Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

Quyển Hạ: Từ Cận Kim đến Hiện Kim

Các Moga (Modern Girls ), phụ nữ mới Nhật Bản thời Taishô (1912-26)

Chương 22 :

Akutagawa Ryuunosuke và Shiga Naoya.

Hai đỉnh cao, hai phong cách của thể loại truyện ngắn Nhật Bản

Nguyễn Nam Trân

 

TIẾT I: AKUTAGAWA RYUUNOSUKE (Giới Xuyên, Long Chi Giới, 1892-1927):

A)    Con Người Và Tác Phẩm :

Ông là con gia đ́nh Niihara, được đặt tên Ryuu (Long = con rồng) v́ sinh nhằm giờ th́n, ngày th́n, tháng th́n, năm th́n. Ra đời không được bao lâu th́ bà mẹ đẻ phát bệnh tâm thần nên phải đem về phía họ hàng bên mẹ (Akutagawa) để nuôi. Ông cho biết ḿnh được nuôi bằng sữa ḅ thay v́ sữa mẹ. Cha nuôi là Akutagawa Michiaki (Đạo Chương, Dôshô). Họ Akutagawa xưa kia đời đời vốn giữ chức hầu lễ trà đạo trong phủ chúa, đến thế hệ Michiaki vẫn c̣n giữ được nếp văn nhân, tao nhă (bunjin). Đó là điểm khởi hành của Akutagawa nhà văn.

Ông có khiếu văn chương từ hồi tiểu học. Học rất giỏi, đến nỗi vào trường Ikkô (Dự Bị Đại Học Tôkyô) được miễn thi. Mối t́nh đầu của ông là cô Yoshida Yayoi (Cát Điền, Di Sinh), con gái người quen với gia đ́nh. Ông định cầu hôn nhưng gia đ́nh lại ngăn cản . Sự kiện nầy làm ông chán ngán cái xấu xa, ích kỷ của người đời và ôm lấy ư nghĩ bi quan “ sinh ra làm người đă là khổ rồi ”. Đó cũng là cơ sở triết lư của Rashômon (La Sinh Môn), tác phẩm nổi tiếng của ông. 

Từ trái qua : Kume Masao, Matsuoka Yuzuru, Akutagawa và Naruse Seiichi thời sinh viên (1917)

Ông là nhà văn tiêu biểu của phái Shinshichô “ Tư Trào Mới ”. Trong lần tái bản lần thứ 5 của tạp chí, số ra mắt (tháng 2/1916), ông đă cho đăng truyện ngắn Hana (Cái mũi) và được Natsume Sôseki nhiệt liệt tán thưởng như sau:

“Truyện của ông viết thực hay. Điềm đạm, không đùa cợt, cứ kể tự nhiên mà làm cho người ta thấy buồn cười một cách nhẹ nhàng. Hơn nữa chất liệu dùng trong truyện lại rất mới mẽ. Văn từ gọn gàng, tŕnh bày đầy đủ những điểm cần thiết. Tôi phục lắm. Cứ tiếp tục viết thêm độ hai ba mươi tác phẩm như vậy th́ ông sẽ trở thành một nhân tài hiếm có của văn đàn cho xem ”.

Truyện Hana nói trên lấy cảm hứng từ Konjaku Monogatari (Kim Tích Vật Ngữ) “ Truyện Giờ Đă Xưa ”. Trong giai đoạn đầu tiên, khi sáng tác, ông hay mượn đề tài từ Konjaku hay Uji Shuui Monogatari (Vũ Trị Thập Di vật ngữ) “ Truyện do ông gián quan ở Uji chép nhặt lại ”, hai tác phẩm của thời trung cổ. Chẳng hạn các truyện ngắn Rashômon “Cổng La Sinh Môn”(1915), Imogayu (Vu Chúc) “Cháo khoai” (1916), Jigokuhen (Địa ngục biến) “Bức b́nh phong tả cảnh địa ngục” (1918)…

Phạm vi đề tài và không gian của Akutagawa dần dần nới rộng. Gesaku Zanmai “Hứng sáng tác”(1917), Kare no shô “Cành đồng khô” lấy bối cảnh thời Edo (1918); Hyôkyônin no shi “Cái chết của một con chiên” (1918), Kirishitohoro shônin-den (1919) “Truyện thánh Christopher” viết về thời ngoại quốc đến truyền giáo; Butôkai (Vũ Đạp Hội) “Tiệc khiêu vũ” (1920), Hina “Mấy con búp bê” (1923) nói về sự tiếp thu văn minh Âu Tây thời Meiji. Ngoài ra c̣n có Kumo no Ito (Sợi tơ nhện), Toshishun “ Cậu Đỗ Tử Xuân” (1920) mượn đề tài Ấn Độ và Trung Quốc đời Đường.

Những tác phẩm vừa kể đă chứng tỏ tài năng ông như một nhà nghệ thuật thuần túy nhưng bỗng nhiên, năm Taishô thứ 9 (1920), nhân viết Aki (Thu), ông thoát ly lập trường “nghệ thuật vị nghệ thuật” và, sau giai đoạn tiểu thuyết gọi là Yasukichi-mono (truyện với nhân vật chính tên là Yasukichi, có lẽ là chính tác giả), bắt đầu bước vào lănh vực tiểu thuyết tự thuật (shi-shôsetsu hay watakushi-shôsetsu) với Daidôji Shinsuke no hansei (Đại Đạo Tự Tín Phụ bán sinh) “Thời trẻ của chàng Daidoji Shinsuke”(1925). Cuối người ta cho rằng một phần v́ dao động trước những biến động xă hội dưới sức ép của cao trào văn học vô sản, một phần sức khoẻ suy sụp do thần kinh suy nhược (có dính líu đến bệnh điên của người mẹ), ông ở trong một trạng thái bất an thường trực. Phải chăng v́ thế mà ông đă miêu tả trạng thái tinh thần của chính ḿnh trong Shinkirô (Thẩn khí lâu) “Ảo ảnh cuộc đời” (1927) và Kappa (Hà đồng) “Xă hội thủy quái Kappa” (1927) và sau đó, tự kết liễu đời ḿnh bằng độc dược. 

 Akutagawa : “ Đời người không đẹp bằng một câu thơ của Baudelaire ”.

Cái chết của Akutagawa được xem như tượng trưng cho số phận của trí thức, đă gây nhiều xúc động cho người đương thời. Ông để lại di cảo Haguruma “Trong Guồng Máy”, Aru aho no isshô “Truyện đời một thằng ngốc”. Một tác phẩm ông viết khoảng năm 1923-1925 và được in ra sau khi ông mất (tháng 12/1927) nhan đề Shujuu no kotoba[1] “Lời phát biểu của một người hèn kém” có những nhận định như sau:

-Đời người:

Đời người giống như cái hộp diêm. Đừng có dại mà dùng nó vào chuyện lớn. Dùng vào chuyện lớn là nguy hiểm.

Đời người giống như quyển sách thiếu nhiều trang. Khó thể gọi nó là quyển được. Nhưng nó lại là một quyển đấy.

-Tư tưởng nguy hiểm

Tư tưởng nguy hiểm là những tư tưởng được đem ra áp dụng vào đời thường.

B)    Triết Lư Văn Chương Và Bút Pháp Akutagawa :

Hăy thử điểm qua các tác phẩm nổi tiếng của ông. Hana là đoản thiên mượn ư truyện nói về cái mũi dài quá khổ của một nhà sư, chép trong Uji Shuui. Sư Zenchi chùa Ike-no-O của Akutagawa khổ sở v́ muốn làm cho mũi ngắn lại, giống như con người ta khổ sở v́ quá chú ư về ḿnh trong khi những kẻ chung quanh lại vô t́nh có ác ư. Rashômon lấy cảm hứng từ Konjaku qua câu truyện một tên trộm khám phá đống xác người chết bỏ trên lầu cổng thành Rashômon. Triết lư của nó nằm ở chỗ con người v́ muốn sống c̣n nên phải nhúng tay vào điều ác, và chỉ khi nào làm một điều ác khác mới ngăn chặn được điều ác đó. Nhân sinh quan của một con người lúc đó mới 24 tuổi như Akutagawa quả là quá đậm màu sắc yếm thế. Trong đoạn kết của Rashômon, tên người ở sau khi trách mụ già đă làm điều ác là nhổ tóc xác chết kết thành búi tóc giả đem đi bán, lại lột quần áo mụ:

“-Vậy ta có lột quần áo mụ, mụ cũng đừng có hận. Không lột mụ, ta cũng thành ma đói”

Tên người ở nhanh nhẹn lột hết quần áo mụ già. Thế rồi giữa khi mụ c̣n đang đeo cứng vào chân, hắn hung bạo đá phốc mụ ta lên trên đống xác chết. Từ chỗ hắn đứng đến cầu thang chỉ cách có năm bước. Tên người ở ôm lấy mớ áo quần màu nâu vỏ dà, lật đật xuống thang rồi mất hút vào bóng tối. 

