Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

Quyển Hạ: Từ Cận Kim đến Hiện Kim

Tranh (1941) của Salvadore Dali. Nghệ thuật Nhật Bản tiếp nhận Tây Phương.

Chương 19 :

Ảnh hưởng văn học thế giới đối với văn học Nhật Bản:

Âu Mỹ (Phiên dịch và khai sáng),

Trung Quốc (Giao lưu trong quan hệ mới)
 

Nguyễn Nam Trân

 

TIẾT I : ẢNH HƯỞNG ÂU MỸ:

Chúng ta biết tự thời xưa, Nhật Bản đă tiếp nhận ảnh hưởng của ngoại quốc, phần lớn từ các quốc gia Á Đông. Trước hết là ảnh hưởng của Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên và Ba Tư. Về mặt văn học mà nói th́ ảnh hưởng của Trung Quốc vô cùng lớn lao nếu không nói có tính quyết định. Nhưng dù thế nào đi nữa, Nhật Bản tuy đón nhận một cách nồng nhiệt văn hóa nước ngoài nhưng đă biết tiếp thu một cách khéo léo và chọn lựa những ǵ hợp với bản sắc dân tộc vừa mô phỏng vừa sáng tạo để làm cho phong phú bản sắc ấy.

Sự thể ấy cũng đă xảy ra một cách tương tự vào thời cận đại và hiện đại đối với văn học Tây Phương. Tiếp xúc lần đầu với Tây Phương dĩ nhiên là đă va phải bức tường ngôn ngữ và văn tự hoàn toàn dị biệt, một trở ngại ngh́n lần lớn hơn nếu so với lúc tiếp xúc với văn học Trung Quốc. Cách đột phá duy nhất là phiên dịch nghiên cứu để giới thiệu nhưng muốn nghiên cứu cũng phải có khả năng thông hiểu ngôn ngữ. Chúng ta cần phải đánh giá cao nỗ lực và tinh thần học hỏi của người Nhật khi biết rằng Nhật Bản là một quốc gia mà ngày nay, số lượng tác phẩm phiên dịch đứng hàng đầu thế giới. 

Phần nầy phần lớn dựa trên tác phẩm cơ sở của hai giáo sư Yamauchi Hisaaki (sinh năm 1934, chuyên khoa văn chương Anh) và Kawamoto Hiroshi (sinh năm 1939, chuyên khoa văn chương Pháp) xuất bản năm 2003 [1].Nội dung của nó không có mục đích ṭ ṃ t́m hiểu “ai bắt chước ai” và “bắt chước ở chỗ nào” mà chỉ để, qua vài thí dụ điển h́nh, mô tả cách tiếp thu tác phẩm ngoại quốc như kích thích cho sáng tạo của các nhà văn Nhật cũng như quá tŕnh tài bồi từ kho tàng chung của nhân loại để có được một nền văn học với bản sắc riêng.

A) Văn chương phiên dịch Âu Mỹ:

Yoshitake Yoshitaka [2] người nghiên cứu lịch sử ngành phiên dịch dưới hai triều Meiji và Taishô đă viết lịch sử các phóng tác để t́m hiểu ảnh hưởng của Tây Âu đối với văn học Nhật Bản đến được mức nào. Chỉ riêng trong phạm vi tập sách nói trên, ông đă đưa ra tên tuổi 20 nhà văn và khoảng 50 tác phẩm phóng tác. Điều ấy chứng tỏ văn chương phiên dịch đóng cả hai vai tṛ: trực tiếp và gián tiếp. Nó đến thẳng với người đọc trong trường hợp thứ nhất và gián tiếp qua các phóng tác trong trường hợp thứ hai. Nhờ tài năng của các nhà văn, nó hoặc trở thành món ăn hợp khẩu vị người Nhật hay đă đóng nhiệm vụ gợi ư để các người nầy (phần lớn tinh thông ít nhất một ngoại ngữ nhưng cũng có người không biết tiếng nào) có thể viết nên tác phẩm hay một phần tác phẩm mới. Công việc phiên dịch có tính cách quyết định như thế v́ trong buổi đầu tiếp xúc với Tây Phương, số người biết ngoại ngữ chưa nhiều và sự đi lại trên thế giới hăy c̣n khó khăn.

Nishi Amane (Tây, Chu, 1829-97),
nhà phiên dịch có công trong việc “tạo ra chữ mới” thời Meiji.

Nói về phiên dịch văn học ở Nhật th́ tác phẩm đầu tiên cần phải nhắc đến có lẽ là Aesopos Fabulas dưới cái tên Isoho Monogatari (Y Tăng Bảo Vật Ngữ) sau mới đến một số tác phẩm có tính cách đại chúng khác.

1) Aesopos Fabulas:

Như đă nói sơ qua ở phần văn học trước thời Edo, từ năm Bunroku (Văn Lộc) thứ 2 (1593), các nhà truyền giáo của Da Tô Hội Học Vấn Sở (Collegio) đă nhờ một người Nhật tên thánh là Fabian (trước vốn là nhà sư Phật Giáo tên Fukan (Bất Can) sau cải giáo theo đạo Thiên Chúa) dịch truyện ngụ ngôn của nhà văn cổ Hi Lạp Aesopos từ bản La Tinh ra tiếng Nhật và phiên âm bằng chữ La Mă viết theo kiểu tiếng Bồ, đồng thời soạn Nhật Bồ từ điển và sách giáo lư Dochirina Kirisutan. Riêng Isoho Monogatari (Y Tăng Bảo vật ngữ) tức truyện ngụ ngôn của Aesopos[3] có lẽ là tác phẩm văn học Tây Phương được dịch (và phiên ra âm Nhật dưới dạng chữ La Mă chứ không phải dịch ra Ḥa văn) đầu tiên. Truyện này đă được nhà chung khôn khéo cho in cùng với Truyện Heike và tập thơ Kinku-shuu (Kim cú tập) là hai tác phẩm người Nhật yêu chuộng để làm văn bản hỗ trợ cho việc truyền bá giáo lư.Tập ngụ ngôn này đă ảnh hưởng đến loại văn học có tính cách giáo huấn về sau, đặc biệt loại tiểu thuyết kanazôshi (tiểu thuyết viết bằng văn tự Nhật kana, dễ đọc, dễ hiểu).Tamenaga Shunsui (Vi Vĩnh, Xuân Thủy, 1790-1843) đặc biệt sử dụng nó rất nhiều trong tác phẩm dạy luân lư đơn giản bằng tranh vẽ E-iri Kyôkun Chikamichi (Hội Nhập Giáo Huấn Cận Đạo) của ông. Nhà tư tưởng và chí sĩ duy-tân Yoshida Shôin (Cát Điền. Tùng Âm, 1830-1859) cũng dùng tài liệu từ bản dịch sang Hán văn của tập ngụ ngôn nầy mang tên Ư thập dụ ngôn để nói bóng gió khi b́nh luận chính trị. [4]

Donald Keene cho biết dưới thời Tokugawa có nhiều tác phẩm phiên dịch về học thuật (y khoa, thiên văn, địa lư, lịch sử) nhưng về phương diện văn chương thi chỉ thấy ghi lại bốn khúc hát bằng tiếng Ḥa Lan do Aoki Kon.yô (Thanh Mộc, Côn Dương, 1698-1767) dịch năm 1745 nhân dịp các thương nhân nước này từ đảo Deshima (nơi họ có cửa hàng) lên Tôkyô. Sau đó có người thông ngôn tên Shizuki Tadao (1760-1806) dịch một vài câu thơ La Tinh của Virgile viết trong Georgics thấy trong một tác phẩm Ḥa Lan. Thời đó, tiếng Ḥa Lan v́ lư do thương măi là ngôn ngữ được dùng để dịch nhiều nhất, ngay cả một tác phẩm vốn viết bằng tiếng Anh như Robinson Crusoe.

2) Robinson Crusoe của Daniel Defoe

Có lẽ “ Cuộc phiêu lưu của Robinson Crusoe ” là quyển tiểu thuyết Tây Phương được dịch ra Nhật ngữ trước nhất. Người dịch tên là Kuroda Kikuro (Hắc Điền, Khúc Lỗ) đă chuyển ngữ một phần từ bản tiếng Ḥa Lan năm Kôka (Hoằng Hóa) thứ 2 (1845) với đầu đề Hyôryuu kiji (Phiêu lưu kư sự). Năm Meiji thứ 5 (1872) lại có Saitô Ryôan (Trai Đằng, Liễu Am) dịch đầy đủ dưới cái tên Robinson Zenden (Lỗ Mẫn Tốn toàn truyện). Về sau, nhiều người khác dịch truyện này dưới các dạng khác nhau nhưng tất cả vẫn xem nó như truyện mạo hiểm hay văn chương dành cho nhi đồng chứ không ai hiểu được dụng ư phúng thích xă hội sâu sắc của tác giả Daniel Defoe.

Trong số những người dịch Robinson Crusoe có Inoue Tsutomu (Tỉnh Thượng, Cần, 1850-1928), một trong những nhà dịch thuật sung sức đầu thời Meiji. Ngoài “ Tuyệt thế kỳ đàm. Lỗ Mẫn Tốn phiêu lưu kư ” tức Robinson Crusoe, tiểu thuyết của Defoe, ông c̣n dịch các tác giả Jules Verne (Tam Vạn Anh Lư Hải Để Lữ Hành hay  Ba vạn dặm Anh dưới đáy biển ), Thomas Moore (Lương Chính Phủ Đàm = Truyện Trị Dân Tốt ), và Shakespeare (Nhân Nhục Chất Nhập Tài Phán[5] = The Merchant of Venice =  Con buôn thành Vơ -Ni ).

3) Gulliver’s Travel của Jonathan Swift

Có thuyết cho rằng tác phẩm tên gọi “Ḥa Trang Binh Vệ Dị Quốc Kỳ Đàm” xuất bản năm An-ei thứ 3 (1754) chính là bản “Gulliver Phiêu Lưu Kư” đầu tiên được dịch sang tiếng Nhật. Ngày nay, không c̣n cơ sở vật chất nào lưu lại giúp ta kiếm chứng điều đó. Đến năm Meiji thứ 13 (1880), Gulliver’s Travel mới được một người tên Hirayama Katasaburô (B́nh Sơn, Phiến Tam Lang) dịch ra dưới cái tên “Nga Lê Bá Nhi hồi đảo kư, sơ biên Tiểu Nhân Quốc chi bộ” nghĩa là “Phần một: Truyện Gulliver đi đến ḥn đảo nước người tí hon”. Truyện được Nhất Lục Cư Sĩ đề tựa bằng chữ Hán và kèm tranh màu minh họa. Trong sách c̣n có chỗ cho biết sẽ in thêm tập thứ hai nói về chuyến đi của Gulliver đến nước người khổng lồ nhưng rốt cuộc tập thứ hai nầy chỉ được dịch năm Meiji 20 bởi một người khác tên là Okubo Jôkichi (Đại Cửu Bảo, Thường Cát). Chính ra truyện Gulliver có cả thảy bốn tập, hai tập sau có nói cả việc Gulliver, tự xưng là thương nhân Ḥa Lan biết y học, bị đắm thuyền và muốn trở về Âu Châu nên được phép đặt chân lên đất Nhật (ở các hải cảng Shimonoseki, Edo và Nagasaki). Gulliver được giới thiệu đến gặp cả Shôgun trước khi trở về Anh bằng tàu Ḥa Lan theo đường Mũi Hảo Vọng (Cap Hope). Người Nhật không mấy quan tâm đến mấy chuyện ấy nên chỉ chọn dịch hai tập đầu.

