nhân ngưới Ư thuộc trường phái duy mỹ (aestheticism).

(2) - Hanjo, tên một ca kỹ, nhân vật trong tuồng Nô của tác giả nổi tiếng Zeami (1363?-1443?), bị người yêu phụ bạc mà phát cuồng.

(3) - Ariwara No Narihira (825-880), vương tử và thi nhân có tiếng đẹp trai, bị đŕy về miền Đông (Tôkyô ) v́ dan díu với Hoàng Hậu. Sự tích được đem vào các vở tuồng Nô, Kabuki và Jôruri. 

(4)  - Kawatake Mokuami (1816-1898), nhà soạn tuồng Kabuki có tiếng.

(5) - Sensôji (Thiển Thảo Tự) , chùa thuộc phái Tendai (Thiên Thai Tông) ở xóm b́nh dân Asakusa, gần sông Sumida.

(6) - Không khí ( tiếng Đức trong nguyên văn)

(7) - Nhân vật tuồng Kabuki của Kawatake Mokuami, ca kỹ Izayoi tự trầm trên gịng Sumida với người yêu, nhà sư Seishin.

(8) - Gen.nojô là vũ sĩ hầu cận Shôgun yêu nàng con gái hát dạo Okoyo nhưng duyên không thành v́ vấn đề giai cấp.

(9) - Torioisugata, quần áo giả trang của người hát dạo.

(10) - Matsugorô cũng là nhân vật tuồng Kabuki của Kawatake Mokuami, hận đời v́ sống nghèo túng, vứt đồ nghề xuống sông Sumida, đi làm giặc cướp, sau tự tử.

(11) - Hugo von Hofmannsthal (1874-1920) thi sĩ trữ t́nh người Áo, đă viết Erbelnis năm 1892, lúc 18 tuổi.

(12) - Lifelike, sống động (tiếng Anh trong nguyên văn)

(13) - Đŕn ba giây truyền từ Okinawa, dụng cụ âm nhạc b́nh dân.

(14) - Có thể là phiên âm Nhật ngữ của Dimitrii Merezhkoskii (1865-1941), tiểu thuyết gia Nga trường phái ấn tượng, sau lưu vong ở Pháp.

Dịch xong ngày 17/06/2003
Nguyễn Nam Trân
 

® "Mọi trích dẫn hay đăng tải cần phải có sự đồng ư của dịch giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

..........