Trong Kappa (Hà đồng), Akutagawa thác ngụ thế thái nhân t́nh của thời đại ông vào xă hội của loài thủy quái Kappa. Tác phẩm phản ánh nỗi buồn và sự chán ghét cuộc sống của ông. Haguruma “ Trong guồng máy” là một thế giới mà nhân vật chính nh́n thấy qua huyễn ảnh, c̣n “địa ngục hơn cả địa ngục ”.Nó đánh dấu những ngày tháng cuối cùng ông sống trong thác loạn thần kinh, có những câu khiến độc giả phải rùng ḿnh :

Đó là một kinh nghiệm mà cả đời tôi chưa hề biết.Tôi hết sức cầm bút để viết tiếp nữa rồi.Tôi không thể sống mà chịu đau khổ như thế nầy măi. Có ai đó chịu đợi tôi ngủ mà bóp cổ giùm cho tôi chết đi không ?

Về sự “thất bại của lư trí”, chính Akutagawa đă nhận định như thế này trong Aru aho no isho (Truyện đời một thằng ngốc):

“Hắn giương đôi cánh nhân tạo ra, tung tăng bay bượn trong bầu trời. Cùng một lúc, bao nhiêu niềm vui nỗi buồn của đời người chan ḥa ánh sáng của lư trí đang hạ thấp xuống dưới tầm mắt hắn. Hắn tung những câu nói mỉĩa mai và nụ cười chế nhạo trên các phố phường đang thu nhỏ lại, bay vút lên ṿm cao không thoáng gợn về hướng mặt trời, dường như quên bẵng chuyện cái người Hy Lạp([2]) ngày xưa, vào lúc đó, cũng mang đôi cánh nhân tạo bị mặt trời thiêu cháy và rơi vùn vụt xuống biển mà chết.’’

Sau đây là đôi lời ông phát biểu trong thư tuyệt mệnh gửi cho Kume Masao, người bạn thân và cũng là văn hữu trong nhóm Trào Lưu Mới.

“Tôi chưa thấy ai viết ra một cách không che đậy về tâm lư của một người tự sát. Lư do có thể là người sắp tự sát c̣n chút ḷng tự trọng hoặc bản thân họ thấy tâm lư người ở trong cảnh ngộ của ḿnh không có ǵ hấp dẫn để mà t́m hiểu. Tuy vậy, trong lá thư cuối cùng tôi gửi cho cậu đây, tôi muốn thuật lại thật rơ ràng tâm lư ấy, nhưng nếu bảo tôi không đặc biệt cho cậu biết động cơ nào đă đẩy tôi đến chỗ tự sát th́ cũng được. Régnier([3]) trong một truyện ngắn của ông có lần miêu tả người tự sát. Anh chàng vai chính trong truyện này cũng chẳng biết lư do tại sao anh ta muốn kết liễu đời ḿnh. Chắc khi cậu mở trang ba mục tin lặt vặt mấy tờ báo cũng nhận ra được là có biết bao nhiêu động cơ có thể thúc đẩy người ta đến chỗ tự sát, nào là cuộc sống khó khăn, bệnh hoạn dày ṿ hay đau khổ tinh thần. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, tất cả những thứ đó chỉ là một phần của động cơ. Cùng lắm nó chỉ là những cái mốc đánh dấu những chặn đường đưa đến động cơ ấy mà thôi. Có lẽ người tự sát, giống như Régnier đă miêu tả, không biết lư do ǵ đưa anh ta đến chỗ chết. Nó cũng giống như hành vi của ta vẫn thường xuất phát từ nhiều động cơ phức tạp. Riêng trường hợp của tôi th́ chỉ là nỗi lo âu mơ hồ. Làm như có một sự lo lắng bàng bạc về tương lai. Cậu có thể không tin lời tôi nói v́ không ai chung quanh đă sống hoàn cảnh tương tự của tôi suốt mười năm qua. V́ thế, dù cậu có coi lời của tôi đây như tiếng hát tan vào cơn gió thoảng, tôi sẽ chẳng trách cậu đâu.”

(Trích dịch Thư gửi một người bạn cũ - Aru kyuyuu e okuru shuki)

 

 

Căn nhà ở Tabata (Tôkyô), nơi Akutagawa tự sát.

Trong đêm 23 tháng 7 năm 1927, ông đă b́nh tĩnh uống một lần hai loại thuốc ngủ trí mạng dù vợ đă biết trước và canh pḥng kỹ lưỡng. Thuốc ở đâu ra, ông viết cho biết có một người đàn bà nào đó mang đến. Thế thôi![4] Miyamoto Kenji bảo ông tượng trưng cho “sự thất trận của văn chương tiểu tư sản (petit bourgeois)”. Kobayashi Hideo, ngược lại, ca ngợi mỹ học của ông và đổ cho định mệnh éo le([5]).

Donald Keene([6]) cũng như nhiều nhà b́nh luận thường nhấn mạnh về ảnh hưởng bệnh tật của bà mẹ ruột đối với tâm tính ông. Một người mẹ mặt xám xịt như thây ma, có thể suốt ngày ngồi không nói không rằng, lâu lâu lại lấy ống điếu cốc đầu thằng bé con, chả bù với bà mẹ nuôi dịu dàng mà ông rất yêu quư. La Sinh Môn (Rashômon) được ông coi như một trong những tác phẩm “lạc quan” nhất của ḿnh mà đă đậm màu sắc chán đời. Rashomon là cái cổng thành bề thế (nhưng sau lưng không có cái thành nào) giống như cái bản mặt (men) của vũ sĩ đạo oai nghiêm nhưng trong đó chất chứa nhiều tàn ác và giả dối đă làm cho Akutagawa hoài nghi về giá trị của văn hóa nói riêng và con người nói chung. Trong La Sinh Môn, ngoài mươi ḍng đầu ông mượn ở “Truyện giờ đă xưa,” cảnh thành phố Kyôto trung cổ được ông phác họa theo Phương trượng kư (Hôjôki) của Kamo no Chomei([7]). Truyện thẩm tra hiện tại bằng cách sử dụng tư liệu quá khứ là một nét đặc biệt của văn chương “truyện cũ viết lại” (cố sự tân biên) ([8]) của ông.

Sự hoài nghi, bi quan trong văn ông thường được kèm theo cái tàn khốc trong lối miêu tả như khi ông viết về Kyôto của thế kỷ XII khi bị thiên tai tàn phá (trong La Sinh Môn hay Bọn đạo tặc (Chuto) chẳng hạn), hay Nagasaki thế kỷ XVI chung quanh những cảnh cực h́nh thời cấm đạo.

Ông đă t́m thấy trong vũ sĩ đạo, khuôn vàng thước ngọc của người Nhật Bản có cái ǵ giả tạo v́ đầy kịch tính. Người mẹ xé nát chiếc mùi - soa (trong Chiếc mùi soa) để gh́m không cho sự đau khổ lộ ra người ngoài biết, rốt cục cũng chỉ làm theo một phương pháp diễn xuất có cái tên là... văn hóa v́ nó đi ngược lại sự chân thành tự phát, vốn là bản tính đích thực của con người[9].