4) Hamlet của Shakespeare

Năm Meiji 19 (1886), Kanagaki Robun (Giả Dành Viên, Lỗ Văn, 1829-1894) đă đăng liên tục trên tờ báo Tôkyô E-iri Shinbun (Đông Kinh hội nhập tân văn) tức tờ báo Tôkyô có kèm tranh vẽ (hội (e) = tranh, nhập (iri) = cho vào) truyện dịch Hamlet dưới tên “Diệp Vũ Liệt Sĩ Nụy Cẩm Hội”. Diệp (Ha) Vũ (Mu) Liệt Sĩ (Let) chỉ là cách phiên âm tiếng Nhật của Hamlet chứ không có nghĩa ǵ đặc biệt. Truyện được đăng tất cả 22 hồi, mất một tháng.

5) Voyage autour du monde dans 80 jours của Jules Verne

Jules Verne, nhà văn ngoại quốc được người Nhật yêu chuộng hàng đầu

Năm Meiji thứ 11 (1878), Kawashima Chuunosuke đă dịch phần đầu truyện của Jules Verne dưới nhan đề Shinsetsu hachijuunichi kan sekai isshuu ( Tân thuyết- Bát thập nhật gian thế giới nhất chu) “ Truyện Mới : Tám Mươi Ngày Ṿng Quanh Thế Giới ”. Đến năm Meiji 13 (1880) th́ chia truyện làm 2 bộ và được xuất bản cả hai. Đặc điểm của Kawashima là đă sống ở Pháp (Lyon) nên đủ sức dịch truyện nầy từ nguyên tác Pháp văn.

6) Ngh́n Lẻ Một Đêm (Arabian Nights)

Ngh́n Lẻ Một Đêm và tập thơ Rubáiyát (của thi nhân Ba Tư Omar Khayyam, ? - 1123) là hai tác phẩm của văn học Trung Đông đă được ngườI Nhật biết đến rất sớm. Người ta biết Ngh́n Lẻ Một Đêm đă được hoàn thành dần dần từ thế kỷ thứ 9 đến 19, theo hai đường truyền khẩu và văn tự. Một văn bản của nó đă được in ra hồi thế kỷ 17 và nhà học giả đông phương người Pháp Antoine Galland (1646-1715) dịch sang tiếng Pháp. Nguyên bản truyện đầy đủ sự tích 1001 đêm chỉ in xong vào năm 1835 ở Ai Cập và khoảng 1839-1842 ở Ấn Độ. Sau đó, nhiều người như Edward Lane (1801-1886), Joseph-Charles Victor Mardrus (1868-1949) , Richard Burton (1821-1890) đă dịch lại qua Anh và Pháp ngữ.

Ở Nhật, có nhiều bản dịch và phóng tác Ngh́n lẻ một đêm từ thời Meiji với mục đích giáo huấn và mua vui. Tuy nhiên hai bản có tiếng hơn cả là của Nagamine Hideki (Vĩnh Phong, Tú Thụ, 1848-1927) năm 1875 dưới nhan đề Arabiya monogatari (Bạo Dạ Vật Ngữ = Đêm Ả-Rập) và của Inoue Tsutomu (Tỉnh Thượng, Cần, 1850-1928) năm 1883 cái tên Zen Sekai Daiichi Kisho “ Quyển sách kinh dị nhất thế giới” (v́ đánh giá nó c̣n cao hơn tứ kỳ thư Trung Quốc). Nagamine đă dịch theo bản tiếng Anh ra đời năm 1866 của G. F. Townsend tham khảo bản của Antoine Galland. C̣n Inoue Tsutomu không rơ đă dùng bản nào nhưng xem ra th́ đă sử dụng bản tiếng Anh The Arabian night’s entertainments dịch từ Galland của một nhà xuất bản ở Edimburgh năm 1865 thêm tranh vẽ của S.J.Groves in trong đó và tham chiếu bản tiếng Đức của Gustav Weil. Vai tṛ của Ngh́n lẻ một đêm ở Nhật quan trọng ở chỗ nó vừa có tính cách truyện nhi đồng vừa có tính cách truyện sắc dục, đă gây tranh căi nhưng cũng kích thích cho sự phát triển của hai thể loại nầy.  

7) Vai tṛ công cụ phổ biến của báo chí trong phiên dịch

Những ví dụ vừa kể cho ta thất tác phẩm phiên dịch qua văn Nhật đến từ những chân trời khác nhau. Không những Pháp, Anh, Bồ, Ḥa Lan mà cả Nga như “ Nhật kư của người đi săn ” của Tourgueniev đă được Futabatei Shimei dịch rất sớm trên tờ Kokumin no tomo (Quốc Dân Chi Hữu) năm Meiji 11 (1878). Và cùng với Tourgueniev, Futabatei đă đưa cả phong cách của văn học Nga đến với văn đàn. Tờ báo nầy c̣n đăng trong số 32 một phần Paul et Virginie của Bernardin de Saint Pierre, truyện t́nh bất hạnh của đôi trai trẻ trên đảo Saint Maurice ngoài khơi Ấn Độ Dương. “ Tội ác và trừng phạt ” của Dostoievski cũng đă được dịch ra Nhật ngữ và đăng trên tờ Kokkai shinbun (Quốc hội tân văn) từ 1892. Vai tṛ của các tạp chí văn học như phương tiện du nhập và phổ biến văn học ngoại quốc rất đáng kể. Ngoài Kokumin no tomoKokkai shinbun vừa đơn cử, c̣n có tạp chí Myôjô (Minh Tinh) từ 1895 đưa tác phẩm của Leconte de Lisle, Baudelaire, Verlaine, Browning đến với độc giả. Tờ Shinshôsetsu (Tân Tiểu Thuyết) c̣n giới thiệu Goethe qua “ Nỗi khổ tâm của chàng Werther ” năm 1893.

8) Thơ Dịch

Về thơ th́ năm Meiji 15 (1882), vẫn theo Tomita Hitoshi (sđd, tr.108) và như đă tŕnh bày trong phần về Thi Ca Thời Meiji, bọn các ông Tôyama Seiichi (Ngoại Sơn, Chính Nhất) ba người đă cho in Shintaishi-shô (Tân Thể Thi Sao) “Tập Thơ H́nh Thức Mới”, gom góp thơ Tây Phương họ tuyển dịch kèm thêm sáng tác của chính ḿnh. Thơ Tây Phương (poetry) mà họ tŕnh bày ở đây là h́nh thức mới (tân thể) khác với thơ chữ Hán và thơ Nhật [6](thể 5/7 âm tiết) đă có từ trước. Ngôn ngữ của thơ mới gần gũi với nếp sống hàng ngày, điều mà người làm thơ cũ vẫn cho là thấp kém, không văn vẻ.

Năm Taishô thứ 2 (1913), Nagai Kafuu từ Pháp du học trở về cũng đă xuất bản Sango-shuu (San hô tập) góp lại 38 bài thơ dịch mà ông đă đăng trong quảng thời gian 22 tháng (1909-1910) trên các tờ Joshi Bundan (Nữ tử văn đàn), Shin Bunrin (Tân văn lâm), Yomiuri Shinbun “ Nhật Báo Yomiuri ”, Shusai Bundan (Tú tài văn đàn) và Subaru “ Sao Măo ”. Ngoài 38 bài thơ dịch Charles Baudelaire, Arthur Rimbaud, Paul Valéry vv...c̣n có thêm mười bài văn xuôi.

9) Tiếp xúc trực tiếp Tây Phương

Chúng ta đều biết các nhà văn Nhật Bản không những chỉ biết Tây Phương qua sách vở mà c̣n có cơ hội tiếp xúc với người bản xứ trên đất nước họ. Từ khi có cuộc duy tân thời Meiji, du học sinh Nhật Bản ra ngoại quốc rất nhiều. Trong đám các nhà văn, hai du học sinh có tiếng nhất là Ôgai (đi Đức) và Sôseki (Anh), nhưng cũng đừng quên Futabatei Shimei (Nga), Takamura Kôtarô (Mỹ, Pháp), Kafuu (Mỹ, Pháp), Arishima (Mỹ), Hori (Pháp)...Ngược lại, các nhà văn Âu Mỹ cũng đă đặt chân lên đất Nhật. Tuy ảnh hưởng của họ đến văn học Nhật Bản đến đâu th́ chưa đánh giá hết được nhưng không thể quên nhà văn Pháp Pierre Loti (1850-1923) tức sĩ quan hải quân Julien Viaud đă có lần dự tiếp tân ở dinh Rokumeikan ngay giữa Tôkyô, người Anh-Hi Lạp Lafcadio Hearn (1850-1904), sau nầy sẽ trở thành nhà văn Nhật Koizumi Yakumo (Tiểu Tuyền, Bát Vân) hay nhà ngoại giao kiêm nghiên cứu Ái Nhĩ Lan William George Aston (1841-1911), tới Edo năm 1864, hai năm trước cuộc duy tân và dịch quyển văn học sử Nhật Bản đầu tiên năm 1899.

B) Tác phẩm Âu Mỹ :

1) Nhà văn Nhật sử dụng kiến thức Âu Mỹ như thế nào ?

