Akutagawa Ryunosuke từ A đến R - 

Con người, thời đại, tác phẩm [1/2]

Nguyễn Nam Trân

Văn học Nhật Bản hiện đại đă bắt đầu từ thời Meiji. Tuy không ai có thể đem dao kéo cắt một mẩu văn học để dán vào một triều đại, nhưng phải công nhận có những biến cố lịch sử làm xáo trộn tư duy của con người (trong một chiều hướng khác, sự thay đổi tư duy cũng ảnh hưởng tới lịch sử). Nhà văn Akutagawa Ryunosuke (1892-1927) sinh ra vào đời Meiji (ngày 1 tháng 3 năm Meiji 25, 1892) có thể được xem như sản phẩm của thời đại này tuy sự nghiệp văn chương của ông (1912-1927) phần lớn nằm trong giai đoạn Taisho (1912-1926).Cùng với Natsume Soseki và Mori Ogai, ông là một trong ba trụ cột của văn học Nhật Bản hiện đại. Cũng như Kawabata Yasunari và Mishima Yukio, ông lại là một trong ba nhà văn mà ngoại quốc biết tiếng hơn cả.. Người đời yêu văn tài của ông đă dành nhưng cũng thương cảm cho nỗi buồn về “sự thất bại của lư trí” toát ra từ tác phẩm cũng như cuộc đời 36 năm ngắn ngủi và đầy bi kịch của ông.

Trước hết hăy thử nh́n bối cảnh văn học cuối Meiji, đầu Taisho là lúc ông sinh ra để xác định vị trí của ông trong văn học sử. Bộ môn cần được quan sát là bộ môn tiểu thuyết tuy ông không hề viết truyện dài, cùng lắm là tác phẩm trung biên mà thôi

Dưới thời Meịji, có bốn ḍng văn học hầu như đối chọi với nhau:

1) Trước tiên là những nhà văn theo chủ nghĩa tự nhiên (naturalism). Trường phái này chịu ảnh hưởng của tinh thần khoa học tự nhiên và văn học Tây Phương của thế kỷ 19 qua những nhà văn như Emile Zola (Pháp), Gerhart Hauptmann (Đức), xem việc miêu tả thực tế không che đậy, không lư tưởng hóa mới là văn học chân chính.

2) Bên cạnh đó, có khuynh hướng duy mỹ (aestheticism) đề cao giá trị của thẩm mỹ và nhục cảm trong nghệ thuật theo tinh thần của Charles Baudelaire (Pháp) hay Oscar Wilde (Anh).

3) Khuynh hướng bản xứ gọi là cao sang (yoyuha) được đại diện bởi cách viết đặt trọng tâm vào việc làm giàu có kiến thức (refinement) như kiểu Natsume Sôseki hay có thái độ bàng quan (nil admirari), chịu phép (resignation) trước những vấn đề xă hội đặt ra như Mori Ogai.

4) Trong khi đó, trường phái Shirakaba (Bạch Hoa, cây bạch dương), ra đời cuối thời Meiji (Meiji 43, 1910), tập trung những cây bút xuất thân từ giới thượng lưu, sớm nh́n thấy mâu thuẫn giữa cuộc sống sung túc của giai cấp ḿnh và những bất công xă hội họ chứng kiến, t́m cách xác định bản ngă bằng cách viết và thực hiện những công tŕnh xă hội [2] có tính cách không tưởng (utopianism).

 

Bước qua thời Taisho, phái duy mỹ vẫn tiếp tục và Shirakaba bắt đầu hưng thịnh. Chỉ có văn học tự nhiên chủ nghĩa là bị suy thoái và nhường bước cho trào lưu tự thuật của watakushi shosetsu (c̣n đọc là shi-shosetsu, tư tiểu thuyết, tức ḍng văn học lấy cái tôi làm trung tâm) và ḍng văn học theo chủ nghĩa tân hiện thực (neo-realism), dùng khả năng của lư trí để phán đoán một cách lạnh lùng, khách quan những dữ kiện xă hội dù thuộc về hiện tại hay đă lui vào quá khứ. Akutagawa được các nhà phê b́nh văn học liệt kê vào ḍng văn học thứ hai này.