Ngoài cái bóng đen của bà mẹ trùm lên suốt cuộc đời, Akutagawa c̣n nhận ảnh hưởng lớn lao của nhà văn Natsume Sôseki, một người ông rất ái mộ. Chúng ta biết Sôseki là một nhà trí thức mang một tâm sự u uất, nhất là từ sau những năm tháng du học London trở về. Chính Sôseki đă nhận chân được tài năng và khuyến khích ông cứ đeo đuổi nghề văn cho dù lối viết của ḿnh không được sự tán thưởng của độc giả chăng nữa. Tháng 12 năm 1916, khi Sôseki mất, ông giữ ấn tượng sâu đậm về nhà văn bậc thầy này. Người ta thấy ảnh hưởng của Sôseki với chủ đề “sự ích kỷ của người đời” qua Cánh đồng khô, trong đó, đám đệ tử của thi hào Bashô họp lại chung quanh giường bệnh của thầy mà chỉ nghĩ những lợi lộc của chính bản thân họ một mai khi thầy không c̣n nữa. Nhà nghiên cứu người Mỹ Donald Keene cũng nhắc cho ta là chủ đề về ḷng ích kỷ từng được khai triển bởi nhà văn La Rochefoucauld, theo đó “ngay cả lúc hành động một cách cao thượng, con người cũng vâng theo một động cơ: đó là ḷng ích kỷ của họ”. Ḷng ích kỷ c̣n thấy cả trong Sợi tơ nhện (Kumo no ito), 1918, khi tên cướp Kandata dầu đă được Đức Phật cứu giúp thoát khỏi cảnh trầm luân hỏa ngục, đă v́ ḷng ích kỷ mà đánh mất dịp may cuối cùng của chính ḿnh và biết bao người khác.

Thái độ trí thức khô khan, lạnh lùng khi trực diện với nhân vật và sự t́nh trong truyện ngắn, ông đă học hỏi được ở một người đi trước khác: Mori Ôgai. Ít nhất đây cũng là ư kiến của nhà phê b́nh Nakamura Shin.ichirô, người cho rằng Ôgai đă trao cho Akutagawa ch́a khóa của sự thành công trong lĩnh vực nghệ thuật khi truyền thụ một cách gián tiếp lối viết tiểu thuyết lịch sử kiểu Tây phương, trong đó, người viết cần giữ một khoảng cách với nhân vật ḿnh tạo ra. Từ đó, Akutagawa chỉ sử dụng lịch sử như một bàn đạp để giải thích nó theo quan điểm của cá nhân ông. Anh chàng Goi (ngũ vị), tên gọi theo chức quan hạng bét ở Kyôto thèm ăn cháo khoai phải lặn lội xa xôi, đến khi có cháo trong tay th́ lại chán không muốn ăn nữa, chẳng phải là một trường hợp cá biệt mà tượng trưng cho tính phổ quát (universality) con người vào bất cứ thời đại nào.

Sau khi Akutagawa mất, cả hai cánh tả và hữu đều gán cho ông nhăn hiệu như ông là người của họ nhưng bản thân ông không bao giờ đặt vấn đề chính trị. Có lẽ văn chương ông hàm chứa một sự mơ hồ để ai muốn hiểu sao th́ hiểu như khi ông nói “ núi Lư Sơn có thể nh́n từ nhiều góc cạnh khác nhau ”. Hoặc giả trong người ông tiềm ẩn một nỗi khổ tâm của một người phải đứng trước một lựa chọn có tính bức bách mà không t́m được lời giải thoả đáng.

Trong thư pḥng ở Tabata (Tôkyô, khoảng năm 1925)

Khi xây dựng truyện dă sử, Akutagawa chuẩn bị chu đáo như Gogol, từ cấu trúc đến các t́nh tiết, tính toán kỹ lưỡng để có hiệu năng tối đa. Điều này làm ông khác với Tanizaki người hay lề mề, trật đường rầy nhưng rất lôi cuốn. Cũng như đă từng thấy ở Edgar Poe, lối hành văn kiểu Akutagwa là sự liên kết trí thông minh và chất thơ, một công tŕnh nhào nặn sức mạnh của trí tuệ với cảm tính bén nhạy có ở nơi ông, biến truyện thành một tác phẩm chứa đầy t́nh huống cực đoan, nhuốm màu hài hước lẫn chua cay. Trong giai đoạn cuối đời, khi thần kinh ông suy nhược và có thái độ buông thả với cuộc sống. Lúc đó, văn ông bắt đầu vắng bóng những yếu tố trang trí để trở thành tinh ṛng nhưng khô khan đi.

Suốt đời, Akutagawa hết sức gắn bó với văn chương. Thời trẻ , ông đă từng từ chối nhiều chỗ dạy học tốt và đóng cửa tạ khách để đọc sách. Số lượng tác phẩm ông viết đạt đến mức kỷ lục so với cuộc sống ngắn ngủi của ông. Thế nhưng văn chương cũng đă tàn phá ông, nhất là trong giai đoạn cuối, khi ông đem cuộc đời ḿnh để khai thác như chủ đề cho tác phẩm như trong “ Trong Guồng Máy” hay “ Truyện đời một thằng ngốc ”. Giống như lời ông đă tâm sự với Itô Sei : “Đó chỉ là một sự tự diệt. Như khi con rắn ăn chính cái đuôi của nó ”. 

Trong những năm tháng cuối cùng, ng̣i bút của Akutagawa không c̣n đem đến cho ông những thành công buổi đầu. Tuy loại tiểu thuyết tự truyện nhuốm màu sắc bệnh tâm thần (neurotic I novel) của ông dành được cho ông một chỗ đứng riêng trên văn đàn nhưng đă thấy xuất hiện Shiga Naoga, một cây bút viết truyện ngắn lỗi lạc khác và những nhà văn vô sản của tạp chí Người gieo mầm (Tanemaku hito). Ông tỏ ra ḥa hoăn với cả Shiga lẫn nhóm Người gieo mầm. Tuy hăy c̣n chủ trương nghệ thuật trên hết và giữ bản chất hoài nghi của người theo chủ nghĩa hư vô (nihilism) nhưng ông cũng đă có vài tác phẩm phê b́nh chủ nghĩa tư bản và đạo đức truyền thống (như trong Kappa) cũng như quan tâm đến cuộc sống khổ cực của nông dân (như trong Ikkai no tsuchi) hay mô tả thế giới đen tối trong một gia đ́nh trưởng giả mà chủ nhân đang nằm đợi chết (Sơn trang Gengaku).

Tuy nhiên lúc đó Akutagawa đă mệt mỏi quá rồi. Trong Xă hội thủy quái Kappa, ông đă mơ tưởng được sống trong một thế giới “phi nhân gian” (non human world). H́nh ảnh siêu thực của xứ sở loài thủy quái Kappa tương tự như thế giới loài chim cánh cụt (penguin) trong tác phẩm của Anatole France, một tác giả Akutagawa yêu thích. Nó cũng có thể là nước người tí hon mà Gulliver đă đến thăm hay nơi cô bé Alice lạc đến. Tiếng là “quái” nhưng loài Kappa c̣n đầy đủ nhân tính hơn cả loài người:

Dần dần tôi bắt đầu quen với ngôn ngữ của loài Kappa và nhân đó, hiểu được phong tục tập quán của chúng. Trong đó có tập quán lạ là những ǵ con người chúng ta cho là trang nghiêm th́ chúng lấy làm kỳ cục. Ngược lại những ǵ ta cho là kỳ cục th́ chúng lấy làm trang nghiêm. Ví dụ ta bảo “chính nghĩa” hoặc “nhân đạo” là những điều trang trọng th́ khi nghe tới đó, bọn Kappa ôm bụng mà cười. Có nghĩa là quan niệm về sự khôi hài giữa ta và chúng hoàn toàn khác nhau. Khi tôi có dịp nói chuyện về hạn chế sinh đẻ với một bác sĩ nhi khoa Kappa tên là Chak th́ ông ta mở mồm há hốc rồi cười sặc sụa thiều điều rơi cả kính gắn trên sống mũi. Dĩ nhiên tôi cáu sườn nên mới cật vấn ông ta xem hạn chế sinh đẻ th́ kỳ cục ở chỗ nào. Lúc đó tôi chưa giỏi tiếng Kappa cho lắm, chỉ hiểu câu trả lời của Chak đại loại như thế này:

- Kỳ khôi ở chỗ chỉ giúp cha mẹ khỏe thân mà thôi. Thế là quá quắt chứ sao!

