Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

 Quyển Thượng : Từ Thượng Cổ đến Cận Đại

 

Chiến tranh Nhật Nga (1904-05),  biến cố lớn đă xáo trộn xă hội Meiji.[1]

Chương 18 :

Tsubo.uchi Shôyô, Futabatei Shimei

và văn học thời Duy Tân

Nguyễn Nam Trân

 

TIẾT I :TỔNG QUAN VĂN HỌC THỜI DUY TÂN.

A) Bối cảnh lịch sử. Khu phân thời đại:

Xin dược lồng thời tiền cận kim và cận kim vào trong hai triều đại Meiji (Minh Trị, 1868-1912) và Taishô (Đại Chính, 1912-1926). Đây là giai đoạn mà Nhật Bản, đảo quốc nhỏ bé ở vùng Đông Á, sau gần ba thế kỷ bế quan tỏa cảng, chỉ trong ṿng một thời gian ngắn, nhờ cải cách đổi mới về chính trị, quân sự và kinh tế, đă trở thành một quốc gia tư bản chủ nghĩa hùng mạnh và bắt kịp liệt cường Âu Mỹ. Đó là một hiện tượng hiếm hoi trong lịch sử thế giới.

1) Từ tiền cận kim bước qua cận kim:

Hai mươi năm đầu tương đương với nửa trước thời Meiji là giai đoạn chuyển tiếp từ tiền cận kim sang cận kim.Từ khi Nhật Bản mở rộng cửa ngỏ, kỹ thuật, văn hóa, tư tưởng Tây Phương đă tràn vào như nước lũ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến lối sống của người Nhật và chuẩn bị cho sự manh nha của một nền văn học mới. Những điểm chính của nền văn học nầy, trước tiên là lối định nghĩa hai chữ “văn học”. Vào thời cận kim, văn học không c̣n được hiểu một cách phiến diện như là những tri thức để bồi dưỡng, cần thiết cho cuộc sống của giới nho gia và vũ sĩ. Trước tiên, nó bắt đầu được xem như là tập hợp tất cả những h́nh thức nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ mà trong đó, tiểu thuyết đóng một vai tṛ then chốt. Hai là văn học đă trở thành một công cụ cho cuộc vận động dân quyền với sự ra đời của loại tiểu thuyết chính trị. Làm văn học được xem như là công việc cao quí của người trí thức, điều mà Tsubo-uchi Shôyô (B́nh Nội, Tiêu Dao) đă cố gắng chứng minh trong tác phẩm lư luận về tiểu thuyết của ông. Ba là cũng với giáo dục nghĩa vụ ở nhà trường và sự phát triển của ấn loát (sau lan rộng ra các phương tiện truyền thông đại chúng khác), số độc giả đă tăng lên vùn vụt. Thời kỳ nầy cũng được đánh dấu bằng những cuộc cải cách trong h́nh thức biểu hiện của văn học, ví dụ như tân thể thi đă thay thế cho Hán thi và waka. 

2) Điểm khởi hành của văn học cận kim:

Văn học Nhật Bản thời cận kim đă xuất phát từ sự hấp thu tư tưởng và lư luận văn học ngoại quốc. Futabatei Shimei (Nhị Diệp Đ́nh, Tứ Mê), qua văn học Nga, giới thiệu một lối viết theo khuynh hướng hiện thực có chất lượng cao. Sau đó, Mori Ôgai, từ Đức du học trở về, dồn hết tâm lực trong các hoạt động khai sáng mang màu sắc lăng mạn qua các bài b́nh luận, thơ và tác phẩm phiên dịch. Tuy nhiên, không được bao lâu th́ Nhật Bản đă xây dựng một thể chế quốc gia dựa trên một văn bản hiến pháp theo chủ nghĩa đế quốc nên phong trào quốc túy đă hưng thịnh. Nhóm các ông Ozaki Kôyô (Vĩ Kỳ, Hồng Diệp) và nhóm Ken.yuusha[1] (Nghiễn Hữu Xă = Bạn (Bút) Nghiên) trở nên mạnh mẽ và chiếm lĩnh văn đàn cho đến khoảng chiến tranh Nhật Thanh (1894-95) với một văn phong có màu sắc thời Genroku (1688-1704) ngày xưa nghĩa là nặng về kỹ xảo. 

Chán ngấy và kẹt cứng với nhóm Ken.yuusha chuộng h́nh thức này, Kitamura Tôkoku (Bắc Thôn, Thấu Cốc), người cầm đầu nhóm các nhà thơ trẻ theo chủ nghĩa lăng mạn của tập san Bungakukai (Văn Học Giới), từng đóng góp với phong trào bằng những bài thơ và b́nh luận, đă tự sát. Cũng vào thời điểm đó, cuộc chiến tranh Nhật Thanh đang rục rịch.

Trong khoảng 10 năm giữa hai cuộc chiến Nhật Thanh (1894-95) và Nhật Nga (1904-05), Nhật Bản sống trong mâu thuẫn v́ vừa phát triển theo chiều hướng tư bản vừa không gột rữa nỗi màu sắc phong kiến.Văn chương cũng phản ảnh mâu thuẫn nội tại đó của thời đại. Sau khi chiến tranh kết liễu, xuất hiện khuôn mặt mới là nữ văn sĩ Higuchi Ichiyô (Dũng Khẩu, Nhất Diệp). Bà đă đề xướng việc viết tiểu thuyết xă hội, tiếp nối khuynh hướng tiểu thuyết nói lên bi kịch xă hội đang được thịnh hành.Phong trào nầy đă manh nha cho ḍng tiểu thuyết xă hội chủ nghĩa gắn liền với những cuộc vận động xă hội buổi đầu. Ngoài ra, nhà văn thời ấy càng ngày càng quan tâm với khái niệm mà họ gọi là “tự nhiên”(shizen, nature)[2].

Mặt khác, trong lĩnh vực thi ca, khuynh hướng lăng mạn với chủ trương giải phóng cá nhân và t́m về cảm xúc, bắt đầu hiện ra rơ nét.Trong số những nhân vật hoạt động mạnh của thời này, phải kể đến Shimazaki Tôson (Đảo Kỳ, Đằng Thôn) và nhà thơ đại diện cho trường phái Myôjô (Minh Tinh[3]) tức là nữ sĩ Yosano Akiko (Dữ Tạ Dă, Tinh Tử), một người táo bạo trong phong cách sáng tác.

B) Thời cận kim xác định vị trí:

Có thể nói Shimazaki Tôson và Tayama Katai (Điền Sơn, Hoa Đại) là hai nhà văn đă thực sự mở màn cho văn chương cận kim, xác định được vị trí của nó từ sau cuộc chiến tranh Nhật Nga. Cuộc vận động văn học theo khuynh hướng tự nhiên (Naturalism) mới mẻ nầy c̣n có sự tiếp tay của các nhà văn hàng đầu như Tokuda Shuusei (Đức Điền, Thu Thanh) và Masamune Hakuchô (Chính Tông, Bạch Điểu).Giới b́nh luận với Shimamura Hôgetsu (Đảo Thôn, Băo Nguyệt) cũng tham gia và chẳng mấy chốc khuynh hướng nầy đă t́m được chỗ đứng trên văn đàn. Chủ nghĩa tự nhiên c̣n có công đổi mới tiểu thuyết nhờ cuộc vận động “ngôn văn nhất trí” (nói thế nào viết thế ấy) của Futabatei đ̣i loại bỏ văn viết ra khỏi tiểu thuyết và thay vào đó bằng văn nói. Ảnh hưởng đó đă lan rộng ra cả thi ca và đă có những thí nghiệm làm thơ tự do với văn nói. Tuy nhiên, v́ chỉ muốn miêu tả sự thực như nó là, văn chương theo chủ nghĩa tự nhiên không t́m ra được cách giải quyết được những mâu thuẫn mà nguyên nhân chính là xă hội.Người viết văn chỉ biết giới hạn tầm nh́n và thu thập đề tài ở những ǵ xảy ra chung quanh ḿnh, tuy chuẩn bị được nền tảng cho loại tiểu thuyết tự thuật gọi là watakushi shôsetsu (tư tiểu thuyết = tiểu thuyết viết về cái tôi), một h́nh thức văn học độc đáo của Nhật, nhưng lần hồi chủ nghĩa tự nhiên đă đi đến chỗ thoái trào.

Cũng vào thời điểm này, một số nhà văn không ngă theo chủ nghĩa tự nhiên mà giữ vững phong cách độc lập như Natsume Sôseki (Hạ Mục, Sấu Thạch) và Mori Ôgai (Sâm, Âu Ngoại) đă xuất hiện. Tuy hai ông có lập trường đối kháng đối với nhà nước và giới quan liêu đương thời nhưng qua các tác phẩm của họ, ta thấy sự phê phán về diễn biến thời cuộc có chất lượng cao nhờ ở kiến thức phong phú và tầm nh́n rộng răi. Hơn nữa, Ôgai, qua tập san Subaru[4] (Sao Măo) mà ông sáng lập, cũng muốn phục quyền cho cái đẹp nên có thể xem ông là người suy nghĩ cùng lối với các thi nhân phái duy mỹ (Tanbi Shugi = Đam Mỹ Chủ Nghĩa = Aestheticism). Tập san nầy sẽ là điểm tựa của những nhà văn phái duy mỹ như Kitahara Hakushuu (Bắc Nguyên, Bạch Thu), Nagai Kafuu (Vĩnh Tỉnh, Hà Phong) và xa hơn, Tanizaki Junichirô (Cốc Kỳ, Nhuận Nhất Lang), một đại biểu tên tuổi về sau của phái nầy.

Tóm lược 45 năm văn học Meiji

Niên đại , sự kiện lịch sử (*) và tác phẩm chủ yếu:

Meiji 1 (1868): *Bố cáo quốc dân Gokajô no Seibun. (Năm chính sách cơ bản của nhà nước).

(1871-72: Aguranabe (Nồi Thịt Ḅ Hầm) của Kanagaki Robun (Giả Danh Viên Lỗ Văn) (Văn học khai sáng. Tiểu thuyết chính trị thịnh hành)

*Vận động cho tự do và dân quyền bắt đầu

Meiji 15 (1882): Tập thơ mới Shintaishishô (Tập Thơ H́nh Thức Mới) của nhóm Toyama Masakazu (Ngoại Sơn Chính Nhất).

1883-84: Keikoku Bidan (Chuyện Hay Về Việc Trị Nước) của Yano Ryuukei (Thỉ Dă, Long Khê)

1885-87: Kajin no Kiguu (Kỳ Ngộ Với Người Đẹp) của Tôkai Sanshi (Đông Hải Tản Sĩ).

1885-86: Shôsetsu Shinzui (Tinh Túy của Tiểu Thuyết) và Tôsei Shôsei Katagi (Chân Dung Thanh Niên Thời Đại) của Tsubo-uchi Shôyô (B́nh Nội Tiêu Dao) . Khuynh hướng tả chân ra đời.

1885: *Nhóm Kenyuusha (Bạn Bút Nghiên ) được thành lập với Ozaki Kôyô (Vĩ Kỳ, Hồng Diệp).

1887-89: Ukigumo (Mây Trôi) của Futabatei Shimei (Nhị Diệp Đ́nh Tứ Mê) thực hiện chủ trương “văn ngôn nhất trí”.

Khuynh hướng lăng mạn bắt đầu lúc nầy

1889: Omokage (Vang Bóng) của Mori Ôgai (Sâm, Âu Ngoại), Soshuu no Shi (Thơ Người Tù Nước Sở) của Kitamura Tôkoku (Bắc Thôn, Thấu Cốc). Tạp chí b́nh luận Shigarami Sôshi do Ôgai chủ trương ra mắt.

*Ban hành Hiến pháp của Đại Nhật Bản Đế Quốc.

1890: Maihime (Nàng Vũ Công) của Ôgai.

1891: Gojuu no Tô (Tháp Năm Tầng) của Kôda Rohan (Hạnh Điền Lộ Bạn). Thời .kỳ Kôro (hai nhà văn Hồng Diệp và Lộ Bạn).

Tạp chí Waseda Bungaku (Tảo Đạo Điền Văn Học) và vai tṛ của Tsubouchi Shôyô.

1892: Dassaishoya Haiwa (Truyện Làm Thơ Như Con Rái Bày Cá) của Masaoka Shiki (Chính Cương Tử Qui).

1893: Tạp chí Bungakkai (Văn Học Giới) và nhóm Kitamura Tôkoku (Bắc Thôn Thấu Cốc). Hội thơ *Asaka-sha (Thiển Hương Xă) thành lập.

1894 : *Kitamura Tôkoku tự sát.

1894-95 : *Chiến tranh Nhật-Thanh.

1895 : Takekurabe (So Vai)  và Nigorie (Vàm Nước Đục) của nữ sĩ Higuchi Ichiyô (Dũng Khẩu Nhất Diệp) ra mắt.

1897 : Tạp chí  thơ Hototogisu (Chim Cuốc) của nhóm Shiki. Wakana-shuu (Rau Non) của Shimazaki Tôson (Đảo Kỳ, Đằng Thôn).

1897-1902 : Konjiki Dasha (Con Quỉ Kim Tiền) của Ozaki Kôyô.

1897-99 : Hototogisu (Bất Như Qui), tiểu thuyết gia đ́nh của Tokutomi Shuusei (Đức Phú Thu Thanh).

1898 : Utayomini Ataerusho (Nhắn với người làm thơ) của Shiki.

1899 : Tenchiyuujô (T́nh trời ư đất) của Tsuchii Bansui (Thổ Tỉnh Văn Túy).

1900 : Kôyahijiri (Cao tăng núi Koya) của Izumi Kyôka. Tạp chí Myôjô (Minh Tinh).

1901 : Musashino (Cánh đồng Musashi) của Doppo (Độc Bộ). Thi tập Midaregami (Tóc Rối) của Yosano Akiko (Dữ Tạ Dă Tinh Tử).

1904-05 : *Chiến tranh Nhật –Nga.

1905-06 : Wagahai wa neko dearu (Mèo Chúng Tớ) của Natsume Sôseki (Hạ Mục Sấu Thạch)

1905 : Kaichôon (Tiếng Nước Triều), thi tập do Ueda Bin (Thượng Điền, Mẫn) dịch.

1906 : Hakai (Xé Rào) của Tôson. Chủ nghĩa tự nhiên. Bocchan, Kusamakura của Sôseki. Thi tập Hakuyôkyuu (Bạch Dương Cung) của Kikkin (Khấp Cẩn).

*Hiệp hội văn nghệ được thành lập với Shôyô, Hôgetsu. 

1907 : Futon (Tấm Nệm Giường) của Katai (Hoa Đại)

1908 : Tạp chí thơ Araragi của nhóm Itô Sachio (Y Đằng Tá Thiên Phu)

1909 : Tạp chí Subaru (Nhị Thập Bát Tú ) của trường phái duy mỹ.

Tập thơ đầu tay Jashuumon (Tà Giáo) của Kitahara Hakushuu (Bắc Nguyên Bạch Thu). Sorekara (Từ Ấy) của Sôseki. Sumidagawa (Sông Sumida) của Kafuu (Hà Phong).

*Kịch trường tự do của Osanai Kaoru (Tiểu Sơn Nội, Huân)

1910 : Tạp chí  Shirakaba (Bạch Hoa) của nhóm cùng tên (Shirakabaha). Shisei (Xâm Ḿnh) của Tanizaki. Thi tập Ichiaku no suna (Một vốc cát) của Ishikawa Takuboku (Thạch Xuyên, Trác Mộc).

*Vụ án “đại nghịch” xảy ra.

1911: Shuuzenji Monogatari (Truyện chùa Shuzenji) của Okamoto Kidô (Cương Bản Kỷ Đường)

1911-13: Gan (Ngỗng trời) của Mori Ôgai (Sâm, Âu Ngoại).

1912: Kanashiki Gangu (Đồ chơi buồn bă), thi tập của Takuboku.

TIẾT II: TƯ TƯỞNG & PHÊ B̀NH :

Trước khi tiểu thuyết mệnh danh là tiểu thuyết chính trị của giai đoạn chuyển tiếp Edo- Meiji ra đời, trên văn đàn, đă có những tác phẩm mang tính chất keimô (khải mông) có nghĩa là “mở mang, soi sáng” (khải) chỗ “mông lung, tối tăm” (mông). Do đó, văn học cho đến năm Meiji thứ 20 c̣n được gọi là keimô bungaku (khải mông văn học) “văn học khai sáng”. Nó đă ảnh hưởng đến toàn thể xă hội.

A) Các nhà tư tưởng khai sáng :

1) Fukuzawa Yuukichi (PhúcTrạch Dụ Cát, 1835-1901)

Trong số những tác phẩm có tính chất lư luận trước hết phải kể đến Gakumon no Susume (Khuyến khích học vấn, 1872-76) của Fukuzawa, Yukichi, nhà tư tưởng và giáo dục số một thời Duy Tân.Trong đó ông đă thuyết về b́nh đẳng, độc lập tự do và phê phán chế độ phong kiến, với câu nói bất hủ “Trời không tạo ra người ở trên người cũng như người ở dưới người”. Ông c̣n ca tụng “thực học” nghĩa là cái học áp dụng được vào cuộc sống, làm cho nước mạnh dân giàu. Học vấn phải giản dị, rơ ràng và đem lại lợi ích, xóa đi những bất b́nh đẳng trong xă hội. Sách đă bán được 70 vạn cuốn, một con số khổng lồ thời ấy.

Fukuzawa Yukichi được xem là một trong số những người đă làm cho quá tŕnh của công cuộc duy tân đi đến chỗ dứt điểm nghĩa là không ḥng kéo ngược lại nữa. Ông đă xác định một số cột mốc và điểm hẹn trong đường lối suy nghĩ cho các thế hệ thanh niên Nhật Bản về sau. Không những là nhà tư tưởng và giáo dục, ông c̣n là mẩu người hoạt động, một nhà văn, nhà báo.Ông không ngần ngại chỉ trích giới quân nhân và chính trị. Các tác phẩm của ông đă đưa nước Nhật vào quĩ đạo đổi mới. Dĩ nhiên điều đó khả dĩ thực hiện được cũng c̣n nhờ ở tính ṭ ṃ, tinh thần cầu tiến, chuộng thực dụng và ḷng yêu nước của dân Nhật nữa.

Fukuzawa sinh nawm 1835 trong một gia đ́nh samurai cấp thấp, sống quăng đời thơ ấu ở Nakatsu, một thành phố nhỏ trên đảo Kyuushuu. Sau đó, ông lên Nagasaki, nơi có nhiều người ngoại quốc, rồi đến Ôsaka, t́m hiểu học thuật của người Ḥa Lan dưới sự chỉ dẫn của Ogata Kôan (Chư Phương, Hồng Am, 1810-1863), nhà Lan học rành y lư có mở trường ở đấy. Sau đó, ông lại lên Edo, vừa dạy học vừa tự học thêm, có tham gia Mạc Phủ ít lâu nhưng thất vọng trước sự kỳ thị và tinh thần bè phái của họ. V́ họ coi thường những samurai cấp thấp trong đó có ông, nên ông từ chối theo bất cứ bên nào trong cuộc tranh chấp quyền lực của các phiên trấn địa phương, không chịu làm quan trong chính quyền Meiji, xem việc giáo dục và bồi đắp tri thức c̣n quan trong hơn cả việc cai trị. Do đó ông đă lập Keiô Gijuku (Khánh Ứng Nghĩa Thục), tiền thân của Đại học Keiô bây giờ.

Sự nghiệp trứ tác của ông rất phong phú. Ngoài “ Khuyến khích học vấn ” vừa kể, c̣n có Seiyô Jijô “ T́nh h́nh xă hội phương Tây ” (1866-70), đúc kết những nhận xét của ông sau chuyến viếng thăm Mỹ (1860 và 1866) các nước Âu châu (1862). Đó là điều ông may mắn hơn nhà chí sĩ Yoshida Shôin (Cát Điền, Tùng Âm, 1830-59), người chỉ sinh trước ông có 4 năm và thất bại nhiều lần trong việc vượt biên để ra nước ngoài cầu học. Sách của ông không phải là một bút kư du lịch như lối viết của người cùng thời khi kể chuyện nước ngoài. Nó chỉ nhằm mô tả các định chế chính trị, xă hội, văn hóa những nơi đó cũng như cách vận hành của chúng. Ông cho rằng giữa chính trị và kinh tế, giữa chính phủ và quốc dân không nên có một sự đối đầu mà phải có một quan hệ ỷ dốc. Ông đă mạnh dạn đặt hệ tư tưởng của ḿnh trong luồng suy nghĩ Tây Phương, vốn đă bắt nguồn và phát triển từ cuốn Rangaku Kotohajime “ Ḥa Lan học nhập môn” do Sugita Genpaku (Sam Điền, Huyền Bạch, 1733-1817) và môn đệ của ông là Ôtsuki Gentaku (Đại Qui,Huyền Trạch, 1757-1827) soạn xong năm 1815. Sau đó, Fukuzawa c̣n viết Bunmei no gairyaku “ Khái lược về văn minh ” (1875), dựa trên sách vở Tây Phương để bàn về cách nh́n lịch sử. Kể từ năm 1882, ông xuất bản tạp chí riêng mang tên Jiji Shinpô (Thời Sự Tân Báo), một nhật báo uy tín hoạt động trong nhiều thập niên, và đăng trong ấy những bài viết như Teichuu-ron (Đinh Sửu Công Luận,1885) để bênh vực Saigô Takamori, người có công trong cuộc Duy Tân nhưng sau đă đối lập với chính quyền, và Datsua-ron (Thoát Á Luận, 1885) chủ trương “ thoát Á nhập Âu ” nghĩa là không chờ đợi các nước Á Châu khác mở mang để cùng tiến chung mà phải lập tức trở thành một quốc gia vững mạnh kiểu Âu Châu để có thể nói chuyện ngang hàng được với Tây Phương.. Lúc cuối đời, ông trứ tác Fukuô Hakuwa “ Phúc ông bách thoại ” (1897) và một tác phẩm có tính cách hồi kư  nhan đề Fukuô jiden “ Phúc ông tự truyện ” (viết xong năm 1898, in năm 1899)[5]. Quyển sách cuối cùng này được xem như một tác phẩm kinh điển để hiểu quá tŕnh lịch sử tư tưởng hiện đại. Lúc đó, lâm bệnh không tự ḿnh viết được, ông phải đọc nó cho người khác chép lại nên câu văn sinh động như văn nói.

