ẢO TƯỞNG

(Môsô, 1911)

Nguyên tác: Mori Ôgai

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 Biển trải dài theo chiều ngang, rộng bao la trước mắt.

Cát bị sóng đánh xô lên đă đắp thành một quả đồi nhỏ, giống con đê thiên nhiên. Chữ dun (đụn)[1] bắt nguồn từ bên Ai-len hay Ê-cốt và sau đó phổ biến khắp Âu châu là để chỉ một địa h́nh như thế này.

Trên quả đồi cát đó có những cây tùng mảnh khảnh mọc thành lùm. Chúng không phải là giống tùng mọc ở đó tự lâu đời.

Chủ nhân với mái tóc bạc đang ngồi trong một gian của ngôi nhà nhỏ[2] và ngắm biển. Ông đă đẵn mấy thân tùng cho trống chỗ để dựng ngôi nhà nên nó lọt thỏm vào giữa khu rừng trên đồi cát.

Hồi c̣n đi lại với người đời, chủ nhân đă dựng căn nhà này với ư định làm nơi nghỉ mát. Nhà chỉ đủ chỗ cho hai gian và cái bếp. Nơi ông đang ngồi là gian pḥng khách rộng 6 chiếu, phía đông tầm mắt bao quát được mặt biển.

Nơi đụn cát không tiến thêm nữa, nó tạo thành một cái dốc thật gắt hầu như đứng thẳng, đôi chỗ lại lơm vào. Dưới chân đụn, những khoanh rễ tùng đan vào nhau chằng chịt. Từ chỗ chủ nhân ngồi, ông chỉ thấy những đợt sóng muôn trùng, một ḍng sông, vài cái đảo con nằm dọc theo sông xen giữa đồi cát và biển.

Sông uốn khúc rồi đổ ra khơi. Dưới chân đụn cát là nơi nước ngọt và nước mặn giao ḥa.

Ở một chỗ thấp đằng sau đồi cát, loe hoe vài túp nhà dân. Họ đánh cá hoặc làm ruộng. Trên đồi cát này chỉ có một nóc gia, đó là ngôi nhà của chủ nhân.

Dân chúng trong vùng kể lại rằng có lần cuồng phong đă hất tung một chiếc thuyền câu làm nó vướng trên mấy ngọn tùng trong khu rừng. V́ thế họ sợ, không ai dám cất nhà trên đồi cát.

Con sông vừa nói tên là Ishimigawa ở vùng Kazusa (tên cũ của Chiba). Biển là Thái B́nh Dương.

Mùa thu sắp về, sương mù bắt đầu giăng mắc trên khu rừng tùng. Buổi mai hôm đó, chân lên mặt cát chưa có dấu chân ai, chủ nhân đă đánh một ṿng. Rồi sau khi về ăn xong bữa quà sáng mà Yasohachi, người lăo bộc, đă soạn sẵn, ông ra ngồi giữa pḥng khách. 

Chung quanh yên lắng, không lấy một tiếng người nói, một tiếng chó sủa. Chỉ nghe trên băi vắng sóng bủa âm vang, nặng nề như nhịp mạch của đất trời.

Mặt trời giống một quả cầu màu vàng cam, đường kính khoảng 30 phân, xuất hiện ngay chỗ mặt nước tiếp với tầng không. V́ đôi mắt chăm chú lấy chân trời làm đường giới tuyến nên chủ nhân cảm thấy mặt trời lên cao vùn vụt. Ông nh́n nó mà suy nghĩ về thời gian và cuộc đời. Cả cái chết nữa.

Schopenhauer có lần bảo: “ Cái chết là vị thần gợi nguồn cảm hứng cho triết học. Nó là Apollon Musagetes, nam thần đỡ đầu các triết gia”. Nhớ lại câu nói đó, chủ nhân ngẫm nghĩ th́ thấy quả đúng như vậy. Thế nhưng khi tư duy về cái chết, ta không thể nào tách nó ra khỏi tư duy về sự sống. Bởi v́ khi nghĩ về cái chết là nghĩ đến việc đánh mất sự sống.