Ta có thể nghĩ văn nhân đời Meiji dễ dàng thu nhận ảnh hưởng văn học Edo là ảnh hưởng bản địa hơn văn học Thái Tây. Điều đó chưa hẳn đúng. Konjiki yasha (Con quỉ kim tiền, 1897) của Ozaki Kôyô, nhà văn xă hội có khuynh hướng mô phỏng cổ nhân, chẳng hạn, đáng lư ra chỉ là cái vạch nối dài của văn chương thời Genroku (1688-1704). Nhưng không ! Kôyô đồng ư với quan điểm về viết tiểu thuyết theo lối mới mà Tsubo-uchi Shôyô tŕnh bày trong Shôsetsu shinzui và đă bắt đầu dịch tác phẩm của Molière và Zola. Cho nên sẽ không có ǵ nghịch lư khi ta bảo Konjiki yasha có thể chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết tên White lily in the valley (Hoa huệ trong thung lũng) của một nữ tiểu thuyết gia Mỹ. Tuy nhiên gần đây giới nghiên cứu (Yasuda Yasuo, theo Tomita, sđd, tr. 50) lại cho rằng dịch phẩm Aibiki (Cuộc hẹn) mà Futabatei Shimei dịch từ văn Tourgueniev mới thực sự ảnh hưởng tới tiểu thuyết của Kôyô, nhất là chương bảy (cảnh rừng mơ ở Atami) và chương 8 (cảnh chia tay trong tủi hận trên băi biển giữa đôi t́nh nhân). Một lập luận khác (của Yamomoto Kenkichi, theo Tomita, sđd, tr. 50)  qui cho mô típ “ người đàn ông phục thù ” thấy trong Wuthering Height (Đỉnh Gió Hú) của Emily Bronte...như là điểm then chốt của tiểu thuyết ấy. Ngoài ra, ảnh hưởng của L’avare (Người biển lận) của Molière đối với Konjiki Yasha và trên Natsusode (Hạ tiểu tụ) “ Áo Mát Mùa Hè ”, một tác phẩm khác của ông, cũng được đề cập tới.

Cũng một thể ấy, trong Hakai (Phá giới) “ Xé Rào” của Shimazaki Tôson, người thầy giáo dấu tông tích thấp hèn của ḿnh cho đến một ngày chịu hết nỗi, phải bộc lộ điều đó ra khi cương quyết ra mặt chống đối thành kiến bất công của xă hội, có thể đă chịu ảnh hưởng của Confessions (Tự thú) của Jean–Jacques Rousseau, được dịch ra Nhật ngữ dưới nhan đề Sangeroku (Sám hối lục), một cái tên rất Phật giáo cũng như Phá giới vậy. Tomita cho biết năm 23 tuổi, Tôson đă có dịp đọc Confessions qua Anh ngữ cũng như đă được đọc cả “ Tội ác và trừng phạt ” của Dostoievsky.

Kiến thức Âu Mỹ của một nhà văn đời Taishô (1912-1926) như Akutagawa cũng bắt nguồn từ sách dịch. Katô Shuuichi [7] cho biết Akutagawa đă dẫn ra trong tác phẩm của ḿnh hết Strindberg, Nietzche, Tourgueniev, Tolstoi, Gogol, Dostoevski, Flaubert đến Baudelaire..từ những bài viết của họ được dịch qua tiếng Anh (ông tốt nghiệp đại học khoa Anh). Để viết quyển truyện châm biếm Kappa, ông phải hiểu biết về Jonathan Swift lẫn Samuel Butler. Kiến thức của Akutagawa trải rộng từ Shakespeare cho đến các nhà soạn kịch Ái Nhĩ Lan, từ Francois Villon đến Paul Valéry. Nhân vật trong truyện của ông biết Pierre Loti (trong Butôkai) và Whilhem Liebknetcht (trong Gengaku sanbô). Tuy ông không tiếp xúc trực tiếp với Âu Mỹ qua kinh nghiệm bản thân như Ôgai (Đức), Sôseki (Anh) hay Kafuu (Pháp và Mỹ) nhưng kiến thức của ông không v́ thế mà kém phần phong phú. Nó đă pha trộn với cổ điển Trung Hoa mà ông nằm ḷng, cũng như văn chương thời Edo (Bashô, Bakin...) mà ông thường dùng làm đề tài.

 

Bưu thiếp Nagai Kafuu gửi từ Mỹ về

 

2) Akutagawa và Yabu no naka

Ảnh hưởng của văn chương ngoại quốc đến một nhà văn Nhật Bản bằng một cách nhiều khi phức tạp hơn ta tưởng. Ví dụ Yabu no naka “Bốn bề bờ bụi” (1925) của Akutagawa, đă trở thành sườn của cuốn phim Rashômon bất hủ của đạo diễn Kurosawa Akira. Ta đă chỉ biết nó bắt nguồn từ Konjaku monogatari, (quyển 29, truyện 23, kể truyện một cặp vợ chồng nhà quan gặp cướp núi, sau khi bị cướp làm nhục trước mặt chồng, vợ lại nẩy ra ư muốn giết chồng) là một tác phẩm cổ điển của Nhật ra đời vào tiền bán thế kỷ 12.Thế nhưng, có chứng cứ khác cho ta thấy Akutagawa cũng đă mượn nguồn cảm hứng từ văn học Tây Phương để viết truyện nầy.

Yasuda Yasuo (theo Tomita, sđd) đă dẫn ra hai tác phẩm Âu Mỹ có thể liên quan đến nó : “ Chiếc nhẫn và quyển sách ” của Browning và “ Phục thù ” của Henry de Régnier [8]mà Mori Ôgai đă cho đăng trong Shokoku Monogatari (Chư quốc vật ngữ) “ Truyện Các Nước ”. Ông đă so sánh và phân tích từng điểm giống nhau giữa 2 truyện đó với Yabu no naka. Ngoài ra, vẫn theo Tomita, Yoshida Seiichi lập ra mối liên hệ giữa “ Con đường trăng sáng (The moonlight road) trong tập truyện “ Sao lại xảy ra được ? ” (Can such thing be ?) của nhà văn Mỹ Ambroise Pierce. Trong truyện của Pierce, nhân một vụ án mạng, ba người trong cuộc đă tŕnh bày sự việc liên quan tới họ và cuối cùng, người vợ là kẻ bị giết đă mượn lời đồng cốt để tŕnh bày sự thật về phía ḿnh. Thế nhưng theo Tomita Hitoshi (sđd, tr. 66) th́ Yabu no naka gần với “Người con gái của bá tước Ponthieu ”, một tác phẩm của Pháp thế kỷ 13 hơn là truyện của Pierce.Tác phẩm của Pháp kể truyện con gái của bá tước Ponthieu, v́ không con nên cùng chồng là Thibaut đi hành hương ở Santiago bên Tây Ban Nha để cầu tự, giữa đường gặp cướp.Thibaut dũng cảm chống cự nhưng rốt cục bị trói, chứng kiến cảnh cướp làm nhục vợ trước mắt. Khi cướp đi rồi, Thibaut nhờ vợ cởi trói hộ nhưng ngạc nhiên thay, lúc đó, vợ lại dùng thanh kiếm tên cướp bỏ lại định chém chết chồng. Thibaut khéo léo tránh và nhờ đó, dây trói trái lại được cắt đứt. Thibaut thoát hiểm, lôi vợ xuống núi và gửi vào tu viện làm ni, một ḿnh về nước. Bá tước biết chuyện, nhục nhă quá nên t́m đến nơi, đóng con gái vào thùng rồi quẳng xuống biển.

Có một sự t́nh cờ lạ lùng là Akutagawa đă viết tiểu luận tốt nghiệp đại học với nhan đề “ Nghiên cứu về William Morris[9] ”. Thêm một sự trùng hợp nửa là câu chuyện dịch qua tiếng Anh của “ Người con gái của bá tước Ponthieu ” đă được in trong toàn tập của Morris nữa. Vẫn chưa t́m ra bằng chứng xác thực xem Akutagawa đă đọc nó trong đó hay không nhưng chi tiết “ vợ muốn giết chồng ” của truyện Pháp nầy trùng hợp với mấu chính thấy trong truyện kể của Konjaku[10].

Cũng vậy, kinh nghiệm sống ở Pháp đă làm văn chương của Hori Tatsuo mang dấu ấn của Zola và Maupassant. Aru Onna (Một người đàn bà) của Arishima Takeo cũng mang h́nh ảnh của Anna Karenina. Trực tiếp hay gián tiếp, văn học ngoại quốc không ngừng ảnh hưởng tới văn học Nhật Bản từ những cuộc tiếp xúc đầu tiên.

C) Nga :

Người đă đưa văn học Nga vào nước Nhật là một nhà truyền đạo Chính Thống Giáo tên Nikolai. (1836-1912). Ông đến Nhật năm 1861 với tư cách viên chức phụ trách vấn đề tôn giáo ở Lănh Sự Quán Nga ở Hakodate, miền bắc nước Nhật. Ông nhiệt tâm t́m hiểu văn hóa Nhật và, mặt khác, để giới thiệu về nước ḿnh, trong tờ tạp chí “Tin tức nước Nga” mà ông xuất bản tại đây, ông đă cho đăng vào năm 1866 “Tội ác và trừng phạt” của Dostoievski (mà ông có gặp ở Nga năm 1880). Năm 1872, lệnh cấm đạo bị băi, ông xuống Tokyo và lập nhà thờ, truyền đạo. Ở lại Nhật Bản tất cả 48 năm, ông từng dạy 10 năm ở Đại Học Đông Kinh và mất ở đấy năm 75 tuổi.

Về phía Nhật Bản, người tiếp thu trực tiếp ảnh hưởng tác phẩm của Dostoievski là Futabatei Shimei (1864-1909). Ông từng nh́n nhận rằng cuốn Ukigumo “ Mây trôi dạt ” của ông viết theo phong cách của nhà văn Nga.

Người Nhật đánh giá Dostoievski rất cao và tính đến năm 2002, không kể các luận văn, đă có trên 100 cuốn sách bàn về văn chương của ông.

Sau đó, văn học Nga đă đến Nhật Bản với Tolstoi (qua trung gian Anna Karenina) các nhà tư tưởng xă hội của cuộc vận động  Narodoniki (ảnh hưởng tới thơ của Ishikawa Takuboku), Gogol, Tchekov và văn học chủ nghĩa Marx-Lenin (đối với phong trào văn học vô sản Puroretaria).

D) Anh :

1) Tiểu thuyết gia Anh và lư luận củaTsubo-uchi Shôyô :

Tsubo-uchi Shôyô (B́nh Nội, Tiêu Dao, 1859-1935), người mở đường cho tiểu thuyết Nhật Bản, nhất là về phương diện lư luận, đă gắn liền đời ḿnh với văn chương Anh. Giáo dục ông thu nhận, hoạt động sáng tác, phiên dịch, dạy học và nghiên cứu (ông là giáo sư Đại Học Waseda) đều dính líu đến tiếng Anh. Như ta biết, Shôyô sẽ là người đi tiên phong trong việc dịch thuật các kịch phẩm của William Shakespeare (1564-1616) về sau. 

Thời ông đi học, chính phủ Meiji mời rất nhiều giáo sư ngoại quốc đến dạy cấp cao đẳng. Trong số đó, đă có Ernest Fenollosa (1853-1908), người đầu tiên đă dịch tuồng Nô ra tiếng Anh hồi đầu thế chiến thứ nhất .Trong lúc ngồi trên ghế ban Anh Văn Đại Học Đế Quốc Đông Kinh, Shôyô đă dịch thoát The Bride of Lammermoor, “Cô dâu nhà Lammermoor,” (1819) của Walter Scott (1771-1832) thành ra tác phẩm Shunfuu Jôwa (Xuân phong t́nh thoại, 1880). Ông c̣n dịch The lady of the lake (1810) cũng của Scott thành Kojô no reijin (Hồ thượng lệ nhân, 1884)[11].