 

1. Phát triển của bộ môn tiểu thuyết trong giai đoạn cuối Meiji đầu Taisho:

Được in bằng chữ nghiêng là 3 khuynh hướng đối lập với ḍng văn học chính thời đó (chủ nghĩa tự nhiên) và phong trào tư-tiểu thuyết [3].



 Thời đại

Khuynh hướng
/Tác gia             
         
1



             2              
 

         3


         4

Meiji

 40

(1907) 

 - Chủ nghĩa tự nhiên (Yamada Katai, Shimazaki Toson, Tokuda Shusei, Masamune Hakucho, Kunikida Doppo)
 - Khuynh hướng duy mỹ (Sato Haruo, Nagai Kafu, Tanizaki Jun-ichiro)  - Khuynh hướng cao sang (Mori Ogai, Natsume Soseki)  - Văn phái Shirakaba (Bạch Hoa)
 Taishô

10

(1921)

 

 

15

(1926)
 - H́nh thức tư-tiểu thuyết (watakushi-shosetsu)  - Chủ nghĩa tân hiện thực (Akutagawa Ryunosuke, Kume Masao, Kikuchi Kan)  
(Arishima Takeo, Shiga Naoya, Mushakoji Saneatsu)


1.1. Akutagawa Ryunosuke và trường phái Tân hiện thực

Những nhà văn của trường phái tân hiện thực là người có chung quan điểm sử dụng khả năng suy luận của lư trí để phân tích và chỉnh lư những vấn đề mà cả hai trường phái duy mỹ và Shirakaba kia đă để vuột mất. Tuy được xem như chung một trường phái Tân hiện thực, nhưng họ lại đứng ở những vị trí nhiều khi rất xa nhau và dĩ nhiên có tác phong khác nhau.

1.2. Nhóm Shinshicho [4] (Tân tư trào)

Một nhóm bè bạn quen biết nhau ở Đại Học Đế Quốc Đông Kinh (tiền thân của Đại Học Đông Kinh) cùng chung chí hướng đă tái bản tạp chí Shinshicho (Trào lưu mới) (lần thứ 3 năm 1914 và lần thứ 4 năm1916). Tạp chí đó đă đóng vai tṛ giới thiệu với văn đàn những tên tuổi mới như Akutagawa Ryunosuke, Kikuchi Kan, Kume Masao, Yamamoto Yuzo, Toyoshima Yoshio.

2. Điểm khởi hành của Akutagawa Ryunosuke (1892-1927)

Ông là con gia đ́nh Niihara, được đặt tên Ryu (Long = con rồng) v́ sinh ngày th́n, tháng th́n, năm th́n, khu Irifune, nhượng địa cho người ngoại quốc ở Tokyo. Ông là con trưởng của Niihara Toshizo [5]. Bố ông có xưởng chế sữa ḅ ở ngoại ô Tokyo, nhiều khách hàng ngoại quốc, sau làm ăn thất bại, v.v... nhưng gốc gác này không dính dáng ǵ tới văn nghiệp ông bao nhiêu. Ông mới ra đời được bảy tháng th́ bà mẹ đẻ phát bệnh tâm thần nên ông được đem về phía họ hàng bên mẹ (Akutagawa) làm dưỡng tử. Cha nuôi là Akutagawa Michiaki. Họ Akutagawa xưa kia đời đời vốn giữ chức hầu lễ trà đạo trong phủ chúa, đến thế hệ Michiaki vẫn c̣n giữ được nếp văn nhân, tao nhă (bunjin), biết vẽ và làm thơ. Đó là điểm khởi hành của Akutagawa nhà văn.