Cho đến ngày nay, đọc những ǵ bao nhiêu người đă viết, nói chung họ điều cho rằng, khi tuổi già sồng sộc kéo đến, th́ trên thực tế, người ta càng ngày càng bị ám ảnh bởi cái chết. Thế nhưng nh́n lại kinh nghiệm của ḿnh trong quá khứ, chủ nhân cảm thấy giữa ông và họ dù sao cũng có một cái ǵ khang khác.

                           *

Khi hăy c̣n ở giữa lứa tuổi đôi mươi, tôi đă phản ứng lại với những sự việc đến từ bên ngoài bằng tất cả sự nhạy cảm của một gă trai tân và bên trong, tôi vẫn c̣n giữ nguyên một nguồn năng lượng tràn đầy. Lúc đó tôi đang ở Berlin[3], thời hoàng đế William đệ nhất trị v́. Ông đă phá vỡ sự thăng bằng đang có giữa liệt cường và đem đến cho chữ Deutsch[4], tên gọi nước ông, một âm hưởng man rợ. Điều khác nhau giữa thời của ông và thời Hoàng đế William đệ nhị bây giờ là ông đă đặt thần dân của ḿnh ở dưới một quyền lực damonisch (ác quỉ). Những người thuộc khuynh hướng dân chủ xă hội không cần ai xỏ mũi dắt đi mà vẫn cảm thấy bị đè nén đến ngộp thở bởi một sức nặng vô h́nh. Đến nỗi trên sân khấu chẳng hạn, kịch tác gia Ernst von Wildenbruch[5] đă phải dựng một vở tuồng, trong đó, tổ tiên của ḍng họ Hohenzollern[6] thủ vai chính. Vở kịch đă gieo rắc ảnh hưởng đến tâm t́nh của đám sinh viên học sinh.

Ban ngày, tôi làm việc ở giảng đường hay trong Laboratorium (pḥng thí nghiệm)[7], giữa đám thanh niên tràn đầy sức sống.Nhiều khi, trong bụng, tôi cũng cảm thấy huênh hoang bởi v́ so sánh với bọn trai trẻ Âu châu vụng về chậm chạp, tôi khá sáng láng, lanh lợi và có thể vượt trội họ. Ban đêm, tôi thường đi xem hát. Đến cả vũ trường nữa. Trên đường về, thỉnh thoảng dừng chân ở mấy quán cà phê. Khi bên ngoài chỉ c̣n những ngọn đèn đường tỏa ánh sáng hắt hiu và đám phu quét đường đưa xe ngựa đi ḷng ṿng để bắt đầu công việc, tôi mới lửng thửng về nhà. Thú thực, có hôm tôi đă đi ngủ lang.

Rồi tôi cũng về đến pension (nhà trọ). Nói là nhà trọ cho oai chứ nơi tôi vừa mở bằng chiếc ch́a khóa kềnh càng để bước vào là cánh cửa của một ngôi nhà chứa cả mấy căn hộ.Tôi leo lên tầng ba hay tầng bốn rồi bật một que diêm bằng sáp và cuối cùng mới nhận ra là ḿnh đang đứng bên trong cái chambre garnie (căn pḥng đầy đủ thiết bị).

Một cái bàn chân cao, hai hay ba cái ghế. Một cái giường, cái tủ và vài cái kệ để đồ rửa mặt. Ngoài ra, không có ǵ tất. Tôi châm đèn, cởi quần áo. Tắt đèn xong là tôi nằm lăn ra giường.

Đây là giờ khắc mà tôi cảm thấy ḷng ḿnh chùng xuống. Những khi không có ǵ lo lắng, tôi để tâm trí hồi tưởng lại những h́nh bóng thân yêu gia đ́nh ở chốn quê nhà. Và tôi đi vào giấc ngủ với h́nh ảnh mộng mơ ấy. Nostalgia (Nỗi nhớ nhà) dù sao cũng chưa phải là t́nh cảm đau khổ sâu sắc nhất của con người.

Có hôm không hiểu sao ḿnh cứ thao thức, tôi bèn ngồi dậy thắp lại ngọn đèn và thử làm việc. Nếu có hứng th́ tiếp tục trắng đêm. Tôi chỉ chợp mắt một chút vào lúc tờ mờ đất, khi những tiếng động bên ngoài bắt đầu vọng tới, nhưng nhờ sức trẻ nên mệt mỏi chăng nữa, tôi vẫn hồi phục dễ dàng.

