Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

Quyển Hạ: Từ Cận Kim đến Hiện Kim

 Chương 24 :

Văn xuôi Shôwa giai đoạn 1926-1945.

Những năm sôi động trước khi lâm chiến cho đến ngày bại trận

Nguyễn Nam Trân

 

TIẾT I : TỔNG QUAN :

Xin được chia thời hiện kim làm hai phân đoạn: giai đoạn trước thế chiến thứ hai tức Shôwa tiền bán (1926-1945) khởi đầu lúc thiên hoàng Shôwa (Chiêu Ḥa) lên ngôi rồi chấm dứt bằng việc Nhật đầu hàng Đồng Minh và giai đoạn sau thế chiến tức Shôwa hậu bán (1945-1989), thời kỳ kết thúc bằng sự từ trần của thiên hoàng Shôwa.

Như đă tŕnh bày trong bài nói về văn học Taishô, giai đoạn trước chiến tranh được đánh dấu trước tiên bằng sự bành trướng thế lực của phong trào văn học với sự kết hợp của các nhà văn theo khuynh hướng nầy dưới lá cờ của Liên Minh Toàn Nhật Bản Các Nhà Nghệ Thuật Vô Sản. Nhóm các ông Kobayashi Takiji (Tiểu Lâm, Đa Hỉ Nhị) đă cho ra đời những tác phẩm có tính phê phán mạnh mẽ, lôi cuốn được tầng lớp độc giả trí thức. Thế nhưng từ sau biến cố Măn Châu[1] và từ khi cuộc xâm lược lănh thổ Trung Quốc của họ bắt đầu, chính quyền Nhật Bản đă tạo được một guồng máy đàn áp mạnh mẽ ở quốc nội, dồn phong trào dùng văn học để tranh đấu chính trị vào thế cùng. Sau đó, người ta chứng kiến sự hồi sinh của lớp nhà văn đă thành danh, sự kết hợp giữa các nhà văn gọi là “chuyển hướng” và các nhà văn đứng ngoài phong trào văn học vô sản làm thành luồng “Văn Nghệ Phục Hưng” (Bungei Fukkô, Renaissance) qui tụ chung quanh nhà phê b́nh Kobayashi Hideo (Tiểu Lâm, Tú Hùng). Tuy phong trào đó gây được không khí mới nhưng không bền lâu bởi v́ chiến tranh Trung Nhật đă lan rộng ra thành chiến tranh Thái B́nh Dương. Chiến trường càng mở rộng th́ thế lực phát xít càng ngăn chặn quyền tự do ngôn luận cùng với những tự do khác.Văn học trở thành văn học “quốc sách” mà mục đích duy nhất là cỗ vũ cho tinh thần chiến đấu của quân đội đế quốc. Ngay cả việc giữ im lặng để lương tâm khỏi bị cắn rứt cũng đă là việc khó khăn cho nhà văn. Văn học hầu như bị phá sản và sự im ĺm chưa từng có của văn học Nhật Bản kéo dài đến tận ngày bại trận.

 

TIẾT II: TƯ TƯỞNG VÀ PHÊ B̀N

A) Các Nhà Phê B́nh Văn Học :

Giai đoạn đầu thời Shôwa có hai khuynh hướng trong lănh vực phê b́nh. Một của trường phái theo chủ nghĩa hiện đại, nhất là nhóm mang tên Tân Duy Cảm hay Tân Cảm Giác (Neo-Sensualism) qua một vài bài nghị luận của Yokomitsu Riichi và Kawabata Yasunari, một của những người Mác –xít. Thế nhưng ta có thể nói trong giai đoạn cuối những năm 1920 và đầu thập niên 1930, 80% văn b́nh luận là của những nhà văn thuộc hệ tư tưởng Mác-xít.

Ai cũng biết chính quyền thời ấy đă đàn áp các nhà văn Mác-xít thẳng tay nhưng nếu lấy công tâm mà bàn, người ta thấy văn nghị luận của họ rất khởi sắc và ngày nay người ta c̣n nhớ đến họ cũng chỉ v́ những hoạt động trong địa hạt này hơn là trong địa hạt tiểu thuyết.

Nói thế không phải để bảo thời đó đă có những cây viết nghị luận văn học Mác-xít có tầm cỡ của Georg Lukacs[2] hay Christopher Caudell bên trời Tây. Sau khi bị buộc phải từ bỏ lư tưởng, họ đă không mấy khó khăn để tiếp tục viết v́ một số luận cứ của họ như “Châu Á của người Á Châu” cũng là khẩu hiệu của chính quyền quân phiệt, khác nhau chăng chỉ là cách nói. Ngay cả chuyện nghiên cứu nghệ thuật dân gian cũng trở thành đa nghĩa v́ hành động này có thể vừa phục vụ cho chủ nghĩa quốc túy (Ultra-nationalism) lẫn chủ nghĩa Cộng Sản, tùy theo lối giải thích của mỗi bên. Người quốc xă t́m thấy qua đó niềm tự hào khám phá cái tinh ṛng của ṇi giống Nhật, người cộng sản nhờ đó mà hướng về đối tượng chính của ḿnh tức là giai cấp lao động b́nh dân.Cảnh “đồng sàng dị mộng” này sẽ tiếp diễn giữa hai bên cho đến khi thế chiến thứ hai kết thúc.

Tuy nhiên, cây bút b́nh luận nổi tiếng nhất thời này lại không phải là những người nói trên mà là Kobayashi Hideo, một thành viên của tờ Bungakkai (mới). Năm 1929, tiểu luận Samazama naru Ishô “Bàn về các loại mô thức” đoạt được giải nh́ về luận thuyết của tạp chí Kaizô (Cải Tạo), giải nhất về tay Miyamoto Kenji với Haiboku no Bungaku “ Văn chương của thất bại”. (Miyamoto sau này sẽ trở thành lănh tụ đảng Cộng Sản trong suốt 27 năm trời và đóng vai tṛ quan trọng trên chính trường Nhật Bản thời hậu chiến). Nhờ giải thưởng đó, Kobayashi đă đến với làng văn.

1) Kobayashi Hideo (Tiểu Lâm, Tú Hùng, 1902-1983)

Người gốc Tôkyô. Trên ghế Dự Bị Đại Học, đă cùng với các bạn như Tominaga Tarô (Đức Vĩnh, Thái Lang) và Nagai Tatsuo (Vĩnh Tỉnh, Long Nam) cho ra tờ Yamamayu “Con ngài núi” (1924). Vào học văn chương Pháp ở Đại Học Đông Kinh v́ bị lôi cuốn bởi những Baudelaire, Valéry, Gide và nhất là Rimbaud. Ở đây, ông quen biết nhà thơ Nakahara Chuuya (Trung Nguyên, Trung Dă). Sau đó, ông bắt đầu viết b́nh luận văn học và có được một chỗ đứng vô cùng quan trọng trong nghề nếu không nói là nhà phê b́nh được kính trọng nhất trong lịch sử văn học Nhật hiện đại. Hợp tác với Hori Tatsuo ra tạp chí Sakuhin “Tác Phẩm” (1930), trong đó ông phê phán các nhà văn vô sản đă hấp tấp đem chủ nghĩa Marx ứng dụng vào văn học nhưng cũng đặt lại vấn đề về hướng đi của loại tiểu thuyết tự thuật, một gịng văn học quan trọng khác đương thời mà đối với ông, là thiếu xă hội tính. Năm 1933, qua tờ Bungakukai “Văn Học Giới” (bộ mới) mà ông cùng Kawabata chủ trương, tham gia tích cực vào các hoạt động giao lưu văn học để mong giữ cho văn học thế đứng độc lập của nó..

Về sáng tác, trước chiến tranh ông viết Dosutoefusukii no seikatsu “Đời hoạt động của Dostoievsky” (1939) như một nghiên cứu thực tiễn về sáng tạo văn chương, rồi sau đó, rời văn học để bước qua lănh vực tư tưởng nói chung. Đối tượng các tác phẩm phê b́nh sau chiến tranh của ông rất rộng răi từ âm nhạc Mozart đến hội họa Van Gogh, từ triết lư của Bergson đến tư tưởng quốc học của Motoori Norinaga. Tác phẩm quan trọng của ông đó “Mujô to iu koto “Bàn về lẽ vô thường”(1942-43), Kangaeru Hinto “Gợi ư để suy nghĩ”, Motoori Norinaga (1965-1976) mà ông đă mất trên mười năm để hoàn thành.

 

Kobayashi Hideo (trái) và nhà văn Shimao Toshio (ảnh năm 1978)

Tập b́nh luận Samazama naru Ishô “Bàn về các loại mô thức”của Kobayashi Hideo đă bắt đầu với câu nói sau đây của André Gide:

Nghi ngờ có thể là dấu hiệu của sự khôn ngoan. Thế nhưng khi sự khôn ngoan bắt đầu là lúc nghệ thuật chấm hết”

Ông nghi ngờ sự khôn ngoan bắt nguồn từ những mô thức (hay lư thuyết văn học) mà người ta dựa vào đó để chỉ trích người khác bởi v́ theo ông, phán xét người khác theo lề lối thưởng thức có sẵn của ḿnh th́ quá dễ. Theo ông, nếu ngày xưa Plato đă đuổi thi sĩ ra khỏi Cộng Ḥa (Republic) th́ Marx cũng đuổi họ ra khỏi Tư Bản Luận (Das Kapital) của ḿnh. Ông không thích khẩu hiệu “nghệ thuật phải phục vụ vô sản” nhưng cũng không đồng ư với đường lối “nghệ thuật vị nhân sinh” mà ông cho là không c̣n hơi hướm của t́nh người.Ông từ chối tất cả mọi thước đo. Ông nghĩ chỉ có “sự tự giác” của người phê b́nh là thước đo duy nhất có thể chấp nhận được và ông chỉ tin vào “thái độ b́nh tâm” (jinjô) trong lúc phê b́nh mà chủ trương không cần lên lớp ai và thuyết phục ai mà chỉ làm rơ cho ḿnh (jiko shômei). Nói tóm lại, Kobayashi cho rằng nhà phê b́nh phải tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm để hiểu nó mà không cần để ư đến bối cảnh lịch sử chung quanh cũng như chụp bắt lấy nó bằng một mô thức phê b́nh đă có sẵn. Chính v́ thế mà ông ngưỡng mộ phong cách làm việc của nhà nghiên cứu quốc học Motoori Morinaga thời Edo mà ông đă bỏ ra nhiều năm để nghiên cứu kỹ lưỡng.

Khốn nỗi, Norinaga tuy đă chết từ lâu trước khi chủ nghĩa phát xít ra đời nhưng đă được tôn vinh như một biểu tượng của tinh thần quốc gia cực đoan trước và sau chiến tranh. Hơn nữa, dù muốn dù không, vào năm 1937, Kobayashi đă có những dấu hiệu đến gần chủ nghĩa quốc túy Nhật Bản như khi ông bày tỏ ḷng ngưỡng mộ Kikuchi Kan, một nhà văn dính líu rất sâu đậm với chế độ. Từ năm 1938 đến 1944, ông có thái độ cộng tác gián tiếp với chính quyền quân phiệt khi đi tham quan 6 lần các vùng chiếm đóng (Măn Châu, Triều Tiên) và đọc diễn văn trước các hội đoàn ủng hộ chiến tranh Đại Đông Á như Hội Nhà Văn Yêu Nước và Đại Hội Các Nhà Văn Quyết Định Thắng Lợi Đại Đông Á.

Chỉ sau chiến tranh, Kobayashi mới rút lui về với văn chương cổ điển qua các nghiên cứu về Truyện Heike, tùy bút của ẩn sĩ Kenkô, thơ của tăng Saigyô hay tướng quân Sanetomo và nới rộng phạm vi phê b́nh của ông ra cả ngoài phạm vi văn học. Ông mất năm 1983 thọ 81 tuổi.

3) Những nhà phê b́nh tiền chiến khác:

Trong bộ môn b́nh luận thời Shôwa tiền chiến, người ta c̣n thấy xuất hiện nhiều khuôn mặt trẻ, họ sẽ tiếp tục hoạt động sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt. Ta phải kể đến trước tiên Nakamura Mitsuo (Trung Thôn, Quang Phu, 1911-1988), tác giả cuốn Futabatei Shimei-ron “Bàn về Futabatei Shimei” (1936), Miki Kiyoshi (Tam Mộc, Thanh, 1897-1945), người viết Jinseiron-Nôto “Ghi lại lời b́nh về cuộc đời”(1939-1942). Sau đó là tiểu thuyết gia Takeda Taijun (Vũ Điền, Thái Thuần, 1912-76), người rất am tường về Trung quốc, với Shibasen (Tư Mă Thiên) (1943), Karaki Junzô (Đường Mộc, Thuận Tam, 1904-1980) với  Ôgai no seishin “Tinh thần Mori Ôgai” (1943), nhà văn kiêm b́nh luận gia Sakaguchi Ango (Phản Khẩu, An Ngô, 1906-55) với Nihon Bunka Shikan (Nhật Bản văn hóa tư quan) “Cái nh́n cá nhân tôi về văn hóa Nhật Bản” (1943) và một số người khác như Kurahara Korehito (Tàng Nguyên, Duy Nhân), Nakajima Kenzô (Trung Đảo, Kiện Tàng, 1903-1979), Tanigawa Tetsuzô (Cốc Xuyên, Triệt Tam, 1895-1989), Hayashi Tatsuo (Lâm, Đạt Phu, 1896-1984), Odagiri Hideo (Tiểu Điền Thiết, Tú Hùng), Takeuchi Yoshimi (Trúc Nội, Hảo, 1910-1977), chuyên môn nghiên cứu về Trung Quốc, tác giả Rojin (Lỗ Tấn, 1944), v.v… 

a) Nakamura Mitsuo (Trung Thôn, Quang Phu, 1911-1988)

 

Nakamura Mitsuo

Ông tên thật là Koba Ichirô (Mộc Đ́nh, Nhất Lang), người Tôkyô. Tốt nghiệp văn chương Pháp Đại Học Đông Kinh, từng viết văn, soạn kịch nhưng sở trường về b́nh luận. Uyên bác về văn học Pháp nhất là văn chương thế kỷ 19. Nhân một cuộc bút chiến với Niwa Fumio (Đan Vũ, Văn Hùng) ông đă viết tác phẩm tiêu biểu Fuuzoku shôsetsuron “Bàn về tiểu thuyết “phong tục”” (1950) để phê phán văn học hiện đại Nhật Bản đă thoái hóa v́ đă đánh mất lư tưởng và chỉ vùi đầu vào khai thác kỷ xảo và cảm xúc. Tác phẩm chủ yếu của ông có Futabatei Shimei Den “Truyện kư về Futabatei Shimei” (1958) và Shiga Naoya Ron “Bàn về Shiga Naoya” (1953). Ta đă biết hai nhân vật này không những là nhà văn hàng đầu mà c̣n là những nhà lư luận về tiểu thuyết.