Ông có khiếu văn chương từ hồi tiểu học, thích sử và muốn trở thành nhà nghiên cứu sử. Học rất giỏi, đến nỗi vào ban văn trường Ikko được miễn thi. Lúc bé đă ham đọc Tây Du Kư, Thủy Hử, Hakkenden (Bát Khuyển Truyện, một tiểu thuyết kiếm hiệp của Bakin thời Edo) cũng như tác phẩm của Kyoka, Katai, Rohan, Ichiyo và Ogai là những nhà văn hàng đầu thời ấy. Ông cũng thích các tác giả ngoại quốc, đặc biệt kịch Henrik Ibsen (Na Uy), thơ William Butler Yeats (Ái Nhĩ Lan) và văn Anatole France (Pháp).

Tác phẩm đầu tiên của ông là Tuổi già (Ronen, 1914) tuy có thuyết cho là tùy bút Nước gịng sông cái (Okawa no Mizu, 1912). Vào thời điểm đó, ông c̣n viết kịch Tuổi xuân và Cái chết (Seinen to Shi), một nhan đề định mệnh!

Cô Yoshida Yayoi, mối t́nh đầu của ông (1914-15), là con gái một người quen với gia đ́nh. Ông định cầu hôn nhưng họ lại ngăn cản. Sự kiện này làm ông chán ngán cái xấu xa, ích kỷ của người đời và ôm lấy ư nghĩ bi quan “sinh ra làm người đă là khổ rồi”. Đó cũng là cơ sở triết lư của Rashomon, tác phẩm nổi tiếng của ông.

Ông là nhà văn tiêu biểu của phái Shinshicho. Trong lần tái bản lần thứ 5 của tạp chí, số ra mắt (tháng 2/1916) ông đă cho đăng truyện ngắn Cái mũi (Hana) và được văn hào Natsume Soseki nhiệt liệt tán thưởng như sau:Truyện của ông viết thực hay. Điềm đạm, không đùa cợt, cứ kể tự nhiên mà làm cho người ta thấy buồn cười một cách nhẹ nhàng. Hơn nữa chất liệu dùng trong truyện lại rất mới mẻ. Văn từ gọn gàng, tŕnh bày đầy đủ những điểm cần thiết. Tôi phục lắm. Cứ tiếp tục viết thêm độ hai ba mươi tác phẩm như vậy th́ ông sẽ trở thành một nhân tài hiếm có của văn đàn cho xem.

3. Điểm qua các tác phẩm nổi tiếng của Akutagawa

Truyện Hana nói trên lấy cảm hứng từ Truyện bây giờ đă xưa (Konjaku Monogatari). Trong giai đoạn đầu tiên, khi sáng tác, ông hay mượn đề tài từ Konjaku hay Truyện xưa do ông Uji Dainagon góp nhặt (Uji Shui Monogatari), hai tác phẩm của thời trung cổ Nhật Bản. Chẳng hạn các truyện ngắn La Sinh Môn (Rashomon, 1915), Cháo khoai  (Imogayu, 1916), Bức b́nh phong tả cảnh địa ngục (Jigokuhen, 1918)…

Phạm vi đề tài và không gian của Akutagawa dần dần nới rộng. Hứng sáng tác (Gesaku Sammai, 1917), Cánh đồng khô (Karenosho, 1918); lấy bối cảnh thời Edo, Cái chết của một con chiên (Hyokyonin no shi, 1918), Truyện thánh Christopher (Kirishitohoroshonin-den, 1919) viết về thời ngoại quốc đến truyền giáo; Tiệc khiêu vũ (Butokai, 1920), Mấy con nộm (Hina, 1923) nói về sự tiếp thu văn minh Âu Tây thời Meiji. Ngoài ra c̣n có Sợi tơ nhện (Kumo no Ito), Cậu bé Đỗ Tử Xuân (Toshishun, 1920) mượn đề tài Ấn Độ và Trung Quốc đời Đường.