Ông cũng đă tham gia nhóm văn xă Meiroku, cộng tác với tạp chí Meiroku Zasshi (Minh Lục Tạp Chí, 1874-75) của nhóm. Nhóm có mục đích giáo dục dân chúng, bởi v́ theo Fukuzawa, sở dĩ quan lại hà khắc là v́ dân chúng ngu dốt. Thế th́ dân chúng phải tự trách ḿnh thay v́ chê trách quan lại. Cách duy nhất để có dân chủ tự do là phải có kiến thức trước đă 

2) Nakamura Masanao (Trung Thôn, Chính Trực, 1832-1891) và Meirokusha

Cùng với Gakumon no susume của Fukuzawa, cần phải kể đến tập văn dịch Saikoku Rishihen (Tây Quốc Lập Chí Biên, 1870-71) tức Truyện Thành Công của người phương Tây, do Nakamura Masanao, giáo sư đại học Đông Kinh và là người cầm đầu Meirokusha (Minh Lục Xă) [6], soạn từ tác phẩm Self Help của một người Anh tên là Samuel Smiles[7], nêu ra những tấm gương hay đẹp của người phương Tây như truyện kư về các ông Stevenson, Watt và Arkwright, cũng như một số nhà lănh đạo hay nhà phát minh khác , để cổ vũ thanh niên noi theo. Cần nói thêm là Nakamura đả phá tiểu thuyết gesaku (tiêu khiển) mà ông cho là có hại, cần phải dẹp bỏ.

 

3) Nakae Chômin (Trung Giang, Triệu Dân, 1847-1901)

 

Nhà tư tưởng Nakae Chômin

Nhà tư tưởng quan trọng thời Duy Tân, tên thật là Nakae Tokusuke (Trung Giang, Đốc Giới), quê ở phiên Tosa. Năm 1871 cùng một nhóm sinh viên theo sứ bộ Iwakura sang Pháp, hai năm rưỡi sau, khi về nước mở trường rao giảng dân quyền. Ông đă từng tham gia lập ra Đảng Tự Do, làm chủ bút tờ Jiyuu Shinbun “ Tự Do Tân Văn ”, cơ quan của đảng. Trúng cử nghị sĩ lần bầu cử đầu tiên. Ông đă dịch Min.yakuron “ Dân Ước Luận ” (Contrat Social ) của J.J.Rousseau qua thể Hán văn (Minyaku Yakkai ~ Dân Ước Dịch Giải, 1882) và tham gia cuộc vận động tự do dân quyền. Về mặt văn chương, ông có viết cuốn tiểu thuyết chính trị nhan đề Sansuijin Keirin Mondô (Tam Túy Nhân Kinh Luân Vấn Đáp) “ Đối đáp giữa ba người say về việc trị nước ” (1888). Ngoài ra, c̣n có Ichinen yuu.han “ Một năm rưỡi để sống ” (1901) gồm 2 cuốn. Cuốn đầu gồm những bài viết khi đă biết ḿnh bị chứng ung thư. Trong đó, ông có câu nói nổi tiếng “ Ở Nhật, không có triết lư. Dân Nhật là một dân tộc không triết lư”.Trong cuốn thứ hai, ông tŕnh bày triết thuyết duy vật của ông như một lư thuyết lư tưởng và đánh đổ các ư thức hệ tôn giáo hoặc có tính lư tưởng khác. Trong triết học cũng như trong văn chương, ông thường đi ngược thời thượng.

Nếu so sánh với Fukuzawa Yukichi th́ cách suy nghĩ của Nakae Chômin hầu như đối lập. Fukuzawa muốn theo gương Motori Norinaga mà quét sạch văn chương cổ điển Trung Hoa và Nho Giáo (Hán ư, Nho hồn). Như Norinaga muốn thay thế Hán học bằng quốc học của Kojiki (Cổ Sự Kư ,712), Fukazawa muốn học hỏi và truyền bá thực học (mà ông gọi là Anh học) và lư tưởng cá nhân chủ nghĩa, tự do chủ nghĩa của giai cấp trung lưu Tây Phương.. Nakae, ngược lại, thấy Hán học là cần thiết và bảo vệ nó. Ông đă từ chức hiệu trưởng Trường Ngoại Ngữ Tôkyô sau khi mới nhậm chức được có ba tháng v́ Bộ Giáo Dục từ chối lời yêu cầu của ông muốn thêm Hán văn vào chương tŕnh dạy. Không những thế, Nakae cũng đánh giá cao văn hóa cổ điển của Nhật Bản, ví dụ sân khấu Jôruri, chẳng hạn.Ông không giải thích rơ lư do của sự chọn lựa này nhưng Katô Shuuichi phỏng đoán có lẽ v́ khi ở Pháp, ông đă nhận thấy tầm quan trọng của các tác phẩm cổ điển trên văn hóa nước ấy như thế nào.Trong khi văn từ của Fukuzawa b́nh dị th́ văn chương của Chômin lại gần với Hán văn hơn. Nếu Fukuzawa tỏ ra muốn hợp tác với chính quyền th́ Nakae thường có một thái độ phê phán. Ngoài ra, Nakae Chômin xem tự do dân quyền như một điều thiết yếu và không những dành riêng cho dân chúng các nước Âu Mỹ mà cho cả Ấn Độ hay Thổ Nhĩ Kỳ v́ “ họ cũng là người ”. Với quan điểm kết án chủ nghĩa đế quốc như thế, ông lại lấy lập trường trái ngược với Fukuzawa, người chỉ muốn Nhật Bản nhanh chân thoát ra khỏi số phận một nước Á châu yếu kém, c̣n người khác th́ để mặc họ.

Cùng một lúc, trong khi Fukuzawa kết án những cuộc nổi loạn nông dân kiểu của Ôshio Heihachirô (Đại Diêm, B́nh Bát Lang, 1793-1837) là “ ngu ngốc ” th́ Chômin cho rằng không phải người nào nghèo cũng v́ lười hay bất tài. Có những kẻ nghèo v́ đau ốm, bệnh tật, thất nghiệp, lương không đủ ăn, gia đ́nh đông con...cần phải được giúp đỡ. V́ vậy, khi có cuộc tấn công ngục Bastilles th́ kẻ đáng trách không phải là dân chúng mà là nhà cầm quyền (theo bài viết đăng trên báo Tôyô Jiyuu ngày 21/2/1881). Nakae Chômin c̣n nới rộng ṿng tay đến thiểu số bị kỳ thị như người burakumin và ông là nhà trí thức đầu tiên có cái can đảm tranh đấu v́ họ.

Chính v́ thế, trong khi Fukuzawa được ḷng chính quyền khi Nakae bị đặt trong thế đối lập. Nếu người tiếp tục sự nghiệp Fukuzawa là học giả kinh tế Koizumi Shinzô (Tiểu Tuyền, Tín Tam, 1888-1966), viện trưởng sáng giá của Đại Học Keiô và là thị giảng cho đông cung thái tử Akihito, th́ học tṛ của Nakae, Kôtoku Shuusui (Hạnh Đức, Thu Thủy, 1871-1911) đă bị xử h́nh trong vụ án gọi là “ đại nghịch ” (mưu sát thiên hoàng Meiji ) năm 1911.

4) Uchimura Kanzô (Nội Thôn, Giám Tam, 1861-1930)

Không thể bàn về tư tưởng thời Meiji mà lại bỏ qua Uchimura Kanzô. Ông người vùng Takasaki, gần Tôkyô, là một nhà tôn giáo và b́nh luận gia. Tốt nghiệp Trường Canh Nông Sapporo, từng sống ở Mỹ từ 1884 đến 1888. Ông chủ trương một tôn giáo Ki-Tô không cần giáo hội. Bị kết tội bất kính v́ không trọng chiếu chỉ về giáo dục của Thiên Hoàng. Từng sáng lập tạp chí Seisho no Kenkyuu “ Nghiên Cứu Kinh Thánh ” (từ 1900), viết nhiều trên Yorozu-chôhô “ Tin Sáng ”, và có các tác phẩm Kito shinto no nagusame “ Nguồn an ủi của tín đồ Cơ Đốc ”, Kyuuanroku (Cầu An Lục ) “ Hành tŕnh đi t́m sự b́nh an ” (1893), Shuukyô to bungaku “ Tôn giáo và văn học ” (1899). Yo ga shuukyô teki shôgai “ Đời tôn giáo của tôi ” (1902). Ông có trứ tác “ V́ sao tôi vào đạo Công Giáo ” nguyên tác bằng Anh ngữ How I became a Christian.

.Thường trích dẫn văn chương cổ điển Âu Mỹ như tập thơ Paradise Lost “ Thiên Đàng Đánh Mất ” của Milton, giúp độc giả có cơ hội thưởng thức các danh tác. Ảnh hưởng sâu đậm đến các nhà văn Masamune Hakuchô và Shiga Naoya.

Người cựu sinh viên nông học Đại Học Sapporo[8] này chọn thái độ chủ ḥa trong trận Nhật Nga và đứng về phía các nạn nhân trong vụ ô nhiễm mỏ đồng Ashio.Tuy nhiên ông không có chân trong đảng phái nào cả dù có người xem ông là người đầu tiên gieo rắc tư tưởng xă hội chủ nghĩa trên đất Nhật thời Meiji. Gần gũi về tư tưởng với Uchimura là Abe Isoo (An Bộ, Cơ Hùng, 1865-1949), giáo sử đại học Dôshisha và Waseda, một người công giáo có tư tưởng xă hội, đă viết Shakaishuisha to naru made “ Cho đến khi trở thành kẻ theo chủ nghĩa xă hội ” (1932). Tuy thế nhưng trước sau Uchimura vẫn là người công giáo, không theo đường duy vật như Sakai Toshihiko hay Kôtoku Shuusui.

B) Những nhà văn hóa khác :

Những nhà văn thời Meiji là nhưng người đầu tiên hấp thụ văn hóa Tây Phương nhưng cũng là những người cuối cùng được hấp thụ Hán học. Trong khi tiếp xúc với Tây Phương, người Nhật bắt đầu có ư thức về bản sắc văn hóa của dân tộc ḿnh và ư thức đó càng ngày càng rơ nét từ khi các cuộc tiếp xúc tăng thêm nhiều. Các nhà văn hóa Nhật vừa muốn khẳng định bản sắc dân tộc như tạo nên thành tŕ đề kháng ảnh hưởng ngoại lai, đồng thời, muốn chỉnh lư những sai lầm trong sự đánh giá của người phương Tây về họ.

Trong quá tŕnh nghiên cứu bản sắc dân tộc Nhật có khi lại có sự tham dự của người ngoại quốc. Đó là trường hợp của Ernest Fenollosa (1853-1908), giáo sư người Mỹ dạy triết ở Đại Học Đông Kinh.Ông đă nghiên cứu về hội họa phái Kano và điêu khắc tượng Phật của Nhật, không như di sản văn hóa của riêng nước Nhật nhưng như một bộ phận của di sản văn hóa thế giới. Bên cạnh, Okakura Kakuzô (Tenshin) (tức Cương Thương, Giác Tam hiệu Thiên Tâm, 1862-1913) từng làm việc chung với Fenellosa, đă viết nhiều tác phẩm trong chiều hướng đó (xem nghệ thuật Nhật Bản có tính phổ quát) giới thiệu văn hóa Nhật Bản bằng tiếng Anh như “ Lư tưởng của phương Đông, đặc biệt trong nghệ thuật Nhật Bản ” The Ideals of the East with Special Reference to the Art of Japan (1903) hay “ Trà Thư ” The Book of Tea (1906).

1) Suzuki Daisetsu (Linh Mộc, Đại Chuyết, 1870-1966) :

Về lănh vực tư tưởng, có Suzuki Daisetsu đă giới thiệu ảnh hưởng của thiền tông trong đời sống văn hóa Nhật Bản. Trước tiên ông học triết ở Đại Học Đông Kinh rồi qua Mỹ (1897-1909) và Pháp, chỉ trở về nước năm 1911.Ông kết hôn với một người Mỹ, bà Beatrice Laine, và hai vợ chồng cùng nhau biên tập tạp chí The Eastern Buddhist “ Người Phật Tử Đông Phương ” (1921-1939). Sau đó ông dạy ở Đại Học Otani (phái Tịnh Độ, gần Kyôto), rồi lại lên đường sang Mỹ và Âu châu (1951-58). Trở về Kamakura, ông mất năm 96 tuổi.

Daisetsu viết rất nhiều nhưng tác phẩm chính có Outlines of Mahayana Buddhism “ Đại Cương về Phật Giáo Đại Thừa ” (1907), Hihon Reisei “ Tính thần linh Nhật Bản ” (1944), Zen Shisô shi Kenkyuu “ Nghiên Cứu Lịch Sử Tư Tưởng Thiền Tông ” (1943-51)

Ông chủ trương rằng không thể giải thích thiền bằng lời nói v́ làm như thế là có khả năng gây ngộ nhận. Như các thiền sư thời xưa, ông cho rằng chỉ qua những ẩn dụ và thí dụ, người ta mới hiểu được Thiền.Tuy nhiên trong khi tŕnh bày các trường phái thiền, ông đă chứng tỏ có đầu óc phân tích. Có thể nói chưa có người Nhật nào tŕnh bày về Thiền một cách sáng sủa như ông.

Sau đó cần phải nhắc đến nhà dân tộc học Yanagita Kunio (Liễu Điền, Quốc Nam, 1875-1962). Chính ra cả hai ông Daisetsu và Yanagita đều có những hoạt động nghiên cứu và trước tác phong phú kéo dài suốt thời Taishô (1912-26) cho đến giai đoạn Shôwa tiền kỳ (1926-45).

2) Nishida Kitarô (Tây Điền, Kỷ Đa Lang, 1870-1945)

Trong lănh vực triết học, thời này đă có người như Nishida Kitarô biết sử dụng các khái niệm triết học mới của Đức để giải thích lư thuyết của ḿnh.Ông là bạn thân của Daisetsu và gần gũi với Thiền Tông. Tác phẩm của ông gồm Zen no Kenkyuu “ Bàn về tính Thiện ”, Hataraku mono kara miru mono e “ Từ kẻ làm việc cho đến kẻ nh́n ” Jikaku ni okeru chokkan to hansei “ Vai tṛ của trực giác và phản tỉnh trong sự  tự giác ”.

 Bên cạnh hai nhà nghiên cứu Thiền Tông là Daisetsu và Nishida, c̣n có những nhà thần học Ki-Tô giáo và Tin Lành như Niijima Jô (Tân Đảo, Nhương, 1843-90), người thành lập Đại Học Dôshisha (Đồng Chí Xă, 1875) ở Kyôto, và Uemura Masahisa (Thực Thôn, Chính Cửu, 1858-1925). Những nhà thần đạo ấy có tư tưởng xă hội và là một trong những thế lực khơi nguồn cho các cuộc vận động chống lại khuynh hướng độc đoán của chính quyền đương thời

3) Kôtoku Shuusui (Hạnh Đức, Thu Thủy, 1871-1911) :

 

  

Kôtoku Shuusui (1871-1911) bị xử tử trong vụ án “đại nghịch”.

Kôtoku Shuusui tên thật là Kôtoku Denjirô, sinh năm 1871 trong một gia đ́nh buôn bán ở Tosa. Chịu ảnh hưởng của Nakae Chômin và chủ trương đi theo tinh thần tự do, b́nh đẳng và nhân ái của cuộc Cách Mạng Pháp 1789, chứ không dựa trên ḷng tin tôn giáo như Abe Isoo. Tuy nhiên, trên thực tế, lối suy nghĩ của ông cũng không khác những người xă hội công giáo bao nhiêu v́ ông từ chối bạo động như các người vô chính phủ và muốn giành lấy chính quyền qua tuyển cử. Ông có viết các tác phẩm lư luận như Nijisseiki no kaibutsu, teikokushugi “ Chủ nghĩa đế quốc, con quái vật của thế kỷ hai mươi ” (1901) và Shakaishuugi Shinzui “ Tinh hoa của xă hội chủ nghĩa ” (1903). Chỉ khi ở Mỹ về nước năm 1907, ông mới bắt đầu liên lạc với Kropotkin và những người vô chính phủ Nga. Tuy nhiên, chính quyền đương thời không để cho ông sống để đi theo con đường này. Ông bị kết án và xử tử ngày 24/1/1911.

4) Kawakami Hajime (Hà Thượng, Chấp, 1879-1946) :

Ba tuần sau cái chết của Shuusui, Kawakami Hajime viết Nihon Dokutoku no Kokkashugi “ Chủ nghĩa quốc gia đặc biệt của Nhật Bản ” và cho in trong tờ Chuô Kôron. Ông tốt nghiệp Đại Học Tôkyô và là giáo sư Đại Học Kyôto về kinh tế Mác-xít, bị mất việc năm 1928 v́ ư tưởng của ḿnh. Về sau, ông có gia nhập Đảng Cộng Sản. Ông có tác phẩm Rikuhôô Kanshô (Lục Phóng Ông giám thưởng) ca tụng nhà thơ Lục Du (1125-1210) đời Tống như một trí thức (thi nhân, chí nhân, đạo nhân) biết đi t́m chân lư. Ông c̣n để lại Jijoden “ Tự Tự Truyện ”, trong đó cho biết nhờ đọc Thánh Kinh ngày c̣n ở Đại Học mà ông đă có tinh thần vị tha. Về kinh tế học, ông đă để lại các tác phẩm Shihon-ron Nyuumon “(Tư Bản Luận nhập môn) và Keizaigaku Taikô (Kinh Tế Học đại cương). Hai quyển đều ra đời năm 1928. Hoạt động với Đảng Cộng Sản trong bóng tối (8/1932 – 1/1933), ông bị giam từ tháng 1/ 1933 đến tháng 6/1937. viết rất nhiều trong thời gian ngồi tù. Tuy nhiên tập tự truyện của ông là tác phẩm giá trị nhất về mặt văn chương và được xem như một thành công nhất trong thể loại này vào thời hiện đại.

Nỗi khổ tâm của ông là không muốn hy sinh tự do của ḿnh để hoàn toàn theo Mác-xít mà chỉ muốn hấp thụ một số quan điểm của chủ nghĩa Mác thích hợp với sự suy nghĩ của cá nhân mà thôi.

C) Các nhà phê b́nh :

Phê b́nh văn học thời xưa ở Nhật như ta đă biết đă được thể hiện qua các tập b́nh luận mang tên karon (ca luận), shiron (thi luận) hay dưới h́nh thức zuihitsu (tùy bút). Bước qua thời mới, phê b́nh hoặc xuất hiện dưới h́nh thức ronsô “ tranh luận trên báo chí ” và thường có tính cách ư thức hệ hơn là văn chương thuần túy, hay zadankai “ bàn tṛn thảo luận ” trong đó có khi độc giả cũng góp mặt. Thể tài zuihitsu ngày nay tuy có thể được gọi bằng những cái tên khác nhau, vẫn c̣n là một phương tiện để giới phê b́nh chuyên môn cũng như tài tử nói lên ư kiến của ḿnh.

Fukuzawa Yukichi và Nakamura Manao của nhóm Meirokusha vừa nhắc đến ở trên tuy là hai nhà tư tưởng khai sáng quan trọng nhưng họ không phải là những nhà phê b́nh văn học đúng nghĩa. Hai nhà phê b́nh văn học quan trọng của giai đoạn Minh Trị Duy Tân chỉ có thể là Tsubo.uchi Shôyô (1859-1935), người viết tác phẩm Shôsetsu Shinzui (1885-86) và Môri Ôgai (1862-1922) qua những cuộc bút chiến giữa họ và chung quanh họ về quan điểm viết tiểu thuyết. Ngoài ra có thể đưa ra một số tên tuổi đáng kể như Ishibashi Ningetsu (Thạch Điền Nhẫn Nguyệt, 1865-1926), nhà phê b́nh văn nghệ có uy tín đương thời, Kitamura Tôtoku (Bắc Thôn, Thấu Cốc, 1868-1894), người tiên khu và lư luận gia của chủ nghĩa lăng mạn Nhật Bản, Yamaji Aizan (Sơn Lộ, Ái Sơn, 1864-1917) với quan điểm độc đáo về văn học và sử học, Takayama Chôgyuu (Cao Sơn, Xư Ngưu, 1871-1902) có tiếng tăm trong lớp trẻ đang chạy đua theo tư tưởng siêu nhân của Nietzsche (Friedrich Wilhelm Nietzche, 1844-1900) và chủ nghĩa Nhật Bản (Japanism) cũng như Shimamura Hôgetsu (Đảo Thôn, Bảo Nguyệt, 1871-1918), cột trụ của trường phái chủ nghĩa tự nhiên  

D) Từ Tiền Cận Kim bước qua Cận Kim :

Giai đoạn nầy tương ứng với khoảng thời gian từ năm Meiji thứ nhất (1868) đến hết thập niên thứ hai của thời Meiji (1880). Dĩ nhiên là văn học cận kim của thời Meiji không hề bắt đầu một lượt với sự ra đời của chính quyền Meịji. Để chuyển tiếp từ văn học cận đại mà nho gia (phần lớn xuất thân từ giai cấp vũ sĩ) xem như nền tảng cho một loại kiến thức tổng quát (culture générale) của người trí thức, đến văn học cận kim của người thời Meiji vốn được định nghĩa như một thể loại văn chương (genre littéraire) mà trong đó vai tṛ của tiểu thuyết là quan trọng hơn cả, người Nhật phải mất một khoảng thời gian gọi là tiền cận kim trên dưới 20 năm.

 

TIẾT III : KHÁI QUÁT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BỘ MÔN TIỂU THUYẾT THỜI MINH TRỊ (MEIJI, 1867-1912) :

 

Niên đại/ Khuynh Hướng/ Tác Gia :

 

Khoảng Meiji 10 (1877) :

-Tiểu thuyết chính trị (Yano Ryuukei / Tôkai Sanshi)

-Tiểu thuyết phiên dịch (Niwa Jun.ichirô, Kawahima Chuunosuke)

-Tiểu thuyết gesaku (hí tác) (Kanagaki Robun, Narishima Ryuuhoku)

 

Khoảng Meiji 20 (1887) :

-Tiểu thuyết tả chân (Tsubo-uchi Shôyô, Futabatei Shimei)

 

Khoảng Meiji 30 (1897):

-Tiểu thuyết mô phỏng cổ điển (Ozaki Kôyô, Kôda Rohan)

-Tiểu thuyết chủ nghĩa tự nhiên thời kỳ đầu (Nagai Kafuu, Kosugi Tengai)

-Tiểu thuyết lăng mạn (Kitamura Tôkoku, Shimazaki Tôson, Higuchi Ichiyô, Izumi Kyôka)

 

Khoảng Meiji 40 (1907) :

-Tiểu thuyết chủ nghĩa tự nhiên kỳ sau (Tokuda Shuusei, Kayama Katai, Kunikida Doppo, Shimazaki Tôson, Masamune Hakuchô)

-Tiểu thuyết phái Cao Sang (Yoyuuha) (Mori Ôgai, Natsume Sôseki)

-Phái Shirakaba (bước qua Taishô).