Giỏi như Shôyô thế mà cũng trượt môn thi của thầy Fenollosa và phải ở lại năm thứ 3. Shôyô c̣n theo học về Shakespeare với người thầy Mỹ William A.Houghton và nhân đó đào sâu về văn học Âu Mỹ để so sánh thế giới quan của họ qua nhân vật nữ hoàng Gertrude trong Hamlet với thế giới quan Nho Giáo của Nhật Bản. Ông cho rằng nhiệm vụ của người viết tiểu thuyết không phải là đem hành vi của Gertrude phán đoán với thước đo Nho giáo mà là tŕnh bày nó như hiện tượng tâm lư thấy nơi một con người. Theo H.. Yamauchi và H. Kawamoto[12], trong tác phẩm lư luận quan trọng của Shôyô, Shôsetsu shinzui “Tinh túy của tiểu thuyết”, ông đánh giá tiểu thuyết như một nghệ thuật có tầm vóc cao và rộng hơn cả hội họa, thi ca, kịch nghệ (một quan điểm mới lạ bị nhiều người đương thời dè bĩu) vốn tham khảo nhiều ư kiến của Walter Scott, Thomas Thomson (1768-1852) và George Moir (1798-1851) ghi lại trong quyển thứ 19 của Encyclopedia Britanica “Đại Anh bách khoa đại từ điển” in lần thứ tám.Việc đ̣i hỏi người viết tiểu thuyết phải mô tả cho được chân tướng của xă hội cũng căn cứ vào luận điểm của John Morley (1832-1923) trong “Luận về George Elliott”.

Năm 1884, Shôyô đă phóng tác tác phẩm Julius Ceasar (1599) của Shakespeare từ h́nh thức kịch qua tuồng người nộm Jôruri nhan đề  Jiyuu taitô yoha zeifuu “Tự Do Thái Đao Dư Ba Nhuệ Phong “ Sóng gió chung quanh lưỡi kiếm v́ tự do”. Truyện nói về việc Brutus ám sát nhà độc tài Ceasar vào thời cổ La-Mă v́ nghĩ Ceasar muốn bỏ chế độ nghị hội để lên ngôi hoàng đế. Sau đó đă xăy ra bao nhiêu biến loạn cho đến khi Antony phục thù được cho Ceasar. Vở tuồng nầy không có mục đích đưa lên sân khấu. Nhân đó, trong lời phụ lục, ông tỏ ra bi quan khi cho rằng việc dịch văn ngoại quốc là điều khó thể thực hiện nếu không nói là bất khả v́ có sự ngăn cách lớn lao về phương diện ngôn ngữ. Việc phiên dịch chỉ là một sự “hoán cốt đoạt thai” mà thôi. Tuy vậy, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu về Shakespeare và đă dịch Hamlet (in năm 1909) nhưng phải thú nhận “đă dùng thể thơ 5/7 âm và h́nh thức Kabuki lúc nào không biết” trong khi theo quan điểm của Lafcadio Hearn, một người hiểu biết cả về Nhật và Anh, th́ khi dịch Shakespeare, phải dịch theo văn nói. Trong “Sa ông kiệt tác tập” (23 quyển), ông c̣n dịch Romeo, Othello…nhưng măi đến khi dịch King Lear, năm 1912 và Julius Ceasar năm 1913 th́ số lượng văn nói trong bản dịch mới tăng thêm. Ngoài ra, cộng với 17 quyển chuyên về nghiên cứu nữa, ông đă để lại 40 tập nói về Shakespeare dưới cái tên “Tân tu Shakespeare toàn tập” in lần đầu từ năm 1933 đến1935.

2) Thomas Gray và thơ mới Nhật Bản

Năm 1882, bọn các công Tôyama Seichi, Yatabe Ryôkichi và Inoue Tetsujirô, ba giáo sư đại học Tôkyô đă dịch thơ Anh Mỹ đương thời ra tiếng Nhật với hy vọng đem một phong cách mới đến với thi ca Nhật Bản. Ngoài 5 bài là thơ sáng tác, tập Shintaishi-shô “ Tập ghi chép thơ h́nh thức mới” của 3 ông có 14 bài gồm có thơ của Tennnyson, Longfellow, độc thoại của Hamlet. Yatabe đă dịch “Hoài cảm bên mồ” (An elegy written in a country church yard) của Thomas Gray (1716-1771) mà thi sĩ đă viết trước ngôi mồ của một người vô danh trong nghĩa địa nhà thờ làng quê, với tâm sự “thấy người nằm đó biết sau thế nào”. Niềm hoài cảm của thi nhân u uất sống giữa đồng quê nước Anh như có cái ǵ gần gũi với tư tưởng vô thường Nhật Bản trong ḍng văn học ẩn sĩ tiêu biểu bằng Hôjôki (Phương trượng kư ). Có lẽ đó là lư do mà Yatabe đă dịch (có thể là phỏng dịch v́ ông đă thay “nhà thờ” trong bài thơ bằng “ngôi chùa”) và người Nhật yêu chuộng bài thơ nầy.

3) Tôkoku và chủ nghĩa lăng mạn Anh:

Mười năm cuối cùng của thế kỷ 19, rơ ràng là văn học Nhật Bản chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lăng mạn (romantism) đến từ Âu Châu. Shimazaki Tôson (Đảo Kỳ, Đằng Thôn, 1872-1943) chẳng hạn, đă dịch truyện thơ Venus and Adonis “ Nữ thần Venus và nam thần Adônis ” (1593) của Shakespeare ra Kasô “ Cỏ mùa hạ “ (1892) rồi dùng lại trong sáng tác Tenba “ Ngựa trời ” (1897) của ḿnh. Khi viết Shuufuu no Uta “ Khúc hát gió thu ”, ông đă lấy hứng từ Ode to the west wind “ Khúc hát gửi gió tây ”(1819) của Percy Bysshe Shelley (1792-1822). Nhà văn Kunikida Doppo (1871-1908) lúc tả phong cảnh vùng đồng quê trong Musashino “ Cánh đồng Musashi ” (1901) hay về sự giao cảm với chim chóc trong Haru no Tori “ Chim xuân ” (1904) cũng chịu ảnh hưởng t́nh yêu thiên nhiên thấy qua tác phẩm của hai anh em William Wordsworth (1770-1850) và Dorothy Wordsworth (1771-1855). 

Nhà thơ và b́nh luận gia Kitamura Tôkoku (Bắc Thôn, Thấu Cốc, 1868-1894), tự sát lúc chưa đầy 26 tuổi, có để lại tập thơ Sojuu no shi “ Thơ của người tù nước Sở ” (1889) không lấy cảm hứng từ điển cố Trung Quốc mà từ văn chương Anh  tức tác phẩm The Prisoner of Chillon “ Người tù ở Chillon ” (1816) của nhà thơ Anh quốc Lord Byron (Byron, George Gordon, 1788-1824). Bài thơ nói về nhà ái quốc Francois de Bonnivard, 1496-1570, v́ chiến đấu chống chế độ hà khắc nên bị giam cầm trong thành Chillon bên bờ hồ Leman. Cần nhớ rằng, trước khi tập thơ ra đời ít lâu, Nhật Bản đang có phong trào đ̣i dân quyền (1885) và chính phủ Meiji đă không ngần ngại bắt giam nhiều nhà vận động.

Một tác phẩm khác của Tôkoku, Hôraikyoku (Bồng Lai Khúc, 1891), nói về người tù không sống trong ngục tối nhưng trong nhà tù cuộc đời cũng mượn ư từ vở kịch Manfred (1817) của Lord Byron. Nếu khung cảnh câu truyện của nhân vật Manfred là ngọn Mont Blanc th́ khung cảnh của nhân vật của Tôkoku là núi Bồng Lai (Phú Sĩ). Cả hai đều muốn xa lánh cơi đời để đi cầu đạo ở một thế giới lư tưởng.

Người ta thấy Tôkoku khi viết nghị luận có chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu việt (transcendentalism) đề xướng bởi triết gia Mỹ Ralp Waldo Emerson (1803-1882), người đă truyền bá triết học của Kant trên đất Mỹ. Chủ nghĩa siêu việt chủ trương con người phải chấp nhận quyền lực thần linh có tính phàm thần trong cuộc sống hữu hạn và hướng về một luân lư trên cơ sở chủ nghĩa lư tưởng và chủ nghĩa cá nhân mà mục tiêu là cải thiện xă hội. Nói khác đi, Tôkoku đă có phần nào gián tiếp chịu ảnh hưởng của thi nhân chủ nghĩa lăng mạn Anh Thomas Carlyle (1795-1881), người mà Emerson hầu như sùng bái.

4) Nước Anh và Natsume Sôseki :

Văn hào Natsume Sôseki (1867-1916) là học giả Anh ngữ trước khi bắt đầu viết văn năm 1905. Ông đă du học 2 năm ở London (9/1900-1/1903), “ hai năm hết sức khó chịu”. Thế nhưng không thể nói rằng nước Anh không để lại dấu vết trong ông,

Thuở nhỏ, ông chuyên về Hán văn, khi vào Dự Bị Đại Học (1884) v́ bắt buộc học sinh ngữ nên đă được các giáo sư Anh Mỹ như James Murdoch (1856-1912) và James Main Dixon (1856-1933) đào tạo.Trong thời gian ở đại học ông đă nghiên cứu về thi nhân người Mỹ Walt Whitman, người mà phong cách được ông đem so sánh với Matsuo Bashô.

Trong thời gian ở Anh, Sôseki có đi nghe giáo sư W. P. Ker (1855-1923) giảng ở Đại Học London. Những bài giảng của giáo sư Ker có ảnh hưởng đến tác phẩm của ông về sau nhưng, lúc đó, chứng u uất sầu năo làm ông không thích ứng được với xă hội Anh và cảm thấy toàn cái khó khăn của một người hấp thụ một nền văn hóa truyền thống Nhật trong việc nghiên cứu văn chương Anh.

Năm 1903, Sôseki về nước, dạy ở Đại học Đế Quốc Đông Kinh, thế chỗ Lafcadio Hearn (1850-1904). Ông viết nhiều luận thuyết văn học và chủ trương cái quan trọng cần để viết văn là tri thức, (tượng trưng bằng F) sau đó mới là t́nh cảm (f). Ông c̣n cho rằng để hiểu một áng văn, phải sử dụng tất cả tri thức xă hội để phân tích v́ văn chương dính liền với bối cảnh xă hội. Đó cũng là lối nh́n của Leslie Stephen (1832-1904) trong Văn học và xă hội Anh thế kỷ 18 (English literature and society in the eighteenth century) mà ông chịu ảnh hưởng.