Yếm thế và ư thức về tội lỗi đă đưa ông đến với ḷng tin tôn giáo. Sợi tơ nhện (Kumo no Ito), Chúa Ki-Tô ở Nam Kinh (Nankin no Kito), Cái chết của một con chiên (Hokyonin no shi), Truyện Thánh Christopher (Kirishitohoro shonin-den) đều nằm trên một quĩ đạo. Trước khi chết không bao lâu ông c̣n viết Người phương Tây (Seiho no Hito) và tục biên của nó, Shoku Seiho no Hito, lại viết về chúa Kitô. Đó không phải là điều ngẫu nhiên. Trong các tác phẩm sau này, không c̣n đâu cái mỉa mai của Rashomon. Ông đă t́m về ḷng tin tôn giáo. Bên cạnh những tác phẩm kết án về sự ích kỷ của con người như Một vụ án mạng thời mới mở mang (Kaika no Satsujin), Ḷng đă trót yêu (Kesa to Morito), Bốn bề bờ bụi (Yabu no naka), may thay, ông đă để lại những truyện ngắn nhẹ nhàng và cảm động như Chiếc xe gọng (Torokko), Cậu bé Đỗ Tử Xuân (Toshishun), Tu tiên (Sennin), thường thường là những bài viết cho thiếu niên, độc giả của tạp chí Akai Tori [6] (Con chim đỏ).

Những tác phẩm vừa kể đă chứng tỏ văn tài của ông, nhưng đột nhiên, năm Taishô thứ 9 (1920), nhân viết Mùa thu (Aki), ông thoát ly lập trường “nghệ thuật vị nghệ thuật” và, sau giai đoạn tiểu thuyết gọi là Yasukichi-mono (truyện với nhân vật chính tên là Yasukichi, có lẽ là chính tác giả), bắt đầu bước vào lănh vực tiểu thuyết tự thuật với Thời trẻ của chàng Shinsuke chùa Daidoji (Daidôji Shinsuke no hansei; Đại Đạo Tự Tín Phù bán sinh, 1925). Cuối đời, người ta cho rằng một phần v́ dao động trước những biến cố xă hội dưới sức ép của cao trào văn học vô sản, một phần sức khỏe suy sụp do thần kinh suy nhược (có dính líu đến bệnh điên của người mẹ), ông mang một nỗi bất an thường trực. Phải chăng v́ thế mà ông đă miêu tả trạng thái tinh thần của chính ḿnh trong Ảo ảnh cuộc đời (Shinkirô, 1927) và Kappa (“Xă hội quái thú Kappa”, 1927) và sau đó, tự kết liễu đời ḿnh bằng độc dược.

Cái chết của Akutagawa được xem như tượng trưng cho số phận của trí thức, đă gây nhiều xúc động cho người đương thời. Ông để lại di cảo Guồng máy (Haguruma), Đời một chú ngốc (Aru aho no issho). Một tác phẩm ông viết khoảng năm 1923-1925 và được in ra sau khi ông mất (tháng 12/1927) nhan đề Lời phát biểu của một người hèn kém (Shuju no kotoba) có những nhận định như sau:

- Đời người:

Đời người giống như cái hộp diêm. Đừng có dại mà dùng nó vào chuyện lớn. Dùng vào chuyện lớn là nguy hiểm.

Đời người giống như quyển sách thiếu nhiều trang. Khó thể gọi nó là quyển được. Nhưng nó lại là một quyển đấy.

-Tự do:

Tự do giống như không khí trên đỉnh núi cao. Kẻ yếu không thể nào chịu nổi cả hai thứ đó.

Tự do chủ nghĩa. Tự do luyến ái. Tự do mậu dịch. Đáng tiếc là trong cái cốc nào chứa tự do cũng có pha thật nhiều nước. Nói chung toàn nước đọng.