-Phái Đam Mỹ (bước qua Taishô)

TIẾT IV : VĂN HỌC GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP :

A) Tùy bút của Narushima Ryuuhoku (Thành Đảo, Liễu Bắc, 1837-84) :

Ḍng tùy bút trong văn học Nhật Bản vẫn c̣n được nối tiếp dưới thời Meiji với một tên tuổi lớn : Narushima Ryuuhoku, người mà các nhà văn học sử thường xếp vào các nhà văn gesaku của thời tiền cận kim. Ông vốn giữ một chức vụ quan trọng thời Mạc Phủ Tokugawa nên không ra làm quan với chính phủ Meiji, lúc bây giờ do người của hai phiên Satsuma và Chôshuu kiểm soát. Thái độ của ông cũng giống như Kurimoto Joun (Lật Bản, Xừ Vân, 1822-97), một đàn anh trên chốn quan trường, v́ trung thành với Mạc Phủ mà sau bỏ đi làm báo và tự xưng “ lăo thần tóc trắng đọc Sở Từ ” (bạch phát di thần độc Sở Từ) coi ḿnh là người mang tâm sự của Khuất Nguyên, thi nhân bị hất hủi (trục thần) của nước Sở thời xưa.

  

Narushima Ryuuhoku t́m về vang bóng một thời của Edo ngày cũ.

Ryuuhoku vốn là con trai thứ ba một nho thần của Mạc Phủ Tokugawa, đă làm đến chức thị giảng cho Shôgun, nhưng bị mất chức v́ chỉ trích chính trị của Mạc Phủ. Sau ông được Joun (Xừ Vân) bảo cử sung vào đội kỵ binh do các sĩ quan Pháp huấn luyện rồi trở thành một chức quan cao ăn lương ba ngh́n thạch thóc, trước chuyên lo về đối ngoại, sau chuyên lo về tài chánh cho nhà chúa. Khi họ Tokugawa trao trả chính quyền cho thiên hoàng, ông lui về Mukôjima ở Edo, sống ẩn dật (1868).Ông được chùa Honganji mời làm hiệu trưởng tư thục của chùa, sau lại có dịp theo ḥa thượng trụ tŕ đi quan sát Mỹ và Âu Châu (1871-73). Về nước, ông trở thành chủ nhiệm báo Chôya Shinbun (Triều Dă tân văn) và cử nhà văn Suehiro Tetchô (Mạt Quảng, Thiết Trường, 1849-96) làm chủ bút. Vào thời điểm năm 1877 mà  báo của ông ra đến 17000 số mỗi ngày cho nên có thể coi như là một thành công lớn.Tuy nhiên, Ryuuhoku được biết đến nhiều hơn cả nhờ cuốn tùy bút gồm 3 phần mang tên “ Ghi chép mới về vùng Yanagibashi ” hay  Ryuukyô Shinshi (Liễu Kiều Tân Chí , 1859-76).

Phần đầu Ryuuhoku viết lúc ông c̣n trẻ (22 tuổi, 1859) dưới bút hiệu Kayuu Senshi (Khả Hữu, Tiên Sử), nội dung nói về thời hoàng kim của xóm ăn chơi Yanagibashi, có trích dẫn nhiều đoạn của Terakado Seiken (Tự Môn, Tĩnh Hiên, 1796-1868) trong Edo hanjôki (Giang Hộ phồn xương kư, 1832-36 ) mô tả cảnh làm ăn thịnh vượng của xóm Fukagawa (đă suy sụp vào thời của Ryuuhoku và nhường chỗ cho Yanagibashi). Phần thứ hai (viết năm 1871) và lời tựa phần thứ ba (viết năm 1876 nhưng phần này không hoàn tất) mô tả cảnh làm ăn nhộn nhịp của khu phố Yanagibashi (Liễu Kiều) cùng với sự phục hồi của vương chính, nhưng tác giả không quên mĩa mai những kẻ trước kia theo nhà chúa nay lại chạy theo thời mà phục vụ nhà vua. Ryuuhoku nhân đấy cũng mượn lời các cô geisha để chỉ trích cả thái độ ngạo mạn, trịch thượng của nhóm quân nhân xuất thân từ hai phiên Chôshuu và Satsuma, nay là rường cột của thể chế mới.

Ông có thái độ giống Fukuzawa trong “ Đinh Dậu Công Luận ” khi lên tiếng bênh vực thanh danh của Saigô Takamori (Tây Hương, Long Thịnh, 1827-1877), một trong những người cha đẻ của cuộc Duy Tân, v́ khác chính kiến với nhà nước, đă bị dồn vào c̣n đường phản loạn và tự sát. Trong báo Chôya, Ryuuhoku đă đăng bài thơ chữ Hán như sau :

Tây Hương tại nhật, tôn Tây Hương,
Tây Hương tử th́, mạ Tây Hương.
Hà sự hủy dự dung dị biến,
Tiền hậu khởi hữu lưỡng Tây Hương..

Saigô c̣n sống th́ ca tụng,
Saigô nằm xuống, chửi bô bô.
Tại sao dễ đổi danh thành nhục,
Trước sau nào có hai Saigô !

Tuy có thái độ chống đối chính quyền nhưng trong tác phẩm” Ghi chép mới về vùng Yanagibashi ” (ở phần thứ hai và bài tựa phần ba) toát ra một không khí trữ t́nh và bi thương, nhớ về quá khứ vàng son của vùng đất Edo xa xưa. Sáu mươi năm sau, Nagai Kafuu (Vĩnh Tĩnh, Hà Phong, 1879-1959) trong Bokutô Kitan (Mặc Đông Kỳ Đàm) “ Chuyện Lạ Bờ Đông Sông Sumida ” (1937) viết về Edo ngày cũ, không ít th́ nhiều cũng đă chịu ảnh hưởng của Ryuuhoku.

Như thế, vô h́nh chung, Narushima Ryuuhoku đă làm cái gạch nối cho ḍng tùy bút Nhật Bản giữa Terakado Seiken (Tự Môn, Tĩnh Hiên, 1796-1868) và Nagai Kafuu vậy.

Ryuuhoku mất ngày 30/11/1884 v́ bệnh lao.Ḷng luyến tiếc một thời đại đă đi qua và thái độ công kích chính quyền đă làm ông trở thành một kẻ đứng bên lề suốt thời Meiji nhưng đồng thời, ai cũng nh́n nhận ông là một nhà báo biết sống cuộc đời tự do.

B) Văn Chương Dịch Thuật :

Sự biến chuyển trong quan điểm văn học từ tiền cận kim bước qua cận kim được thể hiện trước tiên với ḍng văn học gọi là gesaku (hí tác). Thời Edo, nó được xem như một loại văn chương thông tục, viết ra (tác) để mua vui (hí) mà ta từng biết qua các thể loại tiểu thuyết như yomihon, dangihon, sharebon, kokkeibon, kibyôshi, gôkan, ninjôbon (đă được tŕnh bày chi tiết trong phần nói về thời Edo). Đến đời Meiji (1867-1912), văn chương gesaku vẫn tiếp tục đóng vai tṛ ghi chép phong tục và sinh hoạt của thời đại mới, nhưng bên cạnh nó đă có không ít tiểu thuyết phiên dịch do ảnh hưởng của sự du nhập ồ ạt của văn hóa ngoại quốc, chưa kể loại tiểu thuyết chính trị, công cụ của cuộc vận động đ̣i tự do và dân quyền. Nói chung, thể loại tiểu thuyết có vẻ là h́nh thức văn chương đóng được vai tṛ mở ra những chân trời mới cho văn học v́ nó đáp ứng được đ̣i hỏi về mặt trí thức cũng như t́nh cảm của con người trong giai đoạn đó. Mặt khác, cùng với sự phát triển của kỹ thuật ấn loát và phương tiện truyền thông như báo chí, việc thi hành nghĩa vụ giáo dục (nhờ đó nâng con số người biết chữ lên cao), sự thiết lập các thư viện, hiệu sách, chỗ cho mượn sách...cũng là bao động cơ khác giúp mở rộng tầng lớp độc giả và là điều kiện khách quan để kích thích văn học tiền cận kim..

     

Bát Thập Nhật Gian Thế Giới Nhất Chu – Hoa Liễu Xuân Thoại- Kinh Quốc Mỹ Đàm

Công việc phiên dịch tiểu thuyết phương Tây đă bắt đầu khoảng năm Meiji thứ 10 (1877) trở đi. Đánh dấu thời kỳ nầy có Karyuu Shunwa (Hoa Liễu Xuân Thoại, 1878-79) do Niwa Jun.ichirô (Đan Vũ, Thuần Nhất Lang). Ông dịch nó từ truyện t́nh cảm luyến ái nhan đề Ernest Maltravers (1837) từ nguyên tác tiếng Anh của Ritton. Truyện được nổi tiếng như cồn. Niwa dịch nó theo văn thể của Hán văn nên rất nặng nề. Tuy nhiên, mục đích chính của ông chỉ là dùng việc dịch thuật như công cụ giáo dục, giới thiệu xă hội và tập tục Tây phương cho người Nhật.

Ngoài ông ra, Kawashima Chuunosuke (Xuyên Đảo, Trung Chi Trợ) cũng đă dịch tiểu thuyết khoa học giả tưởng Hachijuunichikan Sekai Isshuu (Bát Thập Nhật Gian Thế Giới Nhất Chu, 1879) tức truyện “Tám mươi ngày ṿng quanh thế giới” của văn hào Pháp Jules Verne.

 

C) Tiểu Thuyết Tiêu Khiển ( Hí Tác : Gesaku) :

anagaki Robun, nhà văn đi đầu trong phong trào văn minh khai hóa.

Trong đám các nhà văn gesaku cuối đời mạc phủ, có Kanagaki Robun (Giả Danh Viên, Lỗ Văn, 1829-1894) đă sớm bắt kịp trào lưu của thời “văn minh khai hóa” (tức là thời bắt chước văn minh phương Tây) qua hai tác phẩm Seiyô Dôchuu Hizakurige[9] (Tây Dương Đạo Trung Tất Lật Mao, 1870-76) “ Đi chơi một ṿng phương Tây ” và Aguranabe (An Ngu Lạc Quá, 1871-72) “ Quanh nồi thịt ḅ hầm ”, nói về những điều nghe thấy đó đây trong sinh hoạt của thời buổi đổi mới.

Seiyô Dôchuu Hizakurige có lẽ vay mượn tin tức từ Seiyô Jijô “ T́nh h́nh Tây phương ” (1866) cũng nhu Seiyô Ryokô Annai “ Chỉ dẫn về du hành Tây Phương ” (1867) của nhà tư tưởng duy tân Fukuzawa Yukichi. Robun kể chuyện hai người bạn Yajirôbê và Kitahachi, con cháu của hai chàng lăng tử quốc nội trong tác phẩm của Jippensha Ikuu thời Edo, đáp tàu biển đi thăm hội chợ triển lăm quốc tế ở Luân Đôn, gặp nhiều truyện vui buồn v́ không cùng một quan điểm văn hóa trong suốt cuộc hành tŕnh đến những nơi xa lắc như Tích Lan (Sri-Lanka) hay đảo Malte.

Aguranabe “ Quanh nồi thịt ḅ hầm” của Robun tŕnh bày những cuộc đàm thoại của mọi lớp người trong xă hội khi đến ăn ở tiệm cơm chuyên môn bán món thịt ḅ hầm, một h́nh ảnh tượng trưng cho thời đổi mới và khai hóa (Lúc đó, người Nhật bắt đầu xem việc Phật giáo dạy kiêng thịt là mê tín và lỗi thời. Chính Fukuzawa Yukichi cũng đề nghị người Nhật từ nay nên ăn thịt cho bổ khoẻ). Ở tiệm ăn này, họ đă bàn với nhau về văn vật các lân bang, than thở vật giá leo thang, tán dương vai tṛ dẫn đầu dư luận của báo chí... Qua hai tác phẩm nầy, ta thấy được tài nghệ kư giả của Robun khi ông mô tả cảnh tượng xă hội đương thời.

Có một thời Robun đă ngưng viết tiểu thuyết nhưng sau đó, ông sáng tác trở lại trên mặt báo dưới h́nh thức đăng tải liên tục mỗi ngày (tsuzukimono) tác phẩm Takahashi Oden Yashagatari (Cao Kiều A Truyền Dạ Xoa Đàm, 1879) nghĩa là “ Truyện con mụ  Takahashi Oden độc ác ”, nói về một can phạm sát nhân có thực đương thời nên rất được quần chúng b́nh dân yêu thích.

Khoảng năm Meiji thứ 5, với chiêu bài đề cao chủ nghĩa thực học (jitsugaku-shugi) chính phủ đả kích những ǵ không đem lại lợi ích thực tế, và trong một thời gian, những tác phẩm có tính hư cấu đă mất dạng trên báo chương. Tuy nhiên v́ dư luận vẫn đ̣i hỏi các  tác phẩm có tính hư cấu để mua vui, báo chí thời đó bèn “pha mắm thêm muối” vào tin tức thời sự trang trong (sanmen kiji = kư sự trang ba) cho đậm đà hơn và đăng tải liên tục mỗi ngày. Họ mướn những kư giả xuất thân từ giới nhà văn gesaku để làm việc ấy. Đó là loại tác phẩm mang tên “ truyện đăng liên tục ” (tsuzukimono) mà sau nầy khi biến thành trường thiên, tính cách mua vui của nó càng rơ rệt hơn và cuối cùng nó đă trở thành loại tiểu thuyết dành riêng cho báo chí.

D) Tiểu thuyết chính trị :

Hai nhà tư tưởng khai sáng Fukuzawa Yukichi (giữa) và Mori Ôgai (góc mặt).

Trước khi tiểu thuyết chính trị ra đời, trên văn đàn, đă có những tác phẩm mang tính chất keimô (khải mông) có nghĩa là “mở mang, soi sáng” (khải) chỗ “mông lung, tối tăm”(mông). Do đó, cho đến năm Meiji thứ 20, văn học c̣n được gọi là keimô bungaku (khải mông văn học) “văn học khai sáng”. Nó đă ảnh hưởng đến toàn thể xă hội. Trong số những tác phẩm có tính chất lư luận trước hết phải kể đến Gakumon no Susume (Khuyến học, 1872-76) của Fukuzawa Yukichi (PhúcTrạch Dụ Cát,1834-1901) nhà tư tưởng và giáo dục số một thời Duy Tân.Trong quyển sách đó Fukuzawa đă thuyết về b́nh đẳng, độc lập tự do và phê phán chế độ phong kiến, với câu nói bất hủ “Trời không tạo ra người ở trên người cũng như người ở dưới người”. Ông c̣n ca tụng “thực học” nghĩa là cái học áp dụng được vào cuộc sống, làm cho dân giàu nước mạnh. Theo ông, học vấn phải giản dị, rơ ràng và đem lại lợi ích, xóa đi những bất b́nh đẳng trong xă hội. Sách đă bán được 70 vạn cuốn, một con số khổng lồ thời ấy. Sau đó phải kể đến tập văn dịch Saikoku Rishihen (Tây Quốc Lập Chí Biên, 1870-71) tức Truyện Thành Công của người phương Tây, do Nakamura Masanao (Trung Thôn, Chính Trực, 1832-1891), giáo sư đại học Đông Kinh và là người cầm đầu Meirokusha (Minh Lục Xă) [10], soạn từ tác phẩm Self Help của một người Anh tên là Samuel Smiles[11], nêu ra những tấm gương hay đẹp của người phương Tây như truyện kư về các ông Stevenson, Watt và Arkwright, cũng như một số nhà lănh đạo hay nhà phát minh khác, cổ vũ thanh niên noi theo. Cần nói thêm là Nakamura c̣n đả phá tiểu thuyết gesaku mà ông cho là có hại, cần phải dẹp bỏ.

Để tuyên truyền cho cuộc vận động tự do dân quyền, mới đầu các nhà văn theo khuynh hướng khai sáng chỉ thác ngụ điều muốn nói trong tiểu thuyết gesaku của ḿnh hoặc phiên dịch, phóng tác tác phẩm ngoại quốc có màu sắc cách mạng. Người đi tiên phong trong việc phiên dịch tiểu thuyết chính trị của nước ngoài là Sakurada Momoe (Anh Điền, Bách Vệ). Ông đă phỏng dịch Nishi no umi Chishio no Saarashi (Tây Dương Huyết Triều Tiểu Bạo Phong, 1882) “Băo nỗi sóng máu biển Tây”, truyện của Alexandre Dumas lấy tư liệu từ những biến cố của cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789.Tiếp đến là Miyazaki Muryuu (Cung Kỳ, Mộng Liễu) đă dịch Kishuushuu (Quỉ Thu Thu, 1885) “Quỉ gào khóc” do nhà văn Nga Stepnik nói về cuộc đời của những nhà hoạt động chính trị theo chủ nghĩa hư vô (nihilism).

Lần hồi, các tác phẩm tuy mang tên tiểu thuyết chính trị nhưng thực sự có sức hấp dẫn quần chúng đă ra đời.Ví dụ Keikoku Bidan (Kinh Quốc Mỹ Đàm, 1883-84) “Truyện hay về việc trị nước” củaYano Ryuukei (Thỉ Dă, Long Khê, 1850-1931) lấy cảm hứng từ lịch sử thời cổ Hy Lạp hoặc Kajin no Kiguu [12](Giai Nhân Chi Kỳ Ngộ, 1885-97) “Cuộc kỳ ngộ với người đẹp”.

 

Nhà chính trị kiêm tiểu thuyết gia Yano Ryuukei (1850-1931)

Trong tác phẩm thứ nhất (Keikoku Bidan), Yano Ryuukei, một giáo sư, nhà báo và nhà chính trị xuất thân từ đại học Keiô của Fukuzawa Yukichi, nhuận sắc chuyện ba chàng thanh niên đồng chí hoạt động chính trị để tiểu quốc thành Thèbes (thuộc Hy Lạp, vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên) có một quốc hội, thực thi được chính sách dân chủ sau khi đánh đuổi bọn gian đảng dựa vào thế lực của Sparta để cai trị họ. Hai nhà nghiên cứu người Pháp, J.Pigeot và JJ Tschudin, dịch “ kinh quốc ” là “ les pays classiques ” (quốc gia thời cổ, mẫu mực), và theo họ, trong đó, công lao của các nhà chính trị Hy Lạp Epaminondas (418-362 trước công nguyên) và Pelopidas (410-364 trước công nguyên) được nhắc đến. Sau này, Yano sẽ là người cùng với chính khách Ôkuma Shigenobu (Đại Ôi, Trọng Tín, 1838-1922), người sáng lập Đại Học Waseda, tranh đấu để thành lập một đảng chính trị cấp tiến theo h́nh thức ở Anh.

 

Tôkai Sanshi tức Shiba Shirô (1852-1922) cũng là nhà văn và nhà chính trị.

Trong tác phẩm thứ hai (Kajin no Kiguu), tác giả Tôkai Sanshi (Đông Hải Tản Sĩ) tức Shiba Shirô (Sài, Tứ Lăng, 1852-1922), đă kể về cuộc hành tŕnh của nhân vật chính câu chuyện mang chính tên ḿnh, đi sang Philadelphia thăm quê hương của cuộc cách mạng chống Anh hoàng của dân tộc Mỹ, t́nh cờ biết về số phận những dân tộc nhược tiểu thời đó : Ái Nhĩ Lan đ̣i quyền tự trị, Ai Cập cũng đang nổi lên chống Anh, những người Carlists chống vua Tây Ban Nha, người Hung đang bị đế quốc Áo đàn áp v.v.... Tác giả bày tỏ sự thông cảm với điều bi phẫn về số phận hẩm hiu của người dân các nước ấy. Ông đă gặp gỡ những nhà vận động chính trị (và cũng là những giai nhân) như các nàng Hồng Liên (Colleen) và U Lan (Yolande), rồi có những quan hệ t́nh cảm với họ. Tuy vậy, ông biết mục đích cao cả nhất của mỗi người trong bọn là phụng sự đất nước của ḿnh nên đành chia tay nhau. Đặc điểm của tác phẩm này là tính trữ t́nh bao la rộng lớn và động cơ sáng tác mới mẽ nên đă được sự ủng hộ nồng nhiệt của lớp thanh niên ( truyện có một giới hạn lịch sử là Shiba Shirô cho người “ tản sĩ ” khi trở về đến quê nhà lại rao lên rằng Nhật Bản có nhiệm vụ cứu Triều Tiên ra khỏi sự lệ thuộc vào Trung Hoa[13], môt chuyện mà người Nhật đương thời xem như bổn phận đương nhiên!).

Tác giả Shiba Shirô trước đó đă sống đời lang bạt thật đấy nhưng cũng chuyên tâm học hỏi. Ông từng tham gia chiến dịch Tây Nam dẹp cuộc nổi dậy của phiên Satsuma, sau viết báo rồi qua Mỹ du học 5 năm, lấy được cả học vị ngành kinh doanh ở trường Wharton, thuộc Đại học Pennsylvania[14]. Chính nơi đó, ông đă nh́n thấy quả chuông tự do và gặp gở hai giai nhân cách mạng :

Một ngày kia, Đông Hải tản sĩ leo lên Đền Độc Lập ở Philadelphia. Nh́n lên, chàng thấy quả chuông nứt, nh́n xuống,chàng thấy bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Chàng hồi tưởng tấm ḷng cao cả của người dân Mỹ thời đó khi họ giương cao ngọn cờ chính nghĩa để đánh đuổi quan cai trị hà khắc của Anh hoàng và giành được dân chủ tự do. Nay nh́n lên rồi nh́n xuống, ḷng chàng không khỏi tuôn trào một niềm cảm xúc. Tản sĩ nh́n ra ngoài cửa sổ và thở dài. Vừa lúc đó có hai người đàn bà trẻ từ cầu thang xoáy đi lên.

(Trích đoạn mở đầu của Kajin no Kiguu)

Tiếp theo đó là Setsuchuubai [15](Tuyết Trung Mai, 1886) hay “Hoa Mai Trong Tuyết” của Suehiro Tecchô (Mạt Quảng, Thiết Trường), Kakan-ô (Hoa Gian Oanh, 1887-88) “Chim Oanh Giữa Đám Hoa” và Ryokusadan (Lục Thoa Đàm, 1886) “Truyện Cái Áo Mưa Xanh” của Sudô Nansui (Tu Đằng, Nam Túy) là những cuốn truyện được nh́n nhận có tiến bộ về mặt tả chân nhưng ở mức độ đó th́ nội dung chính trị đă thụt lùi đến tŕnh độ tiểu thuyết thông tục đại chúng mà thôi.