Trong khoảng mười năm trước khi qua đời (4/1907-12/1916), Sôseki là một kim tự tháp in bóng trên nền trời văn học Nhật. Tác phẩm nhận ảnh hưởng văn chương Anh không phải là ít. Ví dụ Rondon tô “Tháp Luân Đôn” lấy cảm hứng từ The Tower of London (1840) của W.H. Ainsworth (1805-1882) hay Kaarurairu no Hakubutsukan “Bảo tàng viện Carlyle” cho ta thấy t́nh cảm của ông đối với nhà thơ Anh Thomas Carlyle (1795-1881). Nguồn sáng tác của ông c̣n đến từ các tác phẩm văn học về kỵ sĩ đạo (chivalry) như La mort d’ Arthur “Cái chết của vua Arthur” của Thomas Malory (chết năm 1471) hay The Idylls of the King “Những t́nh khúc của quân vương” của nhà thơ Alfred Tennyson (1809-1892) đối với  Maboroshi no tate “Cái thuẩn huyền ảo” trong đó ông bàn về t́nh yêu của kỵ sĩ thời Trung Cổ.

Ngay cả Wagahai wa neko dearu “Mèo chúng tớ”, một cuốn truyện không có truyện, trong đó giai cấp nhàn hạ và ưa biện luận dây dưa được tô vẻ ra dưới mắt quan sát mĩa mai của một con mèo, giống như nội dung nhiều tác phẩm Anh nhưng gần gũi nhất có lẽ là The Life and opinion of Tristam Shandy “Cuộc đời và ư kiến của Tristam Shandy” (in năm 1759-67) của Laurence Sterne (1713-1768).

H.Yamauchi và H. Kawamoto (sđd, tr. 42) c̣n nói về ảnh hưởng của Hamlet qua h́nh ảnh nhân vật Ophelia và họa phẩm vẽ Ophelia của J.E.Millais (1829-1896) đối với Kusa Makura “Gối cỏ”, “một tiểu thuyết bằng thơ haiku” của ông. Gubinjinsô (Ngu mỹ nhân thảo) “Hoa thuốc phiện”, đăng báo 1907, in năm 1908) cũng có những nhân vật giống như những nhân vật trong tác phẩm của George Meredith (1829-1909).

Cho nên, dầu Sôseki đă bỏ dạy tiếng Anh để đi làm báo viết văn, văn học Anh hấp thụ ở nhà trường đă thấm nhuần trong xương thịt của ông để trở thành chất liệu không thể thiếu được cho tác phẩm vậy.

C) Pháp:

Nếu không kể Jules Verne th́ ảnh hưởng của Pháp đối với Nhật Bản buổi đầu mạnh mẽ nhất có lẽ trong lănh vực thi ca. Những nhà thơ được giới thiệu có Baudelaire, Verlaine, Mallarmé và Maurice Maerterlinck (1862-1949), thi nhân người Bỉ diễn đạt bằng tiếng Pháp, giải Nobel văn chương. Nh́n chung họ là những nhà thơ theo khuynh hướng tượng trưng hay thần bí. Những dịch giả tài ba như Ueda Bin (trong Kaichôon, từ năm 1905), Nagai Kafuu (trong Sango-shuu, 1915), Horiguchi Daigaku (trong Gekka no ichigun, 1925) đă đưa họ đến với độc giả Nhật Bản.. Những bài thơ được nhắc nhở nhiều ở Nhật là Sonnet của Mallarmé hay Chanson d’Automne của Verlaine… Ảnh hưởng của họ đến các thi nhân Nhật Bản hàng đầu như Kanbara Akiake hay Kitahara Hakushuu không phải là nhỏ.

     

       Victor Hugo                            Alexandre Dumas Père

Các nhà văn lớn của Pháp như Honoré de Balzac, Stendhal, Anatole France, Alphonse Daudet, Emile Zola, Guy de Maupassant th́ đă đành nhưng có một tiểu thuyết gia người Pháp được các nhà văn Nhật Bản đặc biệt yêu chuộng[13]: Raymond Radiguet (1903-1923). Ông được đánh giá như là một “quỉ tài” v́ ông mất lúc mới hai mươi tuổi.. Những người chịu ảnh hưởng của ông đến từ những chân trời khác nhau từ Yokomitsu Riichi, Mishima Yukio, Hori Tatsuo, Sakaguchi Ango cho đến Ôoka Shôhei.

D) Đức:

1) Schiller và Nhật Bản:

Tác phẩm Đức đầu tiên được dịch ra tiếng Nhật và phóng tác dưới thời Meiji là Wilhelm Tell của Friedrich Schiller (1759-1805). Trong 4 bản dịch và phóng tác th́ đă có ba lấy tựa đề có chữ “tự do” ví dụ “ Cánh cung của độc lập tự do công chính”, “Truyện tự do của Triết Nhĩ (Tell)” hay “Người hùng của tự do” v.v…Việc nhắc đến hai chữ “tự do” trong tựa sách là một điểm cần chú ư.

Ngày nay, người ta đ̣i hỏi việc dịch thuật phải trung thực nhưng vào thời Meiji, không ai khó khăn đến mức đó, có thể thêm thắt học lược bỏ tùy theo thấy cần thiết hay không. Trong đoạn tả Tell xuất hiện chỉ v́ ḷng nhân đạo mà giúp anh chàng Thụy Sĩ v́ giết quan lại người Áo phải trốn qua bên kia hồ giữa sóng to gió lớn, dịch giả đă cho xen vào một đoạn diễn văn của Tell phát biểu rất hấp dẫn theo thể 5/7 để tuyên truyền cho dân chủ tự do. Có điều là đoạn nầy đă đi ra khá xa ngoài nguyên tác.

Sở dĩ có hiện tượng đó v́ dưới thời Meiji, chính phủ đă hứa cho bầu quốc hội từ 1881 mà măi đến 1890 nghĩa là 9 năm sau mới thực hiện lời hứa.Trong dân chúng, hai chữ “tự do” được phổ biến rộng răi nên không có ǵ lạ khi người dịch Wilhelm Tell đă nhấn mạnh đến hai chữ ấy trong tác phẩm.

2) Ảnh hưởng của Goethe:

Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) được người Nhật biết đến lần đầu tiên qua dịch phẩm Reineke Fuchs “Con chồn Reineke”. Goethe đă mô tả con chồn Reineke ranh mănh giảo hoạt trong thế giới loài vật, biết đánh lừa cả vua sư tử.Tuy nhiên tác phẩm phúng thích nầy chỉ được Inoue Tsutomu (1850-1928), một nhà dịch thật đầu thời Meiji chuyển ngữ từ tiếng Anh sang với một cách dịch hết sức Nhật hóa. Đó là khuynh hướng chung của người dịch thời ấy, bởi v́ tŕnh độ của độc giả c̣n chưa cao để thông cảm được những cái tinh tế của văn học Tây Phương.

Tác phẩm văn xuôi Die Leiden des Jungen Werthers “Nỗi khổ tâm của chàng trẻ tuổi Werther” của Goethe cũng là tác phẩm gây chấn động trong giới độc giả trẻ thời Meiji. Giới trí thức như nhà b́nh luận Takayama Chogyuu (Cao Sơn Xư Ngưu, 1871-1902), các nhà văn Shimazaki Tôson, Ozaki Kôyô… đều đánh giá cao khi đọc bản dịch qua Anh văn. Người dịch thẳng từ tiếng Đức lần đầu là học giả Hán văn Kubo Tenzui (Cữu Bảo, Thiên Tùy, 1875-1934) với sự cộng tác của một người bạn giỏi tiếng Đức.

3) Truyện nhi đồng của Grimm:

Không những tác phẩm của Goethe và Schiller, tập truyện nhi đồng của hai anh em Jakob Grimm (1775-1863) và Wilhelm Grimm (1786-1859) nhan đề Kinder–und Hausmarchen “Truyện nhi đồng của trẻ em và gia đ́nh” với Cô Bé Lọ Lem (Aschenputtel), mà ai cũng nghe kể, đă được phổ biến rất sớm ở Nhật. Kan Ryohô (Quản, Liễu Pháp,1857-1936) đă dịch vào năm 1887 dưới nhan đề “Tập truyện cổ thần tiên Tây Phương” nhưng ông đă lược bỏ những cảnh nào xem ra tàn nhẫn trong nguyên tác.

4) Một dịch giả tên là Mori Ôgai:

Nhà văn đầu đàn thời Meiji, Mori Ôgai (Sâm, Âu Ngoại, 1862-1922) cũng là một nhà dịch thuật không ngừng nghỉ. Các dịch phẩm của ông đă ảnh hưởng đến các nhà văn lớp sau. Ông đă dịch không những tác phẩm Đức mà cả những tác phẩm được biết qua bản Đức văn nhờ sự hiểu biết ngôn ngữ nầy mà ông đă dùi mài trong thời gian du học.Sau khi từ Đức về năm 1889, ông đă cùng bạn bè thành lập nhóm Shinseisha (Tân thanh xă) “Tiếng nói mới” và cho ra mắt tập thơ dịch Omokage “Vang bóng” trong đó đă có thơ của Heinrich Heine (1797-1856) và Goethe. Bài thơ của Goethe nhan đề “Khúc hát của nàng Mignon”, một mỹ nhân bạc mệnh, thấy trong tiểu thuyết mang tên Wilhelm Meister Lehrjahre “Thời học việc của Wilhelm Meister”, với h́nh thức 10/10 âm tiết khác với thể 5/7 truyền thống của người Nhật.

Faust (1774-1831), kịch thơ gồm hai tập của Goethe nói về cuộc đời đầy hứng thú, bi kịch trong t́nh yêu cũng như cuộc đổi chác giữa học giả Faust và ác quỉ Mephisto là tác phẩm được nhiều người dịch, trong đó có Ozaki Kôyô (Vĩ Kỳ, Hồng Diệp) dịch từ tiếng Anh. Shimazaki Tôson cũng rất rành rẽ về Faust. Ôgai đă dịch từ nguyên văn tiếng Đức theo lời yêu cầu của Bộ Giáo Dục và hoàn tất năm 1913. Khi xuất bản, sách bán rất chạy và gây được tiếng vang lớn.

5) Ảnh hưởng văn học Đức trên các nhà văn nhà thơ khác:

Theo như chính tác giả nh́n nhận, Futon “Tấm Nệm Giường” (1907) của Tayama Katai bắt nguồn từ vở kịch Einsame Menschen “Những người lặng lẽ” của Gerhart Hauptmann (1862-1946). Mối t́nh của nhà văn trung niên Takenaka Tokio với cô gái trẻ Yoshiko trong Futon cũng chẳng khác ǵ mối t́nh của học giả Johanes với nữ sinh viên Anna trong kịch Hauptmann. Câu truyện nầy cũng là kinh nghiệm bản thân của nhà soạn kịch Hauptmann, hơn nữa, có sự trùng hợp lư thú là năm Katai 34 tuổi ông cũng gặp một cô gái mới17 ái mộ văn ḿnh, đến nhà chơi rồi ở lại luôn. Ông c̣n gọi cô ấy là “Anna của tôi”.