Hăy thử điểm qua các tác phẩm nổi tiếng của ông. Hana là đoản thiên mượn ư truyện nói về cái mũi dài quá khổ của một nhà sư, chép trong tác phẩm trung cổ Uji Shuui. Sư Zenchi (Thiền Trí) chùa Ike-no-O (Đuôi Ao) của Akutagawa khổ sở v́ muốn làm cho mũi ngắn lại, giống như con người ta khổ sở v́ quá chú ư về ḿnh trong khi những kẻ sống chung quanh lại vô t́nh có ác ư. Rashomon lấy cảm hứng từ truyện cổ trong Konjaku qua câu truyện một tên trộm khám phá đống xác người chết bỏ trên lầu cổng Rashomon. Triết lư của nó nằm ở chỗ, con người v́ muốn sống c̣n nên phải nhúng tay vào điều ác, và chỉ khi nào làm một điều ác khác mới ngăn chặn được điều ác trước. Nhân sinh quan của một con người lúc đó mới 24 tuổi như Akutagawa quả là quá đậm màu sắc yếm thế. Trong đoạn kết của Rashomon, tên người ở sau khi trách mụ già đă làm điều ác là nhổ tóc xác chết kết thành búi tóc giả đem đi bán, lại lột quần áo mụ:

- Vậy ta có lột quần áo mụ, mụ cũng đừng có hận. Không lột mụ, ta cũng thành ma đói.
Tên người ở nhanh nhẹn lột hết quần áo mụ già. Thế rồi giữa khi mụ c̣n đang đeo cứng vào chân, hắn hung bạo đá phốc mụ ta lên trên đống xác chết. Từ chỗ hắn đứng đến cầu thang chỉ cách có năm bước. Tên người ở ôm lấy mớ áo quần màu nâu vỏ dà, lật đật xuống thang rồi mất hút vào bóng tối.

Trong Kappa (“Xă hội thủy quái Kappa”), Akutagawa thác ngụ thế thái nhân t́nh của thời đại ông vào xă hội của loài thủy quái. Tác phẩm phản ánh nỗi buồn và sự chán ghét cuộc sống của ông. Guồng máy (Haguruma) là một thế giới mà nhân vật chính nh́n thấy qua huyễn ảnh, c̣n “địa ngục hơn cả địa ngục”. Nó đánh dấu những ngày tháng cuối cùng ông sống trong thác loạn thần kinh, có những câu khiến độc giả phải rùng ḿnh:

Đó là một kinh nghiệm mà cả đời tôi chưa hề biết. Tôi hết sức cầm bút để viết tiếp nữa rồi. Tôi không thể sống mà chịu đau khổ như thế này măi. Có ai đó chịu đợi tôi ngủ mà bóp cổ giùm cho tôi chết đi không?

Về sự “thất bại của lư trí”, chính Akutagawa đă nhận định như thế này trong Đời một chú ngốc (Aru aho no isho):

Hắn giương đôi cánh nhân tạo ra, tung tăng bay bượn trong bầu trời. Cùng một lúc, bao nhiêu niềm vui nỗi buồn của đời người chan ḥa ánh sáng của lư trí đang hạ thấp xuống dưới tầm mắt hắn. Hắn tung những câu nói mỉa mai và nụ cười chế nhạo trên các phố phường đang thu nhỏ lại, bay vút lên ṿm cao không thoáng gợn về hướng mặt trời, dường như quên bẳng chuyện người Hy Lạp [7] ngày xưa, vào lúc đó, cũng mang đôi cánh nhân tạo bị mặt trời thiêu cháy và rơi vùn vụt xuống biển mà chết.