 

Tsubo.chi Shôyô

 

E) Tsubo.chi Shôyô (B́nh Nội Tiêu Dao) và Shôsetsu Shinzui (Tiểu Thuyết Thần Tủy) :

Shôsetsu Shinzui, “Tinh Túy của Tiểu Thuyết”, là tên tác phẩm lư luận cơ bản của Tsubo.uchi Shôyô (B́nh Nội, Tiêu Dao, 1859-1935) về cách viết tiểu thuyết. Mở đầu, ông cho rằng giữa Đông và Tây có những sự khác nhau trong khi nhận định về tiểu thuyết, chẳng hạn ta không thể lấy quan điểm đạo đức Khổng giáo của Đông Phương để phê b́nh tính nết của một nhân vật Âu Tây như bà nữ hoàng trong Hamlet được. Ông thấy cần có một loại tiểu thuyết tả thực tâm lư, về t́nh cảm con người, về thế thái phong tục, điều mà ông không t́m được trong tiểu thuyết loại gesaku vốn chỉ có mục đích khuyến thiện trừng ác kiểu các tác phẩm của Bakin thời Edo hay loại phục vụ công lợi như tiểu thuyết chính trị. Ông đă đưa ra mọi lư luận, nào về văn thể, nào về cốt truyện, nào về cách cấu tạo nhân vật cũng như phương pháp thuật sự… nhưng trên hết, ông chủ trương tiểu thuyết là một nghệ thuật nên phải có “tự luật tính” (autonomy) nghĩa là độc lập với mọi mục đích ngoài nó.

Lúc đầu, dưới bút hiệu Haru no Yaoboro (Xuân Ốc Lung), ông đă thử áp dụng lư thuyết của ḿnh trong tác phẩm Tôsei Shosei Katagi (Đương Thế Thư Sinh Khí Chất, 1885-86) “Chân dung người trai thời đại” và sau đó là Imoto[16] to sekagami (“Em gái và tấm gương soi lưng”, 1886). Ông viết cuốn truyện cuối cùng năm 1889 nhan đề Saikun (Tế Quân) “Người vợ” rồi từ đó chỉ chuyên chú vào kịch nghệ. Mặt khác, năm 1891, ông lập tạp chí văn nghệ Waseda Bungaku (Tảo Đạo Điền Văn Học) “Ruộng Lúa Non”, và năm 1906, góp phần vào việc tổ chức Hội Nhà Văn (Bungei Kyôkai = Văn Nghệ Hiệp Hội). Tác phẩm để đời của ông có lẽ là công tŕnh dịch toàn bộ kịch bản của Shakespeare ra tiếng Nhật.

Ông đă viết tập lư luận về tiểu thuyết nói trên vào giai đoạn từ năm Meiji thứ 18 đến 19 (1885-1886). Nếu tiểu thuyết chính trị Nhật Bản có tiến về phía tả chân cũng v́ đă chịu ảnh hưởng của Shôsetsu Shinzui. Quyển sách nầy ra đời trong khí thế đi lên của phong trào cải cách tiểu thuyết thời bấy giờ, xác định được vị trí tiểu thuyết như là một thể loại văn học (genre), bắt nguồn từ truyện bịa, hoang đường (tsukuri-monogatari) có tính chất hư cấu, không dựa đâu vào đâu (roman) để phát triển thành tiểu thuyết (novel) tả chân[17]. Ông c̣n tiên đoán rằng tiểu thuyết sẽ đóng vai tṛ then chốt trong văn học hiện đại và đề nghị sử dụng những phương pháp bắt nguồn từ chủ nghĩa tả chân để mô tả nhân t́nh thế thái, cải cách tiểu thuyết theo hướng tiến bộ.

  

Toyama Masakazu (1848-1900) người giới thiệu thơ Tây Phương cho Nhật Bản.

Dưới thời Meiji, sau khi ṭa nhà Rokumeikan (Lộc Minh Quán), khánh thành năm 1883 để tiếp yếu nhân nước ngoài và cũng là nơi có những buổi dạ vũ kiểu Tây Phương, trở thành biểu tượng cho sự Âu hóa, hai chữ “cải lương” nghĩa là đổi mới (bằng cách học hỏi Tây Phương) đă đi vào mọi lănh vực chứ không riêng ǵ trong phạm vi tiểu thuyết.Về thi ca, sự xuất hiện của shintaishi (tân thể thi) hay “thơ mới” cũng là một bằng chứng khác. Đặc biệt trước đó, giáo sư Toyama Masakazu (Ngoại Sơn, Chính Nhất, 1848-1900) đă giới thiệu thuyết xă hội tiến hóa luận, trong đó ông thuyết lẽ thiên nhiên “mạnh được yếu thua” và nhiệt liệt cổ vũ cho chủ nghĩa cải lương. Tsubo.uchi Shôyô có lẽ chịu ảnh hưởng của Toyama v́ trong lúc theo học ở Đại Học Đông Kinh đă từng được nghe vị thầy này diễn giảng

Tsubo.uchi đă lập luận như sau đây về vai tṛ của người viết tiểu thuyết:

“Cái quan trọng nhất trong tiểu thuyết là t́nh người. Sau đó mới đến thế thái, phong tục.Thế nhưng t́nh người là ǵ ? Xin thưa, t́nh người là t́nh cảm và dục vọng của con người ta, nghĩa là trăm linh tám điều phiền năo…. Phải nh́n cho thấu đáo được cái t́nh cảm trong bụng dạ của con người, dẫu là hiền nhân quân tử, nam phụ lăo ấu, thiện ác chính tà và miêu tả hết thảy một cách tinh vi chu đáo, không sót chỗ nào. Nhiệm vụ của người viết tiểu thuyết như chúng ta là làm sao thấy rơ ràng t́nh cảm của con người ta.Thế nhưng khi diễn tả mà chỉ cho thấy được cái mặt ngoài thôi th́ chưa đáng gọi là viết tiểu thuyết. Lúc xuyên thấu cốt tủy của nó th́ tiểu thuyết mới được xem là tiểu thuyết vậy”.

(Shôsetsu Shinzui, quyển thượng, Mục đích chính của tiểu thuyết)

Theo ông, trước đây ở Nhật Bản người ta coi nhẹ tiểu thuyết trong khi bên Âu châu, những người đàng hoàng chửng chạc và ngay cả các học giả cũng t́m đọc tiểu thuyết, nhờ đó loại h́nh văn học này mới lớn mạnh. So sánh tiểu thuyết Nhật thời Meiji với tiểu thuyết Tây Phương th́ chẳng khác nào đặt một bản in tranh ukiyo-e của phái Utagawa (ư nói dân dă tầm thường) bên cạnh một bức họa của một đại sư phái Kano (ư nói có phẩm chất cao sang).Vào thời điểm 1885, Tsubo.uchi Shôyô đă đặt rất nhiều hy vọng vào tiểu thuyết Nhật Bản mà ông mong rằng với sự thay đổi tư duy, một ngày nào nó sẽ vượt cả tiểu thuyết Tây Phương.

F) Điểm khởi hành thực sự của thời Cận Kim :

Thời này tương ứng với thời kỳ từ năm Meiji thứ 20 (1887) trở đi. Năm 1887 cũng là năm chương đầu tiên của Ukigumo (Phù Vân) “Mây Trôi Dạt” ra đời. Đây là cuốn tiểu thuyết mà chàng thanh niên Futabatei Shimei (Nhị Diệp Đ́nh, Tứ Mê, 1864-1909), một người say mê những kiệt tác của văn chương Nga, đă dồn hết tâm lực viết ra.

Futabatei tên thật là Hasegawa Shinnosuke (Trường Cốc Xuyên, Thần Chi Trợ), quê quán Edo, coi Tsubo.uchi như đàn anh. Ông vốn là sinh viên khoa Nga văn ở trường Đại Học Ngoại Ngữ Đông Kinh. Lúc đang theo học, nhân làm quen với các tác phẩm của Tourgueniev và Dostoievky, ông bắt đầu ham thích văn chương.Qua văn học Nga, ông đă hấp thụ được kiến thức về lư luận văn học đáng kể và sự hiểu biết của ông đă từng làm cho Tsubo.uchi Shôyô phải kinh ngạc. Thật ra đó là nhờ kiến thức ông có qua Tiểu Thuyết Tổng Luận của Bellinskii[18], người chủ trương sự tất yếu của chủ nghĩa hiện thực (realism) trong tiểu thuyết và lư luận nầy c̣n có chiều sâu hơn nội dung Shôsetsu Shinzui của Shôyô.

Về mặt văn học sử, Ukigumo tượng trưng được tiểu thuyết cận đại v́ nó đă thí nghiệm lối “ nói sao viết vậy” (ngôn văn nhất trí) lần đầu tiên ở Nhật.Tuy nhiên, đến năm Meiji thứ 22 (1885), Futabatei không chịu nổi nhưng rắc rối, phiền năo mà một kẻ đóng vai tṛ tiên phong của phong trào phải gánh, đă bỏ dở Ukigumo nữa chừng và rời khỏi văn đàn.Năm đó là năm hiến pháp đế quốc được ban hành, cũng là năm Tsubo.uchi Shôyô, người đă đem phong cách mới đến cho tiểu thuyết Nhật Bản đành gác bút. Ngôi sao của Yamada Bi.myô (Sơn Điền, Mỹ Diệu, 1868-1910), bạn đường của Futabatei trong phong trào “ngôn văn nhất trí” lúc đó, cũng bắt đầu lu mờ. Vừa khi ấy, chủ nghĩa quốc túy (ultra-nationalism = quốc gia cực đoan, cho nước ḿnh trên hết và bài xích ngoại quốc) đạt đến cao điểm. Nhóm Ken.yuusha với khuynh hướng hoài niệm quá khứ và chống Âu hóa cũng không phải là không có thời cùng đi chung đường với chủ nghĩa này cho dầu phong cách viết của những người trong nhóm không giống nhau.

 

 

Ken.yuusha. Hàng đầu (trái sang phải) : Ozaki Kôyô, Ishibashi Shian, Iwaya Sazanami.

 

Yamada Bi.myô trước kia đă cùng Ozaki Kôyô (Vĩ Kỳ, Hồng Diệp) thành lập nhóm “Bạn Bút Nghiên” (Kenyuusha =Nghiễn Hữu Xă), nhưng sau đó chia tay với Kôyô và trở thành chủ bút tạp chí “Hoa Kinh Đô” (Miyako no Hana). Năm Meiji thứ 20 (1887), ông đă áp dụng lư luận “ngôn văn nhất trí” để viết cuốn tiểu thuyết Musashino ( Vũ Tàng Dă = Cánh Đồng Musashi)[19]Kochô (Hồ Điệp =Bướm, 1889), xây dựng được phong cách văn học một thời.Tuy nhiên, chẳng mấy lúc, ông phải rời khỏi văn đàn v́ những lời đàm tiếu, mất chỗ đứng và sống buổi văn niên trong khó khăn. Ông c̣n viết Momoiro no kinu (Đào Sắc Quyến = Mảnh lụa đào, 1902) lấy đề tài từ cuộc chiến tranh giành độc lập của Phi Luật Tân..

 

Mori Ôgai (1862-1922), nhà văn hóa trọng trấn văn đàn Meiji.

Lúc ấy, Mori Ôgai (Sâm, Âu Ngoại, 1862-1922)[20] cũng vừa từ Đức du học trở về và đem đến cho văn đàn hương vị của chủ nghĩa lăng mạn (romanticism) mới mẻ với tác phẩm Maihime (Vũ Cơ = Nàng vũ công). Sau đó ông cho ra đời hai truyện ngắn nữa và nổi tiếng ngay nhưng vẫn chưa tham dự hoạt động tiểu thuyết. Văn đàn của thập niên thứ hai đời Meiji chỉ có một là nhóm Ken.yuusha tụ tập dưới trướng Ozaki Kôyô với loại tiểu thuyết hiện thực[21] (hay tả chân = realism) lấy chủ đề phong tục xă hội, hai là nhóm của Kôda Rohan (Hạnh Điền, Lộ Bạn) với tiểu thuyết mang màu sắc lăng mạn phương Đông. Hai nhóm ấy bổ túc cho nhau và có thế lực hơn cả.

Ken.yuusha (Nghiễn Hữu Xă) ra đời năm 1885, do Ozaki Kôyô cầm đầu với sự hợp tác của một nhóm bạn văn phần đông đang cùng học năm dự bị ở trường Đại Học Đông Kinh. Đó là văn xă đầu tiên của Nhật Bản. Họ phát hành tạp chí Garakuta Bunko (Ngă Lạc Đa Văn Khố) “Tủ Sách Tạp Nhạp”. Ngoài Kôyô và Bimyô như vừa kể, c̣n có Kawakami Bizan (Xuyên Thượng, Mi Sơn), Iwaya Sazanami (Nham Cốc, Tiểu Ba). Trong số môn đệ của Kôyô sau này sẽ có những nhà văn tên tuổi như Izumi Kyôka (Tuyền, Kính Hoa), Tokuda Shuusei (Đức Điền, Thu Thanh), Okuri Fuuyô (Tiểu Lật, Phong Diệp).

G) Bước đầu của phê b́nh văn học :

Từ thập niên thứ hai của thời Meiji (1878 trở đi), phê b́nh văn học trở thành một thể loại văn chương mới và là một yếu tố đánh dấu sự thành h́nh của văn học hiện kim.

Những nhà phê b́nh sắc bén như Ushibashi Ningetsu (Thạch Kiều, Nhẫn Nguyệt, 1865-1928), Uchida Fuchian (Nội Điền, Bất Tri Am hay Roan = Lỗ Am, 1888-1929), Kitamura Tôkoku (Bắc Thôn, Thấu Cốc) lần lượt xuất hiện, cả những nhà phê b́nh chống lại đổi mới như Saitô Ryoku.u (Trai Đằng, Lục Vũ, 1867-1904) cũng hoạt động ráo riết. Ryoku-u dựa trên “mỹ học thời Edo” phê phán và mĩa mai lối Âu hóa của văn chương Meiji. Văn phong Ryoku.u kỳ dị, khác người. Ông cũng từng viết cả tiểu thuyết như “Tṛ chơi cút bắt” (Kakurenbô, 1891). Đối với lịch sử phê b́nh văn học th́ hiện tượng đáng chú ư của thời điểm nầy là cuộc tranh luận về sự “gạt bỏ lư tưởng” (botsurisô = một[22] lư tưởng) xăy ra khoảng năm 1891-92 giữa tạp chí chuyên môn b́nh luận Shiragami Sôshi “ Bờ Giậu ” do Ôgai cầm đầu và nhóm Tsubo.uchi Shôyô với điểm tựa là tạp chí Waseda Bungaku “ Ruộng Lúa Non ” ”. Cuộc tranh luận nầy kéo dài trên nửa năm. Một bên, Ôgai đứng trên lập trường theo qui phạm Âu Châu, cho rằng cần phải đặt ra những tiêu chuẩn phê b́nh với mục đích phục vụ cho lư tưởng khai sáng.Tsubo-uchi th́ ngược lại, khuyên người phê b́nh không nên chủ quan đặt lư tưởng hay tiêu chuẩn lên trước mà phải phê b́nh theo phương pháp qui nạp, gạt bỏ lư tưởng qua một bên.Dù có vẻ thắng thế trong suốt quá tŕnh tranh luận, Ôgai cũng không đề ra được tiêu chuẩn nào cụ thể và cuộc tranh luận không ngă ngũ vào đâu.

 

Futabatei Shimei

H) Futabatei Shimei (Nhị Diệp Đ́nh, Tứ Mê, 1864-1909) :

Futabatei yêu chuộng văn học Nga và nhắm viết cho được một thể loại tiểu thuyết kết hợp được tính xă hội rộng lớn và lối hành văn đầy h́nh ảnh sống động. Tác phẩm đầu tay Ukigumo (Phù Vân) “Mây Trôi” đă được sáng tác trong tinh thần đó. Đó là cuốn tiểu thuyết trường thiên miêu tả một cách tinh tế về cuộc đời của bốn nhân vật : chàng Utsumi Bunzô (Nội Hải, Văn Tam) yếu tính và lương thiện quá lố, chàng Honda Noboru (Bản Điền, Thăng) chỉ muốn đạt được danh vọng, nàng O-Sei (Thế)[23] dể bị người lôi cuốn và, mẹ cô, bà O-Masa (Chính) lúc nào cũng lo thủ lợi và sẳn sàng thay ḷng đổi dạ. Bà ta là bà cô và chủ nhà trọ của Bunzô, đă gán con gái cho Noboru, người có tương lai hơn, khi biết tin Bunzô bị mất việc. V́ thế, cuộc đời O-sei, một người nhẹ dạ và đua đ̣i Âu Mỹ thành ra “bồng bềnh như đám mây trôi” để cuối cùng bị Noboru phụ bạc. Qua bốn nhân vật ấy, Futabatei có tham vọng tŕnh bày mặt trái của cái gọi là “văn minh Nhật Bản”. Rốt cục, ông chỉ mô tả nổi mỗi chuyển biến nội tâm của nhân vật Utsumi Bunzô, một bước tiến so với Tsubo.uchi Shôyô (trong Tôsei Shosei katagi). Ông này th́ chỉ biết tả bề ngoài. Hơn nữa, trước những khó khăn vấp phải khi áp dụng thủ pháp “ngôn văn nhất trí”, Futabatei không tiến xa hơn, đến giữa chương ba th́ ông đành để dở dang, không những không viết tiếp mà c̣n ngưng luôn cả nghề văn. Có lẽ một phần c̣n v́ thất vọng trước giới cầm bút đương thời không chịu hiểu lối viết mới mẻ của ông. Ông đă thốt lên câu “Văn chương đâu phải là việc một đời nam nhi[24]. Phải đợi đến gần 20 năm sau, ông mới trở lại với tiểu thuyết qua Sono Omokage (H́nh bóng đó, Meiji 39, 1906).

Trong lúc viết Ukigumo, ông lại phiên dịch tác phẩm Aibiki (Hẹn ḥ), và Meguriai (Tương phùng,1888), vốn là truyện đăng trong tập Nhật kư người đi săn của nhà văn Nga Tourgueniev. Ông dịch rất sát, lại nắm được cái thần của nguyên văn và thành công trong việc giới thiệu lối viết sử dụng văn nói tươi tắn và tài miêu tả cảnh sắc thiên nhiên đẹp đẻ của tác giả cho bạn đọc trẻ đương thời.Năm 1908, ông lên đường sang Nga, mắc bệnh phải trở về và mất trên biển giữa cuộc hành tŕnh.

Thật ra thủ pháp sử dụng văn nói trong đối thoại đă thấy ở các tác phẩm tiểu thuyết từ thời Edo, thế nhưng khuynh hướng khẩu ngữ hóa văn chương tiểu thuyết nói chung chỉ bắt đầu từ Meiji sơ kỳ. C̣n đi đến mức độ muốn đồng hóa hoàn toàn văn nói với văn viết như trường hợp của Futabatei th́ quả là một việc làm hết sức cách mạng trong thời buổi đó. Yamada Bi.myô là người đi sau ông nhưng cũng đi giật lùi để t́m giải pháp bằng cách sử dụng nhă (văn viết) và tục (văn nói) lẫn lộn để có vẻ chiết trung hơn. Đến lúc Ozaki Kôyô viết Tajô Takon (Đa t́nh đa hận, 1896), ông lại t́m về lối diễn tả “ngôn văn nhất trí” nhưng phong cách nầy phải đợi đến cuối đời Meiji (thập niên 1910) mới được củng cố với các nhà văn nhóm Shirakaba (Bạch Hoa).

I) Thời kỳ Kôro (Hồng-Lộ) :

Sau khi Yamada Bi.myô tách ra, Ozaki Kôyô, người lănh đạo nhóm Ken.yuusha, được giới viết văn nh́n nhận tài năng qua tác phẩm Ninin bikuni iro sange (Nhị Nhân T́ Khâu Ni Sắc Sám Hối, 1889) “Hai ni cô sám hối đời t́nh”. Đề tài này chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết gia Ihara Saikaku và nhuốm màu sắc của lối viết thời Genroku. Với khí thế đi lên của chủ nghĩa quốc gia cực đoan, chẳng bao lâu Ozaki Kôyô đă đưa được nhóm Ken.yuusha của ḿnh chiếm ưu thế trên văn đàn.

Cùng lúc ấy, tuy cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn chương Saikaku nhưng khác với cái diễm lệ kiểu Ozaki Kôyô mà mang vẻ hùng tráng Đông Phương là Kôda Rohan (Hạnh Điền, Lộ Bạn), một tác gia mới đến với làng văn. Khi Kôyô và Rohan đăng đàn th́ cũng vừa lúc Shôyô, Shimei và Ôgai dần dần rời khỏi bộ môn tiểu thuyết. Do đó, thời hưng thịnh của hai ông được gọi là thời đại Kôro ( Hồng Lộ) có nghĩa là thời đại của Kôyô và Rohan (Hồng Diệp và Lộ Bạn).

 

 

Ozaki Kôyô

 

1) Ozaki Kôyô (Vĩ Kỳ, Hồng Diệp, 1867-1931) :

 

Ngoài Ninin bikuni no iro sange nói trên, Kôyô đă viết Kyara Makura (Già La Chẩm, 1890) “Gối trầm hương”, Sanninzuma (Tam Nhân Thê, 1892) “Ba người vợ” , Futari Nyobô “ Hai Người Vợ ” (1891-92) là những tác phẩm trong đó phụ nữ thủ vai chính, một lănh vực ông diễn tả sành sỏi. Là những tiểu thuyết tả chân về phong tục xă hội, chúng không có ư nghĩa sâu sắc nhưng phải nói tài khai triển kết cấu câu chuyện trong đó của ông thật vượt hẳn người thường. Đặc biệt Konjiki yasha (Kim sắc dạ xoa, 1897-1903) “Con quỉ kim tiền”[25] của ông là một tác phẩm gây được tiếng vang rất lớn.

Trong đêm chia tay rên bải biển Atami, Kan-ichi tàn nhẫn đá Miya.

Trong Konjiki yasha, chàng thư sinh Hazama Kan.ichi bị người vợ hứa là Miya phụ bạc để đi lấy Tomiyama Tadatsugu, con trai một ông chủ ngân hàng. Sau đêm trăng mờ chia tay với nàng trên bờ biển Atami, mà anh tàn nhẫn đá Miya khi cô qú trước mặt ḿnh, Kan.ichi bỏ học, quyết chí làm giàu với mục đích dùng tiền rữa hận. Sau đây là trích đoạn cảnh người con gái báo tin cô đi lấy chồng và phản ứng của chàng trai:

“-Sao vậy, sao anh làm vậy, Kan.ichi?

Kan.ichi yếu ớt nắm lấy tay Miya. Nàng dịu dàng phủi nhẹ khuôn mặt của người con trai hoen ố (v́ dính cát biển) và đầm đ́a nước mắt.