Ngược lại, dưới cái nh́n của loài người chúng ta th́ thật không có ǵ kỳ quái hơn là cảnh tượng sinh nở ở xứ Kappa. Sau đó ít lâu, tôi có dịp đi đến căn nhà nhỏ của Bag để xem cảnh vợ ông ấy lâm bồn. Lúc Kappa sinh nở th́ cũng giống như chúng ḿnh vậy, nghĩa là có bác sĩ, bà đỡ đến giúp. Tuy nhiên lúc sanh th́ ông bố lại châu mồm vào chỗ kín của bà vợ như người đang nói điện thoại, to giọng: “ Thế con có muốn ra đời hay không? Nghĩ cho kỹ rồi trả lời nhé! ”. Bag vừa khom gối, hỏi đi hỏi lại nhiều lần như thế. Sau đó th́ ông ta lấy thuốc nước sát trùng để trên bàn mà súc miệng. Một chốc, coi bộ đứa bé trong bụng vợ của Bag có vẻ do dự rồi thấy nó lí nhí trả lời:

- Con không muốn ra đời làm ǵ. Nhất là để mang chứng bệnh tâm thần di truyền từ bố th́ khổ lắm! Hơn nữa, giống Kappa sinh ra không biết để làm chi?

Bag nghe câu trả lời, bẻn lẻn đưa tay lên găi đầu. Tức thời bà đỡ đứng chực sẵn bên đă cầm ngay một ống thuỷ tinh đút vào chỗ kín của bà vợ, như thể chích một thứ thuốc ǵ đấy. Chỉ thấy bà ta thở phào một cái như trút đi gánh nặng, đồng thời, cái bụng x́u xuống tựa quả bong bóng vừa thoát hết hơi ”.

(Trích Xă hội thủy quái Kappa, đoạn 4)

Nên nhớ Akutagawa viết Xă hội thủy quái Kappa năm 1927 (và có thể trước đó), lúc Jean - Paul Sartre (1905 - 1980), ông tổ của thuyết hiện sinh thời hậu chiến, người đặt câu hỏi thời danh “sinh ra tôi sao không hỏi ư kiến tôi?” mới có hai mươi hai tuổi.

Akutagawa có phải muốn từ giă cuộc đời này để đi t́m một xứ lạ” như thế giới của loài thủy quái Kappa?

          

Một trong những bức ảnh cuối   Masuko, người đàn bà đáng lẽ chết chung

Cái chết bằng tự sát của ông có nhiều lư do, từ cảnh ngộ gia đ́nh đến bệnh hoạn, chứ không riêng mỗi lư do tinh thần. Có người c̣n cho những lư do tinh thần ông nêu ra chỉ là để “làm dáng, điểm trang cho cái chết”. Thế nhưng, văn chương ông tự buổi đầu đă nặng tính hoài nghi yếm thế. Có lẽ trong ông tiềm ẩn nỗi khổ tâm của một nhà nghệ sĩ “nhân bản”, đầy ḷng yêu cuộc sống (yêu quá hóa hờn), phải đứng trước một lựa chọn có tính bức bách mà không t́m được lời giải thỏa đáng: nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh?

C) Tóm Tắt Những Chủ Đề Trong Văn Chương Akutagawa:

Akutagawa Ryunosuke chào đời trước đây hơn một trăm năm. Ông đă ra đi gần tám mươi năm rồi nhưng thông điệp của ông vẫn c̣n tính hiện đại v́ nó đề cập đến những vấn đề cơ bản của con người. Những chủ đề được nêu ra trong tác phẩm của ông có thể tóm lược dưới h́nh thức những nghi vấn mà ông đặt ra như sau:

-         Có một chân lư duy nhất hay không? Trong Bốn bề bờ bụi, người ta thấy con người thường chỉ nắm một phần của sự thật mà đinh ninh đó là sự thật tuyệt đối.Trong Kim tướng quân, hai dân tộc Nhật Bản và Đại Hàn nh́n lịch sử (cuộc viễn chinh đánh Triều Tiên của tường Toyotomi Hideyoshi) theo hai cách trái ngược.

-         Thiện và Ác khác nhau thế nào? Đoản thiên La Sinh Môn cho thấy để diệt cái ác, có khi người ta buộc phải làm một điều ác khác.

-         Bản chất con người tốt hay xấu, hoặc giả cái gọi là bản chất đó chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh? Trinh tiếtCái mặt nạ Hyottoko giúp ta nghiền ngẫm.

-         Làm sao để thoả măn một dục vọng nếu nó chỉ là một ảo vọng? Nỗi thèm ăn cùng cực một miếng Cháo khoai của nhân vật chính đă tan biến khi anh ta có cơ hội ăn được bữa cháo thừa mứa. Khi đă thỏa măn được dục vọng của ḿnh rồi ư thức đó chỉ là ảo vọng, người samurai Morito trong Ḷng đă trót yêu đă qui y để trở thành thiền sư Mongaku.

-         Con người vị tha hay vị kỷ? Ngay một t́nh cảm cao thượng có thể nào bắt nguồn từ ḷng vị kỷ hay không? Sợi tơ nhện, Mùa Thu, cục đất, Ảo thuật, Cánh đồng khô … có liên quan gần xa với chủ đề này.

-         T́m ở đâu được cái đẹp tuyệt đối cũng như nỗi thống khổ địa ngục nếu không phải ở chính trong tâm khảm ḿnh? Bức họa núi thuĐịa ngục trước mắt giúp ta dữ kiện tham khảo.

-         Đâu là những giá trị nhân bản thực sự? Chiếc mùi soa, Mấy trái quít, Kappa, cùng với chùm truyện đăng tải trên tạp chí Akai Tori (Con Chim Đỏ) như Đỗ Tử Xuân, Con chó Bạch, Tu tiên, Sợi tơ nhện, Ảo thuật… gói ghém tư tưởng chủ đạo của ông.

D) Thông điệp cho thế kỷ 21:

Ở Nhật Bản, trong chương tŕnh quốc văn bậc trung học, dĩ nhiên các tác phẩm của Akutagawa được dùng trong sách giáo khoa. Thế nhưng điều mới mẻ gần đây là h́nh ảnh của nhà văn tiểu tư sản, bi quan, yếm thế, chủ trương vị nghệ thuật, bị cuộc đời đánh cho đo ván … mà người ta thường gán cho ông từ trước đến nay đă được xét lại và một trào lưu nghiên cứu sâu rộng hơn về ông đă mở màn.

Người ta đặt trọng tâm nhiều hơn ở tầm nh́n xa và mối quan tâm xă hội thấy trong tác phẩm của ông. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng sử dụng những chứng từ làm tư liệu bổ sung để nh́n thấy qua ông một con người thiết tha với cuộc đời, lo âu, dằn vặt khổ sở, biết  tranh đấu bằng ng̣i bút để làm tốt xă hội. Ông luôn luôn đặt những câu hỏi cho dầu chính ông cũng không đủ sức trả lời. Làm ra vẻ “xa lạ”, “bay trên đầu thời đại” với cái nh́n giễu cợt nhưng thật ra, qua tác phẩm, ông đă bộc lộ trực tiếp hay gián tiếp những mối ưu tư thời thế. Văn chương Akutagawa không hề mang tính cách trà dư tửu hậu.

Thế kỷ 21 c̣n đi t́m lời giải đáp cho những câu hỏi hóc búa mà trên tám mươi năm về trước, Akutagawa đă dặt ra. Những câu hỏi như “sự tiếp thu cái mới có thể đặt ra những vấn đề nào?” mà ông đă nêu ra trong Một vụ án mạng thời mới, Người chồng thời mới, Mấy con búp bê cũ, Tiệc khiêu vũ … trong bối cảnh cuộc Minh Trị Duy Tân, xem ra vẫn có tính thời sự nóng bỏng ở nhiều quốc gia. Vấn đề giải thích những sự kiện lịch sử một cách chủ quan dễ đưa đến xung đột giữa dân chúng hai nước Nhật, Hàn trong Kim tướng quân chẳng hạn, hăy c̣n xảy ra hằng ngày ở mọi miền đất trên thế giới. Người nô bộc, khi chủ cho thôi việc, đến bước đường cùng, một buổi chiều mưa đuổi đến dưới cổng La Sinh Môn, bị giằng co giữa chịu chết đói và làm chuyện bất lương, cuối cùng đă làm chuyện bất lương rồi mất hút trong bóng đêm, không biết về đâu.Cuộc sống trạnh canh cùng cực của xă hội ngày nay chắc chắn sẽ đẻ ra nhiều con người tương tự.