Lắm lúc tôi không sao tập trung tinh thần vào công việc. Đầu óc căng thẳng và thần trí vô cùng tỉnh táo. Khổ cái là lúc lật một trang sách ai đó viết ra, tôi không thể đuổi theo một ư tưởng nào khác ngoài ḍng suy nghĩ của ḿnh. Tư tưởng của tôi buông thả tự do theo đường nó muốn đi. Nhân v́ ngành y khoa tôi đeo đuổi vốn là ngành khoa học tự nhiên đúng nghĩa nhất trong mọi ngành khoa học tự nhiên, và hơn nữa, với tâm trạng muốn hiến cả cuộc đời cho một môn học exact (chính xác) nên tôi thấy ḿnh vẫn c̣n khao khát cái ǵ đó. Tôi bắt đầu suy nghĩ về cuộc đời và tự hỏi những ǵ ḿnh đă làm có thể lấp đầy được cuộc đời ấy không.

Từ khi sinh ra đến nay, tôi đă làm được nhũng ǵ nào? Tôi đă bị chuyện học hành ám ảnh như thể có ai đang dùng roi quất liên tục để ép tôi chạy theo nó. Tôi nghĩ rằng ḿnh đang tự ghép vào kỹ luật để mai sau có thể nhận lănh một vai tṛ. Trong chừng mực nào đó, mục đích coi như đă đạt được nhưng thực ra tôi chỉ đóng đủ vai tṛ của một diễn viên trên sân khấu. Tôi cảm thấy ḿnh c̣n cần phải làm một cái ǵ khác ngoài vai tṛ đang đóng. V́ bản thân luôn luôn bị đánh đập và thúc bách cho nên cái ǵ khác đó không đủ thời giờ để thức dậy trong tôi. Thuở nhỏ cũng học, thành sinh viên cũng học, nhận học bổng tu nghiệp nước ngoài cũng học, đó là những vai tṛ liên tiếp mà tôi đă đóng. Tôi muốn chùi sạch lớp phấn đỏ phấn đen đang phủ lên khuôn mặt ḿnh để rời khỏi sân khấu, b́nh tâm suy nghĩ một chút về bản thân và nh́n vào bên trong xem có cái ǵ nằm dưới vỏ lốt ấy không. Trong bao nhiêu lâu v́ đưa lưng ra ăn roi người đạo diễn, tôi chỉ biết đóng hết vai tuồng này đến vai tuồng nọ. Cứ ngỡ rằng những vai tṛ đă đóng là cuộc đời ḿnh nhưng biết đâu cái đang ẩn dấu bên trong mới là cuộc đời thực!   

Lần nào cũng vậy, cái t́nh cảm đang dợm thức dậy đó đă vội vàng khép mắt trở lại. Đặc biệt vào lúc đó, nỗi nhớ nhà làm tôi se sắt hơn bao giờ hết và đây không phải là t́nh cảm của người đang đóng tuồng trên sân khấu. Tôi giống như một mảng cỏ bập bềnh theo ngọn sóng, bị đánh ra khơi rồi mà vẫn bám víu vào gốc rễ ngay giữa lúc nổi trôi. Khổ thay, vừa khi t́nh cảm ấy vừa mới thành h́nh th́ nó bỗng biến đi mất dạng.