- Ôi, Miya ơi, đêm nay là lần cuối hai ta gặp gỡ nhau. Em chịu đựng tôi một lần cuối  là đêm nay. Tôi có trách móc em chi th́ cũng nội đêm nay thôi.Tháng giêng ngày mười bảy, Miya ơi, nhớ nghe em. Năm sau, cũng tháng nầy đêm nầy, không biết Kan.ichi sẽ ngắm trăng ở đâu đây.Rồi năm sau nữa, cũng tháng này, đêm nầy…Mười năm sau, tháng nầy đêm nầy…trọn đời tôi sẽ không bao giờ quên tháng nầy đêm nầy đâu em. Mà quên sao cho được! Chết đi rồi tôi cũng chưa quên! Nầy Miya, đêm mười bảy tháng giêng…sang năm, vào tháng nầy đêm nầy tôi sẽ để nước mắt tôi làm mờ cả bóng trăng cho em coi. Trăng……..trăng……trăng…kia mà có bị mây che th́ em biết cho rằng ở nơi nào đó, Kan.ichi đang thù hận em, đang gào khóc cũng như đêm nay.

Miya ôm sát như trói chặt lấy Kan-ichi và không ngăn được tiếng nấc nghẹn điên cuồng.” 

Miya lấy chồng rồi mới hiểu ḿnh vẫn c̣n yêu Kan.ichi, viết thư cho anh ta nhưng anh không thèm đọc. Sau chồng cô ta đi lại với kỹ nữ. Kan.ichi t́nh cờ hay chuyện, biết nỗi bất hạnh của cô và mới hiểu ḷng cô ta.

Viết đến đây Kôyô (1903) chết nên câu chuyện không thật sự kết thúc. Có thuyết cho rằng tác giả đă có ư định viết phần sau cho cô phát điên, bỏ nhà ra đi và Kan.ichi đón nhận cô trở lại. Cũng theo đó, lúc đầu, Kôyo c̣n định viết là Kan-ichi sau v́ muốn phục thù đă trở thành con người đê tiện, keo bẩn v.v…nhưng tác giả bị nhiều tiếng vang chống đối nên cuối cùng định gán cho nó một kết thúc có hậu.

Cuốn tiểu thuyết nầy, dù muốn dù không, đă trở thành một tác phẩm hết sức ăn khách (bestseller) thời Meiji, sau đó đă lên sân khấu, đài truyền thanh và được dựng thành phim. Nó đă được chiếu ở miền nam Việt Nam vào cuối thập niên 1950 với cái tên “Bạc trắng lửa hồng”. Riêng về chỗ đứng trong văn học, tuy tác phẩm nầy nằm trong ḍng tiểu thuyết ninjôbon thời Edo nhưng tác giả đă mạnh dạn sử dụng một đề tài thời đại với giọng văn hài ḥa Ḥa-Hán. Konjiki yasha được xem như là đỉnh cao của nghệ thuật Kôyô. Nhiều độc giả Nhật thuộc ḷng luôn cả đoạn dài. 

 

Kôda Rohan

 

2) Kôda Rohan (Hạnh Điền, Lộ Bạn, 1867-1947) :

“ Bạn với sương ” (Lộ Bạn), bút hiệu ghi lại quảng đời ngủ bờ ngủ bụi của Kôda khi bỏ việc ở sở Bưu Điện mà ông đă chán ngấy để theo nghiệp văn chương. Tác phẩm đầu tay của ông đăng trên tờ Miyako no Hana “ Hoa Kinh Đô” lại có nhan đề Tsuyu Dandan nghĩa là “ Sương Rơi Giọt Giọt ” (1889).

Cảm hứng của Rohan đến từ các nguồn khác nhau, chẳng hạn Tsuyu Dandan đến từ một truyện ma trong Kim Cổ Kỳ Quan của Trung Quốc trong khi Tai Dokuro “ Đối diện với đầu lâu ” (1890) lấy cảm hứng từ truyện truyền kỳ Ugetsu Monogatari “ Vũ nguyệt vật ngữ” của Ueda Akinari đời Edo.Ngoài ra, Shakespeare, Milton và Goethe cũng là những tác giả đă ảnh hưởng đến ông. Khác với các nhân vật của Kôyô, nhân vật chính của Rohan thường là phái nam. Rohan có lối viết hết sức tinh xảo như một anh thợ thủ công. Ông đă cho ra mắt Fuuryuubutsu (Phong Lưu Phật, 1889) “Đức Phật của nghệ thuật”, Gojuu no Tô (Ngũ Trùng Tháp, 1891-1892) “Ngọn tháp năm tầng” để tŕnh bày quan điểm phê phán của ḿnh về những chuyển biến xă hội thời Meiji.

Fuuryuubutsu nói về nhà điêu khắc Shu-un đeo đuổi lư tưởng nghệ thuật để quên đi những bất hạnh trong cuộc đời, khi nàng Otatsu mà ông tôn thờ như Phật Bà Quan Âm bỏ ông ra đi. C̣n Goju no Tô, ra đời năm Rohan 24 tuổi, kể truyện chàng thợ mộc có tài năng phi phàm tên Juubei, ngày thường lù đù, bị thiên hạ chọc ghẹo nhưng có một đam mê là xây ngọn tháp cho chùa. Juubê tham công đến nổi tranh việc và bội bạc cả với người thầy ân nghĩa của ḿnh là Genta. Bị thầy khinh ghét và bạn đánh cho một trận dở sống dở chết nhưng khi công tŕnh hoàn thành rồi th́ ngọn tháp năm tầng anh ta dựng nên là một kiến trúc tuyệt vời, vững chăi, đương đầu được với cuồng phong băo tố. Thầy và bạn anh ta thấy thế cũng phải khâm phục. Dù bị tiếng đời mai mỉa nhưng Juubê không lay chuyển, quyết tâm thực hiện tác phẩm nghệ thuật của ḿnh. Qua Goju no Tô, Rohan đă vẽ nên h́nh ảnh tiêu biểu của “lư tưởng chủ nghĩa”, đam mê sáng tạo và tinh thần bất chấp thử thách của người Nhật Bản truyền thống.

Rohan sau khi bỏ rơi nửa chừng Sora-utsunami (Sóng vỗ bên trời, 1903-05) đă rời khỏi văn đàn và chỉ trở lại năm 1919 với tiểu thuyết lịch sử Unmei “ Định Mệnh ” nói về cuộc đời ngắn ngủi của Kiến Văn Đế, ông vua thứ hai nhà Minh bị chú ḿnh (Vĩnh Lạc Đế) cướp ngôi.Unmei được xem như một kiệt tác của Rohan. Ông c̣n sáng tác măi đến lúc chết (1947). Gendan “ Chuyện huyền hoặc ” (1938) và Renkanji “ Những ràng buộc phức tạp ” (1940) là hai tác phẩm trong thời chiến. Nh́n chung, ông được xem như nhà văn biết sử dụng kiến thức uyên bác của ḿnh một cách đa dạng trong phạm vi viết lách và tượng trưng cho ḍng văn học ca ngợi truyền thống cho dù truyền thống đó khó ḷng tồn tại được trước những chuyển biến của xă hội hiện đại .

 

J) Những nhà văn khác trong nhóm Ken.yuusha :

Yamada Bi.myô

Ngoài Yamada Bi.myô (Sơn Điền, Mỹ Diệu, 1868-1910) c̣n phải kể đén Kawakami Bizan , Hirotsu Ryuurô (Quảng Tân, Liễu Lăng, 1861-1928) và Iwaya Sazanami (Nham Cốc, Tiểu Ba, 1870-1933). Bizan viết tiểu thuyết chủ đề (kannen shôsetsu) Ariake (Hừng Đông) nói về một thiếu niên bỏ nhà ra đi khi biết mẹ cậu và người chú có mối t́nh vụng trộm. Hirotsu Ryuurô có khuynh hướng hiện thực và thường lấy bối cảnh xóm ăn chơi Yoshiwara làm đề tài như trong Imado Shinjuu “ Chết chung v́ t́nh ở Imado ” (1896) kể lại mối t́nh bất hạnh của Yoshizato, một kỹ nữ với Hirata, người khách của nàng. Sazanami cũng viết truyện t́nh nhưng nổi tiếng hơn trong lănh vực dịch thuật truyện thần tiên dành cho nhi đồng từ tiếng Đức.

K) Kitamura Tôkoku (Bắc Thôn Thấu Cốc) và tạp chí Bungakukai (Văn Học Giới) :

Kitamura Tôkoku (1868-1894) thường được biết đến như một nhà thơ thuộc trường phái lăng mạn Nhật Bản. Trường phái này đă đặc điểm là ngưỡng mộ Tây Phương và tư tưởng Thiên Chúa Giáo. Nó đă đến Nhật qua sự giới thiệu những khái niệm căn bản của chủ nghĩa lăng mạn của nhà tư tưởng Nakae Chômin (Trung Giang, Triệu Dân, 1847-1901), người đă dịch từ tiếng Pháp và cho đăng vào khoảng năm 1883-84 tác phẩm L’esthétique “ Mỹ Học ” (1878) của Eugène Véron. Chủ nghĩa lăng mạn đồng nghĩa với tự do cá nhân cũng được Mori Ôgai đề xướng sau khi ông du học ở Đức về qua tập thơ dịch Omokage “ Vang Bóng ” (1882) giới thiệu những nhà thơ Tây Phương.

Tôkoku đă mạnh dạn tán dương t́nh yêu trong tác phẩm phê b́nh Ensei Shika to Josei (Yếm Thế Thi Gia Cộng Nữ Tính, 1892) “Nhà thơ yếm thế và người phụ nữ”, lôi kéo được sự chú ư của mọi người. Năm Meiji thứ 26 (1893) ông đă cùng nhóm Shimazaki Tôson (Đảo Kỳ, Đằng Thôn) và Ueda Bin (Thượng Điền, Mẫn) thành lập tạp chí Bungakukai (Văn Học Giới). Nó vốn tách ra từ tạp chí có tính khai sáng nhắm đối tượng là phụ nữ công giáo, tờ Jogaku Zasshi (Nữ Học Tạp Chí, ra mắt năm 1885). Ngoài ba nhân vật chủ trương đă nói ở trên, c̣n có Togawa Shuukotsu (Hộ Xuyên, Thu Cốt), Hirata Tokuboku (B́nh Điền, Ngốc Mộc), Baba Kochô (Mă Trường, Cô Điệp). Nữ sĩ Higuchi Ichiyô (Dũng Khẩu, Nhất Diệp) lâu lâu cũng có đóng góp ở cương vị một người bạn. Sau đó, Tôkoku tiếp tục cho ra đời các tác phẩm b́nh luận với tất cả tâm t́nh như Jinsei ni aiwataru to wa nan to ii zo “Điều phải bày tỏ với đời” và Naibu Seimeiron (Nội bộ sinh mệnh luận, 1893) “Bàn về sức sống trong người”. Ông dẩn đầu các bạn đồng chí hướng, xây dựng cơ sở cho hoạt động văn học theo đường lối chủ nghĩa lăng mạn[26] như Victor Hugo, như Lord Byron, như Emerson, những thần tượng của ông. Không những thế, Tôkoku c̣n dồn hết tâm lực tham gia phong trào công giáo tranh đấu cho ḥa b́nh.

Có lẽ v́ cống hiến tất cả nhiệt t́nh cho lư tưởng và cả cho t́nh yêu cá nhân nên ông trở thành một nhà thơ yếm thế sức cùng lực kiệt Một năm sau khi tạp chí Bungakukai ra đời (1894), ông đă tự sát lúc đang ở giữa tuổi 25 trẻ trung. C̣n tờ báo th́ sống được đến năm 1898 cũng phải đ́nh bản nhưng chủ nghĩa nhân bản và ḥa b́nh của Tôkoku, sau một thời gian bị quên lăng đă được sống lại trong thập niên 1920 với Shimazaki Tôson, một nhà thơ trẻ của nhóm Bungakukai.

Có thể nói là từ khi có chủ nghĩa lăng mạn, văn học Nhật Bản mới thực sự hiện đại hóa.

 

TIẾT V : KHUYNH HƯỚNG XĂ HỘI VÀ KHUYNH HƯỚNG TỰ NHIÊN :

 

Chiến tranh Nhật Nga (1904-05) , biến cố lớn đă xáo trộn xă hội Meiji.[27]

Trong khoảng mười năm xen kẻ giữa hai cuộc chiến tranh Nhật-Thanh (1894-95) và Nhật-Nga (1904-05), chủ nghĩa tư bản đă bước vào thời kỳ phát triển thực sự và đă sớm để lộ nhiều mâu thuẫn bên trong xă hội Nhật Bản.

A) Nhà văn đứng trước mâu thuẫn xă hội :

Phản ánh được những mâu thuẫn ấy qua văn học có nhà văn nữ Higuchi Ichiyô với những tác phẩm nói về thân phận người phụ nữ tầng lớp thấp hèn, Hirotsu Ryuurô [28](Quảng Tân, Liễu Lăng) với những “tiểu thuyết bi thảm”[29], Izumi Kyôka (Tuyền, Kính Hoa) Kawakami Bizan (Xuyên Thượng, My Sơn) với loại “tiểu thuyết quan niệm”[30] đă có tiếng vang trên văn đàn sau cuộc chiến tranh Nhật-Thanh. Để ủng hộ khuynh hướng đó, các nhà b́nh luận như Taoka Reiun[31] (Điền Cương, Lĩnh Vân) tham gia vào hoạt động. Tiếp nối phong trào nầy, các nhà văn trường phái “tiểu thuyết xă hội”, đang theo sát những mâu thuẫn trong hiện thực xă hội, cũng cất cao tiếng nói.Ozaki Kôyô đă cho ra đời Konjiki Yasha (Kim Sắc Dạ Xoa) “Con quỉ kim tiền” và Tokutomi Roka (Đức Phú, Lô Hoa) với Hototogisu[32] (Bất như qui, 1898-99) “Chim cuốc” đă đạt được những con số phát hành kỷ lục.

Tokutomi Roka

B) Tokutomi Roka (Đức Phú, Lô Hoa, 1868-1927):

Ông tên thật là Tokutomi Kenjirô, người miền nam (tỉnh Kumamoto), thuở nhỏ theo đạo Thiên Chúa như mẹ, lớn lên chịu ảnh hưởng của người anh (Đức Phú, Tô Phong, Tokutomi Sohô, 1863-1957) nên hô hào cải cách và dân chủ. Ông đặc biệt yêu thích nhà văn Anh Charles Dickens và theo phong cách ông nầy viết thiên tự truyện Omoide “Hồi ức” ghi chép về những chuyển biến thời Meiji dưới mắt ḿnh như một cậu bé (ông sinh ra năm đầu đời Meiji).Cuốn hồi kư nầy có hướng đi lên nên thanh niên đương thời rất yêu chuộng. Trong vụ án “đại nghịch”[33], khi chính quyền Meiji xử tội Kôtoku Shusui, ông đă viết nhiều bản kháng nghị chính quyền.

Hototogisu kể chuyện nàng Namiko, con một ông tướng, về làm vợ nam tước Kawashima, một sĩ quan hải quân trẻ.Trong lúc chồng viễn chinh, nàng bị gia đ́nh chồng bắt ly hôn v́ sức khoẻ yếu không có con nối dơi cho ḍng họ.Nàng vẫn yêu chồng nhưng phải bỏ ra đi, sau chiến tranh chồng về, nàng cũng không t́m đến gặp, cuối cùng trút linh hồn bên cha trong lúc gọi tên chồng.

Truyện dựa lên một chuyện thật đương thời để nói lên sự thống khổ của người đàn bà trong xă hội phong kiến Meiji[34]. Ngoài ra, trong bối cảnh sau chiến tranh Nhật-Thanh (1894-95), khi đưa chồng ra trận, Roka đă đặt câu nói sau đây vào miệng Namiko:

Ḿnh đi sớm về nhé!” “Con người tại sao phải chết? Tôi muốn sống! Sống đến ngàn năm, vạn năm cơ!”.[35]

Câu nói đó đă lưu truyền trong dân chúng và trở thành ca từ cho những bài enka b́nh dân, con nít cũng hát. Ảnh hưởng xă hội của Hototogisu không phải là nhỏ giữa một thời buổi mà cùng với sự phát triển của báo chí, ư thức dân chủ đă bắt đầu nẩy nở.

Hoàn cảnh xă hội lúc đó cũng giải thích sự chú ư của độc giả đến các tác phẩm của những nhà văn thuộc khuynh hướng Emile Zola (Zolaism)[36] nghĩa là quan sát hiện thực xă hội với cái nh́n khoa học và khách quan. Tiêu biểu cho lớp nhà văn nầy có Osugi Tengai (Tiểu Sam, Thiên Ngoại) và Nagai Kafuu (Vĩnh Tĩnh, Hà Phong). 

C) Khuynh hướng miêu tả tự nhiên:

Thời kỳ nầy là giai đoạn các nhà văn bày tỏ sự quan tâm của họ đối với khuynh hướng miêu tả sự vật một cách tự nhiên. Học hỏi phương pháp miêu tả tự nhiên từng được Futabatei Shimei truyền đạt trong các dịch phẩm của ông, Tokutomi Roka (1868-1927) viết Shizen to jinsei “Thiên nhiên và cuộc sống” (1900), Kunikida Doppo (Quốc Mộc Điền, Độc Bộ, 1871-1908) viết Musashino (Vũ Tàng Dă, 1901) nghĩa là …“B́nh nguyên Tôkyô”, những tác phẩm văn xuôi nhưng nhiều thi tứ của văn học trường phái tự nhiên.

 

Higuchi Ichiyô (1972-96), nhà văn nữ tiêu biểu nhất của thời tiền hiện đại.        

D) Nữ sĩ Higuchi Ichiyô (Dũng Khẩu, Nhất Diệp, 1872-98):

Có lẽ bà là nhà văn phái nữ chuyên nghiệp đầu tiên trong lịch sử văn học Nhật Bản và là tác giả nữ đáng chú ư nhất kể từ năm 1280, lúc nhật kư Izayoi của bà Abutsuni (?-1283) ra đời, nghĩa là 6 thế kỷ về trước. Con một gia đ́nh samurai nghèo, bà vất vả từ bé nhưng nhờ văn tài và nghị lực nên đă bước vào văn đàn rất sớm. Lúc đầu Higuchi Ichiyô chỉ viết với giọng văn cổ xưa nhỏ nhẻ trang nhă mà thôi nhưng đột nhiên, với tác phẩm Ôtsugomori (Ngày cuối năm) ra đời năm Meiji 27 (1894), truyện ngắn cảm động về một cô gái nghèo đi vay tiền trong một ngày cuối năm, bà đă bộc lộ được văn tài của ḿnh. Từ đó, bà tập trung viết về những mối t́nh nhẹ nhàng của trai gái sống gần kề xóm lầu xanh Yoshiwara trong Takekurabe (So vai)[37] ra mắt năm Meiji 28-29 (1895-96). Truyện này cũng có thể đă lấy cảm hứng từ chương 23 của tác phẩm cổ điển Truyện Ise (Ise Monogatari) thời trung cổ tả t́nh cảm thơ ngây của đôi nam nữ “thanh mai trúc mă” sau khám phá được t́nh yêu với nhau, và lồng khung nó trong bối cảnh hiện đại.

Trong Takekurabe, Ichiyô tŕnh bày những biến chuyển tâm lư tinh tế và những cảnh ngộ của cô gái nhỏ Midori từ lúc c̣n trẻ con cho đến khi trở thành thiếu nữ bên cạnh hai người bạn trai cùng trang lứa là Shinnyo và Shôtarô. Cả ba cùng sống trong một xóm nghèo, nơi đây bọn trẻ con chia phe đảng, tranh chấp gây gỗ với nhau nhưng đồng thời, với tuổi dậy th́, chút t́nh cảm yêu đương thoáng nhẹ cũng đă thành h́nh giữa Midori và Shinnyo. Thế rồi đến ngày Shinnyo giă từ xóm nghèo để vào chùa tu, mỗi người một định mệnh, mọi chuyện thành ra dang dở. Đây là một tác phẩm có tính cách tự truyện và đầy chất thơ, được các nhà văn như Ôgai và Rohan đặc biệt yêu thích.Nhà b́nh luận Nakamura Mitsuo cho rằng: “Không có tác phẩm nào của ai khác so sánh nổi với “So Vai” về cách miêu tả thơ mộng và chính xác những t́nh cảm tinh tế của của nam nữ lứa tuổi mới lớn”.

Ichiyô (tên thật là Natsuko) quan tâm đặc biệt đến cảnh đời của hạng người bị khinh thường nhất trong xă hội, nghĩa là các cô gái làng chơi. Những bi kịch yêu ghét thương tâm năo ḷng của họ như trong Nigorie (Vàm sông nước đục, 1896) nói về mối t́nh của kỹ nữ Oriki về chiều với một người khách khinh bạc, là những tác phẩm nổi tiếng. Bà c̣n đặt vấn đề về vị trí của người phụ nữ trong những cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Juusanya (Con trăng mười ba, 1895)[38] nói về thân phận một người phụ nữ, thất vọng với chồng, trở về nhà bố mẹ để mà bị đuổi trở lại bởi v́ gia đ́nh cô ta không muốn mất anh con rễ giàu có. Trên đường về t́nh cờ người phu xe đưa cô lại là anh bạn trai thời con gái!

Ichiyô đă đem đến cho văn đàn sau cuộc chiến tranh Nhật-Thanh (1894-95) một nét đẹp riêng cũng như ư thức về thân phận người phụ nữ. Tác phẩm của bà lấy nguồn cảm hứng từ thể nghiệm bản thân: một phụ nữ gánh vác một gia đ́nh nghèo, gặp nhiều nghịch cảnh và phải phấn đấu vượt qua. Đúng như thế, v́ bệnh lao, bà đă qua đời rất sớm ở cái tuổi 24 nhưng đă để lại tập nhật kư ghi chép về cuộc đời ḿnh từ năm 15 cho đến lúc bị tử thần cướp đi. Nhật kư ấy có giá trị văn học rất lớn lao. Ngoài những tác phẩm vừa kể, bà c̣n có Umoregi (Cuộc đời vùi chôn, 1892), Koto no ne (Tiếng đàn cầm,1893), Wakaremichi (Ngă rẽ, 1896) và không phải chỉ chừng đó. Với tính hiện đại của nó, văn chương của Ichiyô vẫn tiếp nối được phong cách xă hội và không khí Nhật Bản của văn học Edo gầy dựng bởi Saikaku và Chikamatsu.

Để tỏ ḷng kính trọng, chính phủ Nhật đă in ảnh của bà trên tờ giấy bạc 5.000 Yen.

 

E) Izumi Kyôka (Tuyền, Kính Hoa, 1873-1939):

 

 

Izumi Kyôka (Tuyền, Kính Hoa, 1873-1939), chụp khoảng năm 1912.