Hai nhà b́nh luận xuất thân từ tạp chí Nihon Roman Ha “Nhật Bản Lăng Mạn Phái” là hai ông Kamei Katsuichirô (Qui Tỉnh. Thắng Nhất Lang) và Yasuda Yojuurô (Bảo Điền, Dữ Trọng Lang).  Kamei Katsu.ichirô trước là người Mác xít nhưng đă quay lưng lại và phê phán văn học vô sản (sự nghiệp của ông sẽ được nhắc đến đầy đủ hơn trong phần giới thiệu về những nhà văn chuyển hướng).

b) Yasuda Yojuurô (Bảo Điền, Dữ Trọng Lang, 1910-81)

Ông người vùng Nara, tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh. Đề xướng một quan điểm mỹ thuật có tính phản chủ nghĩa cận đại[3], ông lôi cuốn được sự chú ư của người cùng thời. Về trứ tác, ông có Nihon no hashi “Cây cầu Nhật Bản”, Gôtba-in “Thái thượng hoàng Gotoba” Manyôshuu no seishin “Tinh thần tập thơ Man.yôshuu”, Nihon ni inoru “Nguyện cầu cho nước Nhật”.

c) Miki Kiyoshi (Tam Mộc, Thanh, 1897-1945)

Triết gia người tỉnh Hyôgo, tốt nghiệp Đại Học Kyôto, từng du học ở Đức. Ông chịu ảnh hưởng của triết gia Martin Heidegger. Khi về nước trở thành giáo sư Đại Học Hôsei ở Tôkyô. Ban đầu nghiên cứu chủ nghĩa Marx, sau đến gần với triết học của Nishida Kitarô[4]. Cuối thế chiến thứ hai, bị t́nh nghi chống chiến tranh, tống giam và chết sau khi chiến tranh chấm dứt được ít lâu. Trước tác có: Pasukaru ni okeru ningen no kenkyuu “Nghiên cứu về con người trong tác phẩm Pascal” Yuibutsu shikan to gendai ni ishiki “Duy vật sử quan và ư thức về hiện đại”, Tetsugaku nôto “Sổ tay triết học” Kôsôryoku no riron “Lư luận về trí tưởng tượng” 

B) Các nhà tư tưởng khác của giai đoạn Taishô:

Một số trí thức Nhật Bản thuộc thế hệ sinh ra trước sau 1900 cũng đă ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Nhật từ những năm 1930 trở lại. Thời Taishô là một giai đoạn rất phong phú về mặt tư tưởng. Những nhà trí thức đó đă chịu nhiều số phận khác nhau: kẻ bị cảnh sát lùng bắt hoặc sát hại, kẻ chết bệnh, người chết trận trong thời kỳ 15 năm chiến tranh nhưng có người vẫn hoạt động sau cả thời chiến.

Ta có thể nhắc tới Kita Ikki (Bắc, Nhất Huy, 1883-1937), lư thuyết gia quốc xă của các sĩ quan bảo hoàng và nguồn cảm hứng của thể chế quân phiệt. Ngược lại, Yamakawa Hitoshi (Sơn Xuyên, Quân, 1880-1958), nhà lư luận đă tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Nhật, sử gia Hani Gorô (Vũ Nhân, Ngũ Lang, 1901-1983), học giả kinh tế Noro Eitarô, (Dă Lữ, Vinh Thái Lang, 1900-1934), sử gia Hattori Shisô (Phục Bộ, Chi Tổng)1901-56), cả ba là những nhà tư tưởng Mác-xít có tiếng tăm. Ngoài ra c̣n phải kể đến nhà b́nh luận Hayashi Tatsuo (Lâm, Đạt Phu, 1896-1984) và học giả văn chương Pháp chuyên về Rabelais là Watanabe Kazuo (Độ Biên, Nhất Phu, 1901-75), các nhà thông thái như Nambara Shigeru (Nam Nguyên, Phồn, 1889-1974), học giả chính trị học, và Yanagihara Tadao (Liễu Nguyên, Trung Hùng, 1893-1961).

C) Các nhà nghiên cứu văn học ngoại quốc:

Dưới thời Taishô, hoạt động nghiên cứu văn học ngoại quốc cũng rất phồn thịnh.

Tại Đại Học Kyôto, trong lănh vực nghiên cứu Trung Quốc đă có những tên tuổi sáng giá như học giả Đông Phương Học Naitô Kônan (Nội Đằng, Hồ Nam, 1866-1934), sử gia Kuwabara Jitsuzô (Tang Nguyên, Chất Tàng, 1870-1931) và triết gia Kano Naoki (Thú Dă, Chân Hỷ, 1868-1947). Cần phải kể thêm học giả sử học Kaizuka Shigeki (Bối Chủng, Mậu Thụ, sinh năm 1904) chuyên môn về sử đời Ân và học giả cổ văn đời Đường Yoshikawa Kôjirô (Cát Xuyên, Hạnh Thái Lang, 1904-80). Hai ông này cùng với nhà khoa học giải Nobel vật lư năm 1948 là Yukawa Hideki (Thang Xuyên, Tú Thụ, 1907-81) được người Trung Quốc xưng tụng là Kinh Đại tam kiệt (ba nhân tài lỗi lạc của Đại Học Kyôto).

Về nghiên cứu Âu Châu đă có Watanabe Kazuo (Độ Biên, Nhất Phu, 1900-75) nghiên cứu Erasme, Montaigne và Rabelais là những nhà tư tưởng khai phóng từng đứng lên phê phán thái độ cuồng tín và co cụm trong tư tưởng. Bối cảnh thời thế của Watanabe càng cho ta thấy ư nghĩa việc làm của ông. Hayashi Tatsuo từ giă Kabuki để đặt trọng tâm của công việc nghiên cứu vào Watteau, Verlaine, Debussy và ảnh hưởng của thời Phục Hưng. Hayashi c̣n dịch Le Rire “Tiếng Cười” của Henri Bergson (1938). Trong lời tựa của cuốn sách đó trong lần tái bản năm 1976, ông đă lần lượt kiểm kê những tiếng cười thấy trong tác phẩm của Molière, Freud và Levi-Strauss. Nhà văn Ishikawa Jun đă dịch L’Immoraliste “Kẻ Vô Luân” và Les Caves de Vatican “Những căn hầm ở Vatican” của Andres Gide. Ngoài ra, như ta đă biết, Kobayashi Hideo nghiên cứu phương Tây rất kỹ lưỡng, từ Rimbaud, Valéry đến Bergson, không kể các công tŕnh lớn về Mozart, Dostoievsky và Van Gogh.

 

TIẾT III: TIỂU THUYẾT

 

A) Khuynh hướng văn học vị nghệ thuật:

Vài năm đầu (1926-1934) đời Shôwa (1926-1989), trong khi văn học vô sản c̣n đang cháy lên bùng bùng th́ có một khuynh hướng ra đời đối kháng lại nó dưới chiêu bài thuần túy văn học và phi chính trị. Đó là trường phái gọi là Geijutsuha (Nghệ thuật phái).

Ta biết văn học hiện đại Nhật Bản chịu ảnh hưởng của Âu Tây kể từ thời Meiji về sau. Nó có được tính mới mẽ (modernity) là nhờ học hỏi lối viết của các tác gia có tầm cỡ như Dostoievski, Nietzche, Joyce, Proust, được lần lượt nhập vào Nhật từ đợt này đến đợt khác. Thế nhưng cái mới mẽ của thời kỳ đầu Shôwa này là kết quả đặc biệt của ảnh hưởng từ các nhà văn thuộc hệ phái Vị Lai Ư (Italian Futurism)[5] khoảng đầu thập niên 1920, nối tiếp bằng các nhà văn trường phái Siêu Thực (Surrealism)[6] và Đa-đa (Dadaism)[7]. Đặc điểm của chúng là chống lại truyền thống hiện đại đă có cho nên người ta không thể gọi chúng là văn học hiện đại (modern literature) mà phải mệnh danh nó là văn học duy hiện đại (modernist literature).. Các trường phái duy hiện đại Nhật Bản thường có cái tên bắt đầu bằng chữ Tân như Tân Cảm Giác, Tân Tâm Lư, Tân Nghệ Thuật vv….Tuy nhiên, cần chú ư một điểm quan trọng là đối với một số nhà văn như Tanizaki hay Kawabata chẳng hạn. Văn chương của họ không thể gọi là duy hiện đại v́ ảnh hưởng của phong trào này chỉ thấy thoáng qua. Bảo họ là duy hiện đại e sẽ đưa đến ngộ nhận. Nơi các tác giả khác như Satô Haruo hayYokomitsu Riichi th́ mới thấy rơ ràng hơn.

1) Phái Cảm Giác Mới (Shin Kankaku-ha = Tân Cảm Giác Phái):

Trường phái này được xem như trung tâm của văn học duy hiện đại Nhật Bản. Tờ Bungei Jidai[8] (Văn Nghệ Thời Đại) do một nhóm bạn bè cùng chí hướng và là những nhà văn mới đăng đàn lập ra vào năm Taishô 13 (1924) đă là điểm tựa của trường phái Cảm Giác Mới (Shin Kankakuha, Neo-sensualism). Họ chủ trương dùng cảm giác cấu tạo lại từ cơ sở lư trí làm phương tiện để bắt gặp hiện thực chứ không phải dựa trên cảm giác đơn thuần. Cảm Giác Mới được coi như phương pháp linh động và phong phú được sử dụng để bắt gặp sự vật hơn là phương pháp cảm giác. Họ c̣n đặt trọng tâm vào h́nh thức diễn đạt hơn là nội dung diễn đạt. Đó là điểm then chốt ngăn cách họ với những nhà văn thuộc khuynh hướng vô sản. Tiêu biểu cho phái này có ba nhân vật: Yokomitsu Riichi, Kawabata Yasunari và Kataoka Teppei (Phiến Cương, Thiết Binh, 1894-1944). Yokomitsu thú nhận có lần đă dao động trước chủ nghĩa Marx trong khi Teppei về sau đi theo nhóm văn học vô sản.

 

Kataoka Teppei (khoảng năm 1930 tại tư gia)

a) Yokomitsu Riichi (Hoành Quang, Lợi Nhất, 1898-1947)

Yokomitsu quê ở miền Đông Bắc Nhật Bản, con một kỹ sư hỏa xa nên đi theo cha, sống rày đây mai đó. Ông bắt đầu viết văn từ 1917 và có một tác phẩm quan trọng là Kanashimi no daika “Giá của nỗi buồn” (khoảng 1920) nói về một người vợ ngoại t́nh với bạn của chồng (theo nhà văn Nakayama Gishuu, bạn ông, kể lại 40 năm sau th́ câu chuyện này là một kỷ niệm đau thương tương tự của bản thân Yokomitsu thời đi học ở Waseda khi cô bạn gái của ông nằm trên giường một anh bạn khác). Kawabata xem đây như là biến cố quan trọng trong đời văn của Yokomitsu đă đưa ông tiếp xúc với khuynh hướng cảm giác mới. Yokomitsu đă viết lại truyện này với cái tên mới Maketa otto “Người chồng thua cuộc” (1924).

Ông thử sử dụng một văn thể mới trong Nichirin [9] “Vầng dương” (1923) để ra mắt bạn đọc, rồi với Hae “Con ruồi” (1923), Kikai “Máy Móc” (1930), ông tiếp tục khai triển lối viết ấy.

“Vầng Dương” kể lại những biến cố đẫm máu xảy ra dưới đời Himiko, nữ vương thời cổ Nhật Bản, người có nhiều yếu tố thần thoại, được coi như là con cháu của nữ thần mặt trời, khi bà ta trả thù đàn ông. Qua đó ông cho ta thấy cảm xúc về sự tàn bạo ở nơi một người đời xưa và nơi một người đời nay không khác nhau bao nhiêu. “Con ruồi” nói về một chú ruồi vô tư lự hút máu con ngựa đang kéo xe rồi dửng dưng bay vào trong không gian vắng lặng của trưa hè sau khi chứng kiến chiếc xe ngựa đâm xuống hố v́ người đánh xe ngủ gục. Tai nạn này làm chết tất cả đám hành khách, mỗi người cho đến lúc đó c̣n đang mang một ưu tư hay ôm ấp một ước vọng trong đời. Truyện như muốn nói lên cái tàn ác của định mệnh và việc con người không làm chủ được số phận ḿnh.

Trong “Máy móc”, nhân vật “tôi” là công nhân trong một xưởng làm bảng ghi tên (name plate) nói về những phức tâm giữa anh ta và hai đồng nghiệp v́ một đồng nghiệp đă đánh cắp bí mật của hăng đem cho kẻ khác. Đây là một tác phẩm áp dụng phương pháp tiểu thuyết tâm lư vào thực tế viết văn và đă được sự chú ư của độc giả.Yokomitsu sử dụng một thủ pháp mới với một nhân vật ở “ngôi thứ tư” để nói lên cái không đích xác của sự đánh giá nơi con người đối với đồng loại. Nhà phê b́nh Kobayashi Hideo đă khen tặng không tiếc lời.

Truyện cho thấy vận mệnh của con người và ư chí của anh ta không có ǵ liên quan với nhau. Số phận của con người chỉ được quyết định bởi cách nh́n (có tính máy móc) của người khác mà thôi. Có lẽ truyện này đă khởi hứng từ một bài viết của Paul Valéry, trong đó, nhà văn Pháp đă xem “chủ nghĩa hư vô là trung tâm điểm của ư thức cá nhân nơi con người”.[10]

Văn Yokomichi rất đặc biệt: gọn gàng, chấm câu và sang câu đột ngột. Người ta thấy nó rơ nhất qua Hae “Con ruồi” hay Atama narabi ni hara “Đầu với bụng” Ông bị nhiều người chỉ trích cũng v́ thế. Bản thân ông thú nhận đă thất bại trong việc sủa đổi lối hành văn của người Nhật.

Trạm xe mùa hạ vắng ngắt. Duy, trong một góc chuồng lờ mờ tối, một con ruồi mắt thô lố vướng phải mạng nhện, tung hai chân sau vùng vẫy phá lưới. Ṭn ten một lúc, nó rơi ngọt như một hạt đậu. Con ruồi lại ḅ từ một cọng rơm dựng nghiêng, đầu cong v́ dính cứt ngựa, lên đậu trên lưng con ngựa đă được tháo khỏi xe.

Con ngựa ngậm yên một cọng cỏ khô mắc trong răng cấm, đưa mắt t́m lăo đánh xe lưng kḥm. Lăo đang ngồi đánh cờ trước tiệm bánh bao bên hông trạm. Lăo đang thua luôn ba ván.