Về thơ th́ Susukida Kyuukin (1877-1945), nhà thơ thuộc khuynh hướng tượng trưng đời Meiji, trong tập thơ Hakuyôkyuu (Bạch Dương Cung) “Cḥm sao Bạch Dương” có bài thơ “Nhớ cố hương” (Bôkyô no shi =Vọng hương thi, 1906) nói về vẻ đẹp bốn mùa thay đổi của vùng Kyôto, quê hương ông. Bài nầy được làm ra sau khi đọc “Khúc hát của Mignon”. Điều đó cho ta thấy thi nhân c̣n có thể vô t́nh chịu ảnh hưởng thơ ngoại quốc khi kiến tạo thế giới thơ của riêng ḿnh.Những cảnh chim kêu, ve ngâm, các cô gái đi kiếm cá ayu trên ḍng sông, cảnh uống rượu cười nói, chèo thuyền thưởng hoa thấy trong thơ Kyuukin không có ǵ liên quan đến cảnh vật nước Đức của Goethe.

Thơ Heinrich Heine (1790-1856) được đặc biệt yêu chuộng từ thời Meiji. Cả Takayama Chogyuu (Cao Sơn, Xư Ngưu) và Yoshano Tekkan (Dữ Tạ Dă, Thiết Cán, 1873-1935) đều ái mộ thơ ông. Năm 1901, Onoue Saishuu (Vĩ Thượng, Sài Chu, 1876-1957) đă dịch Lorelei ra tiếng Nhật , tạo được phong trào đọc thơ Heine vào thời đó. Tuy Heine c̣n là một nhà thơ có ư hướng phê phán xă hội nhưng h́nh ảnh của Heine ở Nhật chỉ là một phẩm nhà thơ trữ t́nh đă làm cho họ cảm động nhỏ lệ.

 

6) Những đóng góp của Ueda Bin (Thượng Điền, Mẫn, 1874-1916):

Nhà phiên dịch tài hoa Ueda Bin

Thơ Đức cũng được Ueda Bin dịch nhiều trong tập thơ dịch Kaichôon “Hải triều âm” (1905) trong đó có những thi nhân Đức ít người biết tiếng như Carl Busse (1872-1918).

Xin mở một dấu ngoặc nói về nhà dịch thuật tài ba này. Ông người Tôkyô, tốt nghiệp khoa Anh Đại Học Tôkyô. Sau khi trở thành giảng sư ở đây, ông sang các nước Âu Mỹ và trở về nước, tận dụng khả năng ngữ học (Anh, Pháp, Ư, Đức, Hy Lạp, La Tinh) của ḿnh để giới thiệu văn chương ngoại quốc cho độc giả Nhật Bản. Thơ ông dịch đă là nguồn cảm hứng cho Kitahara Hakushuu và Miki Rôhô (Tam Mộc, Lộ Phong, 1889-1964). Ông cũng là nhà thơ và nhà b́nh luận văn học.

Nhà viết kịch Kubo Sakae (Cữu Bảo, Vinh, 1900-1958) khi công diễn Yoshino no Tôzoku “Đạo tặc vùng Yoshino”(1933) cũng cho biết rơ đă phỏng theo Die Rauber “Bọn cướp” của Schiller. Thuở c̣n đi học, Kubo đă thích Schiller dù khi đọc nguyên tác Die Rauber, ông phải lật từ điển tra từng chữ. Sau đó, không bằng ḷng với phóng tác, ông đă dịch nó ra Nhật ngữ vào năm 1936.

Có thể Waga hai wa neko dearu của Natsume Sôseki c̣n chịu ảnh hưởng của Lebensansichten des Kater Murr “Nhân sinh quan của chú mèo đực tên Murr” của Ernst Theodor Amadeus Hofmann (1762-1822). Điều nầy đă được nói ra ngay lúc Natsume c̣n sống. C̣n Hugo von Hofmansthal (1874-1929) th́ thơ ông ảnh hưởng đến nhiều người trong số đó có Kinoshita Mokutarô ((1885-1945), Nagai Kafuu, Tanizaki Jun-ichirô. Akutagawa cũng thú nhận đă cảm động rớt nước mắt khi đọc thơ Hofmanthal (xem đoản văn Ôkawa no mizu,  “Nước gịng sông cái”, 1912) và khi viết Futatsu no Tegami ”Hai bức thư”, ông đă mượn ư từ Andeas Thameyers letzter Brief “ Bức thư cuối cùng của Andreas Thameyers” do Arthur Smitzler (1862-1931) viết. Hori Tatsuo (1904-1953), Tachihara Michizô (Lập Nguyên, Đạo Tạo, 1914-1939), Itô Shizuo (Y Đằng Tĩnh Phu, 1906-1953), các nhà thơ thuộc nhóm Shiki (Tứ quí) đều tiếp nhận ảnh hưởng của Rainer Marie Rilke (1875-1926). Trong khi Mishima Yukio yêu thích Thomas Mann (1875-1955) th́ Abe Kôbô lại ngă theo phong cách viết của Franz Kafka (1883-1924).

Văn học sử Đức cũng được giới thiệu cho người Nhật ngay từ thời Meiji. Trước tiên phải nói đến tập kịch bản Đức do Hisamatsu Teikô (Cữu Tùng, Định Hoằng, 1857-1913) thu thập và dịch năm 1887, sau đến tập văn học sử Đức do Shibue Tamotsu (1957-1930) giới thiệu cho độc giả Nhật những tên tuổi lớn như Lessing, Goethe, Schiller…

Nh́n chung, việc giới thiệu các sáng tác từ tiếng Đức cũng như văn học sử Đức từ thời Meiji đă đóng góp vào việc phát triển tự do dân quyền ở Nhật. Một người như Takagi Isaku (Cao Mộc, Y Tác), tác giả tập nghiên cứu nhan đề Goethe (1893) đă xem thi nhân Goethe và anh hùng Napoléon là hai nhân vật quan trọng nhất của thời cận đại nhưng chính Goethe mới “là người dạy cho ta (người Nhật) thế nào là can đảm và b́nh đẳng”.

E) Tây Ban Nha:

Tác phẩm Tây Ban Nha đă được dịch ra tiếng Nhật tự thời Azuchi Momoyama (1568-1600). Năm 1592 tức sau khi Hideyoshi Toyotomi thống nhất thiên hạ, đă có một tác phẩm được in ra bằng chữ La Mă ở Kyuushuu. Đó là Fides no Doxi c̣n gọi là Shinjinroku. có nghĩa là “Bài giảng của nhà truyền giáo”. Quyển sách với mục đích dạy giáo lư nầy đă dịch từ nguyên tác của thầy ḍng Dominicain tên Luis de Grenada (1504 -1588). Ông này c̣n có một tác phẩm khác nhan đề

Guida de pecador (1556-1557) “ Dẫn dắt kẻ phạm tội” được phiên trực tiếp qua âm Nhật thành Giyadopekadoru.

Đến đời Meiji, tác phẩm bằng tiếng Tây Ban Nha nổi tiếng nhất được giới thiệu cho người Nhật không ǵ khác hơn Don Quixote (1605-1615) của Miguel de Cervantes Saavedra (1547-1616). Nó được dịch thành “Độn Hỷ Ông kỳ hành truyện” (Truyện về hành vi lạ lùng của ông Don Ki” vào năm 1885. Tuy nhiên, từ năm 1613 trong tập đoản thiên Mohan Shôsetsu-shuu (Novelas Ejemplares) “Tập đoản thiên mẫu mực” có đăng hai tác phẩm khác là “Kết hôn trá h́nh “ (El casamiento enganoso) và “Sức mạnh của huyết tộc” (Le fuerta de sangre). Don Quixote với nội dung phúng thích lớp kỵ sĩ suy vi, có giá trị giáo dục đối với người đ ương thời nhưng hai tác phẩm kia chỉ được người dịch giới thiệu như một chuyện có thật và khai thác khía cạnh ly kỳ của nó thôi .

F) Văn Học Châu Mỹ La Tinh :

Văn học Châu Mỹ La Tinh chỉ đến Nhật thực sự từ thập niên 1970 nghĩa là trên 30 năm nay thôi. Dầu có nhiều ngườI Nhật di dân đến Brazil, Argentine, Peru nhưng Nhật Bản chỉ chú ư đến đời sống tinh thần của khu vực này từ khi có những biến chuyển chính trị năm 1959 của cuộc cách mạng Cuba. Trong thập niên 1950, thơ của Pablo Neruda ( 1904-1973) và văn Jorge Luis Borges (1899-1986) được độc giả biết đến và tán thưởng, trong thập niên 1960, đôi bài thơ mang màu sắc chính trị được dịch ra trong các tuyển tập thơ hay quốc tế nhưng nói chung chưa để lại ấn tượng sâu sắc. Bất đồ sau đó, với sự xuất hiện của những cây viết mới được sách báo Âu Mỹ giới thiệu, một phong trào ái mộ văn học Châu Mỹ La Tinh đă thành h́nh ở Nhật Bản.

Văn học Châu Mỹ La Tinh viết bằng hai thứ tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đă xuất phát từ thế kỷ 16 nhưng chỉ là mô phỏng Âu Mỹ. Măi đến giai đoạn 1880-1920 mới có những cây bút trẻ ra đời qua cuộc vận động cách tân (Modernisimo) và trên con đường đó, văn học đă khai hoa với những nhà văn nhà thơ phần nhiều lưu vong ở Âu Châu như Miguel Angel Asturias (1899-1947), Alejo Carpentier (1904-1980), Jose Luis Borges (1899-1986). Asturias viết El senor presidente “Ngài tổng thống” (1946) phê phán chính quyền độc tài, có tiếng vang lớn, sau đoạt giải Nobel văn chương năm 1967. Carpentier cho ra đờI vào năm 1946 tác phẩm El reine de este mundo “ Vương quốc cuộc đời”, tŕnh bày hiện thực kinh dị của xă hội Mỹ La Tinh, một hiện thực không thua ǵ thế giới huyễn tưởng thấy trong tác phẩm của những nhà văn siêu thực Âu Châu mà ông đi lại. Borges đi theo một con đường khác. Sinh trưởng trong gia đ́nh thượng lưu ở Buenos Aires, ông bắt đầu bằng thơ, sau đó bước qua lănh vực tiểu thuyết. Tác phẩm tiêu biểu có Ficciones “Tập truyện truyền kỳ” (1944) và El Aleph “Chữ A” (1949), khai triển những chủ đề liên quan đến các ư niệm như thời gian, vĩnh cữu, cái chết, mộng, mê cung…

Ba nhà văn này đă gây nên phong trào yêu chuộng văn học Châu Mỹ La Tinh ở Nhật. Sau các ông, đến lượt nhà văn người Peru, Mario Vargas Llosa ( sinh năm 1936), với La ciudad y los perros “Thành phố và bầy chó” (1962) tŕnh bày vấn đề bạo lực dă man ở một học viện quân sự. Ngoài ra c̣n phải kể đến nhà văn người Uruguay là Juan Carlos Onetti (1909-1994) , nhà văn Mehico là Juan Rulfo (1918-1986), những người đă khẳng định sự hiện hữu của văn hóa Châu Mỹ La Tinh.