TIẾT II:  SHIGA  NAOYA  (Chí Hạ, Trực Tai, 1883-1971):

A)    Con Người Và Tác Phẩm:

Nếu Arishima là người thuộc cánh tả, Musakôji hữu khuynh th́ Shiga nằm giữa hai bên., ông đại diện cho khuynh hướng hiện thực (realism) trong nhóm Shirakaba.. Ông là một nhà văn hiện đại được người trong nghề hâm mộ nhiều hơn cả . Ít nhất cũng có năm sáu nhà văn tự nhận là học tṛ ông và không biết bao nhiêu người đem văn phong ông vào tác phẩm của họ. Văn phong đó là lối viết giản dị nhưng súc tích, mạnh mẽ, nh́n xuyên thấu sự vật nhưng thường để lại dư vị ngọt ngào.Trong những tác phẩm đầu tay, ông sử dụng nhiều (nếu không nói là hầu như) những t́nh tiết đời tư, do đó, ảnh hưởng của ông đối với các tác giả của ḍng văn học tự thuật (hay tự thú) rất to lớn. Nó c̣n quan trọng hơn ảnh hưởng của Shimazaki Tôson hay Tayama Katai, hai nhà văn lớp trước, đến họ nữa. 

Shiga sinh năm 1883 ở miền bắc nước Nhật, xuất thân từ giai cấp sĩ tộc (gia đ́nh gốc vũ sĩ) nhưng chuyển sang làm kỹ nghệ. V́ anh cả mất sớm, ông được người ông đem về nuôi nấng đặc biệt. Ông cụ này đă rèn cập ông với một nền giáo dục truyền thống và là người Shiga kính trọng đặc biệt. Năm 1895, lúc 13 tuổi, mẹ mất, ông có bà mẹ kế. Khác đời là người này cũng thương ông cũng như ông rất thương bà. Ông có viết về chuyện tái hôn của cha ḿnh trong thiên hồi kư Haha no shi to Atarashii haha “Cái chết của má tôi và chuyện bà mẹ mới” (1912).

Thời trẻ của ông được đánh dấu bằng một số xung đột với người chung quanh.. Năm 1900, mới 17 tuổi, ông đă tiếp xúc nhà tư tưởng Cơ Đốc Giáo Uchimura Kanzô (Nội Thôn, Giám Tam)[10], rồi lại tách ra. Qua vụ mỏ đồng Oshio[11] (Túc Vĩ), 1901, ông bất ḥa với cả cha ḿnh. Chính t́nh cảm tôn giáo đă đánh thức lương thức của ông, làm cho ông thông cảm với nỗi thống khổ của người nghèo. Bị cha cấm không cho đi quan sát mỏ đồng để thấy tận mắt thực tế (cha ông không muốn mất ḷng chủ mỏ, một người quen) ông cam chịu nhưng trong ḷng không phục. Mối bất ḥa giữa hai cha con sẽ là cảm hứng cho nhiều tác phẩm của ông.

Năm 1907, ông đột ngột tuyên bố với gia đ́nh sẽ kết hôn với cô tớ gái trong nhà và dĩ nhiên gặp sự chống đối của những người thân v́ họ Shiga vốn tự hào về ḍng dơi. Ông phải bỏ qua ư định đó[12]. Từ lúc ấy, hố ngăn cách giữa ông và người cha càng ngày càng sâu, nhất là từ khi Shiga bỏ ngang đại học năm 1908. 

Tác phẩm đầu tay của ông là Na no hana to musume “Cô bé và hoa cải dầu” tuy in lần đầu tiên vào năm 1920 nhưng đă dược viết từ lúc ông c̣n đi học. Câu chuyện nhẹ nhàng như trong truyện thần tiên này chịu ảnh hưởng lối viết của Andersen , tác giả ông yêu thích. Về sau ta sẽ thấy ông viết rất nhiều truyện ngắn về đề tài động vật (chó con, ếch nhái, chim cú, chim bách thiệt, gà nước, bồ câu rừng, chim uyên ương) và thực vật (hoa bạch đằng, quả bầu).

Những đoản thiên viết ra trong giai đoạn đầu đời văn của Shiga như Abashiri made (1910) “Tận miền Abashiri”, Ôtsu Junkichi (Đại Tân, Thuận Cát) (tên nhân vật) “Anh chàng Ôtsu Junkichi”, Seigiha (Chính nghĩa phái) “Kẻ theo chính nghĩa” (1912) Seibê no Hyôtan “Những quả bầu khô của Seibê” (1913) là những tác phẩm hiện thực viết với bố cục hết sức vén khéo của ông lồng khung trong triết lư “hiếu ác” nghĩa là trong việc phán đoán thiện ác, ở nơi ông, đă sẵn có khuynh hướng giải thích theo thuyết “tính ác” hơn là “tính thiện”.

“Tận miền Abashiri” tác giả kể lại trong một chuyến đi nghỉ mát ở Nikkô, cách Tôkyô và giờ tàu, ông gặp một thiếu phụ bận bịu với hai đứa con nhỏ trên đường đi về vùng Abashiri, tận Hokkaidô, cách đó nguyên năm ngày đường. Hai đứa con nhỏ (mà một đứa lại đầu óc không b́nh thường) quấy phá, khóc lóc…làm phiền người trong toa và khiến mẹ chúng phát mệt. Tác giả tưởng tượng về người chồng của thiếu phụ (qua h́nh ảnh một bạn học cùng lớp của ông) có thể là một tù nhân ở nhà lao Abashiri, cũng như cuộc sống thiếu hạnh phúc và cảnh tiếp đón không mấy vui thú khi nàng về tận miền Abashiri xa xôi kia.

Shiga Naoya thời trẻ, khoảng năm 29 tuổi (1912)

Trong “Anh chàng Ôtsu Junkichi”, một tác phẩm có màu sắc tự truyện, được xem là thành công v́ đă đăng trên tạp chí Chuô Kôron, tờ báo có tiếng thời ấy. Trong thiên truyện này, ông tŕnh bày một cách gián tiếp về quan hệ của ḿnh với người ông (Shiga Naomichi), người thầy (Uchimura Kanzô). Nó là một trong ba thiên truyện có tính cách tự thuật, cùng với Wakai (Ḥa giải) “Làm lành” 1917) và Aru Otoko, Sono Ane No Shi “Một người đàn ông và cái chết của bà chị hắn” (1920).

Thời gian làm lành được với cha, ông đă miêu tả mọi t́nh tiết liên quan đến nó trong Wakai. Đó cũng là tượng trưng cho sự làm lành giữa hai thế hệ Nhật Bản. Tác phẩm này đă ảnh hưởng nhiều đến lớp người đọc trẻ và cảnh tượng hai cha con ôm nhau khóc để quên hết hiềm khích cũ được Shiga kể lại rất sống động.

Tuy nhiên, sau khi làm lành với cha, ông đă đánh mất sự căng thẳng từng là điểm tựa tinh thần cho ông trong sáng tác bấy lâu nay và trở về với con người và nhà văn Đông Phương chuộng ḥa hợp ngay trong cách viết.

Những tác phẩm chủ yếu của Shiga c̣n có Kinosaki nite “Ở Kinosaki ”(1917), Kozo no kamisama Ông trời của thằng nhóc (1920), Haiiro no tsuki “Vầng trăng xám tro” (1946). Âu Mỹ yêu chuộng các truyện ngắn Han no hanzai “Tội của Han” (1913), Seibei no hyôtan “Những quả bầu khô của Seibei” (1913), Takibi (Bếp Lửa).