Sau đây là đôi lời ông phát biểu trong thư tuyệt mệnh gửi cho Kume Masao, người bạn thân và cũng là văn hữu trong nhóm Shinshichô.Tôi chưa thấy ai viết ra một cách không che đậy về tâm lư của một người tự sát. Lư do có thể là người sắp tự sát c̣n chút ḷng tự trọng hoặc bản thân họ thấy tâm lư người ở trong cảnh ngộ của ḿnh không có ǵ hấp dẫn để mà t́m hiểu. Tuy vậy, trong lá thư cuối cùng tôi gửi cho cậu đây, tôi muốn thuật lại thật rơ ràng tâm lư ấy, nhưng nếu bảo tôi không đặc biệt cho cậu biết động cơ nào đă đẩy tôi đến chỗ tự sát th́ cũng được. Régnier [8]trong một truyện ngắn của ông có lần miêu tả người tự sát. Anh chàng vai chính trong truyện này cũng chẳng biết lư do tại sao anh ta muốn kết liễu đời ḿnh. Chắc khi cậu giở trang ba mục tin lặt vặt mấy tờ báo cũng nhận ra được là có biết bao nhiêu động cơ có thể thúc đẩy người ta đến chỗ tự sát, nào là cuộc sống khó khăn, bệnh hoạn dày ṿ hay đau khổ tinh thần. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, tất cả những thứ đó chỉ là một phần của động cơ. Cùng lắm nó chỉ là những cái mốc đánh dấu những chặn đường đưa đến động cơ ấy mà thôi. Có lẽ người tự sát, giống như Régnier đă miêu tả, không biết lư do ǵ đưa anh ta đến chỗ chết. Nó cũng giống như hành vi của ta vẫn thường xuất phát từ nhiều động cơ phức tạp. Riêng trường hợp của tôi th́ chỉ là nỗi lo âu mơ hồ. Làm như có một sự lo lắng bàng bạc về tương lai. Cậu có thể không tin lời tôi nói v́ không ai chung quanh đă sống hoàn cảnh tương tự của tôi suốt mười năm qua. V́ thế, dù cậu có coi lời của tôi đây như tiếng hát tan vào cơn gió thoảng, tôi sẽ chẳng trách cậu đâu.

Trong đêm 23 tháng 7 năm 1927, ông đă b́nh tĩnh uống một lần hai loại thuốc ngủ trí mạng dù vợ đă biết trước và canh pḥng kỹ lưỡng. Thuốc ở đâu ra? Trong thư để lại, ông cho biết có một người đàn bà nào đó mang đến. Thế thôi! Miyamoto Kenji bảo ông tượng trưng cho “sự thất trận của văn chương tiểu tư sản (petit bourgeois)”. Kobayashi Hideo, ngược lại, ca ngợi mỹ học của ông và đổ cho định mệnh éo le. [9]

4. Ảnh hưởng của văn học ngoại quốc đối với Akutagawa

Không riêng chi trường hợp của các nhà văn Meiji (lúc Nhật Bản mới t́m đến với Tây Phương), kiến thức Âu Mỹ của một nhà văn đời Taisho (1912-1926) như Akutagawa cũng bắt nguồn từ sách dịch. Kato Shuichi [10] cho biết Akutagawa đă dẫn ra trong tác phẩm của ḿnh hết Strindberg, Nietzsche, Tourguenev, Tolstoi, Gogol, Dostoevski, Flaubert đến Baudelaire… từ những bài viết của họ được dịch qua tiếng Anh (ông tốt nghiệp đại học khoa Anh).

Cách miêu tả của ông cũng có màu sắc ấn tượng. Cách tả con chồn trong Cháo khoai giống như cách Prosper Merimée (1803-70) tả con chó trong Colomba. Cái mũi (Hana) có lấy ư của tác phẩm cổ điển Konjaku Monogatari của Nhật nhưng chủ đề “h́nh dạng cái mũi đánh mất và t́m lại được” vốn mượn truyện cùng tên (1835) của Nicolai V. Gogol (1809-1852), nhà văn châm biếm người Nga. Để viết Kappa, ông phải hiểu biết về cả Jonathan Swift lẫn Samuel Butler. Kiến thức của Akutagawa trải rộng từ Shakespeare cho đến các nhà soạn kịch Ái Nhĩ Lan, các thi nhân Pháp từ François Villon đến Paul Valéry. Nhân vật trong truyện của ông nêu cả tên Pierre Loti tức sĩ quan hải quân Pháp Julien Viaud (trong Butokai) lẫn Whilhem Liebknecht [11], triết gia khuynh hướng xă hội Đức (trong Gengaku sanbo). Tuy ông không tiếp xúc trực tiếp với Âu Mỹ qua kinh nghiệm bản thân như Ogai (từng sống ở Đức), Soseki (Anh) hay Kafu (Pháp và Mỹ) nhưng kiến thức của ông không v́ thế mà kém phần phong phú. Nó đă pha trộn với cổ điển Trung Hoa mà ông nằm ḷng, cũng như văn chương thời Edo (nhà thơ Basho, nhà tiểu thuyết Bakin...) ông thường dùng làm đề tài.