Trong số những nhà văn của vùng đất này, người được coi như đóng góp nhiều hơn cả có lẽ là Gabriel Garcia Marquez (sinh năm 1928), người gốc Columbia giải Nobel văn chương 1982, với ”Trăm năm cô đơn” (1967), một tác phẩm ăn khách không tiền khoáng hậu của một tác giả Mỹ La Tinh. Tác phẩm vẽ nên khung cảnh với những thảm trạng tiêu biểu cho một xă hội Mỹ La Tinh bất cứ ở đâu. Thủ pháp pha trộn yếu tố hiện thực với siêu tự nhiên của ông được gọi là “hiện thực huyền ảo” (magic realism), đă trở thành một nét đặc trưng của vùng đất nầy.

Các nhà văn Nhật Bản trước tiên đă biết đến tác phẩm văn học của Châu Mỹ La Tinh qua tiếng Pháp. Họ là Shinoda Hitoshi, Nakamura Shin-ichirô, Shimizu Tôru, Tsuji Kunio, Ôe Kenzaburô. Chúng đă được dịch rất nhiều trong các tạp chí ở Nhật trong niên đại 1960 và sau khi Asturias đoạt giải Nobel th́ sách dịch về họ bắt đầu ra đời.”Ngài tổng thống” (1971), “Trăm năm cô đơn” (1972)…được nhiệt liệt tán thưởng nên đến khoảng 1977 đă bắt đầu có những bộ tùng thư về văn học Mỹ La Tinh trên thị trường. Đáng kể nhất là bộ của nhà xuất bản Shuueisha gồm 18 quyển (1983-84) và bộ của nhà xuất bản Gendai Kikakushitsu 15 quyển (1992-96).

Như thế, ta thấy Nhật Bản đă tiếp thu văn học Tây Phương rất sớm và tỏ ra có tính hiếu kỳ muốn biết người để biết ḿnh.Việc phiên dịch các tác phẩm ngoại quốc nằm trong quĩ đạo quốc sách “thoát Á nhập Âu” vị kỷ của buổi đầu nay đă nới rộng ra không biết bến bờ. Không nói cũng hiểu, nó đă làm phong phú cho hoạt động của giới sáng tác và sự thưởng ngoạn của độc giả Nhật Bản.

 

TIẾT II : GIAO LƯU VĂN HỌC VỚI TRUNG QUỐC HIỆN ĐẠI :

Đối với Trung Quốc thời cận kim và hiện kim, giao lưu văn học giữa hai nước Trung Nhật trong lúc đầu hầu như đơn phương và chỉ thể hiện qua việc Nhật Bản đón tiếp các du học sinh và người lưu vong trong những năm trước thế chiến thứ hai cũng như kiểm soát hoạt động của nhà văn Trung Quốc trong vùng chiếm đóng thời Chiến Tranh Trung Nhật (1937-45). Sự giao lưu hầu như hoàn toàn gián đoạn trên mười năm trời, thời gian mà cuộc Văn Hóa Đại Cánh Mạng kéo dài (1966-77). Nó chỉ trở thành song phương từ khi hai nước Nhật Trung b́nh thường hóa mối quan hệ ngoại giao vào năm 1978, lúc Hiệp Ước Ḥa B́nh và Hữu Nghị được phê chuẩn tại Bắc Kinh. Do đó, nếu so sánh ảnh hưởng của Âu Mỹ th́ đối với Nhật Bản, quan hệ văn học với Trung Quốc hiện đại không có là bao tuy không phải không có điều đáng đề cập đến.

A)    Giai đoạn trước 1978 :

Giai đoạn trước 1978 có thể chia làm vài phân đoạn :

- Dưới triều Thanh và đầu thời Dân Quốc (1896-1937).

- Thời chiến tranh Trung Nhật (1937-1945) và nội chiến Quốc Cộng (1945-49).

- Ba mươi năm đầu dưới thể chế Cộng Ḥa Nhân Dân (1949-78).

 

1) Dưới triều Thanh và đầu thời Dân Quốc (1896-1937).

        

     Lương Khải Siêu                                     Lỗ Tấn (Chu Thụ Nhân)

Năm 1896, có 13 sinh viên Trung Quốc nhận học bổng đến Nhật (sinh viên Trung Quốc sang Mỹ từ năm 1847). Đến năm 1935 th́ ở Nhật có trên 8.000 sinh viên Trung Quốc, cả nam lẫn nữ.[14] Trong số những sinh viên và người lưu vong hoạt động trong lănh vực văn hóa thời này phải nhắc đến những tên tuổi lớn như Khang Hữu Vi (1858-1927), Lương Khải Siêu (1873-1929). Hai ông qua sau chính biến năm Mậu Tuất (1911). Ngoài ra c̣n có nữ sĩ Trương Mạn Thù (1884-1918) tác giả Đoạn hồng linh nhạn kư sang năm 1898, Chu Thụ Nhân tức Lỗ Tấn (1881-1936) tác giả A Q chính truyện sang năm 1902. Trong khoảng thời gian 1898-1899, chính Lương Khải Siêu đă bỏ công dịch sang Trung văn những tiểu thuyết chính trị Nhật Bản tranh đấu cho tự do dân quyền như Kajin no kigu (Giai Nhân Chi Kỳ Ngộ, 1885-97) của Tôkai Sanshi (Đông Hải Tản Sĩ) và Keikoku Bidan (Kinh quốc mỹ đàm, 1883-84) của Yano Ryuukei (Thỉ Dă, Long Khê). Vào năm 1902, trên tờ Tân Tiểu Thuyết của người đồng hương xuất bản ở Yokohama, Lương đă viết bài nghị luận “ Bàn về liên hệ giữa tiểu thuyết và chính trị ”. Điều này phản ánh cái nh́n mới của người Trung Quốc đối với bộ môn tiểu thuyết, mặc dù hai chữ “ tiểu thuyết ” đă được nhắc đến trong Ngoại Vật Biên của Trang Tử hai thế kỷ trước Công Nguyên nhưng cho đến lúc đó vẫn bị khinh thường.

Với cái nh́n mới như thế, viết tiểu thuyết đă dấy lên thành một phong trào tại Trung Quốc với sự ra đời của Quan trường hiện hành kư của Lư Bá Nguyên, Lăo tàn du kư của Lưu Ngạc... Chúng được đánh giá như những tiểu thuyết nổi tiếng cuối đời Thanh có tính phê phán xă hội. Không những vậy, Trung Quốc bắt dầu dịch hay phóng tác tiểu thuyết Tây Phương và Nhật Bản. Đó là trường hợp Trà Hoa Nữ (La Dame aux Camélias) của Alexandre Dumas Fils hay kịch Shakespeare, tiểu thuyết Dickens, truyện Tokutomi Roka, hồi kư Sherlock Holmes.

Sinh viên Trung Quốc ở Nhật thời đó chia làm hai phái : bảo hoàng và cách mạng. Bên cạnh những sinh viên Trung Quốc du học ngoại quốc nổi tiếng như Hồ Thích (1891-1962, Mỹ), Từ Chí Ma (1897-1931, Mỹ), Lâm Ngữ Đường (1895-1976, Mỹ và Đức), Ba Kim (sinh năm 1904, Pháp), Lăo Xá (1899-1966, Anh), sinh viên Trung Quốc đến Nhật cũng đông và hoạt động không thua kém. Nhiều người sẽ đóng vai tṛ quan trọng trên văn đàn về sau. Chẳng hạn ba anh em họ Chu (Chu Thụ Nhân tức Lỗ Tấn, Chu Tác Nhân và Chu Kiến Nhân), Quách Mạt Nhược (1892-1978), Trương Tư B́nh (1893-1959), Úc Đạt Phu (1896-1945), Thành Phảng Ngô (1897-1984), Điền Hán (1898-1968).

Trong khoảng thời gian này, những nhà văn Nhật được dịp ghé thăm Trung Quốc có Natsume Sôseki (đă viếng thăm Hương Cảng, Ngô Tùng vào năm 1900), Akutagawa Ryuunosuke (Bắc Kinh, 1921, đă gặp và trao đổi với Hồ Thích) cũng như nhà thơ Kaneko Mitsuharu (Kim Tử, Quang T́nh, 1895-1975) (Thượng Hải, 1928)

2) Thời chiến tranh Trung Nhật (1937-1945) nội chiến Quốc Cộng (1945-49) :

Trong thập niên 1930, trên văn đàn Trung Quốc đă xuất hiện nhiều tài năng mới như Mao Thuẩn (1896-1981), Lư Cật Nhân (1891-1962), Trương Hận Thủy (1895-1967)... và cũng là giai đoạn Lăo Xá, Ba Kim hoạt động mạnh mẽ. Nhưng chẳng mấy chốc, thế lực quân phiệt Nhật đă tràn ngập Trung Hoa. Văn học chia thành hai mảng chính : văn học kháng chiến và văn học vùng bị chiếm đóng. Văn học kháng chiến có một luồng cho Quốc Dân Đảng chủ đạo và một luồng khác của liên minh các nhà văn cánh tả. Dĩ nhiên là Nhật Bản chỉ dính líu đến vùng họ chiếm đóng nghĩa là khu vực duyên hải như Nam Kinh, Vũ Hán, Quảng Châu. Trên văn đàn thời này có Trương Ái Linh (1920-1995), Tô Thanh (1914-82), Mai Nương (sinh năm 1920) là những người có tiếng hơn cả. Những nhà văn cộng tác với Nhật trong bọn họ sau này sẽ bị kết tội như Hán gian. Suốt thời gian chiếm đóng, Tôkyô đă tổ chức nhiều chuyến tham quan chiến trường Trung Quốc cho các nhà văn Nhật để họ phục vụ cho bộ máy tuyên truyền quốc nội. Đoàn thể mang tên Nhật Bản Văn Học Báo Quốc Hội đă tổ chức vào năm 1944 một Đại Hội Các Nhà Văn Đại Đông Á ngay tại Nam Kinh.