Năm 17 tuổi, Kyôka (tên thật Kyôtarô) trở thành đệ tử của Kôyô và sau trở thành một trong những nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa lăng mạn trong giai đoạn chót văn học Meiji.Ông viết trên 300 tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch và đặc biệt là trên phân nửa số đó liên quan tới những hiện tượng siêu nhiên (supernatural). Rất tiếc là văn ông không được dịch nhiều ra tiếng nước ngoài nên không nổi tiếng bằng Akutagawa, Tanizaki, Kawabata hay Mishima. Một nhà phê b́nh ngoại quốc, Irena Powell (trong Writers and Society in Modern Japan, 1983) c̣n đặt ông bên cạnh Mori Ôgai, như hai tác giả có ảnh hưởng sâu sắc đối với các tác giả phái duy mỹ Nhật Bản. Văn phong ông có thể đă được những Tanizaki, Satô Haruo, Satomi Ton, Muro Saisei và sau đó là Yokomitsu và Kawabata tiếp nhận.

Trong những tác phẩm buổi đầu, ông chỉ có hai mô-típ: một là nói lên ḷng yêu chính nghĩa, chấp hành nhiệm vụ được giao phó và ghét bỏ điều ác, hai là bày tỏ t́nh cảm ngưỡng mộ đối với người mẹ trẻ đẹp của ông (đă mất năm 1882 khi ông lên 9).Trong những tác phẩm loại thứ nhất, phải kể đến Yakô Junsa (Dạ Hành Tuần Tra) “Cảnh sát tuần đêm”, Gekashitsu (Ngoại khoa thất , 1895) “Trong pḥng mổ”. Trong truyện trước, người cảnh sát đă hy sinh tính mạng để cu lấy cha người ḿnh yêu dù ông ta chỉ muốn bắt họ phải ĺa nhau. Trong truyện sau, một nữ hầu tước tự tử trên giường mổ v́ không lấy được người cô yêu, một nhà giải phẫu.

Sau khi nổi tiếng với những tác phẩm đó, Izumi Kyôka viết loại tiểu thuyết chọn thế đứng, mang tên là “tiểu thuyết đặt vấn đề” (kannen shôsetsu) mang một chủ đề có tính cách ư thức hệ như Kaijô hatsuden (Hải Thành phát điện, 1895) “Bức điện gửi từ Kaijô”. Thế nhưng chẳng bao lâu, ông chuyển qua khuynh hướng thứ hai, tức là ngưỡng mộ cái đẹp, qua đó, tạo ra được một thế giới huyễn mộng lư tưởng mà những nhân vật nữ thường là geisha hay gái làng chơi. Tác phẩm đạt đến đỉnh cao của khuynh hướng nầy có Teriha Kyôgen (Chiếu Diệp Cuồng Ngôn, 1895) “ô đào tuồng Teriha Kyôgen” nói lên ḷng ngưỡng mộ của cậu thiếu niên với một nàng con hát dạo, và Kôya Hijiri (Cao Dă Thánh,1900 ) “Cao tăng núi Kôya”.

Không khí huyền ảo và nhục cảm trong “Cao tăng núi Koya”

Trong Kôya Hịjiri, người xưng “tôi” trên đường du lịch ngủ lại nhà trọ, được nghe vị đại hoà thượng trụ tŕ ở núi Kôya (Kôyasan) sám hối về chuyện ḿnh một đêm lỡ độ đường cũng ngủ trọ ở một nhà dân trên núi đă bị một người đẹp tuyệt vời sống với một anh chồng ngờ nghệch, quyến rũ và suưt nữa làm ḿnh quên khuấy đạo lư. Người đàn bà ấy chính là yêu quái nửa người nửa rắn thường biến nạn nhân thành súc vật. Tuy không rơ chủ tâm Kyôka muốn đưa đề tài ǵ (sự giằng co giữa đạo đức và dục vọng?) vào câu truyện có tính cách răn đời nầy nhưng người ta thấy ông đă thành công trong việc tạo ra một không khí huyễn tưởng, giàu tính lăng mạn. Nhân vật xưng “tôi” không hoàn toàn khách quan chỉ nghe chuyện kể và nhiều khi c̣n tách ra để quan sát cả chính ḿnh. Đó là một trong những điểm độc đáo của tác phẩm mà có thuyết cho rằng đă cảm hứng từ “Phản Đông Điếm Tam Nương Tử”, một truyện yêu quái Trung Quốc. Trong một thời buổi mà tác phẩm chủ nghĩa tự nhiên tràn ngập văn đàn, ông vẫn giữ được phong cách sáng tác lăng mạn, hư huyễn và hồn nhiên của ḿnh. Phong cách nầy sẽ được nối tiếp bởi Nagai Kafuu và Tanizaki Jun.ichirô.

Những tác phẩm kể từ sau năm Meiji 40 (1907) của Kyôka có Onna Keizu (Nữ Hệ Đồ,1907) “Đời đàn bà”, Utaandon (Ca Hành Đăng, 1910) “Người hát dưới đèn lồng”, Tenshu Monogatari (Thiên thủ vật ngữ, 1917) “Truyện trên lầu thành”… tất cả cũng đầy không khí lăng mạn và ma quái rùng rợn.

F) Tiểu thuyết xă hội:

V́ cho rằng hai loại “tiểu thuyết bi thảm”[39] và “tiểu thuyết quan niệm”(hay ư thức hệ) có cái ǵ không được tự nhiên, những người chủ trương “tiểu thuyết xă hội” thấy cần phải có một loại tiểu thuyết đi sát bản chất của cuộc sống hơn. Đó là nhu cầu được khơi dậy trong những năm Meiji 30 (1897 trở đi). Tuy lư luận đó không đạt được thành quả trực tiếp nào nhưng loại tiểu thuyết phản ánh được những mâu thuẫn trầm trọng của xă hội đương thời đă được sự ủng hộ chưa từng thấy của mọi tầng lớp độc giả. Người con gái vai chính trong Hototogisu (1898-99) “Chim Cuốc” của Tokutomi Roka, cô Namiko, nạn nhân của ḷng ích kỹ của người trong thân tộc, đă thốt lên:

“Cay đắng quá, cay đắng quá. Kiếp sau thôi không sinh làm thân đàn bà nữa”.

Cũng vậy, chàng sinh viên bị cướp mất người yêu trong Konjiki Yasha (1897-1901, tác phẩm dở dang) của Ozaki Kôyô đă bỏ học để trở thành người cho vay nặng lăi với mục đích dùng sức mạnh đồng tiền để phục thù. Họ đều là những mẩu người đặc biệt, không giống nhân vật thấy trong các tiểu thuyết ra đời trước đó. Roka đă mượn bối cảnh Rokumeikan (Lộc Minh Quán), kiến trúc xây dựng năm 1883 làm nơi tổ chức các cuộc hội họp xă giao của chính quyền, để t́m cách nói lên mặt đen tối của giới chính trị trong tác phẩm Kokuchô (Hắc Triều, “Ngọn triều đen”,1898, viết dở dang), đủ cho ta thấy tầm cỡ rộng lớn của những vấn đề xă hội đương thời.

Khoảng cuối những năm Meiji 30, Kinoshita Naoe (Mộc Hạ, Thướng Giang) đă xuất hiện.Qua các tác phẩm Hi no Kashira (Cột lửa, 1904) và Ryôjin no Jihaku (Lời thú thật của người chồng, 1904-1906), ông đă mở đường cho tiểu thuyết theo khuynh hướng xă hội chủ nghĩa. Ḍng tiểu thuyết xă hội thời Meiji lúc bước vào thế kỷ 20 đă có một phần kết hợp với tiểu thuyết xă hội chủ nghĩa manh nha ở Nhật đại diện bởi nhà văn xấu số Kôtoku Shuusui (Hạnh Đức, Thu Thủy) với tờ Heimin Shinbun (B́nh Dân Tân Văn, ra đời năm 1903) và Shirayanagi Shuuko (Bạch Liễu, Tú Hồ) với tờ Kaben (Hỏa Tiên, bắt đầu năm 1905) “Roi Lửa” là cơ sở hoạt động của họ.

TIẾT VI: CHỦ NGHĨA TỰ NHIÊN (NATURALISM) VÀ SỰ H̀NH THÀNH CỦA VĂN HỌC CẬN KIM.

Thời đại này tương đương với giai đoạn lịch sử chuyển tiếp giữa Meiji và Taishô. Nhật Bản bước hẳn vào thời cận kim đánh dấu bằng sự kết thúc của chiến tranh Nhật-Nga (1904-05) và những năm đầu đời thiên hoàng Taishô (trị v́ 1912-26), trong đó trường phái văn học mang tên chủ nghĩa tự nhiên (shizen shugi) đă đóng một vai tṛ đáng kể.

Tuy các nhà văn lớn Nhật Bản như Mori Ôgai, Nagai Kafuu, Tanizaki Jun.ichirô và Kawabata Yasunari đều tỏ ra lănh đạm và c̣n chống đối chủ nghĩa này (Ôgai có lần cho rằng văn chương của Emile Zola như trong Pot-bouille, La bête humaine La terre có nhiều chỗ vô luân và thô tục!) nhưng không ai có thể chối căi việc nó là một tư trào văn học lớn của Nhật Bản. Nó đă đến với văn đàn Nhật Bản từ sau chiến tranh Nhật-Nga v́ tuy thắng trận nhưng Nhật Bản đă phải trả giá rất đắt v́ sự chiến thắng đă mang đến lo âu và vỡ mộng cho giới văn sĩ. Thời này được gọi là “thời vỡ mộng” hay “thời tự thú” khi mà nhà văn muốn bộc lộ tất cả sự thật, cho dầu sự thực ấy đau thương đến mức độ nào. Các nhà văn thuở đó một phần muốn chống lại ḍng văn học ngụy trang bằng kỹ xảo của nhóm Bạn Bút Nghiên (Ken.yuusha), phần khác đă chịu ảnh hưởng của phong trào chủ nghĩa tự nhiên đến từ Âu Châu với Emile Zola, Guy de Maupassant, Dostoievsky….Tuy nhiên, nếu chủ nghĩa tự nhiên Âu châu là phản ứng đối với cái tôi quá đậm sắc trong chủ nghĩa lăng mạn th́ chủ nghĩa tự nhiên Nhật Bản lại có khuynh hướng phát huy cái tôi ấy.

Đồ biểu: Sự ảnh hưởng của tiểu thuyết Nhật Bản cuối Meiji đầu Taishô:

Niên Đại/ Khuynh Hướng/ Tác Gia:

In ngă là 3 khuynh hướng đối lập với ḍng văn học chính thời đó (chủ nghĩa tự nhiên và phong trào tư-tiểu thuyết).

Khoảng Meiji 40 (1907) bước qua đầu Taishô :

-Chủ nghĩa tự nhiên (Yamada Katai, Shimazaki Tôson, Tokuda Shuusei, Masamune Hakuchô, Kunikida Doppo đối kháng với Phái Duy Mỹ)

-Khuynh hướng duy mỹ (Tanbiha) (Satô Haruo, Nagai Kafuu, Tanizaki Jun-ichirô)

-Khuynh hướng cao sang (Yoyuuha) (Mori Ôgai, Natsume Sôseki)

-Văn đoàn Shirakaba (Bạch Hoa) (Arishima Takeo, Shiga Naoya, Mushakôji Saneatsu)

Khoảng Taishô 10 (1921)

-H́nh thức tự thuật của Tư-tiểu thuyết (Watakushi-Shô setsu)

-Chủ nghĩa tân hiện thực (Akutagawa Ryuunosuke, Kume Masao, Kikuchi Kan)

-Khởi đầu của Văn Học Vô Sản (Puroretaria Bungaku)

Khoảng Taishô 15 (1926)

-Phái Tân Duy Cảm manh nha (Yokomitsu Riichi, Kawabata Yasunari)

A) Điểm xuất phát của chủ nghĩa tự nhiên:

Những nhà văn tiếp cận chủ nghĩa tự nhiên là một nhóm văn nhân, thi nhân trẻ tuổi trên dưới ba mươi, trong quá khứ đă từng làm những vần thơ có tính lăng mạn. Nhận thấy giữa họ và những tập quán phong kiến có cái ǵ không ổn thỏa, họ chủ trương không đi theo con đường kỹ xảo và trọng lư tưởng của nhóm Ken.yuusha. Họ chọn lối miêu tả khách quan và việc bộc lộ những cảm nghĩ của ḿnh (jiko kokuhaku = tự bạch) như là hai h́nh thức diễn đạt.

Tuy nhiên, thời điểm đó là lúc chế độ chính trị lấy thiên hoàng làm trung tâm, quyền lực quốc gia càng ngày càng mạnh. Những nhà văn theo chủ nghĩa tự nhiên không làm nổi việc đứng ra dạn dĩ phê b́nh hay chiến đấu một mất một c̣n với những thói tục phong kiến. Nhiệt t́nh buổi đầu của họ đă mai một và họ chỉ bằng ḷng thu nhỏ cái nh́n của họ trên cái thế giới kề cận bên ḿnh. Ḍng “văn học hiện thực quan chiếu” có nghĩa là “nh́n ngắm sự vật kề bên theo cách nó thể hiện ra” trở thành ḍng chảy chính và tùy theo quan điểm cá nhân khi nh́n sự vật, sẽ dẫn đến lối “tư-tiểu thuyết” (watakushi-shôsetsu), một đặc sắc của văn học Nhật Bản.

“Tư-tiểu thuyết” c̣n có thể đọc là shi-shôsetsu, có nghĩa là “tiểu thuyết nói về cái tôi”, loại tiểu thuyết trong đó tác giả sử dụng trực tiếp những kinh nghiệm của chính bản thân để xây dựng nhân vật chính và thành lập thế giới của tác phẩm. Đó là cách viết có đặc tính là phủ nhận hư cấu. Nó đă bắt nguồn từ lư luận của chủ nghĩa hiện thực trong văn học. Chikamatsu Shuukô (Cận Tùng, Thu Giang, 1876-1944) là người đầu tiên đă viết theo lối này trong Giwaku (Nghi Hoặc, 1913). Chỉ ít lâu sau, nó đă trở thành ḍng văn học chính của văn đàn đời Taishô.

 

B) Đặc điểm của chủ nghĩa tự nhiên Nhật Bản:

 

  

Kosugi Tengai đă sớm tiếp xúc với tác phẩm của Emile Zola.

Tuy Kosugi Tengai ((Tiểu Sam, Thiên Ngoại, 1865-1952) được xem như nhà văn tiên phong của trường phái v́ ông đă tiếp xúc với tác phẩm của Emile Zola từ năm 1896 và xuất bản Hatsusugata “Dáng dấp đầu năm” (1900) có nhiều hương vị của Nana, rất ăn khách, các tác phẩm đánh dấu thời đại của chủ nghĩa tự nhiên là tiểu thuyết Hakai (Phá Giới, 1906) của Shimazaki Tôson (Đảo Kỳ, Đằng Thôn) và Futon (Bồ Đoàn, 1907) “Tấm Nệm Giường” của Tayama Katai. Sau đó, Tôson c̣n viết Haru “ Mùa Xuân”, Ie “Nhà”, hai tác phẩm trong đó tác giả suy ngẫm về bản thân. Katai có Iki (Sinh) “Sống” và hai tác phẩm khác, hợp thành một bộ ba (trilogy), cũng tiếp tục con đường miêu tả những ǵ xăy ra chung quanh ḿnh.Hai nhà văn nói trên như thể chia sẻ một quan điểm chung. Đến lúc ấy, một người nữa, Tokuda Shuusei (Đức Điền, Thu Thanh, 1871-1943), tuy không tuyên bố lập trường và không chủ trương ǵ cả nhưng với giọng văn giản dị, bắt đầu được độc giả để ư. Thời điểm đó chính là lúc những tính chất cơ sở của văn học chủ nghĩa tự nhiên coi như đă hội đủ.

Một nhà văn được coi như “ sống đời” (haenuki) với chủ nghĩa tự nhiên, nặng văn phong chủ quan, là Masamune Hakuchô (Chính Tông, Bạch Điểu, 1879-1962).Bên cạnh ông c̣n có một người khác cũng thuộc dạng có cá tính mạnh, khác đời, muốn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa “tân hiện thực” và từng nói “nghệ thuật tức là thực tế” là Iwano Hômei (Nham Dă, Bào Minh, 1873-1920).

Masamune Hakuchô

C) Masamune Hakuchô (Chính Tông, Bạch Điểu, 1879-1962):

Akutagawa từng đánh giá ông như nhà văn sáng giá nhất của trường phái chủ nghĩa tự nhiên Nhật Bản, tuy nhiên văn chương ông bắt đầu và kết thúc bằng những phủ nhận và đượm màu bi quan nếu không nói là đi đến ven bờ tuyệt vọng. Những nhà phê b́nh Tây Phương c̣n coi ông là người có giọng văn cay đắng, mỉa mai.

Xuất thân ở Okayama, ông lên Tôkyô theo học ở Tôkyô Senmon Gakko, tiền thân của Đại Học Waseda. Sau khi thất vọng trong ḷng tin Thiên Chúa Giáo hay đúng hơn là đạo Tin Lành kiểu nhà truyền giáo Uchimura (tôn giáo không giáo hội), ông tiến gần Zola và chọn lựa đề tài nói về lớp người nghèo khó chứ không phải giai cấp trưởng giả mà ông là một thành viên. Hakuchô viết Jin-ai (Trần ai) “Bụi đời”, 1907) và Doko e “Về Đâu?” (1908), được đánh giá cao v́ là một nhà văn mới chưa từng có kinh nghiệm sáng tác trước khi đến với tự nhiên chủ nghĩa. Sau khi thực sự sống bằng nghề văn, ông lần lượt cho ra đời Bikô (Vi Quang) “Tia sáng nhỏ”, Doroningyô (Nê Nhân H́nh) Con nộm bùn”,  Irie no Hotori “Bên bờ cửa sông”, Ushibeya no Nioi “Mùi chuồng trâu”, đều là những cuốn tiểu thuyết có giá trị.

Hakuchô c̣n được biết như một nhà phê b́nh văn học với tác phẩm “Lịch sử thịnh suy của chủ nghĩa tự nhiên Nhật Bản”, rất cần thiết cho những ai muốn hiểu rơ về Tôson, Doppo, Shuusei hay Hômei. Kể từ những năm 1930, cuộc đời viết văn của ông đứng khựng lại và dù là để sống c̣n chăng nữa, ông đă đi từ lầm lẫn này qua lầm lẫn khác khi tham dự và giữ những chức vụ quan trọng trong các hội đoàn chính trị, công cụ của quân phiệt, nhất là đứng đầu Hội Các Nhà Văn Yêu Nước năm 1944 trước khi rút lui về sống ở Karuizawa. Sau chiến tranh (1953-56) , ông c̣n viết một số tác phẩm có tính cách viễn mơ hay truyện hướng về trẻ em nhưng lại để dở dang. 

Iwano Hômei (1873-1920) chủ trương nhà văn phải sống như tác phẩm.

C̣n Iwano Hômei (Nham Dă, Bào Minh) th́ trong khi chuyển hướng về chủ nghĩa tự nhiên “quan chiếu” (rọi xem) đă tự ḿnh sống đời trôi dạt để có thể nghiệm bản thân đúng như chủ trương “nghệ thuật tức là thực hành” mà ông đề xướng. Từ Hôrô (Phóng Lăng, 1910) “Phiêu bạt” đến Tsukimono “Cô hồn”(1917), ông có tất cả 5 tác phẩm.

Chủ nghĩa tự nhiên Nhật Bản c̣n có những khuôn mặt lớn như Tôson, Doppo và Katai.

D) Shimazaki Tôson (Đảo Kỳ, Đằng Thôn, 1872-1943):

Con út một gia đ́nh hương chức kiêm chủ nhà trọ dưới thời Edo, Shimazaki Haruki, tên thật của Tôson, sinh ra ở Nagano và lớn lên ở Tôkyô.Lúc đầu tham gia tờ Bungakkai, viết b́nh luận, kịch thơ, chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ biên Tôkoku (Thấu Cốc). Khi Tôkoku chết, ông tuy xúc động nhưng chủ trương cần phân biệt “người mang lư tưởng có thể chết ”như Tôkoku và “người tầm thường phải sống c̣n” như ḿnh. Ông lựa chọn con đường sinh tồn, bắt đầu dấn thân vào thế giới văn học đặc biệt của chính cá nhân.

Bắt đầu với tạp chí Bungakukai, ông đă cho ra mắt 4 thi tập trong đó có Wakana-shuu (Nhược thái tập) “Lá Rau Non”, tập thơ trữ t́nh lăng mạn.Sau đó ông chuyển qua văn xuôi và đăng xen kẻ với thơ như trong trường hợp Chikumagawa no Sukecchi “ Phong cảnh sông Chikuma” (1911-12), ghi lại quảng thời gian ông dạy học ở Komoro, gần Nagano, vùng núi phía tây Tôkyô cũng như tập đoản thiên Chikuma Kahan no Monogatari “Truyện bên bờ sông Chikuma” sau tóm lại in cả trong Rokuyô-shuu (Lục Diệp Tập) “Lá Xanh”(1910).

Tác phẩm đánh mốc cho nhà văn chủ nghĩa hiện thực Tôson là Hakai (Phá Giới, 1906) “Xé Rào” là một trường thiên tiểu thuyết mà ông tự bỏ tiền ra in. Trong đó, ông kể về cuộc đời một nhà giáo trẻ, Segawa Ushimatsu (Lại Xuyên, Sửu Tùng), có cái bất hạnh sinh trong gia đ́nh burakumin (dân bộ lạc), một giai cấp mà tổ tiên làm những nghề ô uế (đào mă, đồ tể, thuộc da) bị xă hội thời Tokugawa coi là bẩn thỉu và bị kỳ thị. Một đằng cha dặn phải dấu tông tích để sống c̣n, một đằng muốn sinh hoạt một cách đường hoàng thanh thiên bạch nhật và chiến đấu chồng kỳ thị như đồng liêu Inoko Rentarô (Trư Tử, Liên Thái Lang), Ushimatsu ta phải trải qua nhiều dằn vặt cho đến ngày “xé rào” để thổ lộ bí mật của ḿnh trước đồng nghiệp và học tṛ.Với lối hành văn mới mẻ, Tôson đă triển khai một đề tài tiểu thuyết xă hội cũng mới mẻ liên quan đến xung đột nội tâm của nhân vật chính v́ nửa muốn dấu diếm, nửa muốn bộc bạch. Tâm trạng này Tôson đă có lần nói đến trong Wakana-shuu.