“Ở Kinosaki” cũng như trong nhiều tác phẩm khác của Shiga Naoya, người ta thấy tính tiểu thuyết hầu như không có v́ nó vừa không có cốt truyện vừa kể lại “sự thực như nó là” mà thôi. Đúng hơn, nó chỉ có công dụng của một mẩu chuyện dựa trên đó người ta trầm tư suy nghĩ về một vấn đề ǵ. Trong truyện nói trên, Shiga tả lại cảnh ông đến vùng suối nước nóng Kinosaki nghỉ dưỡng sức sau khi bị một tai nạn tưởng đă bỏ mạng. Ở Kinosaki, ông đă có dịp chứng kiến nhiều cái chết: cái chết của một con ong trên mái nhà, một con chuột bị xiên, một con tắc kè mà ông đă cầm ḥn đá ném cho chết. Những chi tiết nhỏ đó giúp ông suy nghĩ về việc ḿnh vừa thoát chết. Trong “Những quả bầu khô của Seibei”, truyện chỉ vỏn vẹn một hai trang, ông nói về thú đam mê chơi những quả bầu khô của chú bé Seibei. Seibei bị bố mắng nhiếc v́ chỉ thích chơi tṛ nhảm nhí vô bổ, không chịu học. Qua đó, ông muốn nói lên đam mê nghệ thuật (Seibei thích chơi quả bầu, sau mê vẽ) thường bị cuộc đời (cha và thầy giáo) coi là những tṛ nhảm nhí vô bổ trước khi có những tác phẩm sáng giá được nh́n nhận:

 

Đam mê duy nhất của Seibei: những quả bầu khô.

“Một lát sau, cha của Seibei đi làm về, biết được chuyện, lập tức túm lấy Seibei đang đứng cạnh bên, đánh như mưa bấc. Seibei lúc đó phải nghe những câu chửi như: “Mầy rồi chẳng ra cái thá ǵ đâu!”, “Những đứa như mày phải cút ra khỏi nhà tao ngay!”.

Cha của Seibei chợt thấy mấy quả bầu khô đang treo trên cột. Ông ta bèn xách búa ra đập vỡ nát từng cái một. Seibei mặt tái không giọt máu, chỉ biết lặng thinh.

C̣n ông giáo th́ xem như quả bầu ông ta vừa tịch thu của Seibei như một vật gớm ghiếc phải vứt bỏ đi, mới tống khứ nó cho lăo già giúp việc trong trường. Lăo đem quả bầu khô đó về, treo lên cái cột trong căn pḥng nhỏ bé ám bồ hóng của ḿnh.

Độ hai tháng sau, lăo ta hơi túng tiền một tí bèn đem quả bầu khô kia ra với ư định bán được bao nhiêu hay đó. Lăo xách nó đến tiệm mua bán đồ cổ ngoạn bên cḥm xóm cho người ta xem.

Người bán đồ cổ xăm xoi cái bầu một lúc xong, đẩy nó trước mặt lăo già, lạnh lùng nói:

-Chịu lấy năm Yen th́ tôi mua.

Lăo giúp việc kinh ngạc. Nhưng vốn tinh ranh, lăo làm mặt tỉnh bơ, trả lời:

-Năm Yen làm sao được!

Anh chàng bán đồ cổ tức tốc tăng giá lên mười Yen nhưng lăo già vẫn không đồng ư.

Rốt cục họ ngă giá năm mươi Yen và anh chàng bán đồ cổ làm chủ quả bầu. Lăo già mừng rơn v́ nhờ quả bầu mà ông giáo cho, lăo được một món tiền ngang với bốn tháng lương. Thế nhưng trước mặt ông giáo và Seibei, lăo làm ra vẻ mặt như chẳng có chuyện ǵ xảy ra. Thành thử quả bầu đó về sau thế nào, chẳng ai biết được.

Có điều ngay cả lăo già giúp việc tinh ranh kia cũng không thể tưởng tượng nổi là anh chàng bán đồ cổ đă nhượng quả bầu đó cho một tay nhà giàu trong vùng với cái giá hời là sáu trăm Yen.

…..Bây giờ, Seibei say mê việc vẽ tranh.Lúc này th́ cái ḷng oán hận của cậu đối với ông giáo hăy nỗi sợ hăi đối với người cha đă đang tâm dùng búa đập vỡ những quả bầu yêu quí của ḿnh không c̣n nữa.

Thế nhưng, cha của Seibei lại sắp sửa mở miệng quát mắng con v́ cái tội mê tranh.

(Trích “Những quả bầu của Seibei”)

Hai tác phẩm “Ở Kinosaki ”và “Những quả bầu khô của Seibei” nói trên có vẻ thiếu cốt truyện nhưng không có nghĩa là Shiga Naoya không dựng nỗi một cốt truyện. “Tội của Han”, “Akanishi Akita” (tên người, 1913), “Ông Trời Của Thằng Nhóc” đều chứng tỏ được sự tài t́nh của ông trong việc dàn dựng một cốt truyện.. “Tội của Han” có bố cục của một truyện tâm lư lẫn trinh thám với kết luận khéo léo. Anh chàng người Trung Quốc tên Han phóng dao biểu diễn trong một đoàn xiếc, đă ném dao chết người vợ vốn là người làm bia cho anh khi tŕnh diễn. Trước ṭa, mọi sự có thể đă được xem như một tai nạn nghề nghiệp cho đến khi người ta phác giác ra rằng vợ Han ngoại t́nh và Han vốn đă biết điều đó.Vấn đề ở đây là có ai tin Han khi anh ta bảo rằng khi phóng dao, anh ta chỉ làm công việc của một người tŕnh diễn nhà nghề!

Tuy vậy, trong một số truyện, có khi ông pha trộn sự thực với mộng mị như trường hợp Ko wo Nusumu Hanashi “Truyện trộm con” (1914), một câu chuyện ghi lại thời ông sống ở thị trấn Onomichi vùng biển nội địa Nhật Bản. Truyện kể về một anh chàng cô độc, thèm con đến nổi đi bắt cóc đứa con của một bà mẹ trẻ nhưng sau khi đem nó về nhà th́ chỉ hứng toàn thứ bực ḿnh, phải đem đi trả lại. Kiểu viết này ít thành công hơn v́ ông không kết nối được sự thật (khung cảnh cuộc sống ở Onomichi) với hư cấu (truyện trộm con)

Trong cuộc đời sáng tác phong phú của ông, Shiga c̣n được biết đến với những truyện ngắn khác như Aru Ichipeeji “Một trang nào Đó”, Kurodiasu no Nikki “Nhật kư của Claudius”, Yuki no Ensoku “Cuộc du ngoạn trên tuyết”, Banshuu “Thu muộn”, Kuniko “Cô Kuniko”, Yamahato “Bồ câu rừng”, Asagao “Hoa b́m”…Phần lớn đều đă được dịch ra ngoại ngữ.

Tuy nhiên, tác phẩm được xem như đánh mốc văn nghiệp Shiga Naoya là trường thiên tiểu thuyết Anya Kôro (Ám dạ hành lộ) “Đi trong bóng tối” (1921-23). Truyện nầy đă lấy nguồn cảm hứng từ Tokitô Kensaku (Th́ Nhiệm, Khiêm Tác) (tên nhân vật), một tác phẩm cũng do ông viết có tính chất shi-shôsetsu (tiểu thuyết tự thuật) nói về sự ḥa giải giữa cha và con. Tuy nhiên Shiga đă gạt cái mô-típ sống thực đó ra khỏi truyện và dùng hư cấu để khai triển nó thành một truyện dài. Ông đă mất gần 20 năm mới viết xong. Cốt truyện tóm tắt như sau:

Nhân vật chính Tokitô Kensaku mang một bí mật về nguồn gốc của ḿnh; anh ta là đứa con tư sinh do sự loạn luân giữa mẹ và ông nội. Phần đầu miêu tả thời thanh niên sống không mục đích của một người mang một bí mật quá nặng nề. Người anh của Kensaku tiết lộ cho anh ta biết anh là sản phẩm của tội lỗi nên sẽ không có cô gái nào chịu về làm dâu trong gia đ́nh như thế. Rốt cục, anh cũng t́m ra một người đàn bà chấp nhận làm vợ ḿnh nhưng chưa xong, anh ta lại phải đối đầu với nghịch cảnh khác. Phần thứ hai nói về những lục đục xảy ra giữa vợ chồng v́ sự thiếu chung thủy của vợ đă buông thả trong ṿng tay một người bạn anh. Anh không tỏ ra có phản ứng quyết liệt ǵ mà chỉ lẳng lặng ra đi. Một ḿnh quyết chí bỏ lên ngọn Daisen thuộc tỉnh Tottori. Trên núi cao, anh ta đă t́m được sự ḥa hợp giữa ḿnh với thiên nhiên.  

Shiga Naoya thích đưa súc vật vào tác phẩm.