Văn chương ngoại quốc ảnh hưởng đến nhà văn Nhật Bản bằng một cách nhiều khi phức tạp hơn ta tưởng. Bốn bề bờ bụi (Yabu no naka, 1925) của Akutagawa, đă trở thành sườn của cuốn phim Rashomon bất hủ của đạo diễn Kurosawa Akira. Ta đă chỉ biết nó bắt nguồn từ Konjaku Monogatari (quyển 29, truyện 23, kể truyện một cặp vợ chồng nhà quan gặp cướp núi, sau khi bị cướp làm nhục trước mặt chồng, vợ lại nẩy ra ư muốn giết chồng) là một tác phẩm cổ điển do tác giả vô danh viết ra vào tiền bán thế kỷ 12, chỉ có mục đích khuyên người đời nên cẩn thận khi liên hệ với kẻ khác (v́ người chồng muốn đổi cây cung của ḿnh để lấy thanh kiếm của tên cướp nên bị mắc lỡm). Thế nhưng, có chứng cứ khác cho thấy rằng khi viết truyện này, Akutagawa cũng đă mượn nguồn cảm hứng từ văn học Tây Phương.

Yasuda Yasuo (theo Tomita Hitoshi [12]) đă dẫn ra hai tác phẩm Âu Mỹ có thể liên quan đến nó: vở kịch thơ Chiếc nhẫn và quyển sách của Browning (1812-89) và Phục thù của Henry de Régnier [13]mà Mori Ôgai đă cho đăng trong Truyện các nước (Shokoku Monogatari, Chư Quốc Vật Ngữ). Ông đă so sánh và phân tích từng điểm giống nhau giữa hai truyện đó với Yabu no naka. Ngoài ra, vẫn theo Tomita, Yoshida Seiichi lập ra mối liên hệ giữa Con đường trăng sáng (The Moonlight Road) trong tập truyện Sao xảy ra được nhỉ? (Can Such Thing Be?) của nhà văn Mỹ Ambroise Pierce. Trong truyện của Pierce, nhân một vụ án mạng, ba người trong cuộc đă tŕnh bày sự việc liên quan tới họ và cuối cùng, người vợ là kẻ bị giết đă mượn lời đồng cốt để tŕnh bày sự thật về phía ḿnh. Thế nhưng theo Tomita Hitoshi (sđd, tr. 66) th́ Yabu no naka gần với Người con gái của bá tước Ponthieu, một tác phẩm của Pháp thế kỷ 13 hơn là truyện của Pierce. Tác phẩm của Pháp kể truyện con gái của bá tước Ponthieu, v́ không con nên cùng chồng là Thibaut đi hành hương ở Santiago bên Tây Ban Nha để cầu tự, giữa đường gặp cướp. Thibaut dũng cảm chống cự nhưng rốt cục bị trói, chứng kiến cảnh cướp làm nhục vợ trước mắt. Khi cướp đi rồi, Thibaut nhờ vợ cởi trói hộ nhưng ngạc nhiên thay, lúc đó, vợ lại dùng thanh kiếm tên cướp bỏ lại định chém chết chồng. Thibaut khéo léo tránh và nhờ đó, dây trói trái lại được cắt đứt. Thibaut thoát hiểm, lôi vợ xuống núi và gửi vào tu viện làm ni, một ḿnh về nước. Bá tước biết chuyện, nhục nhă quá nên t́m đến nơi, đóng con gái vào thùng rồi quẳng xuống biển.

Có một sự t́nh cờ lạ lùng là Akutagawa đă viết tiểu luận tốt nghiệp đại học với nhan đề Nghiên cứu về William Morris [14]. Thêm một sự trùng hợp nữa là câu chuyện dịch qua tiếng Anh của Người con gái của bá tước Ponthieu đă được in trong toàn tập của Morris. Vẫn chưa t́m ra bằng chứng xác thực xem Akutagawa đă đọc nó trong đó hay không, nhưng chi tiết “vợ muốn giết chồng” của truyện Pháp này trùng hợp với mấu chốt chính trong truyện kể của Konjaku.