Lúc ấy, Tôson làm bạn với Tayama Katai (1871-1930), Shimamura Hôgetsu (1871-1918) và Yanagita Kunio (1875-1962) là những trí thức có đi nước ngoài nên qua họ, biết nhiều về Zola, Flaubert và Maupassant. Về “Xé Rào”, Tôson cho biết ông đă nhận ảnh hưởng của Dostoievsky trong “Tội ác và trừng phạt” và người ta đoán “Tự thú” (Confessions) của Jean-Jacques Rousseau mà ông đọc thời trẻ cũng có những điểm tương đồng với Xé Rào. Tuy Natsume Sôseki có lần bảo Hakai “Xé Rào” cũng như Konjiki Yasha “Con quỷ kim tiền là những tác phẩm giá trị, sẽ có âm vang trong nhiều thập niên nhưng, vượt xa hơn lời ông tiên đoán, cho tới ngày nay, Hakai hăy c̣n được đánh giá cao.

Nhận thức về vấn đề burakumin của Tôson chưa chắc đă gọi là thoả đáng, có điều là sau khi viết Hakai, ông đă chuyển mất sang lănh vực khác. Ông cho ra đời Haru (Xuân, 1908) nói về những vấn đề lớp người trẻ gặp phải và Ie (Gia, 1910-11) “Nhà”. Qua lối viết đi sâu vào hiện thực, ông bàn chuyện của gia đ́nh ḿnh và chính bản thân, t́m hiểu vấn đề số mệnh trong các gia đ́nh có truyền thống. Tiếc là trong khi chuyển qua hướng quan sát này, Tôson đă rời xa lộ tuyến nghiên cứu vấn đề xă hội đă được khơi mào với Hakai.

Shimazaki Tôson, nhà văn và nhà thơ cận kim quan trọng của Nhật Bản

Bước vào thời Taishô, trong tác phẩm Shinsei (Tân sinh, 1918-19) “Đời Mới”, ông mạnh dạn thú thật mối t́nh của ông với cô cháu gái, gây xôn xao trong quần chúng (thật ra lúc đó ông đă góa vợ). Ông cũng c̣n viết Arashi “Cơn băo” trong đó ông diễn tả tâm trạng của người đàn ông nuôi 4 đứa con. Khi thời Shôwa bắt đầu (1912), ông c̣n mượn h́nh ảnh người cha của ḿnh chết v́ bệnh điên (qua nhân vật trung tâm tên Aoyama Hanzô) để tŕnh bày một quan điểm mới về sự suy sụp của xă hội Mạc Phủ (Tokugawa) khi con tàu đen của đề đốc Perry đến thị uy, qua tác phẩm lớn Yoake mae “Đêm trước khi trời sáng” (1929-35). Trong tác phẩm này, ảnh hưởng của chủ nghĩa tự nhiên rất rơ nét qua cách miêu tả chi ly diễn tiến các sự kiện. Điều đáng tiếc là Tôhô no Mon “Cánh cửa Đông Phương” (1943), cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Tôson viết dở dang (chỉ đăng tải vỏn vẹn 3 chương vào ngày 22 tháng 8 năm 1943, lúc ông mất) với nội dung hiện đại hơn, đă thấy ám mùi của chủ nghĩa Đại Đông Á. Nếu buổi đầu, ông theo đạo Thiên Chúa và t́m đến với Tây Phương, về sau ông đă nghi ngờ nó và luyến tiếc quá khứ Nhật Bản rồi trở thành kẻ bênh vực cho việc chiếm đóng Măn Châu..

 

E) Kunikida Doppo (Quốc Mộc Điền, Độc Bộ, 1871-1908):

 

 

Kunikida Doppo (đứng) bên cạnh nhà thơ Miyazaki Koshoshi (ngồi)

Doppo, biệt hiệu của Kunikida Kamekichi, là con tư sinh giữa một samurai và cô tớ gái. Ông có cơ hội theo học văn chương Anh ở Trường Chuyên Nghiệp Tôkyô, tiền thân của Đại Học Waseda. Vỡ mộng làm chính trị, ông vào đạo Công Giáo năm 1891 và bắt đầu có ư thức về các vấn đề xă hội. Sau khi cuộc hôn nhân của ông với Sasaki Nobuko mới có 6 tháng đă tan vỡ (1896), Doppo t́m đến văn chương như lối thoát, làm thơ và viết tiểu thuyết.

Đúng như Akutagawa bảo, Doppo là người có bộ óc sắc bén và con tim nhạy cảm, do mâu thuẫn đó, ông không bao giờ sống được thoải mái.Tuy mang tiếng là nhà văn của trường phái tự nhiên và truyện ông viết có bắt nguồn từ sự quan sát cặn kẻ đời sống xă hội như Maupassant, nhưng Doppo không vay mượn ǵ từ h́nh ảnh lớp người bần cùng được miêu tả trong tác phẩm của của Zola. Phần lớn tác phẩm buổi đầu của ông đầy yếu tố trữ t́nh tựa như Wordsworth và gần kề với chủ nghĩa lư tưởng của Tolstoy. Đúng hơn, ông là người có thể sắp xếp cả vào ḍng văn học lăng mạn.Trong Musashino “Cánh đồng Musashi” (1898), ông chịu ảnh hưởng của Tourgueniev, mô tả phong cảnh thiên nhiên của vùng ngoại ô phía Tây Tôkyô với hơi văn nhẹ nhàng và tươi mát của người viết tùy bút.

Càng về sau mới thấy Doppo khai triển đề tài chung quanh lớp người yếu kém, không thích ứng được với xă hội. Ông gạt bỏ tính chất trữ t́nh mà chuyển qua quan sát một cách lạnh lùng những hiện thực tiêu cực. Ông sử dụng phương pháp miêu tả tự nhiên trong cái nghĩa “thấy thế nào th́ viết y nguyên thế ấy”. Ngoài Musashino, Doppo c̣n để lại một số tác phẩm khác như Gen Oji (Nguyên thúc phụ, 1897) “Chú Gen” nói về ông lăo chèo thuyền tên Gen không sao thông cảm được với đứa con nuôi ngô nghê nên thất vọng và tự treo cổ, Wasurarenu Hitobito (1899) “Những người không thể nào quên”, nhắc đến sự cô đơn của những kẻ vô danh, như người chở hàng thồ hát nghêu ngao một ḿnh trên bải biển, nhà sư thổi sáo giữa đường phố đông mà không ai thèm để ư, Gyuuniku to Jagaimo “Thịt ḅ hầm khoai tây” (1901) kể về cuộc tranh luận giữa mấy người bạn về lư tưởng và thực tế trong cuộc đời, Unmeironsha (Vận Mệnh Luận Giả, 1902) “Kẻ tin số mạng” thuật lại định mệnh oái oăm đă khiến cho một người kết hôn nhầm với người em gái chung nửa gịng máu của ḿnh. Những truyện cuối cùng của ông như Hirô “Mệt mỏi,”(1907), Kyuushi “Chết th́nh ĺnh” (1907) và Take no Kido “Cái cổng tre” (1908) miêu tả cảnh nghèo và những hậu quả thương tâm do nó gây ra mới cho ta thấy rơ ràng hơn khuynh hướng chủ nghĩa tự nhiên nơi ông,

Ông mất v́ bệnh lao năm mới 37 tuổi nhưng đă được xem như một văn tài hiếm có của thời kỳ đầu văn học Nhật Bản hiện đại.

Tayama Katai

F) Tayama Katai (Điền Sơn, Hoa Đại, 1872-1930):

Cũng như Doppo, Katai (Tayama Rokuya) là con của một samurai cấp dưới trong hàng ngũ quân chính phủ, đă tử trận trong chiến dịch đàn áp cuộc nổi loạn của phiên Satsuma ở vùng Tây Nam năm 1877. Mồ côi cha, ông lớn lên trong nghèo đói. Thừa hưởng một nền giáo dục cổ truyền qua Hán văn, ông chuyển sang t́m hiểu văn chương Anh (Wordsworth), thích văn chương Nga (Tourgueniev, Dostoievsky) và Pháp (Zola, Maupassant, Daudet), thường lui tới nhà Ozaki Kôyô đàm luận về văn học ngoại quốc rồi bắt đầu viết truyện đăng báo từ năm 1892.

Katai vừa được biết đến như nhà văn khuynh hướng tự nhiên kiểu Zola vừa có tư chất của một nhà thơ trữ t́nh, đă đến với văn học thời Meiji trong vai tṛ một thủ lănh của phong trào văn học chủ nghĩa tự nhiên bên cạnh Shimazaki Tôson (tuy chủ đề ông viết hạn hẹp hơn Tôson v́ ông chỉ xoay chung quanh kinh nghiệm cá nhân). Địa vị đó ông đă đạt được nhờ tác phẩm Futon (Bồ Đoàn) “Tấm nệm giường” (1907).

Futon ban đầu chỉ là một tiểu thuyết ngắn, miêu tả mối t́nh thầm kín của một nhà văn trung niên tên Takenaka Tokio, đă có vợ con, trước cô học tṛ Yokoyama Yoshiko, một thiếu nữ 19 xinh đẹp.Yoshiko lại có người yêu cùng lứa tuổi. Nhà văn cũng chưa hề dám đụng đến cô v́ được bố cô gửi gắm cho để dạy dỗ cô. Cái cảnh lúc Yoshiko bị bố gọi về quê, nhà văn úp mặt vào tấm nệm cô từng nằm, trong ḷng đầy “ sự thèm khát xác thịt và nổi tuyệt vọng bi ai” là đỉnh cao của câu truyện.

“Trên chiếc nệm giường ngủ màu xanh non trang trí mẩu h́nh hoa lá mà Yoshiko vẫn thường nằm, có một bộ đồ ngủ bằng vải bông dày cùng một mẩu h́nh và cùng màu, đặt chồng lên. Tokio kéo tất cả ra. Mùi dầu quen thuộc mà cô gái thường dùng lẫn với mùi mồ hôi của nàng dậy lên làm cho lồng ngực của Tokio hồi hộp khó tả. Tokio áp mặt ḿnh lên cái cổ áo thêu đă có vết bẩn, ngửi cái mùi thương nhớ của người con gái mà trong ḷng dậy lên một niềm hạnh phúc.

Sự thèm thuồng xác thịt, nỗi buồn và niềm tuyệt vọng bổng ùa về xâm chiếm lồng ngực. Tokio trải tấm nệm giường ra, đặt bộ đồ ngủ lên trên rồi vùi đầu vào chỗcổ áo thêu đă bẩn mà nức nở.

Căn pḥng tối mờ. Gió thốc ngoài cửa.”

Ông đă mượn chi tiết nầy để áp dụng phương pháp miêu tả trung thực theo đúng cách thức hành văn kiểu chủ nghĩa tự nhiên. Thế nhưng độc giả đương thời lại xem câu chuyện trên như một lời thú tội hết sức can đảm của bản thân ông nên tác phẩm đó đă gây được tiếng vang lớn Thật t́nh chính Katai cũng có mối t́nh tương tự với một người con gái hâm mộ văn ông tên là Okada Michiyo. Ngoài ra, nguồn cảm hứng của tác phẩm Futon nói trên là vở kịch Einsame Menschen “Những Người Lặng Lẽ” của nhà văn Gerhardt Hauptmann. Sự chấp nhận của độc giả đă ảnh hưởng trở ngược lại Katai.Từ đó suốt cuộc đời viết văn, ông cứ phải cắn răng “lóc da bóc thịt” ḿnh cho thiên hạ xem. Ông tiếp tục đi theo con đường miêu tả “cái bề ngoài”[40] những ǵ ở chung quanh bản thân và nhân đó đă hoàn thành Sei (Sống), Tsuma (Vợ) khoảng 1908-09 và En (Duyên) năm 1910, ba tập một tác phẩm.nói về t́nh cảm yêu ghét có thực trong cuộc sống gia đ́nh ông.

Ngoài những tác phẩm vừa nói, ông c̣n viết Inaka Kyôshi (Điền xá giáo sư) “Giáo làng” (1909), Jikan wa sugiyuku “Thời gian trôi đi” (1916), Ippeisotsu no juusatsu “Xử bắn một người lính”(1917). Đó là những tác phẩm viết sau thời kỳ ông làm phóng viên tiền tuyến trong trận chiến tranh Nhật Nga (1904-05) và lên đường sang Trung Hoa.

Trong những năm cuối cùng, lúc đă bị gia đ́nh và độc giả bỏ rơi, ông c̣n viết Minamoto no Yohitomo (1926) bày tỏ sự thông cảm của ḿnh với vị Shôgun khắc nghiệt đă khai sáng mạc phủ Kamakura và Momoyo “Trăm Đêm” (1927), tác phẩm đầy thành thực nói về mối t́nh của một người đàn ông và một cô geisha, có lẽ là thiên tự truyện về ông và cô geisha Iida Yone.

 

G) Tokuda Shuusei (Đức Điền, Thu Thanh, 1871-1943):

 

Tokuda Shuusei đă chuyển từ khuynh hướng cổ điển sang trường phái tự nhiên

Có lẽ Shuusei là một hiện tượng đặc thù v́ ông là nhà văn theo chủ nghĩa tự nhiên mà lại xuất thân từ Ken.yuusha và từng là môn đệ của Ozaki Kôyô. “Con người đổi lốt để theo chủ nghĩa tự nhiên” của ông chỉ lộ rơ ra sau khi tiếp xúc với Haru của Tôson và Iki của Katai. Arajôtai “ Cặp vợ chồng mới”, tác phẩm trong đó ông tả cuộc sống tàng tàng của một cặp vợ chồng dân dă b́nh thường (1908) lại gây được tiếng vang. Nhân đó, ông cho ra mắt Ashiato (Túc tích) “Dấu chân” (1910), tiểu thuyết lấy đề tài từ quăng đời trẻ của vợ ḿnh và, Kabi “Mốc meo” (1911), được xem như một tục biên của tác phẩm trước, đă xác định được chỗ đứng trên văn đàn của ông.

Vào đến thời Taishô, ông viết tác phẩm Tadare (Sưng tấy, 1913), Arakure (Kẻ lăng loàn, 1915), toàn là những tiểu thuyết có tầm vóc lớn của văn học chủ nghĩa tự nhiên. Arakure tả cuộc đời của nàng Shima đi làm con nuôi cho người ta từ năm 7 tuổi, cơ cực trăm chiều. Dầu rằng cô cố gắng phấn đấu với nghịch cảnh nhưng đă phải trả qua nhiều cay đắng v́ những cuộc t́nh duyên toàn là trắc trở. Muốn sống c̣n, nhiều khi Shima phải hung bạo, vứt bỏ t́nh nghĩa để ḥng xoay chuyển định mệnh. Cô ta rốt cuộc đă bỏ nhà chồng ra đi, theo ông anh vào núi lập nghiệp, quen biết với nhiều người và mong có ngày gặp một người đàn ông xứng đáng.

Cuốn truyện nói trên là một tác phẩm lớn của văn chương theo khuynh hướng chủ nghĩa tự nhiên. Cuộc đời viết văn của Tokuda Shuusei kéo dài cả nửa thế kỷ. Ông là nhà văn có sức viết bền bĩ. Ngoài những tác phẩm kể trên, vào đến thời Shôwa, ông c̣n viết Keshô Jinbutsu (Giả Trang Nhân Vật ) “Kẻ tô chuốt” (1935-38), Shukuzu (Súc đồ) “ Bức tranh thu gọn”, 1941, viết dở dang, đều là tác phẩm đang kể.

Chính v́ Shuusei không định trở thành nhà văn của chủ nghĩa tự nhiên mà rốt cục lại thành, nên cách viết truyện của ông đầu đuôi không thống nhất, chẳng có lấy một kết luận. Chủ nghĩa tự nhiên của ông nằm ở chỗ mô tả sự vật như nó là. Tiểu thuyết ông viết thiếu kịch tính, chẳng có màu sắc ǵ cả nhưng nhờ đó mà tạo ra được cái thực thể (reality), đặc điểm văn chương ông.

Ông được xem như là địch thủ trên văn đàn của Tôson, mất sau ông này mấy tháng. Dầu ông không nổi tiếng bằng Tôson và nhiều nhà b́nh luận cho rằng ông chỉ đứng sau lưng Tôson nhưng cũng có người đánh giá ông cao hơn.

Cũng như nhiều bạn văn đồng thời, ông sinh ra trong gia đ́nh samurai cấp thấp ở Kanazawa. Sau khi cha mất năm 1891, ông phải bỏ học và lưu lạc ở Tôkyô. Ông làm quen với Izumi Kyôka và Higuchi Ichiyô và cho đăng Yabukôji (Tẩu cam tử, 1896) “ Hoa miên liễu ” nói về thân phận của gia đ́nh một bác sĩ gốc eta, tức hạng người mà tổ tiên từng làm những nghề (đồ tể , thuộc da, phu phen chôn cất...) bị xem là ô uế. Đó là một tiểu thuyết luận đề mà trong đó có thể t́m thấy ảnh hưởng của Zola khi nhấn mạnh về vai tṛ của di truyền và hoàn cảnh trong đời sống. Nên nhớ là Hakai của Tôson, vốn cùng một chủ đề ,chỉ ra đời vào năm 1906 tức 10 năm sau.

Tuy ngưỡng mộ Kôyô và chơi thân với Kyôka nhưng ông không theo lối viết văn chuộng kỹ xảocủa nhóm Ken.yuusha mà thiên về loại văn chương có nội dung bộc lộ sự thật và có ư thức phê phán chính trị. xă hội. Thực ra ông không có tŕnh độ học vấn cao và lối viết của ông thường bị xem là chẳng có nghệ thuật. Giai đoạn 1902-1905, ông viết rất khoẻ, một phần cũng v́ sinh kế. Tác phẩm tiêu biểu của ông lúc đó là Kumo no Yukue “ Mây trôi về đâu ” (1900), Arajotai “ Gia đ́nh mới ” (1908). Arajotai nói về cuộc sống của một cặp vợ chồng từ ngày cưới đến lúc chết, người vợ th́ tẻ nhạt, ngu đần và anh chồng cau có, hung bạo. Kabi là một tiểu thuyết có tính tự truyện, trong đó Shuusei nói về mối liên hệ đầy sóng gió, cải cọ của vợ chồng nhân vật Sasamura, nhưng có lẽ là bản thân tác giả. Ở đây, Shuusei chứng tỏ rất rành tâm lư phụ nữ.

Từ 1915 đến 1938, Shuusei vẫn viết nhiều nhưng đặc sắc là một số truyện ngắn từ thời điểm 1933 như Machi no Odoriba “  Pḥng khiêu vũ trong thành phố ”, Shi ni shitashimu “ Quen với cái chết ”. Riêng Kunshô “ Huân chương ” truyện ngắn đoạt giải thưởng. năm 1935, nói về cuộc hôn nhân không hạnh phúc giữa một người đàn bà nghèo và một anh lính phục viên, là nổi tiếng hơn cả.

H) Shimamura Hôgetsu (Đảo Thôn, Bảo Nguyệt, 1871-1918) :

Hasegawa Tenkei và Shimamura Hôgetsu

Nhà phê b́nh Hasegawa Tenkei (Trường Cốc Xuyên, Thiên Khê) một nhân vật xuất thân từ chủ nghĩa Zola đă giải thích rằng vai tṛ của chủ nghĩa tự nhiên là biểu lộ một cách trung thực “nỗi buồn của một thời đại đánh mất niềm tin” nhưng đáng tiếc đây chỉ là một lối diễn tả, kêu th́ có kêu nhưng không chứng minh được. Để bù lấp sự thiếu sót đó, một nhà b́nh luận trẻ hay đi lại với nhóm tạp chí Waseda Bungaku (tái bản vào năm 1906) đă dùng kiến thức về mỹ học của ḿnh để giải thích sự hiện diện của chủ nghĩa tự nhiên ở Nhật. Đó là Shimamura Hôgetsu. Sau khi vừa du học Âu Châu trở về, dựa trên sách vở Tây Phương, Hôgetsu cho rằng chủ nghĩa tự nhiên đă là sản phẩm của quá khứ. Thế nhưng từ khi biết đến các tác phẩm như Hakai Futon, ông trở thành người cổ vũ cho chủ nghĩa tự nhiên.Hai tập luận đề “ Chủ nghĩa tự nhiên trong văn học ” và “ Giá trị của chủ nghĩa tự nhiên ” của ông là hai tác phẩm gối đầu giường của giới b́nh luận văn nghệ đương thời. Theo lời ông trong “Giá trị của chủ nghĩa tự nhiên”, th́ viết văn theo chủ nghĩa tự nhiên, về mặt nội dung, đó là theo… “chủ nghĩa vô điều kiện”. Ngoài viết miêu tả sự vật như nhận thấy về nó, văn không cần phải có đầu có đuôi ǵ cả. Kết luận đă đành không cần mà việc tháo gỡ vấn đề cũng không cần nốt.

Ông đă viết Kindai Bungei no Kenkyuu (Cận Đại Văn Nghệ Nghiên Cứu) năm 1909, c̣n tham gia vào lănh vực kịch nghệ. Sau khi chia tay với thầy ḿnh là Tsubo.uchi Shôyô, ông cùng nữ kịch sĩ Matsui Sumako (Tùng Tỉnh, Tu Ma Tử) dựng kịch đoàn Geijutsuza (Nghệ Thuật Ṭa) và chuyên chú hoạt động tŕnh diễn.

TIẾT VII: KHUYNH HƯỚNG DUY MỸ (TANBIHA= ĐAM MỸ PHÁI) VÀ SỰ THÀNH H̀NH CỦA THỜI CẬN KIM :

Trong thời kỳ chuyển tiếp giữa giai đoạn Meiji và Taishô, để đeo đuổi lư tưởng Chân, Thiện, Mỹ th́ Chân đă được các nhà văn tự nhiên chủ nghĩa đưa lên cao. Cho nên, nếu không bàn đến vai tṛ của một ḍng văn học đương thời đặt trọng tâm vào cái Mỹ trong nghệ thuật th́ có lẽ là điều thiếu sót. Ta có thể xem những nhà văn trẻ tụ họp chung quanh tờ Subaru (Sao Măo, tạp chí xuất hiện năm 1909) và câu lạc bộ văn nghệ Pan no Kai[41] (Mục Dương Hội) như là những nhân vật tượng trưng cho khuynh hướng duy mỹ vậy.

Tác gia tiêu biểu cho nhóm nầy trước tiên là Nagai Kafuu). Ông có một thời được xem như là người của chủ nghĩa Zola, nhưng sau khi du học trở về nước, đă đứng hẳn vào nhóm chống đối chủ nghĩa tự nhiên. Kế đó, phải nói đến Tanizaki Jun-ichirô, người đă được Kafuu tiến cử với văn đàn và sau đó, để lại một văn nghiệp phong phú và rạng rỡ. 