Shiga Naoya dẫn giải về cách viết của ông trong An-ya Kôro :

“Nhân vật chính Kensaku đă làm những việc mà ngay tác giả, nếu gặp cùng cảnh ngộ th́ sẽ hành động hay muốn hành động theo lối đó. Hoặc tác giả đă từng xử sự y như vậy không chừng. Nói là hợp nhất cả ba lối cũng được.

Nhân vật nữ chỉ v́ lầm lỡ trong giây phút mà phải đau đớn khổ sở nhưng tác giả xin nói thêm là ngoài sự đau khổ của chính cô ta, lầm lỡ ấy cũng đă làm người khác đau khổ biết bao nhiêu.

Điều tác giả muốn viết ra trong An-ya Kôro không phải là để khai triển những ǵ bên ngoài sự kiện mà là khai triển t́nh cảm và tâm lư bên trong các nhân vật dưới ảnh hưởng của các sự kiện đó”.

(theo Zoku -Sôsaku yogi Lại bàn thêm về sáng tác, 1924).

Trong An-ya kôro, có một sự không rơ ràng. Nhân vật chính Kensaku có thể là hư cấu, có thể chính là tác giả, nhiều khi độc giả khó ḷng phân biệt. Hơn nữa, h́nh như Shiga chưa chuẩn bị kỷ lưỡng để chuyển nó từ h́nh thức truyện ngắn qua truyện dài. Nó giống như một emaki-mono nghĩa là cuộn tranh với nhiều bức gộp lại hay một truyện dài tập hợp từ nhiều truyện ngắn mà thành.Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận được là Shiga đă dùng một văn thể rất trong sáng, giản dị, và chính xác trong miêu tả. Toàn thể tác phẩm thể hiện thật đầy đủ phong cách của tác giả.

An-ya kôro đă tŕnh bày Kensaku như một nhân vật mà đời sống nội tâm chỉ dựa trên tự ngă (self), hoàn toàn độc lập với mọi giá trị xă hội như tôn giáo, triết lư và ư thức hệ. Ở điểm này, nhân vật của ông khác với con người theo chủ nghĩa cá nhân (individualism) kiểu Natsume Sôseki. Sôseki luôn luôn bị chi phối bởi đạo đức Khổng Mạnh và văn hóa Tây Phương mà ông hấp thụ. Shiga , theo Katô Shuuichi[13], là một sản phẩm thuần túy Nhật Bản mà ảnh hưởng triết lư Khổng giáo đă xa xôi mơ hồ và văn hóa Tây Phương chỉ thông qua đôi điều học hỏi được ở kỹ thuật viết lách.

 

Shiga (tay phải) bên cạnh Tanizaki Jun.ichirô.            

Sau hết, Shiga Naoya đă để lại những tập hồi kư văn học mang tên Sôsaku Yodan “Sáng tác dư đàm” để giải thích về tác phẩm của ông. Quyển “Sáng tác dư đàm “ này có tục biên và tục tục biên.

B)    Vai tṛ của Shiga trong nhóm Shirakaba (Bạch Hoa):

Tháng 4 năm 1910, một nhóm sinh viên từng học ở Đại Học Gakushuuin (Học Tập Viện), trường dành riêng cho con nhà gia thế đă họp nhau lại thành văn đoàn Shirakaba. Dù tính t́nh và lư tưởng nghệ thuật của những người trong nhóm có khác nhau nhưng họ đều đối đầu với chủ nghĩa tự nhiên (Naturalism) và có cảm t́nh với chủ nghĩa nhân bản (Humanism) kiểu Tây Phương thông qua những nhà văn nhà thơ như Tolstoy và Maeterlinck. Họ có cái ǵ giống như Tự Lực Văn Đoàn của Việt Nam v́ thành viên của hai nhóm đều cũng là những người sinh trong gia đ́nh tư sản, có văn hóa Tây Phương không những trong văn chương mà c̣n trong những lănh vực nghệ thuật khác, có tinh thần vị tha bác ái, có tham vọng làm tốt xă hội nhưng không chấp nhận những thay đổi quá đột ngột và đảo lộn. Giống nhau hơn nữa là cả hai nhóm đều đă thất bại trong những cố gắng của họ và bị nhận ch́m bởi làn sóng đang lên của văn học vô sản thời ấy.

Họ chọn cái tên Shirakaba bởi v́ nó là một loại cây tượng trưng cho sự trẻ trung tươi tắn và c̣n là biểu tượng của văn chương Nga mà họ đều ái mộ. Cả Natsume Sôseki và Akutagawa Ryuunosuke đều tán thưởng công việc của nhóm. Hai anh em Arishima Takeo (Hữu Đảo, Vũ Lang, 1878-1923) và Satomi Ton (Lư Kiến, Tốn, 1888-1983), Mushakoji Saneatsu (Vũ Giả Tiểu Lộ, Thực Đốc, 1885-1976), Nagayo Yoshirô (Trường Dữ, Thiện Lang, 1888-1961)… là những nhân vật cốt cán của nhóm này bên cạnh Shiga Naoya. Shiga rất tận tụy với nhóm và việc ông cùng một người bạn trong nhóm bỏ ngang Đại Học là để có thời giờ đóng góp trọn vẹn cho Shirakaba.

 

Với Mushakoji Saneatsu (tay trái), người bạn thân thiết trong nhóm Shirakaba

Cũng như Nagayo Yoshirô, Shiga đứng giữa Arishima (tả) và Mushakoji (hữu). Trong khi Mushakoji khắc khổ như một người thanh giáo th́ Shiga tỏ ra có khuynh hướng hưởng thụ (hedonism). Dù có một vài người trong nhóm sau chuyển hướng về phía chủ nghĩa xă hội nhưng Shiga lại đi theo con đường ngược lại họ. Chủ nghĩa nhân bản (hummanism) theo kiểu ông và Satomi Ton là tiến về chủ trương thực hiện hoài băo cá nhân (self-realization), không muốn vướng mắc với những ưu tư có tính cách xă hội.

Shiga là thành viên của nhóm được làng văn kính nể nhất. Các nhà phê b́nh gọi ông là “ông thánh văn chương”, “ông thầy truyện ngắn”. Trong khi đó, tác phẩm của nhà văn lớn cùng nhóm là Arishima Takeo bị hững hờ, một phần bởi v́ không phù hợp với một Nhật Bản đang ở trong cơn say của chủ nghĩa quốc túy những năm 1930-40. Măi về sau, Arishima mới t́m được lại chỗ đứng của ḿnh.

C)    Vai tṛ của Shiga trong tư trào Shi-Shôsetsu (Tư Tiểu Thuyết):

Loại tiểu thuyết mang tên Shi-shôsetsu của Nhật Bản có lẽ đă bắt nguồn từ một mạch nước ngầm là ḍng tùy bút, nhật kư và văn chương du hành đă có mặt từ nhiều thế kỷ trước nhưng cuốn tiểu thuyết thời hiện đại có nhuốm màu sắc tự thuật của một Ich Roman “Tiểu thuyết nói về cái tôi” sớm nhất có lẽ là Maihime “Nàng vũ công” của Mori Ôgai. Sau đó mới đến Michikusa “Cỏ bên đường” của Natsume Sôseki, Futon “Tấm nệm giường” của Tayama Katai rồi Hakai “Xé rào” của Shimazaki Tôson.

Ta biết rằng tiểu thuyết tự thuật sau đó sẽ phân ra làm hai nhánh: nhánh theo chủ nghĩa tự nhiên ( với Kasai Kenzô, Makino Shin.ichi, Uno Kôji, Kamura Isota)[14] và một nhóm thứ hai chịu ảnh hưởng của Shiga có thể mệnh danh là nhóm “tiểu thuyết tâm trạng” (mental attitude novel) gồm bà Amino Kiku (Vơng Dă, Cúc, 1900-78), các ông Takii Kosaku (Lũng Tỉnh, Hiếu Tác, 1894-1984), Ozaki Kazuo (Vĩ Kỳ, Nhất Hùng, 1899-1983) nếu chỉ kể những nhà văn thuộc loại có tên tuổi. Ảnh hưởng của Shiga nhiều khi ra ngoài lănh vực văn chương mà tác động cả vào cuộc sống của các đệ tử. Trường phái tiểu thuyết tự thuật của Shiga nổi bật với những đặc tính sau: một cốt truyện có nghiên cứu kỹ lưỡng, nhiều chi tiết có chất thơ, mang màu sắc khắc kỷ (stoic) và đầy những t́nh huống cá nhân bất hạnh. Tuy nhiên, phải nh́n nhận là trong nhóm đệ tử của ông, không ai đạt được tŕnh độ thượng thừa trong bút pháp như thầy ḿnh. 