(Trích “Con ruồi”, bản dịch của Đinh Văn Phước)

Buổi trưa. Một chiếc tàu tốc hành đông nghẹt người phóng hết tốc độ. Nhà ga ven đường sắt bị bỏ quên, trơ như ḥn đá.

(Trích “Đầu và bụng”)

 

 

Yokomitsu Riichi

Tác phẩm được coi như là kiệt tác của ông, Haru wa basha ni notte “Mùa xuân đi xe ngựa” (1925) kể lại một kinh nghiệm cá nhân. Đó là việc nuôi Kojima Kimiko, người vợ trẻ của ông đang lâm trọng bệnh và sau đó, bà chết lúc mới 25 tuổi. Shanghai “Thượng Hải” (1928-1931) là tiểu thuyết dài duy nhất của ông, nói về một biến cố sát thương xảy ra ở Trung Quốc năm 1925 nhân một cuộc đ́nh công nhưng không mang màu sắc đấu tranh giai cấp như Kuroshima Denji trong “Đường phố vơ trang” (1930) mà chỉ tŕnh bày không khí kinh dị của thành phố Thượng Hải, nhất là trong các tô giới, mà không có một lời nào để phê b́nh giới tư bản Nhật.

Đám đông bám vào dăy sạp bày ngoài trời. Trứng luộc chất đầy các rỗ tre. Đầu mấy con chim treo trên quầy rũ xuống, bọn dắt khỉ diễn tṛ đứng giữa đống chao và ớt đỏ. Mỡ cứ đong đưa theo nhịp chân người. Một quả xoài lăn lóc giữa đám giày cũ đă há mơm, những ḥn than đá lấp lánh, trứng vỡ, và mấy mụ đàn bà bó chân đang chọc chọc vào những cái bong bóng cá căng phồng.

(Trích “Thượng Hải”)

Như thế, rơ ràng là về mặt h́nh thức th́ Yokomitsu đă thể hiện được cái không khí hỗn loạn và bẩn thĩu của thành phố Thượng Hải, nơi có những con kênh ngập ngụa đủ loại chất thải của loài người, cái trái ngược của hai lối sống thiếu vệ sinh của người Hoa và sạch sẽ của người Nhật. Ông đă cho thấy hai giống người này không thể ḥa đồng được với nhau cho dù người Nhật có hút thuốc phiện và mặc quần áo Hoa.

Kawabata phê b́nh rằng “Thượng Hải” đă thể hiện được lối viết của trường phái Cảm Giác Mới nghĩa là đi từ quan sát ngoại giới vào đến quan sát nội tâm.

Trong Monshô “Giữ nếp nhà ” (1934), ông đem so sánh người trí thức quá nghĩ về ḿnh với nhà phát minh năng nỗ hoạt động, với mục đích tŕnh bày tâm lư người trí thức trong thời kỳ bị dao động v́ bị chỉ trích từ mọi phía. Tác phẩm này đă có tiếng vang v́ nó đề cao tinh thần tích cực của người Nhật Bản trong việc làm và khẳng định những giá trị Nhật Bản trước làn sóng Tây Phương.

Sau đó, trong Ryoshuu “Buồn trên xứ người” (1937, dở dang), ông đưa ra chủ đề sự đối lập giữa tinh thần Tây Phương với tinh thần Đông Phương. Truyện viết về hai thanh niên Nhật đến Paris du học. Một người (tên Yashiro) nặng tinh thần Nhật Bản, người kia (Kuji) hâm mộ Tây Phương. Nhân câu chuyện liên quan đến cuộc đời t́nh ái của Yashiro, các nhân vật xuất hiện trong truyện bàn luận về chủ đề nên theo Âu hay trở về với Đông Phương. Yokomitsu bênh vực cho lối suy nghĩ thứ hai. Điều này giải thích tại sao Kawabata rất gần gũi với Yokomitsu.

b) Kawabata Yasunari (Xuyên Đoan, Khang Thành, 1899-1972):

Kawabata Yasunari thời trẻ (khoảng năm 1930)

Kawabata là một tác gia tiêu biểu của phong trào Cảm Giác Mới, vào thời đó đă nổi tiếng ngang hàng với Yokomitsu Riichi. Tuy được nhắc đến trong bài này trong vai tṛ cột trụ của trường phái Tân Cảm Giác nhưng vốn là một nhà văn quan trọng của cả văn học Nhật hiện đại cho nên văn nghiệp của ông đă được tŕnh bày trong một chuyên luận (bài số 23 ) bên cạnh Tanizaki Jun.ichirô.

2) Phái Nghệ Thuật Mới (Shinkô Geijutsu-ha = Tân Hưng Nghệ Thuật Phái):

Chịu ảnh hưởng của nhóm Cảm Giác Mới, các nhà văn hoạt động trong khuôn khổ nhà xuất bản Shinchô (Tân Trào) đă qui tụ lại và thành lập nhóm Nghệ Thuật Mới.Tuy nhiên, mục đích của họ không ǵ khác hơn là để đối chọi với phong trào văn học vô sản, chứ không đề xướng một lư luận văn học nào rơ ràng. Trong bọn họ có Nakamura Murao (Trung Thôn, Vũ La Phu, 1886-1949) và Ryuutanji Yuu[11] (Long Đảm Tự, Hùng, 1901-1992) thuộc lớp các nhà văn dùng sinh hoạt ở các vùng đô thị làm đề tài.Người trẻ mới bước vào làng văn như Ibuse Masuji (Tỉnh Phục, Chiêm Nhất, 1898-1993), và Makino Shin-ichi (Mục Dă, Tín Nhất, 1896-1936) cũng như Kajii Motojirô đă mở màn cho một giai đoạn văn học giàu cá tính.

a) Kajii Matajirô (“Vĩ” [12]Mộc, Cơ Thứ Lang, 1901-1932):

Kajii Matajirô, nhà văn đă được đề cập đến trong phần tiểu thuyết tự thuật, từ hồi học trung học đă bị chứng viêm hoành cách mô, sống khổ sở. Vào Đại Học Đông Kinh theo khoa Anh văn, cùng với các bạn đồng chí hướng, thành tập tạp chí Aosora (Thanh Không) “Trời Xanh” năm 1925. Sau đó, cho ra đời các tác phẩm Lemon “Quả chanh”, Shiro no aru machi nite “Ở khu phố có cái thành” (1925) nhưng không được chú ư. Đến khi bệnh tái phát, ông đi dưỡng bệnh ở vùng suối nước nóng Yugashima ở Izu, nhân đó quen biết và thân thiết với Kawabata Yasunari. Ông kể về cuộc sống ở Izu trong Fuyu no Hae “Con ruồi mùa đông” (1928), Nonki no kanja “Người bệnh không biết lo” (1932) như một thế giới tượng trưng cấu tạo qua sự tiếp xúc giữa trạng thái tinh thần đang xuống dốc v́ bệnh hoạn của ông và ngoại giới. Cũng thế, trong một tác phẩm khác, Sakura no ki no shita ni wa “Dưới gốc cây anh đào” (1928), ông nói về ảo giác của một con bệnh, cứ nghĩ dưới gốc cây anh đào măn khai thật đẹp kia phải có ai đă chôn một xác chết. Cho đến lúc qua đời, không ai biết văn tài của Kajii. Chỉ sau khi ông mất, người ta mới bắt đầu đánh giá ông cao.

b) Ibuse Masuji (Tỉnh Phục, Chiêm Nhất, 1898-1993):

 

 

       Từ trái sang: Nakano Shigeharu, Sata Ineko và Ibuse Masuji

Ông người vùng Kamo, thuộc tỉnh Hiroshima nhưng hầu như suốt đời sống ở Tôkyô. Văn nghiệp ông bao trùm từ thời kỳ trước đến sau chiến tranh. Theo học ở Đại Học Waseda từ năm 1917, ông đă có dịp nghe Tsubouchi Shôyô giảng về Shakespeare.

Tập truyện đầu tay Sanshôuo (Sơn tiêu ngư) “Con kỳ nhông” (1923-29) và Yofuke to ume no hana “Đêm khuya và hoa mơ” (1925) cũng như Yane no ue no Sawan [13]“Sawan trên mái nhà” (1929) là những tác phẩm hay, pha trộn bi và hài để miêu tả cuộc đời, tương trưng cho phong cách nhất quán trong các tác phẩm của Ibuse.

Thực ra, Sanshôuo là tập truyện ngắn đă được in ra với nhan đề Yuuhei (U bế) “Giam cầm” vào năm 1923. Ibuse đă cho chữa lại và tái bản năm 1939.

Truyện có tính cách ẩn dụ: một con kỳ nhông đang sống một đời sung sướng trong hốc đá giữa núi non, một ngày v́ cái đầu phát triển quá to nên không làm sao ra khỏi hốc được nữa. Ông như muốn thác ngụ truyện bản thân qua h́nh ảnh con kỳ nhông. Trong thời kỳ mà Đại Học Waseda và văn đàn đang tập trung vào văn chương hiện thực, phong cách và đề tài đi ra ngoài đường hướng của Ibuse không được mấy ai chú ư. Thế nhưng lối viết tưởng chừng là hời hợt của ông dần dần chinh phục độc giả. Nó đem lại cho họ một cảm giác nhẹ nhàng khoan khoái v́ giữ được khoảng cách với những vấn đề nhức nhối của thời cuộc. Những người bạn văn đồng thời đại của Ibuse không thiếu ǵ những kẻ đă ch́m đắm trong tuyệt vọng, tự tử hoặc t́m lối thoát trong viễn mơ chính trị hoặc thẫm mỹ. Ibuse là một nhà văn đại chúng. Tuy nhiên ông làm các nhà phê b́nh văn học bối rối v́ họ không biết xếp ông vào khuynh hướng nào.

Có thể nhờ thái độ an nhiên tự tại của ông mà văn nghiệp của ông đă kéo dài gần bảy mươi năm. Ta sẽ trở lại với Ibuse khi nói về văn học hậu chiến.

3) Chủ nghĩa Tâm Lư Mới (Shin Shinri = Tân Tâm Lư):

Đó là khuynh hướng văn học bắt nguồn từ việc học hỏi phương pháp diễn tả bề sâu tâm lư con người của tác tác giả như Joyce[14] và Proust[15]. Hai kiện tướng của phong trào nầy là Itô Sei (Y Đằng, Chỉnh, 1905-1969) và Hori Tatsuo. Itô đă t́m ṭi cách viết tân tâm lư qua 2 tác phẩm thí nghiệm Yuuki no machi “ Thành phố của những hồn ma ” (1937) và Yuuki no mura “ Thôn làng của những hồn ma ” (1938).

a) Itô Sei (Y Đằng, Chỉnh, 1905-1969):

 

Itô Sei (tay phải) và nhà phê b́nh Hirano Ken (ảnh năm 1967)

Itô thuộc lớp người thuộc thế hệ đến sau Yokomitsu Riichi một chút và cùng chịu ảnh hưởng của trường phái duy hiện đại nhưng sự khác nhau giữa họ rất rơ ràng. Yokomitsu biết tới khuynh hướng duy hiện đại qua các bản dịch văn Paul Morand và Gustave Flaubert sang tiếng Nhật trong khi Itô tự tay ḿnh dịch D.H. Lawrence và James Joyce. Ông xem Joyces như bậc thầy và sử dụng bút pháp “ḍng tâm thức” (stream of conciousness) cũng như “độc thoại nội tâm” (Interior monologue) của nhà văn Ái Nhĩ Lan.

Itô người tỉnh Otaru miền bắc nước Nhật, thân với Kobayashi Takiji trên ghế trường Cao Đẳng Thương Mại của thành phố. Tuy không cùng tư tưởng chính trị với ông này nhưng ông vẫn nhắc đến người bạn cũ trong nhiều tác phẩm của ông.

Năm 1927, Itô lên Tôkyô, cùng bạn bè lập ra tạp chí Bungei Rebyuu, trong đó ông đăng tác phẩm đầu tay Kanjô saibô no danmen “Mặt cắt đôi của tế bào t́nh cảm” (1930) được sự chú ư của văn đàn nhờ bài điểm sách của Kawabata. Trong truyện này, ông đă sử dụng kiến thức về tâm phân học (psychoanalysis) của Freud để phân tích tiềm thức của Narumi, một anh chàng thanh niên đang yêu qua hành động viết hớ (lapsus) của anh ta. Sau đó, ông c̣n đi xa hơn trong việc t́m hiểu bút pháp của các nhà văn Tây Phương bằng cách dịch Du côté de chez Swann “Phía gia đ́nh của Swann” của Marcel Proust., Les chants de Maldoror “Những ca khúc Maldoror” của Lautréamont và Ulysses “Uy-Lịch” cũng của Joyce.

Ảnh hưởng của Joyce c̣n được thấy lại trong M Hyakkaten “Tiệm bách hóa M” (1931), một câu truyện viết theo lối “ḍng tâm thức”, Seibutsusai “Lễ hội của người sống” (1932), trong đó ông miêu tả cái chết của cha ḿnh, cũng như Yuuki no machi “Thành phố của những hồn ma” (1937) mà trong đó, thành phố Otaru, quê hương ông, co dáng dấp của Dublin như trong tác phẩm của Joyce.

Năm 1938, ông cho ra mắt tập truyện dài đầu tay Seishun “Tuổi trẻ”, miêu tả một người trẻ đi t́m lẽ sống, một trong nhũng tác phẩm có giá trị văn chương về chủ đề này. Tuy nhiên, theo đà chiến tranh Đại Đông Á (1944), ông bắt đầu tỏ ra có khuynh hướng bài ngoại kịch liệt. Sự thay đổi này đă làm nhiều người thất vọng về ông, một người đă gần gũi với Joyce và văn học Tây Phương, Có lẽ thái độ của ông chẳng khác ǵ thái độ của Yokomitsu nghĩa là qua tiếp xúc với Tây Phương, đă t́m ra một ư thức mới về bản chất của con người Nhật Bản.