(Xem tiếp phần 2/2)

_________________

Chú thích:

(*) Xin hiểu “từ A đến R” như là một sự không trọn vẹn.

(**) Người viết đặc biệt cảm ơn các góp ư của Văn Lang Tôn Thất Phương và Việt Châu.

[1] Trong văn học Nhật Bản không có nhiều tryện dài theo định nghĩa Tây Phương. Các truyện dài của họ như Genji hay Daibosatsu-toge thường là sự kết hợp những chương tự nó có thể đứng một ḿnh được. Nhiều truyện dài thường bị tác giả bỏ dang dở nửa chừng. Đi xem tuồng Nô là xem 5 màn mà câu truyện không ăn nhập ǵ với nhau.

[2] Họ không hành động cụ thể để chống đối bất công xă hội mà chỉ đóng góp vào việc san bằng bất công một cách ôn ḥa. Tiêu biểu có Arishima Takeo đem ruộng đất thừa tự phân phát cho dân nghèo hay Mushanokoji Saneatu lập những “làng mới”, trong đó, ai chịu khó làm việc cũng đều có cơm ăn áo mặc. Những làng mới đă sớm bị phá sản và phải dẹp bỏ sau đó.

[3] Điều này không có nghĩa là các nhà văn khuynh hướng khác (Akutagawa, Shiga…) không sử dụng thủ pháp tự thuật.

[4] Shinshicho ra mắt lần đầu năm 1907 như một tạp chí tổng hợp, lần thứ 2 năm 1910 như một tạp chí của những người chung chí hướng, có cả Tanizaki Jun-ichiro. Đến nay đă tái bản đến 20 lần.

[5] Để giải thích sự yếm thế của Akutagawa, có thuyết cho rằng ông là con tư sinh. Akutagawa thường có cảm tưởng ḿnh bị quỉ thần bách hại như nhân vật Oreste thời cổ Hy Lạp. Ông thích đọc Đứa con của chị sen, kịch của Strindberg và Đi trong bóng tối (An-ya Koro) của Shiga Naoya, trong đó, nhân vật chính là kết quả của mối t́nh vô luân giữa bố chồng và nàng dâu.

[6] Akai Tori, tạp chí văn chương dành cho nhi đồng, hai lần ra mắt độc giả, khoảng 1918-29 và 1931-36.

[7] Thần thoại Hy Lạp về Icarus trong, người gắn cánh bay lên mặt trời bị sáp nóng chảy và rơi xuống chết.

[8]Henri de Régnier (1864-1936), nhà văn Pháp phái tượng trưng sau chuyển qua phái tân cổ điển.

[9] Có lẽ người ta xem động cơ tự sát của văn nhân lúc nào cũng phức tạp hơn người thường. Trường hợp Romain Gary (Pháp), Ernest Hemingway (Mỹ), Dazai, Arishima,  Mishima và Kawabata (Nhật) cũng làm tốn nhiều mực.

[10] Katô, Shuuichi, sđd, quyển 3, trang 239.

[11]Cùng với Vladimir Il’ich Lenin và Rosa Luxembourg, hai nhà cách mạng khác, họp thành 3L.

[12] Tozai no setten (Điểm gặp gỡ giữa Đông và Tây)

[13] Akutagawa đă nhắc đến tên của Régnier trong bức thư tuyệt mệnh gửi cho Kume Masao trước khi tự sát.

[14] William Morris (1834-1896) thi nhân kiêm nhà nghệ thuật tạo h́nh, nhà cải cách xă hội người Anh. Cuối đời, theo chủ trương xă hội không tưởng (Utopianism).

Bị chú : Bài đă đăng trên E-Văn www.evan.com.vn. Chia sẻ trên ERCT với sự đồng ư của anh Nguyễn Nam Trân

 


® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com"

..........