 

Nagai Kafuu

 

A) Nagai Kafuu (Vĩnh Tỉnh, Hà Phong, 1879-1959):

Kafuu bắt đầu là đệ tử của Hirotsu Ryuurô (Quảng Tân, Liễu Lăng, 1861-1928) nhà văn chyên viết “tiểu thuyết bi thăm” trong nhóm Ken.yuusha. Sau đó, ông mê Zola và cổ xúy cho chủ nghĩa nầy. Trong Jigoku no hana “Hoa địa ngục, 1902) ông mô tả cuộc sống thác loạn, dâm đăng của gia đ́nh Kurobuchi giàu có mà Sonoko, một cô giáo trong trắng đến dạy học kèm, bị cuốn hút vào đó, không t́m được lối ra.

Sau một thời gian 5 năm du học ở Pháp và Mỹ, Kafuu về nước và cho xuất bản Amerika Monogatari “Truyện bên Mỹ”(1908). Sách gồm 21 truyện ngắn ghi lại kinh nghiệm sống của tác giả trong ca-bin trên tàu, bốn năm ở Tacoma, Washington, New York, Chicago…kể cả truyện t́nh lẫn những thảm kịch của người di trú .Trên xứ người, ông đă khám phá ra tự do và tinh thần độc lập của xă hội thị dân. Giới phê b́nh thời ấy xếp nó vào loại tác phẩm theo chủ nghĩa tự nhiên[42].Trong hai tác phẩm theo sau, Furansu Monogatari “Truyện bên Tây”(1909) và tập đoản thiên Kanraku (Hoan Lạc, 1909) Kafuu đă dựa vào kinh nghiệm bản thân sống ở ngoại quốc, bày tỏ một cách mạnh mẽ sự chán ghét và tuyệt vọng của ḿnh đối với xă hội thời Meiji.Hai tác phẩm nói trên lần lượt bị chính quyền đương thời cấm lưu hành v́ lư do thiếu đạo đức. Thật ra th́ trong những tác phẩm thuật lại cuộc hành tŕnh, ông không dấu diếm cuộc sống phóng đăng của ḿnh: những mối t́nh thoáng qua với các cô gái làng chơi, mô tả cả khung cảnh trụy lạc như nhà chứa, tiệm hút…ở những nơi ông đi qua. Ở mặt này, ông không khác ǵ Kyôden (Kinh Truyền), Shunsui (Xuân Thủy), Tanehiko (Chủng Ngạn), các nhà văn gesaku thời Edo, đối tượng của đàn áp từ phía chính quyền v́ họ sợ những người này đầu độc xă hội..

Thế rồi ông lần lượt cho ra mắt Shinkichôsha Nikki (Tân Qui Triều Giả Nhật Kư, 1909) “ Nhật kư của người mới về nước” để nói lên niềm vui v́ đă t́m được không khí tự do bên trời Âu, Sumidagawa “Ḍng sông Sumida” (1909), Reishô (Lănh Tiếu) “Cười nhạt” (1909-10). Sumidagawa kể chuyện cậu bé Chôkichi bỏ con đường học hành cử nghiệp mà cha mẹ mong muốn để đi theo gánh hát v́ t́nh yêu đối với cô bé geisha tên là O-ito. Truyện có lẽ đă lấy cảm hứng từ Les vacances d’un jeune homme sage “Những ngày nghĩ hè của một chàng trai ngoan” do nhà văn người Pháp Henri de Régnier (1864-1936) viết. Việc ông ca tụng Tôkyô thuở c̣n là Edo trong hai truyện nói trên có thể xem như một thứ phản ứng chống lại mỹ học theo mới của người đương thời.

Nhờ Ôgai giới thiệu, ông được Đại học Keiô mời dạy và trở thành người cầm đầu nhóm văn nghệ Mita (tạp chí Mita Bungaku = Tam Điền Văn Học ra đời năm 1910) v́ Mita là một khu vực của Tôkyô, nơi có khuôn viên đại học Keiô. Cuối đời Meiji, v́ xúc động trước cái án “đại nghịch”, chính ông cũng đổi dạng thành một thứ nhà văn viết để “mua vui thiên hạ” cũng như các nhà văn gesaku của Edo thời trước. Qua thời Taishô, ông dùng bối cảnh của những xóm yên hoa với các nàng geisha và gái làng chơi để viết Udekurabe “Đọ sức” (1916-1917) và Okamezasa (1920), “Bụi trúc lùn”, hai tác phẩm tốn nhiều công sức với văn phong già dặn và độc đáo. Udekurabe kể lại cuộc so tài của ba nàng geisha ở Shinbashi mà nàng Komayo, vai chánh trong truyện, đă bị hai cô bạn gái tranh mất người yêu. Qua tác phẩm ấy, ông đă cực tả được cái xấu xa, đê tiện của con người trong bối cảnh xóm ăn chơi mà ông rất sành sỏi.

Về sự thay đổi chiều hướng viết văn sau vụ án đại nghịch, ông cho biết:

“Đă là người cầm bút, đối với một vấn đề có tính cách tư tưởng như thế nầy (vụ án “đại nghịch”) mà nín thinh th́ không thể được…Thế mà tôi cùng với những nhà văn khác không nói lên điều ǵ. Dù sao, trong lương tâm tôi cũng rất khổ sở, không chịu đựng nổi. Với tư cách một người viết văn, tôi cảm thấy xấu hổ vô cùng. Xưa nay, về phẩm cách nghệ thuật mà nói, có bao giờ tôi muốn bị coi thấp như những nhà văn (gesaku) Edo đâu chứ”. Trong Hanabi, “Pháo Bông” Taishô thứ 8 (1920).

Bước qua đời Shôwa, ông như t́m thấy một tuổi trẻ thứ hai và đă viết vào thời điểm đó Bokutô Kitan (Mặc Đông Kỳ Đàm, 1937) “Truyện lạ bờ đông sông Sumida”, một tác phẩm được nhiều nhà phê b́nh xem là xuất sắc. Người kể chuyện, một anh chàng đi thu mua đồ cũ ( h́nh ảnh của Kafuu?) ghé qua Tamanoi, một xóm nghèo bên kia bờ sông Sumida, được cô geisha về chiều tên Oyuki xin cho núp nhờ dưới bóng dù tránh mưa rồi mời về nhà ngồi chơi nói chuyện.Từ đó, anh chàng trở lại đây nhiều lần để qua lời kể của Oyuki, t́m lại quá khứ của Tôkyô ngày c̣n là Edo. Cho đến một hôm, Oyuki bổng biến mất và anh chàng cảm thấy hụt hẫng. Câu chuyện đang kể bị đứt ngang nửa chừng, không t́m ra đoạn kết.

T́nh cảm nuối tiếc của Kafuu đối với văn hóa Edo của thời xa xưa rất sâu đậm. Để sống được cái không khí ấy, ông đă t́m học rakugo, kabuki , đi lại với geisha cho dù ông là người sống nhiều năm ở nước ngoài. Văn xuôi của ông đi đến chỗtinh luyện nhất là khi ông viết về chủ đề Edo, một thế giới giờ đây chỉ c̣n là một thoáng chiêm bao. Fukagawa no Uta “Khúc hát xóm Fukagawa” (1909), Yoru no samisen “Tiếng đàn samisen trong đêm” (1909), Sumidagawa “Ḍng sông Sumida” (1909), Bokutô Kitan “Truyện lạ bờ đông Sumida” (1937) …là những tác phẩm chứng minh được điều đó.

Trong thời Nhật Bản lâm chiến, ông có thái độ chống chiến tranh ở Trung Quốc và chiến tranh Thái B́nh Dương, không chịu hợp tác với chính quyền quân phiệt nhưng vẫn âm thầm sáng tác. Sau 1946, ông mới ra mắt trở lại. Tác phẩm quan trọng của ông lúc cuối đời là tập Danchôtei Nichịjô (Đoạn Trường Đ́nh Nhật Thừa), nhật kư ghi lại những điều ông nhận xét hàng ngày trong giai đoạn 1917-59.

B) Tanizaki và Kawabata:

 

Họp mặt ra mắt Rashômon (1915) , có Akutagawa (tay trái, áo trắng),
Tanizaki(tay phải, áo trắng) và Kawabata (tay phải, người thứ ba ngồi đếm từ ngoài vào, kimono đen)

Khi trường phái đam mỹ ra đời, Nhật Bản đă đặt được những nền móng vững chắc để mở màn cho sự hưng thịnh của văn học Taishô mà điển h́nh là sự xuất hiện của các nhà văn thuộc trường phái Shirakaba[43], hai văn hào Akutagawa Ryuunosuke và Shiga Naoya[44] cũng như các nhà văn đam mỹ lớn như Tanizaki Jun.ichirô, Kawabata Yasunari[45] Họ sẽ là đối tượng của những chuyên đề tiếp sau.

 


 

[1] Ken.yuusha, văn đoàn thành lập năm Meiji 18 do một nhóm sinh viên dự bị đại học gồm có Ozaki Kôyô, Ishibashi Shian, Maruoka Kuuka và Yamada Bi.myô. Nối tiếp văn phong tả thực của Shôyô và Âu hóa lối viết hời hợt thời Genroku của Ibara Saikaku. Về sau, họ mở rộng sang lănh vực tiểu thuyết quan niệm (ư thức hệ) và tiểu thuyết xă hội, đặt những vấn đề sâu sắc hơn. Những kẻ theo chủ nghĩa quốc túy dung túng phái Ken.yuusha v́ đường hướng của nhóm nầy có lợi cho họ.

[2] Theo Donald Keene, trong khi ở Âu châu, chủ nghĩa tự nhiên là một phản ứng đối với chủ nghĩa lăng mạn, ở Nhật cả hai xuất hiện cùng một lúc sau cuộc tiếp xúc vói Tây Phương (Dawn to the West, quyển.3, trang 4)

[3] Kim Tinh (Venus), một ngôi sao trong thái dương hệ.

[4] Subaru (Măo Tinh) , một v́ sao thuộc quần tinh Kim Ngưu (Taurus). Âu Tây gọi là Pleiades, tượng trưng cho văn học. Theo Đông Phương, Pleiades là Nhị Thập Bát Túc (Tú), tuy nói là 28 v́ sao nhưng mắt thường chỉ trông thấy có 6.

[5] Xin xem bản dịch Việt ngữ của PhạmThu Giang, Nxb Tri Thức, Hà Nôi, 2006.

[6] Tên của một tổ chức chủ trương trao đổi tư tưởng và nghiên cứu các vấn đề học thuật, thành lập năm Meiji 6 (Minh Trị lục niên) sau khi Mori Arinori (Sâm, Hữu Lễ, 1847-1889) du học Mỹ về. Bạn đồng chí của ông là Fukuzawa Yuukichi, Katô Hiroyuki, Nakamura Masanao, Nishi Amane. Có tạp chí Meiroku (Minh Lục), mục đích đem đến cho quốc dân kiến thức bách khoa cần thiết cho việc cận đại hóa.

[7] Samuel Smiles (1812-1904), người Anh sinh ở Tô Cách Lan (Scotland) đă viết Self Helf “Tự Trợ Luận ” (Luận về tự lực cánh sinh).

[8] Lúc đó, tại trường Canh Nông Sapporo và Kagoshima, ảnh hưởng của các nhà truyền giáo rất mạnh. Ở Sapporo, giáo sư W.S. Clark (1826-86) từ Amherst College đến đấy dạy non một năm (1876-77), đă có ảnh hưởng trên đời sống tinh thần của các sinh viên và đưa nhiều người vào đạo..

[9] Ảnh hưởng phong cách gesaku (hí tác) của Jippensha Ikku (1765-1831) trong Tôkaidôchuu Hizakurige “ Đi chơi một ṿng đường Tôkaidô ” thời Edo.

[10] Tên của một tổ chức chủ trương trao đổi tư tưởng và nghiên cứu các vấn đề học thuật, thành lập năm Meiji 6 tức “ Minh Trị lục niên ” sau khi Mori Arinori (Lâm, Hữu Lễ, 1847-1889) du học Mỹ về. Bạn đồng chí của ông là Fukuzawa Yukichi, Katô Hiroyuki, Nakamura Masanao, Nishi Amane. Có tạp chí Meiroku (Minh Lục), mục đích đem đến cho quốc dân kiến thức bách khoa cần thiết cho việc cận đại hóa.

[11] Samuel Smiles (1812-1904), người Anh sinh ở Tô Cách Lan (Scotland) đă viết Self Helf “Tự Trợ Luận ” (Luận về tự lực cánh sinh).

[12] Tác phẩm nầy có ảnh hưởng lớn đến “ Giai Nhân Kỳ Ngộ Diễn Ca ” của nhà cách mạng Việt Nam Phan Chu Trinh.Xin xem bài nghiên cứu của Giáo sư Vĩnh Sính trong Việt Nam và Nhật Bản-Giao Lưu Văn Hóa, Nxb Văn Nghệ TPHCM, 2001.

[13] Theo D. Keene, Lương Khải Siêu đă dịch Kajin no Kiguu ra Trung văn.

[14] Theo D.Keene, Dawn to the West, sđd, trang 82.

[15] Truyện nầy tưởng tượng ra một truyện kư t́m ra vào năm 2040 đề cập đến những chí sĩ duy tân thời Meiji. Nội dung tán dương nhà nước Nhật Bản.

[16] Imoto có nghĩa là em gái nhưng có thể dùng để nói về vợ hay người yêu.

[17] Theo quan điểm văn học này, chủ nghĩa hiện thực (realism) có thể xem như đối kháng với chủ nghĩa lăng mạn (romanticism), chủ nghĩa cổ điển (classicism) và chủ nghĩa lư tưởng (idealism).

[18] Vissarion Bellinskii (1811-1848), nhà phê b́nh văn học người Nga, coi trọng tư tưởng xă hội của tác phẩm tiểu thuyết, đă khám phá tự buổi đầu tài năng của Feodor Dostoievski. Có tác phẩm luận về Puskin.

[19] Xin đừng nhầm với tác phẩm cùng tên Musashino, tập truyện ngắn ra đời năm 1901 của Kunikida Doppo (1871-1908).

[20] Xem bài số 20 : Ôgai và Sôseki.

[21] Chủ nghĩa hiện thực (realism, shajitsu = tả thực) khuynh hướng chủ trương miêu tả sự vật như nó là. Đó là phong trào chủ chốt của giai đoạn những năm Meiji 20 (1887-1897) mà trung tâm là nhóm Kenyuusha. Khuynh hướng theo chủ nghĩa tự nhiên (naturalism) giữa giai đoạn chuyển tiếp Meiji-Taishô cũng chủ trương tả thực.

[22] “ một ” có nghĩa là “ đánh mất ” như trong chữ “ mai một ”.

[23] D. Keene cho rằng cách đặt tên cũng đă có hậu ư. Bunzô có tinh thần Nho học (Bun =Văn), Noburu chỉ muốn đi lên như Tây Phương (Noburu =Thăng) và cô Osei chạy theo (Sei =Thế). Osei là h́nh ảnh Nhật Bản đứng giữa cũ và mới (theo nhà phê b́nh Nakamura Mitsuo). 

[24] Odagiri Susumu, Nihon no Meisaku (Danh tác Nhật Bản), Chuôkôron, Tôkyô, 2001.

[25] Thật ra phải dịch “Con quỉ màu vàng ”. Theo Odagiri Susumu (op. cit.) th́ màu vàng đây là màu của ái t́nh (chứ không phải là kim tiền) như một lời phát biểu trong quyển tiểu thuyết Mỹ White Lily in the valley “ Huệ trắng trong thung lũng ” mà nhiều người cho là đă ảnh hưởng đến Kôyô. 

[26] Trong trường hợp Nhật Bản, chủ nghĩa lăng mạn là khuynh hướng giải thoát cho cá nhân và khám phá bản ngă của ḿnh về mặt t́nh cảm. Toàn thịnh trong khoảng thập niên Meiji thứ 20 bước qua 30 (1887-1907) với hai tạp chí Bungakukai (Văn Học Giới) và Minh Tinh (Myôjô) điển h́nh với tác phẩm buổi đầu của Mori Ôgai, Kunikida Doppo , tiểu thuyết Izumi Kyôka và b́nh luận của Takayama Chogyuu (Cao Sơn Xư Ngưu, 1871-1902). Tuy nhiên, điều cần minh xác là Chogyuu có cái nh́n tương phản với Taoka Reiun (Điền Cương, Lĩnh Vân, 1870-1912) v́ chủ nghĩa lăng mạn, trữ t́nh của Chogyuu là chủ nghĩa “ lăng mạn quốc gia ” của “ Nhật Bản chủ nghĩa ”.

[27] H́nh ảnh trong bài này đều trích từ các tập Bungaku Arubamu của Nhà Xuất Bản Shinchô, Tôkyô, 1986.

[28] Hirotsu Ryuurô (Quảng Tân, Liễu Lăng, 1861-1928) trước thời kỳ viết tiểu thuyết bi thảm có tập Zangiku (Tàn Cúc, 1889) “ Hoa cúc tàn ”, từ sau thời kỳ này có Imado Shinjuu (Kim Hộ Tâm Trung, 1896) “ Quyên sinh v́ t́nh ở xóm Imado ”, Ame (Vũ, 1902) ” Mưa ”vv...

[29] Tên gọi chung loại tiểu thuyết nói lên bi kịch trong cuộc đời của các vai chính có vấn đề về thể xác hay tinh thần. Do Hirotsu Ryuurô lần lượt viết ra từ sau trận Nhật-Thanh, trong đó khía cạnh đen tối của xă hội được phô bày. Tiêu biểu có KuroTokage (Con thằn lằn đen).

[30] Khuynh hướng tiểu thuyết có từ sau trận Nhật-Thanh, trong đó tác giả tŕnh bày lập trường của ḿnh, tức là điều ḿnh muốn kháng nghị hay chống đối. Tác phẩm tiêu biểu có Shokikan (Quan tham sự), Uraomote (Mặt trước mặt sau, 1895) của Kawakami Bizan và phần lớn các tác phẩm của Izumi Kyôka.

[31] Taoka Reiun (Điền Cương, Lĩnh Vân, 1870-1912) viết trong tờ Seinenbun (Thanh Niên Văn) những bài b́nh luận có tính nhân đạo. Ng̣i bút của ông tập trung vào những vấn đề của người nghèo khổ, giai cấp tiện dân trong xă hội.

[32] Hototogisu vừa là tên một tạp chí thơ của Masaoka Shiki (Chính Cương Tử Quy) và tên tác phẩm (Bất Như Quy) của Tokutomi Roka. Hototogisu có nghĩa là chim cuốc (tiếng Anh là cuckoo, chữ Hán chú là đỗ vũ, tử qui, đỗ quyên hay bất như quy).

[33] Một cuộc “ âm mưu ám sát thiên hoàng Meiji “ bị phát giác. Chính quyền đương thời gán một vài nhà văn theo chủ nghĩa vô chính phủ như các ông Kôtoku Shuusui (Hạnh Đức, Thu Thủy, 1871-1911) là chủ mưu, đem tất cả 12 người xử kín và hành quyết. Khi chuyện Kôtoku hàm oan bị đổ bể, đă gây xúc động rất lớn trong giới văn nghệ thời ấy.

[34] Hototogisu được xem như tác phẩm đại biểu của loại “ tiểu thuyết gia đ́nh ” sinh ra từ bối cảnh độc giả muốn đi t́m h́nh ảnh tươi sáng của một gia đ́nh đoàn kết, sau khi họ đă chán những “ tiểu thuyết bi thảm ”hay “ tiểu thuyết quan niệm ” của thời trước nhưng chính Hototogisu đă làm họ đổ nhiều nước mắt nhất v́ nhân vật Ryôko đă quá hy sinh cho sự ích kỷ của gia đ́nh.

[35] Câu nói nầy (khuyên về sớm =  bất như quy ) có ư nghĩa đặc biệt v́ trong chiến tranh Nhật Thanh, nhiều nhà văn đă thoả hiệp với chính quyền. Họ ủng hộ cuộc chiến v́ họ tin tưởng “ nhiệm vụ khai sáng ” Á Châu và “ vai tṛ đầu tàu ” của nước họ trước một Trung Hoa suy thoái.

[36] Zolaism, lấy tên theo Emile Zola, nhà văn thuộc trường phái tự nhiên (naturalism) người Pháp, người đă đánh giá vai tṛ quan trọng của di truyền và hoàn cảnh trong qua tŕnh xây dựng bản tính con người. Tengai trong giai đoạn theo chủ nghĩa Zola đă viết Hatsu Sugata (Trang sức mới) và Hayari Uta (Khúc hát lưu hành, 1900). Kafuu viết Jigoku no Hana (Hoa Địa Ngục, 1902). Thời kỳ chủ nghĩa Zola c̣n gọi là thời kỳ đầu của chủ nghĩa tự nhiên.

[37] Tên một tṛ chơi của trẻ con, so đo với bạn xem ai cao hơn ai và để xem ḿnh đă lớn đến đâu.

[38] Đă trở thành cảm hứng cho cuốn phim nhan đề Người Phu Xe, có chiếu ở Việt Nam trong thập niên 1950.

[39] J Pigeot và JJ Tschudin hiểu nguyên ngữ shinkoku shôsetsu là “ misérablisme ”,(chủ nghĩa bi thảm) chỉ loại tiểu thuyết vẽ ra cảnh tượng thương tâm.

[40] Heimen byôsha (b́nh diện miêu tả) chữ dùng do Katai tự đặt, chỉ phương pháp mô tả tuyệt đối khách quan. Người viết không t́m cách xen vào nội tâm nhân vật mà chỉ mô tả những ǵ ḿnh nghe, thấy, đụng chạm được.

[41] Câu lạc bộ văn nghệ mang tên Pan, thần chăn cừu (Mục dương thần) trong thần thoại Hy Lạp. Nhóm nầy chủ trương “ nghệ thuật vị nghệ thuật ” và đối đầu với chủ nghĩa tự nhiên, qui tụ các nhà văn, nhà thơ Kinoshita Mokutarô, Kitahara Hakushuu, Ishii Hakutei, Kitamura Kôtarô.

[42] Theo Narise Masakatsu, chủ nghĩa tự nhiên của Kafuu chỉ là mô phỏng Zola và trường phái Pháp. Đó là thời kỳ ban sơ của văn học chủ nghĩa tự nhiên Nhật Bản. Ngoài trường phái Pháp, c̣n có các trường phái tự nhiên khác (như Anh của Wordsworth đă ảnh hưởng đến Doppo chẳng hạn). Chủ nghĩa tự nhiên chỉ bắt đầu hiện ra rơ ràng trong hai tác phẩm đến sau : Hakai của Tôson và Futon của Katai.  

[43] Bài số 21: Nền Dân Chủ Ngắn Ngũi Đời Taishô : Nhóm Shirakaba, một văn đoàn với lư tưởng xă hội nhân đạo. Tiểu Thuyết Tự Thuật. Văn Học Vô Sản.

[44] Bài số 22: Akutagawa và Shiga.

[45] Bài số 23: Tanizaki và Kawabata.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com