Sau chiến tranh, ông vẫn tiếp tục viết và viết rất nhiều: Narumi Senkichi (tên người, 1946-48), tiểu thuyết nói về một nhà trí thức Nhật lưỡng lự giữa chủ nghĩa cộng sản và tư bản, Hi no Tori “Con chim lửa” (1949-53) ngụ ư về cuộc xung đột giữa Đông và Tây qua h́nh ảnh Ishikuma Emi, cô gái có hai ḍng máu Anh và Nhật, Wakai shijin no shôzô “Khuôn mặt một nhà thơ trẻ” (1953-56), thiên tự truyện với đầu đề vay mượn của Joyce, Hanran “Tràn ngập”, nói về một nhà hóa học đă có một khám phá quan trọng có thể ám chỉ việc một nhà văn (chính bản thân Itô) chiến đấu bền bỉ để t́m ra một phong cách viết mới. Năm 1950, ông dịch Lady Chatterley’s Lover “Người t́nh của phu nhân Chatterley” của nhà văn Anh D.H. Lawrence và bị lôi ra ṭa. Ngoài ra, ông c̣n dạy ở hai trường đại học, dịch Graham Greene cũng như biên soạn hai tác phẩm nghiên cứu công phu Shôsetsu no hôhô “Phương pháp của tiểu thuyết” (1948) và Nihon bundan shi “Nhật Bản văn đàn sử” (từ 1953).

b) Hori Tatsuo (Quật, Th́n Phu, 1904-1953) :

Người Tôkyô. Quen với Kobayashi Hideo, Takeyama Michio, Fukuda Kyuuya từ ngày c̣n học Dự Bị Đại Học. Ông dă theo học quốc văn ở Đại Học Đông kinh. Được các nhà phê b́nh xem như nhà văn đại biểu cho văn học chủ nghĩa hiện đại dù văn nghiệp của ông hầu như chấm dứt từ truớc chiến tranh (1943). Trong lúc c̣n ở trên ghế nhà trường, cùng với bạn bè chung chí hướng chung quanh tập trung quanh thi sĩ Murou Saisei đă cho ra mắt tạp chí Roba (Lư Mă) “ Con lừa ” (1938). Nhiều người trong nhóm sau rẽ qua văn học vô sản nhưng Hori vẫn tiếp tục giữ đường lối viết văn của ḿnh. Ông bắt đầu theo thủ pháp của Proust tập mổ xẻ tâm lư trong Seikazoku (Thánh gia tộc) “Gia Đ́nh Thiêng Liêng ” (1930), đem kinh nghiệm về cuộc sống ở nhà an dưỡng viện bài lao tŕnh bày trong Utsukushii Mura “ Ngôi làng xinh ” (1933). Sau đó, ông chịu ảnh hưởng của văn học cổ điển Nhật Bản mà viết Arano (Khoáng dă) “Đồng rộng ” (1941). Kaze tatanu “ Gió đă nổi ” (1936) lấy tựa đề từ một câu thơ[16] của Paul Valery[17] trong “ Nghĩa địa bên bờ biển ” là một tiểu thuyết cỡ nhỡ nói về nhân vật xưng “ tôi ” và vị hôn thê của anh ta, Setsuko, người đang an dưỡng trong viện bài lao, đă t́m ra t́nh yêu vĩnh cữu sau khi nàng chết. Chủ đề này lấy cảm hứng từ cái chết của Yano Ayako, hôn thê của chính Hori.

Không chỉ có Proust, Hori c̣n chịu ảnh hưởng các tác giả Tây Phương khác như Rilke, Radiguet, Heine, Cocteau, Gide, đặc biệt là Francois Mauriac v́ ông đă viết Naoko, cuốn tiểu thuyết mà tựa đề mang tên một người con gái lấy một ông chồng lớn hơn cô mười tuổi nhưng lúc nào cũng núp dưới bóng bà mẹ, không độc lập được.Các nhà nghiên cứu cho rằng thái độ chán ghét chồng của nhân vật Naoko có nhiều chỗ tương tự với Thérèse Desqueyroux của Mauriac cho dù phản ứng của Naoko không đi quá xa như nàng Thérèse này. Genitrix, một truyện khác của Francois Mauriac, cũng có nói tới một bà mẹ ghen tuông, muốn muốn buông con ḿnh ra.

Ngoài những tác phẩm vừa kể, ông c̣n viết Naoko (Thái Huệ Tử ) “ Cô Naoko ”, tiểu thuyết cỡ nhỡ cũng mang màu sắc lăng mạn và thuần khiết của một mối t́nh giữa đôi bạn trẻ từ ngày ấu thơ, tập tùy bút Yamatoji Shinanoji (Đại Ḥa Lộ, Tín Nùng Lộ) “ Đường về Yamato, đường về Shinano ” (1943-44).

Hori có liên quan đặc biệt với Akutagawa. Ông là đàn em của Akutagawa trên ghế trung học rồi đại học, rất được ông anh kia thương mến. Khi Akutagawa tự sát, Hori bị dao động mạnh nhưng khắc phục được và viết luận văn ra trường với đề tài “ Bàn về Akutagawa Ryuunosuke ”. Sau đó, trong Seikazoku (1930) ông đă mượn h́nh ảnh Akutagawa làm mẫu cho nhân vật của ông, qua một nhà văn tên gọi Kuki (Cữu Quỷ) c̣n ḿnh đóng vai nhà văn khác có tên là Henri (Biên Lư). Nhân khi Kuki tự sát, Henri đă miêu tả phản ứng tâm lư của những người chung quanh trước cái chết đó.

Ảnh hưởng của Hori đối với các nhà văn thế hệ sau thông qua tạp chí Shiki “ Bốn Mùa ” mà ông thành lập với Miyoshi Tatsuji vào năm 1933. C̣n đối với Nakamura Shin.ichirô hay Fukunaga Takehiko, những nhà văn được độc giả hậu chiến yêu chuộng, Hori là một người hướng dẫn và là một người bạn.

Nói chung, văn học theo chủ nghĩa duy hiện đại sớm cáo chung ở Nhật nhưng công lớn của phong trào này, qua Satô Haruo, Yokomitsu Riichi, Itô Sei và Hori Tatsuo đă thực hiện được một điều quan trọng là giới thiệu được với độc giả Nhật Bản những tác giả quan trọng của Tây Phương thế kỷ 20 thông qua tác phẩm của ḿnh Sau khi các tác giả đă chọn một con đường khác v́ bị cuốn vào cơn lốc của lịch sử Nhật Bản, ảnh hưởng của họ vẫn c̣n truyền măi đến thời hậu chiến và được thấy qua lối hành văn của các nhà văn tiền vệ như Ishikawa Jun hay Abe Kôbô dù những nhà văn này không chủ tâm viết theo lối của những người đi trước đó.

4) Văn học Shôwa thập niên 1930 :

Từ khi có biến cố Măn Châu[18] năm Shôwa thứ 6 (1931) trở đi, xă hội Nhật Bản ch́m sâu trong một thời kỳ tối tăm mê loạn. Dân chúng càng ngày càng lo âu.Văn học trong thời đại nầy rất nhạy cảm với những vấn đề xă hội và đă phản ứng lại những kích động chính trị đương thời nên văn học mang một sắc thái đặc biệt. Các nhà văn hoặc “ chuyển hướng ” (conversion, reorientation) để thoát khỏi phong trào văn học vô sản, hoặc đi t́m kiếm đâu là lương tâm của người cầm bút, hoặc trở về với truyền thống dân tộc (nhưng có khi rơi vào cái bẩy của chủ thuyết Đại Đông Á)...Nói cách khác, trên văn đàn bấy giờ đă có những luồng văn học đa dạng và giao thoa với nhau.

Thế rồi, sau khi chiến tranh Thái B́nh Dương bùng nổ, văn học chẳng c̣n được coi ra ǵ và các nhà văn bị trưng dụng, bị bắt buộc hợp tác trong nỗ lực chiến tranh. Những ngày đen tối như thế đă kéo dài cho đến lúc Nhật đầu hàng.

B) VĂN HỌC CHUYỂN HƯỚNG (TENKÔ BUNGAKU)

Năm Shôwa thứ 8 (1933), nhân việc nhà văn Kobayashi Takiji bị chết trong lúc cảnh sát bắt giữ, hai người lănh đạo Đảng Cộng Sản Nhật Bản thời bấy giờ là Sano Manabu (Tá Dă, Học) và Nabeyama Sadachika (Quá Sơn, Trinh Thân) nghĩ đến chuyện phải thay đổi đường hướng đấu tranh. Các nhà văn trong phong trào văn học vô sản lần lượt đi theo đường lối gọi là “ chuyển hướng ” (tenkô) nầy. Văn học chuyển hướng[19] có nghĩa là văn chương do những nhà văn thay đổi đường hướng viết ra, nói trắng ra là ly khai đường lối của  đảng Cộng Sản Nhật. Tuy nhiên nội dung của nó cũng bộc lộ dưới h́nh thức tự thuật (shi-shôsetsu) nỗi khổ tâm của các người đó khi phải chọn lựa sự chuyển hướng như thế. Thật ra, kể từ năm 1929, trong bọn họ đă có khuynh hướng đi t́m một đường lối vận động vô sản “ phù hợp với t́nh cảm dân tộc ” nhưng chưa hề có một nhà lănh đạo nào đứng ra đề xướng.

Cái khác nhau giữa nhà văn Nhật Bản và nhà văn Âu Châu là khi không đồng ư với đường lối nhà cầm quyền, nhà văn Ư hay Đức có thể lưu vong, trong khi nhà văn Nhật không biết phải đi đâu ngoài quần đảo họ đang sống. Nhà văn Âu Mỹ từ bỏ lư tưởng Cộng Sản của họ thường là vào lúc đánh mất niềm tin trong khi nhà văn Nhật Bản làm như thế v́ không chịu nỗi áp lực đến từ chính quyền, gia đ́nh hay những người thân thuộc. Có đến 95% những người ra tuyên ngôn chuyển hướng là những nhà văn đang bị giam giữ.

Tác phẩm tiêu biểu về loại nói trên có Hakuya (Bạch dạ) “ Đêm trắng ” (1934) của Murayama Tomoyoshi (Thôn Sơn, Tri Nghĩa, 1901-1977), Yuujô (Hữu t́nh) “ T́nh bạn ” của Tateno Nobuyuki (Lập Dă, Tín Chi, 1903-1971). Phải kể thêm Mura no Ie “ Nhà trong thôn” (1935) trong đó Nakano Shigeharu (Trung Dă, Trọng Trị, 1902-1979) xác định lại lập trường của ḿnh hay Seikatsu no Tankyuu “ Đi T́m Lối Sống ” (1937) của Shimaki Kensaku (Đảo Mộc, Kiện Tác, 1903-1945) với ước mơ tái sinh, để t́m một lối sống mới. Có cả những người tiến về một chiều hướng đối nghịch với thái độ trước đó của ḿnh như Hayashi Fusao (Lâm, Pḥng Hùng, 1903-1975) với Seinen (Thanh Niên, 1934), đă lao đầu vào chủ nghĩa phát xít.

Sau đây là hoàn cảnh cá nhân của một số nhà văn đă “chuyển hướng ” :

 

1) Shimaki Kensaku (Đảo Mộc, Kiện Tác, 1903-1945) :

 

Shimaki Kensaku

Ông người vùng Sapporo trên đảo Hokkaido, thuở nhỏ rất nghèo phải bỏ học, chạy việc vặt trong một ngân hàng. Lên Tôkyô vừa đi làm vừa đi học nhưng bị lao, ho ra máu, đành về quê. Ông có dịp đọc “ Lời kêu gọi thanh niên ” của nhà cách mạng Nga Kropotkin và làm quen với tư tưởng xă hội. Sau theo học Luật ở Đại Học Tohoku tỉnh Sendai nhưng bỏ dở để dấn thân tranh đấu, gia nhập đảng Cộng Sản năm 1927. Đến 1928 th́ bị ruồng bố và bắt giam. Trong tù ông ốm nặng nên phải tuyên thệ từ bỏ lư tưởng của ḿnh nhưng vẫn không được tha mà c̣n bị cấm cố thêm ba năm nữa. Ra khỏi nhà giam, ông bắt đầu viết văn. Tác phẩm đầu tay là Rai “ Hủi ” (1934), Mômoku “ Đui ” (1934) và sau đó là Goku “ Ngục ” (1934) đều nói về đời sống ngục tù và cuộc chiến đấu với bản thân để khỏi phải “ hồi chánh ”. Tác phẩm quan trọng nhất của ông có lẽ là Daiichigi no Michi “ Con đường của đại nghĩa ” (1936) trong đó ông mô tả thái độ rẽ rúng của mọi người đối với nhân vật Junkichi, một tenkôsha nghĩa là người cộng sản đă quay lưng lại với lư tưởng, một tín đồ bội đạo. Sau đó, trong Tenkôsha no hitotsu no baai “ Về trường hợp của một người chuyển hướng ” (1936). ông lên tiếng oán trách “ tổ chức ” của ḿnh đă không t́m cách giúp đỡ những người đồng chí có khi chỉ là nạn nhân.

Lúc đó, Shimaki không chuyển hướng đi theo một lư tưởng nào khác nhưng để quay về đóng góp thực chất vào cuộc sống người lao động qua những hoạt động trong nông hội.Trong giai đoạn này, ông cho ra đời Seikatsu no tankyuu “ Đi t́m lẽ sống ” (1937) và Saiken “ Xây dựng lại ” (1937), hai tác phẩm nói lên những kinh nghiệm  đi “ về nông thôn ” đó.

Tuy nhiên trong đoạn đời sau của Shimaki, thái độ bài ngoại của ông và lập trường ủng hộ chính sách khai khẩn thuộc địa ở Măn Châu mà ông đă ngây thơ, ấu trĩ tưởng đó là nơi ḿnh và các đồng bào nghèo đói ở miền đông bắc Nhật Bản có thể t́m thấy “ lẽ sống ”, đă để lại những dư vị chua cay. Ông qua đời ngày 17 tháng 8 năm 1945, hậu quả của bệnh lao, hai hôm sau khi Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện.

2) Takeda Rintarô (Vũ Điền, Lân Thái Lang, 1904-46) :

 

 

Takeda Rintarô

Takeda người gốc Ôsaka, con một viên cảnh sát. Ông học văn chương Pháp ở Đại Học Tôkyô, trước là nhà văn trong phong trào vô sản, sau chuyển sang miêu tả cuộc đời của tầng lớp b́nh dân. Ông chủ trương tạp chí văn nghệ Jinmin Bunko “ Nhân Dân Văn Khố ” và có những tác phẩm như Nihon Sanmon Opera “ Kịch opêra ba xu Nhật Bản ” (mượn cái tựa một vở kịch của Bertold Bretch), Ginza Hatchô “ Phố thứ tám ở Ginza ”, Ihara Saikaku “ Tiểu thuyết gia Saikaku ” vv...

Tư tưởng thiên tả của ông đă lộ ra từ Bôryoku “ Bạo lực ” (1929), tác phẩm đầu tay, đăng trong tạp chí Bungei Shunjuu và bị sở kiểm duyệt cắt ngay nhưng v́ tư tưởng tự do luyến ái ông đề cập trong đó hơn là v́ chống đối chính trị. Tiểu thuyết của ông tuy có màu sắc cách mạng nhưng nó thường pha lẫn với t́nh tiết luyến ái, phóng đăng mà bối cảnh là những trà đ́nh và xóm làng chơi, có cái không khí của xă hội thời Edo thấy trong văn Saikaku và kịch Chikamatsu.