TIẾT III: LIÊN HỆ GIỮA AKUTAGAWA VÀ SHIGA:

Akutagawa và Shiga không đi lại với nhau nhiều. D. Keene kể lại theo lời của Shiga th́ ông và Akutagawa chỉ gặp nhau có bảy lần trong thời gian bảy năm họ quen biết nhau. Shiga cũng cho biết là Akutagawa hay đọc truyện của ông nhưng ngược lại, ông không đọc Akutagawa bao nhiêu. Shiga c̣n chống đối một số thủ pháp của Akutagawa như việc ông để người viết giữ lại một số chi tiết của câu chuyện mà không cho độc giả biết. Ví dụ trong Hôkyônin no Shi ““Cái chết của một con chiên”, Akutagawa đă đợi đến phút cuối cùng mới tiết lộ cho độc giả việc sư huynh Lorenzo chính ra là một phụ nữ giả trai.

Akutagawa đặc biệt chú ư đến tác phẩm của Shiga, từng viết cho một người bạn vào năm 1917: “Từ khi đọc Wakai “Làm Lành”, tôi chán không muốn viết tiểu thuyết nữa”, có lẽ v́ ông bị ấn tượng mạnh từ lối viết khác lạ của Shiga. Mikan “Mấy trái quưt”(1919) tả cảnh đứa bé gái nghèo đi ra tỉnh kiếm ăn, từ trên toa tàu, ném mấy quả quít cho lũ em, cảnh tượng làm Akutagawa cảm động nên ghi lại, đă bị ảnh hưởng phong cách “tiểu thuyết có chất thơ” (poetic fiction) của Shiga. Truyện ngắn Torokko “Chiếc xe gọng” (1922) của Akutagawa nói về hai đứa trẻ đẩy một chiếc xe gọng trên đường ray đi quá xa, lúc trời sập tối, phải chạy băng băng về nhà trong sợ hăi tột cùng, cũng có nội dung giống như truyện Manazuru (1920), trong đó Shiga tả hai đứa bé đi mùa quà ở thị trấn bên cạnh bị bóng tối bao vây trên con đường về.

Chính “Chiếc xe gọng” cũng mở đầu cho loạt bài viết của Akutagawa có tính cách tự truyện theo lối Shiga. Về các bài ấy phải kể đến Yasukichi no Teichô kara “Trích từ sổ tay của Yasukichi” (1923), ghi lại những kỷ niệm lúc ông làm giáo sư Anh Văn ở trường Hải Quân Yokosuka và Haruguma “Trong guồng máy” (1927). Trong Haguruma, tác phẩm cuối của ḿnh, Akutagawa đă nói về xúc động làm ông phát khóc khi đọc về sự xâu xé trong nội tâm nhân vật của An.ya Kôrô “Đi trong bóng tối” của Shiga.

Akutagawa đi đến chỗ ngưỡng mộ Shiga như lúc ông viết Bungeiteki na, amari ni bungeiteki na “Văn nghệ, văn nghệ quá đỗi” (1927), cho rằng Shiga c̣n viết hay hơn cả Tolstoy và kính phục sự tự ư thức có tính cách một sĩ quân tử chính cống nơi Shiga, khác hẳn với con người “bàng hệ” (epigonen) như ông, chỉ mô phỏng v́ bị chủ nghĩa cá nhân kiểu Tây Phương thu hút.

Trong buổi văn niên, với t́nh trạng sức khỏe suy sụp và thần kinh rối loạn, Akutagawa đă chịu thế hạ phong đối với Shiga dầu ông cũng tỏ ra cao thượng khi tỏ ḷng ngưỡng mộ “địch thủ”. Nhân đây, cũng nói thêm rằng Akutagawa hăy c̣n một địch thủ thứ hai, đó là phong trào văn học vô sản. Tuy vào thời điểm đó, ông cũng bó tay trước khí thế đang lên của phong trào này nhưng đă kết luận trong một bài luận thuyết như sau:

“Điều duy nhất tôi đặt hy vọng vào là tự do về mặt tinh thần, dù là vô sản hay tư sản, không bao giờ phải bị hủy diệt. Có nghĩa là ta phải nh́n thấy sự ích kỷ vừa là kẻ thù nhưng cũng là người bạn. Nếu tất cả những người vô sản đều tốt và tư sản đều xấu th́ cuộc đời thực là quá đơn giản. Để được đơn giản như thế th́ cả làng văn Nhật phải đổi tên thành làng văn chủ nghĩa tự nhiên”. 

Trích Puroteria Bungei no Kahi “Chấp nhận hay không văn học vô sản? (1/1923)


 

[1] Tập tùy bút gồm 250 đoạn thật ngắn nói lên những nhận định cực kỳ độc đáo của tác giả đối với cuộc đời, con người, đạo đức, nghệ thuật và cả bản thân. Shuuju (người thấp bé, dwarf) là người mà tứ chi không phát dục kịp người thường, ư khiêm xưng là hèn kém, dốt nát.

([2]) Thần thoại Hy Lạp về Icarus trong, người gắn cánh bay lên mặt trời bị sáp nóng chảy và rơi xuống chết.

([3]) Henri de Régnier (1864 - 1936), nhà văn Pháp phái tượng trưng sau chuyển qua phái tân cổ điển.Chết rất trẻ.

[4] Người đàn bà ấy có thể là Hiramatsu Masuko (B́nh Tùng, Tố Ma Tử), bạn thân từ hồi trung học của bà Fumi, vợ ông. Bà là người có lúc đă hẹn quyên sinh với ông ở Khách Sạn Đế Quốc nhưng sau đổi ư.

([5]) Có lẽ người ta xem động cơ tự sát của văn nhân lúc nào cũng phức tạp hơn người thường. Trường hợp Romain Gary (Pháp), Ernest Hemingway (Mỹ), Dazai, Arishima, Mishima và Kawabata (Nhật) đă làm tốn nhiều mực.

([6]) Trong Dawn to the West.

([7]) Kamo no Chômei (Áp, Trường Minh, 1155? - 1216), người thời Kamakura, cất am trong núi. Hojoki là một tác phẩm cổ điển của ḍng văn học ẩn sĩ.

([8]) Trong ḍng văn học này c̣n có Lỗ Tấn (Lu Xun, 1881 - 1936), một tên tuổi vĩ đại khác.

([9]) Giáo sư Hasegawa trong Chiếc mùi soa” thất vọng với Vũ Sĩ Đạo rốt cuộc chỉ c̣n biết đặt ḷng tin vào “cái lồng đèn Gifu bằng giấy phết có vẻ h́nh mấy cọng cỏ thu”, tượng trưng đơn sơ của tâm hồn Nhật Bản đích thực, treo trước hiên nhà.

[10] Uchimura Kanzô, 1861-1930, chủ trương theo đạo Ki-Tô nhưng không cần có giáo hội. Chống chiến tranh Nhật-Nga. Năm 1907, Shiga Naoya chia tay với Uchimura.

[11] Chất độc mỏ đồng Ashio ô nhiễm nước sông Watarase gây tai họa cho nông dân là một vụ án lớn nhất thời Meiji, nguyên đơn nhờ cả thiên hoàng can thiệp. Giới trí thức Nhật Bản thời đó rất xúc động. Cha của Shiga ủng hộ tài phiệt Furukawa tức giới chủ, tranh luận với ông và do đó, cha con đă bất ḥa trong một thời gian dài.

[12] Về sau ông lập gia đ́nh với bà Sadako (Khang Tử), em họ của Mushakoji Saneatsu, một cô gái góa, lại bị gia đ́nh chống đối nhưng họ sống rất hạnh phúc bên nhau.

[13] Katô, Shuuichi, sđd, quyển 3, trang 206.

[14] Xin tham khảo thêm bài số 21 về Nhóm Shirakaba và Tiểu Thuyết Tự Thuật.

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com