Trương Ái Linh, sở trường về tiểu thuyết luyến ái, sau qua Mỹ (1955) cư trú.         

3)      Ba mươi năm đầu dưới thể chế Cộng Ḥa Nhân Dân (1949-78)

 Giai đoạn này được đánh dấu sự đăng đàn của các nhà văn như Triệu Thụ Lư (1906-70), Hồ Phong (1902-85) và các nhà văn từ “ hậu phương lớn ” trở về thành phố và nhất là cuộc thanh trừng văn hóa kể từ điện ảnh đến văn học bắt đầu từ năm 1951. Các phong trào phê b́nh chống Hồ Thích (1954), chống Hồ Phong (1955), chống  hữu khuynh (1957), chống Ba Kim (1958) xảy ra không ngớt. Đặc biệt ngón đ̣n Bách Gia Tranh Minh, Bách Hoa Tề Phóng (Trăm nhà đua tiếng, trăm hoa đua nở, 1957) đă tạo cơ hội cho nhà cầm quyền dẹp tan mầm mống chống đối và đưa các nhà văn quá mau mắn phát biểu như Vương Mông, Lưu Tân Nhạn (con số lên đến 50 vạn, kể cả nhà văn lẫn trí thức) đi tù. Năm 1961, kế hoạch kinh tế Nhảy Vọt [15]đượm màu lăng mạn cách mạng đă thất bại nặng nề và sau đó, Trung Quốc lại đi vào thời đại Chỉnh Phong[16] cũng không mấy chi sáng sủa.

Cuộc cách mạng văn hóa (Văn Cách, 1966-77) đă gây nhiều thảm trạng. Phong trào trở thành vô tổ chức và thoát khỏi sự kiểm soát của những người phát động nó. Mọi giá trị cổ truyền bị băng hoại, không chỉ có những công thần mà cả thường dân cũng bị đày ải, vùi dập. Trong vụ đó, giới viết văn đă chịu nhiều tai họa như trường hợp Thẩm Tùng Văn, Triệu Thụ Lư và Lăo Xá chẳng hạn. Thẩm không chịu nổi đày đọa tinh thần đă tự sát, Triệu bị đấu tố và chết năm 1966 ở Thái Nguyên (Sơn Tây) c̣n Lăo bị Hồng Vệ Binh hành h́nh rồi vứt xác.

Không phải là tư tưởng chủ đạo lúc đó ở Trung Quốc không ảnh hưởng ǵ đến đời sống tinh thần của giới trẻ Nhật Bản nhưng ngay các nhà văn Nhật có tinh thần chống báng truyền thống như Ôya Sôichi (Đại Trạch, Tráng Nhất, 1900-1970) cũng phải cho rằng những ǵ xảy ra ở Trung Quốc thật không thể nào Nhật có thể bắt chước được. Nếu không, e rằng Nhật sẽ thụt lùi về cả trước thời Minh Trị Duy Tân.

B)    Giai đoạn sau 1978 :

Sự thay đổi trong chính trị đă có tác dụng phá băng, nhất là từ khi Đặng Tiểu B́nh trở lại tham chính. Giao lưu văn học giữa hai nước được nối kết lại khi sự đi lại dễ dàng ra. Tuy vậy, thời này vẫn có “ Biến Cố Thiên An Môn ” (4/6/1989) c̣n gọi là “ Ngày Chủ Nhật Đẫm Máu ” là một sự kiện hết sức tiêu cực. Thế nhưng, dù muốn dù không, cũng nhờ nó mà Trung Quốc đă có một tư trào “ văn học vượt biên ” hay “ di dân ” (immigrant literature) đặc sắc khi một số văn tài đă chọn cuộc sống lưu vong và hưởng được không khí tự do, chất liệu không thể thiếu trong sáng tạo.

Mạc Ngôn

Những nhà văn nhà thơ đạt nhiều thành công trong giai đoạn này có Mạc Ngôn (sinh năm 1956), Tàn Tuyết (sinh năm 1953), Vương Sóc (sinh năm 1958) ở trong nước cũng như Cao Hành Kiện (sinh năm 1940, giải Nobel Văn Học 2000), Bắc Đảo, Giang Hà, Cố Thành, Đa Đa, Trịnh Nghĩa (sinh năm 1947, sang Mỹ từ 1992) ... ở nước ngoài. Đó là chưa kể thế hệ mới với Diệp Triệu Ngôn (sinh năm 1957), Dư Hoa (sinh năm 1960), Tô Đồng (sinh năm 1963), Cách Phi (sinh năm 1964) và Miên Miên (sinh năm 1970), Vệ Tuệ (sinh năm 1973), Chu Khiết Nhứ (sinh năm 1976) lớn lên trong thời hiện đại hóa và kinh tế thị trường.

 

             

                                                      Murakami Haruki                           Rừng Na-Uy (bản dịch : Na-Uy Đích Sâm Lâm)

Hiện nay, người ta có thể t́m thấy bản dịch Shanghai Baby (Nguyên tác : Thượng Hải Bảo Cụ, “ Cục cưng Thượng Hải, 1999) của Vệ Tuệ (sinh năm 1973) hay Phong Nhũ Ph́ Đồn (Vú To Mông Nở, 1995) của Mạc Ngôn (sinh năm 1956) giữa Tôkyô. Ngược lại, truyện của nhà văn Nhật Murakami Haruki (sinh năm 1949) được giới trẻ Trung Quốc, Đài Loan yêu chuộng đến nổi có những nhà văn trẻ bắt chước kiểu viết của ông mà báo Times mệnh danh họ là “ những Murakami-con ” (Murakami’s Children).

Tuy nhiên, đừng nghĩ giao lưu văn học Trung Nhật chỉ có tính cách thời thượng và giai đoạn nếu ta biết rằng từ năm 1922 Chu Tác Nhân đă dịch Khổng Ất Kỷ của anh ḿnh ra tiếng Nhật và cũng vào khoảng đó, Lỗ Tấn đă dịch Hana (Cái mũi) của Akutagawa, ra Trung văn. Cũng chính Lỗ Tấn từng dịch Aru seinen no yume (Giấc mơ của một chàng trai) của Mushakoji Saneatsu ra tiếng Trung vào năm 1927, c̣n Mushakoji đă trả lễ bằng cách dịch Cố hương của Lỗ Tấn ra Nhật ngữ. Cố hương hiện được dùng như tư liệu giảng dạy trong các trường trung học Nhật như một áng văn Nhật.

Ngoài những nỗ lực riêng rẽ trong giao lưu văn học như thế, việc dịch thuật văn Trung Quốc hiện đại cũng được tiến hành với qui củ, tổ chức. Hai trường Đại Học Ngoại Ngữ Đông Kinh và Đại Học Đông Kinh đă bền bỉ đeo đuổi công việc dịch thuật và giảng dạy tiếng Trung. Không ai quên được những đóng góp của Takeuchi Yoshimi (Trúc Nội, Hảo, 1910-77) và Takeda Taijun (Vũ Điền, Thái Thuần, 1912-76) cũng như những nhà nghiên cứu trong Trung Quốc Văn Học Nghiên Cứu Hội. Giáo Sư Ono Shinobu của Đại Học Đông Kinh đă chủ biên Tuyển Tập Văn Học Trung Quốc (1962-63) gồm 20 quyển, một trong mươi bộ tuyển tập văn học hiện đại Trung Quốc bằng Nhật ngữ hiện có. Dĩ nhiên Lỗ Tấn là nhà văn được kính trọng hơn cả.Toàn tập 16 quyển của ông đă ra mắt từ 1981.


 

[1] Yamauchi Hisaaki, Kawamoto, Hiroshi, Kindai Nihon ni Okeru Gaikoku Bungaku no Shuyô, Tôkyô, 2003.

[2] Tomita, Hitoshi (sđd, tr.23)

[3] Truyện ngụ ngôn của hiền nhân cổ Hy Lạp, ra đời khoảng năm sáu trăm năm trước công nguyên, được truyền tụng ở Âu Châu vào cuối thế kỷ 15.

[4] Xem Tomita, Hitoshi (sđd), tr. 96.

[5] “Vụ án con buôn thịt người”

[6] Thơ Nhật để gọi chung waka, imayô, yôkyoku, jôruri, haikai, haiku…đều dùng thể 5/7.

[7] Katô, Shuuichi, sđd, quyển 3, trang 239.

[8] Akutagawa đă nhắc đến tên của Régnier trong bức thư tuyệt mệnh gữi cho Kume Masao trước khi tự sát.

[9] William Morris (1834-1896) thi nhân kiêm nhà nghệ thuật tạo h́nh, nhà cải cách xă hội người Anh. Cuối đời, theo chủ trương xă hội không tưởng (Utopianism).

[10] Katô Shuuichi, sđd, c̣n gợi ư là cách tŕnh bày câu chuyển qua lời chứng và để cho độc giả chọn lựa c̣n là một thủ pháp áp dụng bởi nhà viết kịch và giải Nobel người Ư Luigi Pirandello (1867-1936) trong vở Right You Are, If You Think So “ Bạn nghĩ thế nào th́ đúng là thế ấy ! ” (Có lẽ ông muốn nói đến vở “ Sáu nhân vật đi t́m một tác giả ” chăng?

[11] Kiểu dịch thẳng ra chữ Hán như thế nầy cũng giống như trường hợp Phạm Quỳnh dịch kịch Le Cid ra tuồng Lôi Xích và Horace ra Ḥa Lạc ở Việt Nam đầu thế kỷ trước.

[12] Yamauchi Hisaaki, Kawamoto, Hiroshi, sđd, tr. 24.

[13] Xem Raimon Radige to Nihon no Sakkatachi (Raymond Radiguet và các nhà văn Nhật Bản) của Eguchi Kiyoshi do Tomita Hitoshi dẫn (sđd, tr.11).

[14] Fujii Shôzô,  20 Seiki no Chuugoku Bungaku (Văn Học Trung Quốc Thế Kỷ 20), Hôsô Daigaku Xuất bản, 2005.

[15] Đại Dược Tiến. Cuộc vận động kinh tế lớn do Mao Trạch Đông đề xướng khoảng 1958-61, đă thất bại v́ nhiều lư do : mục tiêu thiếu thực tế, thiên tai, Liên Xô rút viện trợ. Sẽ là nguyên nhân sâu xa của cuộc Văn Cách (1966-77).

[16] Chữ tắt của Tam Phong Chỉnh Đốn. Tam phong là học phong, đảng phong, văn phong. Mao Trạch Đông đă phát động một lần năm 1942, đây là lần thứ hai (1957-58). Về mặt lư thuyết, chấn chỉnh học phong chống chủ nghĩa chủ quan trong học tập, chấn chỉnh đảng phong nhằm chống chia rẽ, bè phái và chấn chỉnh văn phong nhằm chống kiểu viết rỗng sáo, không có nội dung.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com