Ông được xem như nhà văn “ chuyển hướng ” tuy chưa từng biện hộ cho một lư tưởng chính trị nào rơ ràng qua tác phẩm, chỉ “ điều chỉnh ” từ từ đường hướng viết văn khoảng giữa năm 1932-1938 chứ chưa hề ra tuyên ngôn chối bỏ lập trường. Có lẽ v́ khi bị động viên đi chiến trường Java vào tháng ba 1942, người ta sung ông vào công tác tuyên truyền cho dân đảo, làm ông không viết lách bao nhiêu trong khoảng thời gian này.

Tuy tên tuổi Takeda thường gắn liền với Shimaki Kensaku v́ cùng biểu lộ trong văn chương quyết tâm để sống c̣n và cùng chết sớm, khi vừa qua khỏi cái tuổi 40, chưa phát triển hết tài năng, nhưng tính t́nh và phong cách hai người khác nhau. Ông lúc nào cũng nhẹ nhàng tươi sáng, đối nghịch với cái nghiêm trang, khắc khổ của Shimaki. Trong khi Shimaki gắn bó với nông thôn, đối tượng quan sát của ông là người b́nh dân thành phố nhưng văn chương ông vắng bóng một mục đích rơ ràng. Thêm một điều làm ông khác với Shimaki.

3) Takami Jun (Cao Kiến, Thuận, 1907-1965)

 

Takami Jun (ảnh chụp năm 1946 ở Kamakura)

Takami người tỉnh Fukui, con vô thừa nhận của một ông quan đầu tỉnh với cô gái làng có nhiệm vụ phải hầu quan trong cuộc tuần du của viên này. Mẹ ông làm nghề khâu vá, hy sinh để nuôi ông nên người. Lúc theo học văn chương Anh ở Đại Học Tôkyô (1927-30), ông đă bị chủ nghĩa Marx lôi cuốn nhưng không đến nỗi đốt tác phẩm của Tanizaki (v́ chê ông này thiếu ư thức xă hội) trong sân trường như các bạn cùng nhóm “ Nghiên Cứu Tư Tưởng Xă Hội ”. Hấp thụ cả lư luận văn học theo chủ nghĩa Đa-đa cho dù mang tiếng thiên tả, thái độ cóc-cần-đời và vóc dáng công tử bột của ông làm ông không giống những người Mác-xít chính thống như Kobayashi Takiji và Shimaki Kensaku. Tuy vậy ông cũng tham gia các hoạt động cánh tả và nh́n nhận văn chương phải phục vụ chính trị. Ông bị bắt khi đứng đầu một chi bộ công đoàn trong hăng luyện thép vào tháng 2 năm 1933, thời mà Kobayashi Takiji bị cảnh sát tra tấn đến chết. Bắt đầu viết văn kể từ khi “ chuyển hướng ” v́ bị đàn áp và đánh đập trong tù, chủ đề của ông là những khổ tâm của một trí thức độc lập. Kinh nghiệm bị đàn áp như thế nào đă được ông miêu tả trong tác phấm Shin.en “ Sâu thẳm ” viết dang dở và ấn hành năm 1950. Trong đó qua nhân vật Tsutomi, ông cho biết đă bị đánh đập, bị dụ dỗ theo phát xít, gia đ́nh phải tan nát như thế nào. Việc vợ ông bỏ theo người khác lúc ông đi tù c̣n hằn dấu trong các tác phẩm khác của ông và khiến ông sống đời lang thang, sa đọa.

Trước chiến tranh, Takami có viết Kokyuu wasureubeki “ Phải quên được t́nh cố cựu” (1935-36) và Ikanaru hoshi no shita ni “ Dưới các v́ sao nào đây ! ” (1939-40) . Tác phẩm trước nói về một nhóm thanh niên hy sinh lư tưởng chủ nghĩa xă hội thời trẻ của họ để được sống c̣n, tác phẩm sau nói về quá khứ của những con người sống trong vùng Asakusa, một xóm ăn chơi, mà tác giả nghe kể lại khi đi lang thang trong các quán rượu. Asakusa năm 1940 hăy c̣n là một ốc đảo b́nh yên giữa một Nhật Bản đang sôi sục.

Trong thời chiến, ông bị gửi qua chiến trường Miến Điện và Trung Hoa. Lúc ấy (1933), ông viết một số tiểu luận biện hộ cho chính sách Đại Đông Á , việc mà ông tiếc hận về sau v́ đă “ bán thể xác ” cho quân phiệt. Sau khi ḥa b́nh văn hồi, ông viết Gekiryuu “ Ḍng Nước Ngược ” (1959-63), Iya no Kanji “ Cảm giác khó chịu ” (1960-63) kể lại những biến chuyển nội tâm của một trí thức cánh tả không đảng phái. Ông c̣n để lại tập nhật kư ghi chi ly t́nh tiết giai đoạn 1941-65 cũng như trường biên Shôwa Bungaku Suiseiki “ Ghi chép về những ch́m nổi của văn học thời Shôwa ” (1952-57) và tuyển tập thơ Shi no Fuchi kara “ Từ trong vực chết ” (1964), ra đời một năm trước khi ông mất với ḷng ước muốn “ chết như một người Cộng Sản”.

4) Ba nhà văn “ chuyển hướng ” khác :

Có rất nhiều nhà văn cánh tả đă chối bỏ lư tưởng để đi theo lập trường “ ái quốc ” mà ai cũng biết là trong bối cảnh của giai đoạn lịch sử thập niên 1930 và 1940 có nghĩa là ủng hộ chính quyền quân phiệt. Ba nhà văn “ chuyển hướng ” khác đáng được nhắc đến là Murayama Tomoyoshi, Hayahi Fusao và Kamei Katsuichirô.

a) Murayama Tomoyoshi (Thôn Sơn, Tri Nghĩa, 1901-1977) :

Ông sinh ở Tôkyô và được biết đến như nhà viết kịch và diễn viên. Du học ở Đức (1921-23) về, chịu ảnh hưởng chủ nghĩa tượng trưng và Đa-đa, trước tổ chức đoàn nghệ thuật tiền vệ sau thiên về chủ nghĩa xă hội rồi cộng sản, có chân trong tổ chức kịch nghệ Nihon Puroretaria Gekijô Dômei (Nhật Bản Vô Sản Kịch Trường Đồng Minh). Ông bị bắt giam hai lần vào năm 1930 và 1932. Ra tuyên ngôn chuyển hướng khi được thả nhưng lại bị bắt giam từ 1941 đến 1943 v́ hoạt động kịch nghệ. Được trả tự do sau khi cam kết không được viết văn hay diễn kịch, ông sống bằng nghề vẽ tranh. Có các tác phẩm Bôryoku Nikki “ Nhật kư bạo lực ” (kịch) và Byakuya “ Đêm trắng ” (1934). Trong tác phẩm sau, ông nói về kinh nghiệm thay đổi lập trường lồng trong khung cảnh một cuộc hôn nhân tan vỡ.

Khi ḥa b́nh lập lại, cũng như Nakano Shigeharu (1902-1979), Aono Suekichi (1890-1961), Nakamura lại “ chuyển hướng ” một lần nữa để trở về lập trường cách mạng khi lực lượng chiếm đóng băi bỏ sự “ kiểm soát tư tưởng ” mà hệ thống quân phiệt lập ra.

b) Hayahi Fusao (Lâm, Pḥng Hùng, 1903-1975) :

Tên thật là Gôtô Toshio (Hậu Đằng, Thọ Phu). Ông là trường hợp “ chuyển hướng ” tiêu biểu nhất. Trong khi những người khác đau khổ v́ hành động đổi chiều của họ th́ Hayashi thực hiện điều đó với tất cả sôi nổi. Vốn người tỉnh Oita, miền nam Nhật Bản, cùng tuổi với Shimaki Kensaku, ông lớn lên trong nghèo khó. Được mẹ hy sinh nuôi dạy vào Luật khoa ở Đại Học Tôkyô nhưng bỏ ngang, trở thành nhà văn và người tuyên truyền cho phong trào vô sản. Cùng với Kobayashi Hideo lập tờ Bungakukai (Văn Học Giới). Sau “ chuyển hướng ” theo chủ nghĩa dân tộc và lăng mạn sau khi bị bắt vào năm 1930 và ngồi tù hai năm. Tác phẩm có Seinen “  Tuổi xuân ”, Musuko no Seishun “ Tuổi trẻ của con tôi ” và Daitôa sensô kôteiron “ Đại Đông Á Chiến Tranh khẳng định luận ” (1974).

Riêng Seinen mô tả nhiệt t́nh tuổi trẻ của hai nhà chí sĩ duy tân là Itô Hirobumi (Y Đằng Bác Văn, 1841-1909) và Inoue Kaoru (Tỉnh Thượng, Hinh, 1835-1919) lúc du học ở Anh về, được xem như là một tác phẩm quan trọng của ông. Mishima Yukio, người rất hâm mộ Hayashi, đánh giá nó như “ tác phẩm lớn nhất của văn chương đời Shôwa ” nhưng lúc vừa ra đời, các nhà văn vô sản như Kobayashi Takiji và Tokunaga Sunao đă cực lực công kích, cho là nó “ đi lệch khỏi lập trường đấu tranh giai cấp và bẻ trẹo ư nghĩa của duy vật biện chứng ”. Năm 1936, trầm trọng hơn, Hayashi tuyên bố ḿnh “ không c̣n là nhà văn vô sản nữa ” và ủng hộ chính biến Ni.ni.roku (26/02/1936) tức cuộc đảo chính của một số sĩ quan trẻ tuổi mở đường cho chính quyền quân phiệt, nhưng ông cũng ư thức rằng “ đă tự đào hố chôn ḿnh ”.

Hayashi lúc ấy từ chối kinh điển chủ nghĩa Marx và ư thức hệ cộng sản mà ông bảo chỉ là sản phẩm du nhập từ Tây phương, không dùng được ở Nhật. Ông ca tụng sự can đảm của nhà tư tưởng quốc học đầu thời Edo là Yamaga Sokô (Sơn Lộc, Tố Hành, 1622-1685) đă vi lệnh mạc phủ mà bài xích Khổng giáo của Chu Hy nghĩa là cũng đă làm một sự “ chuyển hướng ” vào thời của ông ta. Yamaga coi thường Trung Quốc và xem Nhật Bản là một thần quốc, ưu tú hơn các nước khác. Ư tưởng cực đoan đó chưa hẳn đă biến mất trong xă hội Nhật Bản ngày nay.

Trong hồi kư ông xuất bản năm 1955, tuy Hayashi nh́n nhận đă chạy một lèo từ cánh tả qua cánh hữu nhưng vẫn không chịu cho việc “ chuyển hướng ” của ḿnh là sai mà c̣n hô hào cho nó. Bị cấm viết và xuất bản, ông núp dưới các bút hiệu để viết một số tiểu thuyết gọi là chuukan shôsetsu[20] khá thành công từ năm 1948 và đáng ngạc nhiên hơn nữa, c̣n trở thành người b́nh luận văn học cho báo Asahi, một tờ báo có tiếng là cấp tiến.

c) Kamei Katsuichirô (Qui Tỉnh, Thắng Nhất Lang, 1907-1966) :

 

Kamei Katsuichirô (trái) bên cạnh Dazai Osamu

Sự trở về với truyền thống Nhật Bản chỉ được nhắc sơ trong tác phẩm của Hayashi Fusao dù ông tự cho ḿnh là người yêu vẻ đẹp của đất nước, thiên nhiên và con người Nhật Bản. Người muốn t́m về vẻ đẹp cao sang của Nhật Bản (nghĩa là không chỉ thông qua đồ ăn thức uống, trang phục và dụng cụ trong nhà) là Kamei Katsu.ichirô Ông sinh ra trong một gia đ́nh sung túc, bố làm chủ sự ngân hàng. Tuy nhiên, lúc học văn chương ở Đại Học Đông Kinh, ông đă chịu ảnh hưởng chủ nghĩa Marx, gia nhập nhóm nghiên cứu kinh điển Mác-xít và say sưa cách mạng đến nổi năm thứ ba đă bỏ học để dấn thân tranh đấu. Thế nhưng bị bắt vào tháng tư năm 1928 và bị giam đến mùa thu 1930. Trong tù, ông mới nhận ra rằng ḿnh chỉ có thể sống một ḿnh không thể tham gia một tổ chức nào cả. Do đó, ông phải hứa với cảnh sát là sẽ không hoạt động chính trị nữa để đổi lấy tự do. Năm 1935, ông đă tuyên bố “ chuyển hướng ” trước ṭa án.

Do đó, ông vẫn được tiếp tục viết sau đó và gia nhập Nihon Rômanha tức trường phái lăng mạn Nhật Bản, bắt đầu đi thăm viếng các đ́nh chùa, t́m hiểu triết lư, văn hóa cổ truyền và than tiếc cho sự xâm lấn của trào lưu Âu Mỹ lên trên di sản truyền thống Nhật Bản. Dựa trên quan điểm tín ngưỡng Phật giáo ông đă viết hai quyển Yamato furudera fuubutsushi “ Địa chí phong thổ chùa cổ đất Yamato ” (1943) và Ai no mujô ni tsuite “ Nói về cái vô thường của ái t́nh ” (1949). Sách ông đă chinh phục được rất nhiều người cùng quan điểm. Cuốn Nijisseiki Nihon no risôzô “ H́nh ảnh lư tưởng của Nhật Bản ở thế kỷ 20 ” (1954) nói lên sự hoài nghi của ông đối với sự hiện đại hóa của Nhật Bản và chủ trương phải trở về với cái mà ông gọi là những lư tưởng của Nhật Bản. Quan điểm mới này chính ra chỉ phản ánh chủ nghĩa Đại Đông Á mà ông đă biện minh cách trước đó hai thập niên nhưng với một màu sắc ḥa b́nh hơn.

Nh́n chung, năm 1941, các nhà văn Nhật Bản có quá khứ Cộng Sản hầu hết đều “ chuyển hướng ” để chấp nhận hướng đi độc nhất thời đó nghĩa là hướng đi của chính quyền quân phiệt. Họ có thể chỉ là những trí thức dễ bị dao động, yếu chịu đ̣n hay chỉ là những người viễn mơ t́m một thiên đường nhưng đă vỡ mộng khi chạm trán thực thế phũ phàng. Họ cũng có thể là những người có tinh thần dân tộc và tư tưởng xă hội nhưng quá ngây thơ thành ra lầm lẫn, để bị quân phiệt lợi dụng kéo vào bè cánh. Thế nhưng, lúc Nhật Bản thất trận, không ít người trong đám họ đă lục tục trở lại con đường cách mạng cũ. Thành ra nghi vấn cho rằng những “ nhà văn chuyển hướng ” có thực sự “ chuyển hướng ” hay theo chỉ thị tạm lùi vào bóng tối nhẫn nhục chờ thời cũng không phải là không được các nhà viết văn học sử đặt ra.

C) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHÀ VĂN ĐĂ THÀNH DANH

Lúc phong trào văn học vô sản đang dấy lên, các nhà văn thành danh từ trước im hơi lặng tiếng. Đến khi văn học vô sản bị đàn áp và suy thoái rơ, họ mới trở lại văn đàn.Thời kỳ từ năm Shôwa thứ 8 về sau (1933) được gọi là một cuộc phục hưng văn nghệ của họ. Trước tiên là Nagai Kafuu với Bokutô Kidan (Mặc đông kỳ đàm, 1939) “ Truyện lạ bên bờ đông sông Sumida ”. Qua câu chuyện nàng Oyuki (Tuyết) ở vùng Tamanoi bên kia sông Sumida (Mặc thủy), Kafuu viết tập tiểu thuyết có phong vị tùy bút này nói về một vùng đất nơi mà văn minh chưa đem ảnh hưởng xấu đến và phong tục lẫn t́nh người hăy giữ được truyền thống cổ xưa. Ngoài ra, Tanizaki Jun-ichirô viết các tác phẩm Mômoku monogatari (Manh mục vật ngữ) “Truyện lăo mù ” (1931), Ashikari “ Người cắt lau ” (1932), Shunkin-shô (Xuân Cầm sao) “ Ghi lại về đời nàng Shunkin ” (1933) trong khi Shimazaki Tôson có tiểu thuyết lịch sử Yoake mae “ Đêm trước khi trời sáng ” (1929-1935) nói về những biến động xă hội thời trước cuộc Duy Tân, Tokuda Shuusei có Kasô jinbutsu (Giả trang nhân vật) “ Người trá h́nh ” (1935-1938), Shukuzu (Súc đồ) “ Bức tranh thu ngắn ” (1942), nói về đời một bà chủ nhà hát geisha. Được đáng giá như một kiệt tác của văn chương chủ nghĩa tự nhiên nhưng truyện nầy không hoàn tất.

D)  TẠP CHÍ Bungakukai (Văn Học Giới). TRƯỜNG PHÁI LĂNG MẠN NHẬT BẢN ( với tạp chí Nippon Rômanha)

Bungakukai, tạp chí do một nhóm bạn đồng chí hướng như Kobayashi Hideo, Kawabata Yasunari, Takeda Rintarô, Hayashi Fusao thành lập vào năm Shôwa 8 (1933) khác với một tạp chí trùng tên ra đời vào năm Meiji 26 (1892) của Kitamura Tôkoku, Ueda Bin và Shimazaki Tôson. Những nhà văn thuộc hệ phái văn học vô sản và những nhà văn vị nghệ trong nhóm đều tuyên bố cùng nhau đi t́m một nền văn học thực sự nên sự xuất hiện của tạp chí nầy cũng được xem như một dấu hiệu của phục hưng nghệ thuật.

Bên cạnh c̣n có tạp chí của nhóm bạn Nippon Rômanha (Nhật Bản Lăng Mạn Phái, Japanese Romanticism) cùng tên ra đời năm 1935. Tạp chí có hai nhân vật chủ yếu : một là nhà văn thuộc phong trào vô sản Kamei Katsu.ichirô, nhà văn “ chuyển hướng ” đă nhắc ở trên, hai là người cầm đầu nhóm, Yasuda Yojuurô (Bảo Điền, Dữ Trọng Lang, 1910-1981). Nhóm nầy ca tụng than tiếc vẽ đẹp cổ kính của Nhật Bản và cũng chủ trương t́m về văn học thuần túy. Trong lúc tờ Bungakukai qui tụ các nhà văn, nhà b́nh luận đă có chiếu ngồi vững chăi th́ tập đoàn Nippon Rômanha gồm những cây bút trẻ. Về sau người ta gọi nhóm chủ nghĩa lăng mạn Nhật Bản là những kẻ trong thời chiến đă cổ xúy cho tinh thần quốc gia cực đoan.

E) VĂN HỌC PHỤ NỮ TIỀN CHIẾN :

 

Gần mười thế kỷ sau Murasaki Shikubu mới có một tiểu thuyết gia có tầm cỡ là Higuchi Ichiyo (1872-1896). Sau bà, một phụ nữ nổi tiếng khác xuất hiện trên văn đàn, đó là Yosano Akiko (1878-1942) nhưng lại là một nhà thơ. Một nhà văn nữ có tài xuất hiện cuối thời Meiji là Tamura Toshiko (1884-1945), học tṛ của Rohan. Một thời Tamura đă viết văn đă chống lại sự đàn áp người phụ nữ dưới chế độ phong kiến trước khi chuyển qua loại tiểu thuyết diễm t́nh có lẽ v́ thấy ḿnh quá đơn thương độc mă, không làm được việc..

Tamura Toshiko

Trong giai đoạn Taishô, có thể nhắc đến Nogami Yaeko, bước qua Shôwa, Uno Chiyo (1897-1996) và Okamoto Kanoko (1889-1939) được xem như hai nhà văn nữ đáng chú ư, trong khi Hayashi Fumiko (1903-1951), Sata Ineko (1904- ?), Tsuboi Sakae (1900-1960) và Hirabayashi Taiko (1905-1972) dù tuổi tác không kém bao nhiêu đều xuất bản sau chiến tranh.

1) Nogami Yaeko (Dă Thượng, Di Sinh Tử, 1885-1985) :

Văn nghiệp của bà lúc đầu được Natsume Sôseki đỡ đầu nên có nhiều thuận tiện. Bà vừa viết truyện ngắn (truyện đầu tiên in trên báo Hototogisu của Sôseki năm 1909) , kịch cho nhi đồng, dịch thuật và cũng có cả tiểu thuyết trường thiên.

Bà lớn lên trong một thời kỳ mà ảnh hưởng của cuộc Cách Mạng Tháng Mười lan rộng và văn học vô sản cực thịnh, phù hợp với ư kiến của bà về vấn đề nữ quyền và chống đối chiến tranh nên những tác phẩm của bà đều mang màu sắc đó.

Bà dịch thiên tự truyện của nhà nữ toán học Sonya Kovalevskaya ra tiếng Nhật v́ cảm kích sự tranh đấu của người phụ nữ trong xă hội Sa hoàng vào hai thập niên 1870 và 1880 để được ngang hàng với nam giới. Machiko “ Cô Machiko ” (1928-1930) đề cập đến những suy tư về xă hội, chính trị và mối liên quan của nó đến t́nh yêu trong cuộc đời Sone Machiko, một cô gái con nhà gia thế, có lư tưởng và tinh thần tự lập. Machiko yêu một nhà cách mạng nhưng lại kết hôn với một người chồng thuộc giới chủ nhân. Sự chọn lựa này như ngầm nói Nogami tuy chán ghét chế độ tư bản nhưng hoài nghi cả nhiệt t́nh cách mạng. Năm 1936, bà bắt đầu viết Meiro “ Đường không lối ra” và chỉ hoàn thành vào năm 1956. Truyện dài trên 1000 trang, phân tích t́nh h́nh xă hội Nhật Bản trong giai đoạn 1936-44 mà nhân vật chính trong đó, một anh chàng tên Sugano Sôzô, trước có lập trường thiên tả, sau lại “ chuyển hướng ”, gặp nhiều nỗi gian truân trong cuộc sống cho đến khi t́m về Tarumi Tatsue, cô bạn gái thưở ấu thời. Sau đó, bà c̣n viết Hideyoshi to Rikyuu “ Hideyoshi và Rikyuu ” (1964) nói về mối liên hệ giữa trà sư Sen no Rikyuu (1522-1591) và tể tướng Toyotomi Hideyoshi (1536 ?-1598), chủ của ông, một người tàn nhẫn. Hideyoshi yêu kính Rikyuu nhưng v́ một cớ không đâu đă buộc ông này mổ bụng tự sát. Qua đó, Nogami như muốn đặt vấn đề về quan hệ yêu ghét giữa trí thức và quyền lực.

 

 

Nogami Yaeko (trái) và Miyamoto Yuriko (chụp khoảng năm 1950)

Con gái của một chủ ḷ rượu trên đảo Kyuushuu, bà lên Tôkyô theo học ở trường cao đẳng phụ nữ Meiji, trước khi kết hôn với Nogami Toyoichirô (1883-1950), một học giả có thẩm quyền về tuồng Nô. Bà có lối sống độc lập, thành công trong đời, đă nuôi dạy ba người con trở thành học giả như cha của họ. Tuy có cảm t́nh với những nhà văn vô sản và có thái độ chỉ trích chính quyền quân phiệt (tác phẩm Meiro của bà đă bị kiểm duyệt nhiều đến nổi không in ra được), bà không gia nhập hàng ngũ của họ và thường bị cho là chỉ biết lợi dụng thế đứng thuận lợi của ḿnh (con nhà ḍng dơi, có của cải) để lên mặt dạy dỗ kẻ khác.

Sống đến 100 tuổi nên đời văn của Nogami trăi dài khoảng 70 năm, một trong những văn nghiệp dài nhất bao trùm từ tiền chiến qua hậu chiến.

2) Okamoto Kanoko (Cương Bản, Kanoko, 1889-1939) :

Sinh ở Tôkyô. Vừa làm thơ, viết văn và nghiên cứu Phật giáo.Tuy thua Nogami 4 tuổi nhưng những tác phẩm quan trọng của Okamoto dă dược biết đến trong khoảng 1936-39. Tsuru wa yamiki “ Con hạc mang bệnh ” (1936) nói về lần gặp gỡ với một Akutagawa Ryuunosuke thời ông này đang ở trong trạng thái tinh thần suy sụp, đă được Kawabata Yasunari đặc biệt tán thưởng. Boshi jojô “ T́nh mẹ yêu con ” (1937) truyện thành công thứ hai cũng có màu sắc tự truyện. Nó nói về chuyến viếng thăm Paris của gia đ́nh Okamoto. Tuy nhiên, Okamoto Kanoko được nhớ đến nhiều nhất là nhờ Rôgi-shô (Lăo kỹ sao) “ Truyện cô đào già ” (1938) trong đó, bà tả mối t́nh của một cô geisha về chiều với anh thợ trẻ đến sửa mạch điện hỏng trong nhà. Cô geisha nghe anh chàng nói về những ước mơ của ḿnh và đă ra tay nghĩa hiệp giúp anh ta thực hiện giấc mộng trở thành nhà nghiên cứu. Chẳng bao lâu anh chàng bắt đầu chán nản trong nghiên cứu v́ những ǵ anh t́m ra đă có người thực hiện trước nên t́m cách bỏ đi nhưng cô đào già không chịu cho anh rứt ra. Okamoto đă khéo léo mô tả mối liên hệ đó.

Sinh ra trong một gia đ́nh thượng lưu, bà được nuối nấng cưng chiều như một cô công chúa. Đă lộ ra năng khiếu văn chương từ thưở bé, nhất là khả năng làm thơ waka. Thế nhưng bà không được hạnh phúc trong t́nh yêu với chồng và phải ngă vào ṿng tay những người đàn ông khác nhưng đó cũng là sự kiện đă khơi gợi nguồn cảm hứng cho văn chương bà. Đáng tiếc là bà mất sớm nên không phát triển được tài năng mà nhiều nhà phê b́nh nghĩ là hứa hẹn. Kawabata đă phải than rằng trong văn Okamoto có cái đẹp mà ông đi t́m nhưng không sao đạt tới được. Theo ư kiến của Tanaka Yukiko, người phiên dịch văn bà, về phương diện mỹ học thuần túy, ngoại trừ Sei Shônagon và Tanizaki, chắc không có nhà văn Nhật nào nắm được cái hồn của văn hóa Nhật Bản như Okamoto Kanoko.

 

3) Uno Chiyo (Vũ Dă, Thiên Đại, 1897-1996) :

 

Uno Chiyo

Người tỉnh Yamaguchi. Viết văn hay dùng ngôi thứ nhất và miêu tả một cách tinh vi t́nh yêu nam nữ. Cũng dể hiểu v́ bà là một người đẹp, lấy chồng bốn lần, toàn những người có danh vọng, và đi lại với nhiều nhà văn và họa sĩ. Bà c̣n nổi tiếng cả trong giới sáng tạo trang phục. Bà đă sáng lập tạp chí thời trang ăn khách Sutairu (Style) năm 1936, vẽ kiểu áo kimono, nổi tiếng khắp thế giới và trở thành giàu có.

Tiểu thuyết quan trọng đầu tiên của bà Iro Sange “ Sám hối đời t́nh ” (1935) trong đó một nhà họa sĩ trẻ, du học ở Pháp về rắp tâm chết chung v́ t́nh với một cô gái nhưng bất thành. Yuasa, nhà họa sĩ trong truyện, là h́nh ảnh của họa sĩ Tôgô Seiji (Đông Hương, Thanh Nhi, 1897-1978), người t́nh của tác giả trong đời thật sau khi bà ly hôn nhà văn Ozaki Shirô. Khi Uno đến thăm con người tự tử hụt ấy để kiếm tư liệu viết văn, bà đă ngă vào ṿng tay ông. Bà c̣n kể lại mối t́nh của bà với một người khác, kư giả Kitahara Takeo (1907-1973), trong Sutairu “ Phong cách ” (1936) . Ohan “ Ohan, người vợ ” hoàn thành năm 1957 là một câu truyện về một người vợ bị bỏ bê, có không khí hoài cựu của thời Edo, được độc giả yêu thích và đánh giá như Shunkin-shô “ Ghi lại về đời nàng Xuân Cầm ” của Tanizaki Jun.ichirô hay Bokutô kitan “ Chuyện lạ bờ đông sông Sumida ” của Nagai Kafuu.

Tuy đă trải qua một thời trẻ khó khăn, khuất nhục nhưng trong văn Uno Chiyo, bà không đả động ǵ đến những khổ cực của bản thân hay t́m cách khai thác những đề tài xă hội như kiểu các nhà văn nữ cánh tả vẫn làm. Bà từng cho biết : “Hồi mới lớn lên, chịu ảnh hưởng của thời đại và những người chung quanh, tuy là gái nhưng tôi muốn ra chiến trường. Tôi muốn trở thành một cô cứu thương hiền dịu như Florence Nightingale hay một nữ tướng dũng cảm cỡ Jeanne d’Arc ”. Suốt đời bà rất độc lập và can đảm. Cũng sống lâu (99 tuổi) và dù không có tầm cỡ của Nogami nhưng bà đă chứng tỏ có cái duyên dáng độc đáo trong lối viết của ḿnh.

 

TIẾT III) VĂN HỌC THỜI LÂM CHIẾN :

A) Giai đoạn chiến tranh Trung Nhật (1931-45) :

Các nhà b́nh luận c̣n gọi giai đoạn 1931-1945 này là “ Chiến Tranh Mười Lăm Năm” dù chiến tranh có lúc đứt lúc nối. Nó bắt đầu thực sự vào năm 1933 khi không khí ngột ngạt với Trung Quốc bắt đầu cảm thấy và chấm dứt năm 1945 khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Đặc điểm của văn chương thời này là có những xung động t́nh cảm thoạt đến thoạt biến tùy theo diễn biến ở chiến trường và sự thiếu tự do trong lối diễn đạt v́ cơ quan kiểm duyệt làm việc cật lực. Ngay một tác phẩm chẳng chống đối chiến tranh ǵ cả như Sasameyuki “ Mong manh hoa tuyết “ (bắt đầu từ 1943) của Tanizaki Jun.ichirô cũng bị ngưng đăng tải vào tháng bảy năm 1944 trên tạp chí Chuuô Kôron v́ nó nói lên lối sống quá hờ hửng bên lề cuộc chiến của những vai chính, thành viên một gia đ́nh thương nhân vùng Ôsaka.. Kể cả “ Truyện Genji ”, tác phẩm cổ điển có từ 10 thế kỷ trước, cũng không được in lại thoải mái v́ có nói đến chuyện một bà phi (Fujitsubo) của thiên hoàng đi ngoại t́nh với con trai (Genji Hikaru) ông ta và như thế là bất kính phạm thượng với hoàng tộc đương thời. Tiểu thuyết của Saikaku thời Edo cũng phải cắt bỏ những đoạn trai gái quá lộ liễu.

Tháng 7 năm 1937 có vụ chạm trán ở Lư Câu Kiều gần Bắc Kinh rồi quân Nhật tiến công khắp nơi và chiếm đóng Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải trong một thời gian ngắn. Tiếp đó, đến tháng mười năm 1938 th́ thủ đô Nam Kinh, các thành phố quan trọng như Hán Khẩu, Quảng Đông đă rơi vào tay quân Nhật và đến 1940 th́ họ đă lập xong chính phủ bù nh́n thân Nhật Uông Tinh Vệ. 

Ikiteiru Heitai “ Những người lính đang sống ” (1938) của Ishikawa Tatsuzô (Thạch Xuyên, Đạt Tam, 1905-1985) đă bị cấm phát hành v́ đă viết về cuộc sống thực sự của quân đội ngoài chiến trường. Như thế, chính phủ đă tỏ ra chặt chẽ trong việc kiểm soát nội dung các ấn phẩm thu thập tin tức từ cuộc chiến tranh Nhật Trung (1937-41) hay đúng hơn cuộc xâm lấn quân sự của quân đội Nhật trên đất nước Trung Quốc. 

Mặt khác, có những tác phẩm đáp ứng được nguyện vọng của quốc dân muốn biết về thực trạng ngoài chiến trường nên bán chạy như tôm tươi. Đó là trường hợp của Mugi to Heitai “ Lúa mạch và lính ” (1938) của Hino Ashihei (Hỏa Dă, Vi B́nh) Chính phủ trưng dụng các nhà văn và họ phải ṭng quân để viết thành tiểu thuyết hay phóng sự, trên nguyên tắc, dựa trên những điều mắt thấy tai nghe. Một số các nhà văn đă viết tiểu thuyết phù hợp với chính sách cổ vũ chiến tranh của nhà nước. Đó là văn học theo chủ nghĩa quốc túy (ultranationalism).

Từ năm Shôwa 16 (1941), cuộc chiến tranh Thái B́nh Dương (cục bộ của thế chiến thứ hai ở Viễn Đông) bùng nổ, cơ hội để các nhà văn xuất bản sách báo ít hẳn, sinh hoạt văn học trở thành ngột ngạt.

1) Ishikawa Tatsuzô ((Thạch Xuyên, Đạt Tam, 1905-1985) :

Ông đă viết Sôbô (Thương manh) “ Dân lành ” (1935) tả cảnh ngộ những người Nhật di dân sang Brazil và nhờ đó, đoạt giải Akutagawa. V́ được đánh giá là khéo mô tả cuộc sống của con người nên được gửi sang Trung Quốc làm phóng viên chiến trường. Nếu ta tin những ǵ ông viết lại sau chiến tranh th́ cách nh́n cuộc chiến của ông khác với giới thông tin đương thời:

“ Kư sự trong báo Nhật thời ấy toàn kể chuyện láo. Người ta bảo rằng chiến tranh người Nhật tham dự là một cuộc thánh chiến và binh sĩ Nhật hành động như những ông thần, không khí ḥa b́nh và ḥa hợp bao trùm lên những vùng quân ta chiếm đóng. Nhưng chiến tranh làm ǵ vinh quang như thế. Nó là ngu xuẩn, tàn khốc và thương tâm ”.

 

Ishikawa Tatsuzô (ảnh năm 1961)

“ Những người lính đang sống” của ông đă bị cắt xén và ông và nhà xuất bản bị đem ra ṭa và thành án v́ đă dám tả cảnh “ quân đội thiên hoàng giết thường dân không cầm súng, cướp bóc và hành động thiếu kỹ luật nhà binh ” . Tuy ông không mô tả chi tiết cuộc tàn sát hàng binh và thường dân của quân Nhật ở Nam Kinh tháng 12 năm 1937 mà thế giới ngày nay đều biết nhưng những vụ hành hung, giết người vô cớ, hăm hiếp phụ nữ và cướp giật đă được nhắc tới.

Sau khi lănh án, Ishikawa được gửi đi Trung Quốc lần nữa để chuộc tội và trong Bukan sakusen “ Tác chiến ở Vũ Hán ” (1939) đă cho ta thấy phần ông cũng muốn ḥa giải với nhà đương cục nên đă đổ lỗi cho phía Trung Quốc là thiếu thiện chí đàm phán. Trước khi chiến tranh Đại Đông Á bùng nổ vào tháng 12/1941 th́ Ishikawa đă thu phục được ḷng tin của giới cầm quyền.

2) Hino Ashihei (Hỏa Dă, Vi B́nh, 1907-1960) :

Hino Ashihei sinh ở Wakamatsu trên đảo Kyuushuu, thuở nhỏ muốn trở thành sĩ quan quân đội nhưng lại có tư tưởng thiên tả nên bị giải ngũ. Ông trở về Fukuoka (thuộc Kyuushuu) năm 1928 hoạt động văn nghệ và công đoàn với các đảng viên cộng sản ở địa phương nhưng thất vọng về họ nên không vào đảng. Năm 1932 ông bị bắt trong một cuộc bố ráp toàn quốc các đảng viên và cảm t́nh viên cộng sản. Trong tù, ông chấp nhận “ chuyển hướng ” và năm 1937, được kêu gọi trở lại quân đội với cấp bậc thượng sĩ.

Trước đó ít lâu, Hino đă chứng tỏ văn tài của ḿnh khi đoạt giải Akutagawa mùa xuân năm 1938 với tác phẩm Funnyôdan “ Chuyện cứt đái ” (1937) trong đó ông tả kiếp sống cùng cực của người lao động ban đêm làm nghề đổ thùng trong một thành phố. Trở lại quân đội, Hino trực thuộc ban báo chí của lục quân, phóng viên chiến trường làm công tác tâm lư chiến ở Từ Châu (Trung Quốc) và nhờ đó, lấy kinh nghiệm viết Mugi To Heitai “ Lúa mạch và lính ” (1938) . Sau ông c̣n viết Tsuchi to Heitai “ Đất và lính ” và Hana to Heitai “ Hoa và lính ” trong cùng một năm 1938.

“ Lúa mạch và lính ” chủ yếu mô tả cuộc sống của những người lính trơn, thành công tột bậc, bán được trên một triệu cuốn nhưng sẽ là lư do khiến ông bị làm khó dễ khi ḥa b́nh lập lại và trong phần c̣n lại của cuộc đời, ông không ngớt phải thanh minh rằng ḿnh đă phải viết văn tuyên truyền dưới áp lực của quân đội theo sáu nguyên tắc :

1-Không bao giờ được nói quân Nhật bị bại một trận nào ;

2-Không được nhắc đến các hành động tàn bạo của quân đội ;

3-Phải tả địch là những kẻ đáng ghét và không ra ǵ ;

4-Không được tŕnh bày toàn bộ chi tiết tác chiến ;

5-Không được thông báo về tên tuổi và tổ chức của các đơn vị ;

6-Không được để binh sĩ biểu lộ những t́nh cảm có tính cách cá nhân.

H́nh ảnh của người lính trong tác phẩm của Hino khác với những ǵ tàn khốc và xấu xa mà Ishikawa đă miêu tả. Với Hino, họ là những người đẫm mồ hôi và vấy bùn nhưng lúc nào cũng vui vẻ trực diện với hiểm nghèo, cao thượng, nhiều khi quên ḿnh. Thế nhưng ông cũng không dấu được cảnh sĩ quan Nhật Bản mang ba tù binh Trung Quốc ra chém đầu sau khi bị họ đá và nhổ vào mặt. Đề cập đến chuyện này sau khi chiến tranh chấm dứt, Hino đă phải tự phê : “ Trên băi chiến trường, tôi hết c̣n là con người, không phải chỉ một mà nhiều lần. Tôi biết rằng tôi đă biến h́nh thành ác quỷ ”

Sau Trung Quốc, Hino được gửi lên đảo Bataan ở Phi Luật Tân và tiếp tục viết về đời lính như trong tiểu thuyết dài Rikugun “ Lục quân ”, truyện của ba thế hệ quân nhân của một gia đ́nh (1943-45) và Kanashiki Heitai “ Những người lính buồn bă ” (1945). Tác phẩm thứ hai ra đời cùng lúc với thời điểm Nhật Bản bại trận nói lên nỗi chán chường của người lính trở về làng cũ trong thờ ơ, lạnh nhạt để thấy rằng mọi giá trị đă thay đổi ngày một ngày hai.

Hino chính thức bị chính quyền mới “ thanh trừng ” năm 1948. Sau khi được lệnh giải cấm, ông cho ra mắt tác phẩm cuối cùng Kakumei Zengo “ Trước sau cuộc cách mạng ” (1960) nói về những ngày tháng trước và sau khi Nhật tuyên bố đầu hàng mà ông coi như tác phẩm để đời. “ Cuộc cách mạng ” mà ông nhắc đến ở đây không bao giờ được ông định nghĩa rơ ràng, có thể nó có liên quan đến quyết tâm của một nhóm quân nhân trú pḥng ở Kyuushuu muốn tử thủ ḥn đảo cho dù Tôkyô đă ra lệnh toàn quốc đầu hàng. Trong đó, ông c̣n nhắc đến việc một người lính phục viên, đứa em bị chết trong trận Leyte (ở Phi Luật Tân), mà ông gặp ở giữa đường cay đắng hỏi ḿnh có cảm thấy trách nhiệm v́ đă hô hào, tô vẽ cho cuộc chiến tranh, lại dùng tiền tác quyền của “ Lúa mạch và lính ” để xây nhà xây cửa và sống phong lưu hay không. Ba tuần sau khi viết xong lời kết cho quyển sách cuối, ông tự sát và xem như đă thực hiện một điều mà đáng lẽ ông phải làm 15 năm về trước.

3) Ozaki Shirô (Vĩ Kỳ, Sĩ Lang, 1890-1964) :

Thêm một nhà văn với quá khứ cấp tiến, từng giao du thân mật với nhóm các nhà văn vô sản lúc ngồi trên ghế Đại Học Waseda, lại chịu phục vụ cho bộ máy tuyên truyền của chính quyền quân phiệt. Kể từ thập niên 1930, sau khi bất măn v́ thấy văn đàn tràn ngập văn chương theo chủ nghĩa Marx và phủ nhận xă hội đương thời, Ozaki đổi hướng đi và viết văn theo ḍng tích cực và đại chúng. Jinsei Gekijô “ Tấn kịch đời người ” (1934, tiểu thuyết trường thiên của ông với cách viết đi thẳng vào vấn đề chứ không ṿng vo, rất được độc giả hâm mộ. Trong đó có cả Kawabata Yasunari, người tuyên bố đă đọc liên tục 530 trang của Ozaki mà không hề buông sách xuống một lần.

Ozaki chấp nhận chủ thuyết Đại Đông Á và năm 1938 đă đi thăm Trung Quốc lần thứ hai với tư cách thành viên của Pen Butai “ Bộ Đội Cầm Bút”, một tổ chức gửi các nhà văn ra ngoại quốc quan sát chiến trường để về nói tốt cho chế độ. Từ tháng 11 năm 1941,ông đi Phi Luật Tân (trong khi các nhà văn khác được cử đi Mă Lai. Miến Điện và Java) và sau đó, đóng một vai tṛ quan trọng trong nhiều tổ chức chính phủ có mục đích nâng cao sĩ khí của quốc dân. Trong những bài luận thuyết của ông lúc đó đầy những từ ngữ to rỗng kiểu “ quyết tâm ”, “ xă thân ”, “ bỏ ḿnh v́ nạn nước ” vv...Chính những việc làm này đă khiến ông bị “ thanh lọc ” trong một khoảng thời gian giữa 1948-1950. Ông chuyển qua việc loại tiểu thuyết “ trung gian ”, nữa đại chúng, nửa đứng đắn và thu lượm nhiều thành công thương mại nhưng văn nghiệp của ông chỉ dừng lại ở đó.

B) Giai đoạn chiến tranh Đại Đông Á (1941-45) :

Nhiều nhà b́nh luận thường cho rằng giai đoạn này là một khoảng trống về mặt văn học nhưng ít nhất thời điểm này đă chứng kiến sự ra đời của Sasameyuki “ Mong manh hoa tuyết ” của Tanizaki Jun.ichirô, Ôtogi-zôshi “ Truyện thần tiên ” của Dazai Osamu và những tác phẩm đầu tiên của Mishima Yukiko, nhà văn tài không đợi tuổi. Về mặt văn chương có tính chất tài liệu, phải kể đến Kaisen “ Hải chiến ” (1942) của Niwa Fumio (Đan Vũ, Văn Hùng, sinh năm 1904) mô tả những trận hải chiến có sự hỗ trợ của không quân ở vùng quần đảo Solomons, hay Hana no machi “ Phố hoa ” (1943) của Ibuse Masuji (Tỉnh Phục, Chiêm Nhị) đề cập đến mối liên hệ giữa quân Nhật với dân cư một vùng họ chiếm đóng (Singapore) ở Đông Nam Á. Cũng vậy, Nonaka no koto “ Nói về Nonaka ” (1943) của Takami Jun (Cao Kiến, Thuận) thuật lại một sự cố xảy ra giữa tác giả và một người Ấn ở Rangoon.

Ngoài hoạt động của các nhà văn kể trên, vẫn c̣n có một vài nhà văn khác tiếp tục sáng tác với những đề tài xa rời thời sự. Thường thường họ là lớp trẻ, chưa có danh tiếng để bị quân đội trưng dụng và lợi dụng. Trong bọn, người đáng được chú ư hơn cả có lẽ là Nakajima Atsushi.

1) Nakajima Atsushi (Trung Đảo, Đôn, 1909-1942) :

 

Nakajima Atsushi

C̣n được đọc là Nakajima Ton. Ông sinh trong một gia đ́nh cựu nho nên am tường cổ điển Trung Quốc nhưng cũng rành văn học Hy La. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Tôkyô năm 1933, ông đi dạy văn ở trung học. Qua lời giới thiệu của Fukada Kyuuya (Thâm Điền, Cữu Di) trong ban biên tập tạp chí Bungakukai, ông đă cho đăng Sangetsuki (Sơn nguyệt kư) “ Gào Trăng Trong Núi ” và Mojika (Văn tự họa) “ Mang họa v́ chữ nghĩa ” dưới cái tên chung Kotan (Cổ đàm) “ Truyện thời xưa ” trong số báo tháng 2 năm 1942. Hai tác phẩm ấy gây được tiếng vang lớn. Trong những ngày dưỡng bệnh ở quần đảo Palau trên Thái B́nh Dương, ông tiếp tục với Hikari to kaze to yume “ Ánh sáng, gió và mộng” (1942) nói về Robert Louis Stevenson, một người cũng đầy bệnh tật và sống trên quần đảo Samoa, nhưng qua đó bộc lộ mối ngờ vực của ḿnh với những giá trị của xă hội Tây Phương mà ông nghĩ không có tính cách phổ quát. Chẳng bao lâu, v́ sưng phổi sau khi mang bệnh suyển nặng, Nakajima phải trở về nước và qua đời. Trước khi ông mất khoảng một tháng, ông đă cho đăng một số truyện cảm hứng từ đề tài Trung Quốc như Meijinden (Danh Nhân Truyện) “Kẻ đạt đạo” (1942), Gojô Tan-i (Ngộ Tịnh Thán Dị) “ Truyện lạ về Ngộ Tịnh ”, Gojô Shussei (Ngộ Tịnh Xuất Thế) “ Ngộ Tịnh đi tu” (1942), cả ba đều bắt nguồn từ nhân vật Sa Tăng trong Tây Du Kư mà ông đồng hóa với bản thân.

Sangetsuki (1942) kể truyện một thi nhân người đất Lũng Tây tên Lư Trưng v́ bi phẫn t́nh đời mà hóa thành hổ. Tác phẩm mượn truyền kỳ đời Đường để kư thác tâm sự khổ đau của một người muốn chọn con đường nghệ thuật làm lẽ sống. Hai tác phẩm Ri Ryô (Lư Lăng) nói về bi kịch của danh tướng đời Hán Vũ Đế bị Thiền Vu vây phải hàng Hung Nô và Deshi (Đệ Tử) thuật lại t́nh thầy tṛ giữa Khổng Khâu và Tử Lộ, chỉ đến với độc giả sau khi Nakajima mất. D.Keene[21] cho rằng nhân vật Khổng Khâu tượng trưng cho Trung Quốc, ông thầy nhẫn nhục, cam chịu khi đối mặt với bạo lực Tây Phương và anh học tṛ nóng nảy nhưng trọng danh dự Tử Lộ là Nhật Bản vậy. Nakajima không phải là một tác giả hiền lành chỉ biết kể truyện cổ tích như ta tưởng.

C̣n Riryô, thực ra là một tiểu thuyết di cảo trung biên không có lấy cả tựa, Fukada Kyuuya, người từng giới thiệu Nakajima với làng văn, đă dựa vào nội dung truyện mà đặt tựa cho nó. Qua cách xử thế của ba nhân vật Lư Lăng, Tô Vũ và Tư Mă Thiên trước bước đường cùng của mỗi người, h́nh như Nakajima muốn t́m giải đáp cho câu hỏi : “ Đâu là cứu cánh của cuộc đời ? ” :

“ Đến lúc phải chia tay, Lư Lăng bày tiệc tiễn bạn. Biết bao nhiều điều muốn ngỏ nhưng rốt cục chỉ có một mà thôi. Đó là lúc phải hàng giặc Hồ th́ cái chí của Lư tôi đặt ở chổ nào? Thế nhưng khi chưa tỏ được cái chí ấy th́ ở nước cũ, một nhà vợ con đă bị giết trọn, tôi ở trong cảnh ngộ không c̣n chút lư do để trở về. Nếu cố tỏ cái chí đó cho được th́ chỉ là kẻ ngu phu không hơn không kém. Lư không nói thêm ǵ nữa. Chỉ khi tiệc đến chỗ cao hứng, mới đứng dậy múa mà hát rằng :

Kinh vạn lư hề, độ sa mạc,
Vị quân tướng hề, phấn Hung Nô
Lộ cùng tuyệt hề, thỉ nhận tồi
Sĩ chúng diệt hề, danh dĩ đồi
Lăo mẩu dĩ tử duy dục báo ân tương an qui.

(Vượt ngàn dặm chừ, băng biển cát,
V́ vua v́ nước chừ, đánh Hung Nô
Đường đến thế cùng, mũi tên găy
Sĩ tốt không c̣n, danh cũng trơ
Mẹ già chết rồi, ơn dầu muốn báo, thân biết về mô!) 

Giữa lúc đang hát, giọng bỗng run run, nước mắt ràn rụa g̣ má. Tự rủa ḿnh hèn mà không biết xử trí cách nào khác.

C̣n Tô Vũ, sau mười chín năm mới thấy lại tổ quốc”

(trích Ri Ryô, chương 3)

Phong cách hiện sinh (quan tâm đến sự tồn tại của chủ thể cá nhân) của ông đă làm cái gạch nối giữa văn chương Shôwa tiền chiến với văn chương Shôwa hậu chiến.

Trong số những nhà văn bắt đầu viết giữa thời chiến tranh đáng kể nhất có Yamamoto Yuuzô và Abe Tomoji (A Bộ, Tri Nhị).

 2) Yamamoto Yuuzô (Sơn Bản, Hữu Tam, 1887-1974) :

Lúc đầu ông soạn kịch và là một soạn giả tiêu biểu thời Taishô. Ông nổi tiếng với Shinjitsu Ichiro (Chân thật nhất lộ) “ Ngay thẳng một đường ” (1935). Ngoài tác phẩm vừa kể, c̣n có tiểu thuyết Nami (Ba) “ Sóng ” (1928), Onna no Isshô “  Một đời đàn bà ” (1933), Robô no Ishi “ Ḥn đá bên đường ” (1941) vv...Ông được xếp vào các tác giả có khuynh hướng đại chúng. Sẽ bàn thêm về ông trong phần chuyên đề về văn học đại chúng.

1)      Abe Tomoji (A Bộ, Tri Nhị, 1903-1973) :

 

Abe Tomoji

Ông cộng tác với nhiều tạp chí trong giai đoạn 1920-1930 và có chân trong ban biên tập của tờ Bungakukai (1933-1944) do Kobayashi Hideo chủ trương. Ông vừa viết văn, dịch thuật và nghiên cứu. Ông đă giới thiệu các tác giả Tây Phương như Herman Melville (ông viết một thiên truyện kư về nhà văn này năm 1934), Percy Bysshe Shelley và Thomas Hardy. Tác phẩm Fuyu no Yado “ Quán trọ mùa đông ” (1936) đánh dấu giai đoạn trưởng thành trong đời sáng tác của ông và là một tác phẩm nặng màu sắc thương cảm. H́nh như văn học ngoại quốc là cánh cửa mở ra thế giới bên ngoài giúp ông quên đi cảnh Nhật Bản lúc đó đang bước dần vào con đường vũ trang và gây hấn. Sau chiến tranh, ông c̣n viết  “ Cánh cửa sổ của thời gian ” (Jitsugetsu no Mado, 1957) và “ Kẻ Bị Giam ” (Hoshuu, 1973). Trong tác phẩm thứ hai, ông đề cập đến số phận hẩm hiu của nhà văn Miki Kiyoshi (Tam Mộc, Thanh, 1897-1945) bị bắt giam vài tháng trước khi chiến tranh kết thúc và chết trong ngục, lúc cuộc chiến hầu như đă ngă ngũ.

Ngoài ra cần nhắc tới Hôjô Tamio (Bắc Điều, Dân Hùng, 1914-1937) với Inochi no shoya “ Đêm đầu cuộc đời ” (1936), Ishikawa Jun (Thạch Xuyên, Thuần, 1895-1987) với Fugen (Phổ Hiền, 1936) “ Đức Phật Phổ Hiền ”, Tanaka Hidemitsu (Điền Trung, Anh Quang, 1913-1949) với Orinposu no Kajitsu (Hoa trái đỉnh núi thiêng Olympus ” (1940). Đó là chưa kể đến các ông Ishizaka Yôjirô (Thạch Phản, Dương Thứ Lang, 1900-86), Dan Kazuo (Đàn, Nhất Hùng, 1912-1976), Niwa Fumio (Đan Vũ, Văn Hùng, 1904- ?), Funahashi Seiichi (Chu Kiều, Thánh Nhất, 1904-76)...Những người nầy sẽ c̣n tiếp tục cầm bút vào thời hậu chiến và ta sẽ trở lại để bàn thêm về họ.

 

Tạm Kết:

Sau khi hai trái bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima và Nagasaki, thiên hoàng Hirohito tuyên bố Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện. Lịch sử đă đổi ḍng sang trang, chân lư trước ngày 15 tháng 8 năm 1945 đă trở thành điều hư ngụy sau ngày đó. Văn học không thể là một ngoại lệ.

Trong bài số 29 (Đoạn Đường Vượt Thoát Hậu Chiến) , chúng ta sẽ xem Nhật Bản xây dựng lại đất nước và di sản tinh thần như thế nào từ đống tro tàn và các nhà văn thế hệ 1945-65 đă làm ǵ để có thể vượt thoát một thời hậu chiến lắm gian nan.


 

[1] C̣n gọi là biến cố Liễu Điều Hồ. Ngày 18/09/1931, nhân vụ nổ bom trên đường sắt ở hồ Liễu Điều, phía bắc Phụng Thiên, quân Nhật lấy cớ để xâm lược vùng Đông Bắc Trung Quốc, mở màn cho một cuộc chiến tranh kéo dài 15 năm.

[2] Tức Georgy Lukacs (1885-1971), triết gia và nhà văn học sử người Hung, du học ở Đức về, vận dụng phương pháp luận Mác-xít để viết văn học sử và tư tưởng sử, mỹ thuật sử.

[3] Chủ nghĩa cận đại (modernism) ở Âu châu có nghĩa là sự dung hợp giữa tư tưởng chủ nghĩa tự do và giáo lư có tính cách kinh viện. Có khuynh hướng chống phong kiến và t́m cách phát triển bản ngă. Phản cận đại là đi ngược trào lưu đó.

[4] Chủ trương một triết học “hư vô”, tổng hợp tư tưởng thiền tông với quan niệm luận (idealism) của triết học Đức , cho rằng thế giới không phải là một sự thực khách quan mà chỉ là một quan niệm của thần thánh.

[5] Phong trào nghệ thuật phát xuất ở Ư từ năm 1909, do Filippo Marinetti đề xướng, chủ trương chối bỏ thẳng cánh h́nh thức diễn đạt cổ truyền và nhiệt liệt truy cầu sự năng động từ những kỹ thuật tân tiến. Tuy chấm dứt vào khoảng năm 1918 nhưng để lại ảnh hưởng rất lớn.

[6] Phong trào nghệ thuật tiền vệ của thế kỷ 20 chủ trương giải tỏa năng lực sáng tạo tiềm ẩn từ vô thức bằng những thủ pháp phi thuần lư.

[7] Phong trào nghệ thuật quốc tế có từ buổi đầu thế kỷ 20 đặt trọng tâm vào lối diễn tả có tính cách phi lư, từ khuớc và diễu cợt những ǵ tuân theo qui ước xă hội.

[8] Bungei Jidai ra đời năm 1924, đ́nh bản năm 1927. Phần mào đầu của tác phẩm Atama Narabini Hara « Đầu với bụng ” đăng trong số ra mắt được xem như đại diện cho văn chương « tân cảm giác ” nghĩa là tinh tế, giàu chất thơ nhưng găy gọn.

[9] Pigeot và Tschudin nghĩ rằng Yokomitsu đă theo phong cách của Gustave Flaubert (1821-1880) trong Salammbô.

[10] Theo John Lewell, sđd, trang 475, đó là tác phẩm nhan đề  « L’introduction à la méthode de Léonard de Vinci ” của Paul Valéry (Nhập môn phương pháp của Leonardo da Vinci ) mà Yokomitsu đă đọc năm 1929.

[11] Ryuutanji Yuu có viết Hôrô Jidai (Phóng lăng thời đại) « Hồi c̣n lông bông ” (1928), Machi no Nansesu « Những cái vô nghĩa của thành phố ” (1930).

[12] « Vĩ ” ? có nghĩa là mái chèo.

[13] Sawan là tên ông gọi một con ngỗng.

[14] James Joyce (1882-1941), nhà tiểu thuyết Ái Nhĩ Lan, viết văn theo lối miêu tả ḍng tâm thức (stream of consciousness) và đi t́m tính hiện đại trong văn học của thần thoại. Được biết qua các danh tác như thiên tự truyện « Chân dung một nghệ sĩ trẻ ”(The portrait of a young artist) hay « Uy-Lịch ” (Ulysses), và Finnegans Wake (tên người).

[15] Marcel Proust (1871-1922), tiểu thuyết gia người Pháp, nổi tiếng với « Đi t́m lại thời gian đă mất ” (A la recherche du temps perdu) tả lại sự thay đổi của cá nhân và xă hội thượng lưu Pháp thời Đệ Tam Cộng Ḥa (1870-1940). Đặc điểm của ông là lối hành văn nói lên được sự liên tục của kư ức và ư thức, có ảnh hưởng quyết định lên tiểu thuyết thế kỷ 20.

[16] Le vent se lève, il faute tenter de vivre (Gió đă nổi lên rồi, hăy cố mà sống)

[17] Paul Valéry (1871-1945) nhà thơ người Pháp, chịu ảnh hưởng trường phái tượng trưng của Stéphane Mallarmé (1842-1898), chủ trương thi ca thuần túy. Ngoài sáng tác thơ c̣n viết b́nh luận thi học. « Nghĩa địa bên biển ” (Le Cimetière Maritime) là tập thơ nổi tiếng của ông.

[18] Tức biến cố ở Liễu Điều Hồ (Phụng Thiên, Măn Châu) ngày 18/09/1931 đă chú ở trên.

[19] Dịch qua tiếng Pháp là Reconversion idéologique (thay đổi ư thức hệ ) theo Ishida Hidetaka trong Patrick de Vos.

[20] Tiểu thuyết « trung gian ” đứng giữa tiểu thuyết đại chúng và tiểu thuyết thuần túy, một sản phẩm của giai đoạn sau 1945. Ishizaka Yôjirô và Funahashi Seiichi nổi tiếng trong lănh vực này.

[21] Xem Dawn to the West, sđd, trang 942-943.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com