Hơn thế nữa, khi không dỗ được giấc ngủ, tôi tự hỏi ḷng chả biết cho đến khi chết, ḿnh sẽ tiếp tục đóng tṛ trên sân khấu nữa hay không! Tôi cũng nhủ thầm là không có ai biết được cuộc đời sẽ dài ngắn thế nào. Th́ đúng vào dịp đó, một người bạn cùng đi tu nghiệp với tôi qua đời v́ chứng thương hàn trong bệnh viện. Vào giờ rảnh giữa hai buổi học, tôi đến thăm anh ở Charité (Nhà thương từ thiện)[8]. Nh́n qua của kính, tôi thấy cái giường anh nằm trong căn pḥng dành cho những con bệnh truyền nhiễm. V́ anh sốt trên 40 độ, mỗi ngày người ta đều cho anh tắm bằng nước lạnh.Thế nhưng với tư cách một sinh viên ngành y, tôi quả quyết là chữa trị bằng cách cho tắm nước lạnh như vậy cho một người Nhật là không đúng nên đă lên tiếng phản đối với các vị bác sĩ. Thế nhưng người ta đă trả lời rằng không ai có quyền can thiệp một khi con bệnh đă nhập viện và thầy thuốc quyết định xong về phương pháp chữa trị. Cho dù tôi có bày tỏ ư kiến th́ cũng chẳng ai nghe. Trước cảnh đó, tôi đành phải giữ một thái độ bàng quan. Một hôm, khi đến thăm anh bạn ấy th́ người ta cho biết anh đă qua đời đêm hôm trước. Tôi nh́n khuôn mặt người chết và bị xúc động mạnh. Tôi tự nhủ có thể ngày nào đó, tôi cũng mắc một chứng bệnh và chết cùng một kiểu. Từ ấy, ư tưởng trước sau ḿnh sẽ bỏ xác ở Berlin thường lảng vảng trong đầu.

Trong t́nh huống như vậy, tôi tưởng tượng ở quê nhà, cha mẹ của người bạn ấy, những kẻ đang chờ ngày về của con, chắc phải khóc than sầu khổ đến mức nào. Tôi nghĩ đến bà con quyến thuộc của anh, Và đến cả những người anh gần gủi, kể cả tôi. Trong những bức thư gia đ́nh gửi cho anh, có kể chuyện thằng em trai tóc ngắn loe hoe, đứa em mà hồi anh ra đi, bước c̣n chập chững[9], mỗi ngày vẫn hỏi thăm lúc nào anh về. Đứa em đó, nếu biết được anh không bao giờ trở lại, chắc sẽ lặng người.

Tôi cũng tự nhủ là với học bổng mà ḿnh được hưởng, tôi không có quyền chết giữa lúc chuyện trường ốc đang dở dang. Những khi mang trong đầu những ư nghĩ trừu tượng như thế, tôi thấy ḿnh như thiếu bổn phận. Thế nhưng, là kẻ có cơ hội chứng kiến hoàn cảnh cụ thể của từng cuộc đời khác cho nên – như một người thân - tôi bắt buộc phải đau khổ v́ cái Neigung (ḷng trắc ẩn) của ḿnh.

Chính thế mà tâm hồn tôi bị xâm chiếm bởi đủ loại t́nh cảm social (xă hội) hiểu theo nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, liên quan đến mọi hệ lụy của con người nhưng rốt cục nó chỉ qui về một bản ngă individuell (cá nhân) thôi. Tôi nghĩ chỉ có cái chết, điểm tụ họp của muôn mối dây giằng kéo ta, là có thể làm tiêu tan cái bản ngă cá nhân này. 

Từ bé, tôi đă thích đọc tiểu thuyết và đến khi có chút vốn ngoại ngữ, tôi dành toàn thời giờ rảnh rỗi để chúi đầu vào những cuốn tiểu thuyết nước ngoài. Trong cuốn nào tôi cũng thấy người ta viết rằng bị đánh mất bản ngă là điều vô cùng quan trọng và nó làm ḿnh rất đỗi đau đớn. Riêng tôi th́ tôi nghĩ, đó chẳng qua sự biến mất bản ngă của ḿnh thôi, có ǵ phải đau đớn nhỉ? Họa hoằn khi bị đâm một nhát dao chí mạng, trong một nháy mắt, thân thể tôi chắc sẽ cảm thấy đau đớn. Nếu tôi ngă gục v́ một căn bệnh hay v́ trúng độc, có lẽ tôi sẽ có những cảm giác tương ứng với bệnh chứng hay sự trúng độc nghĩa là ngạt thở, tê liệt. Thế nhưng nếu bản ngă của tôi chợt biến mất th́ tôi chẳng thấy có ǵ phải đau đớn cả. 

Người Tây phương nghĩ rằng chỉ có bọn Man di[10] mới không sợ chết. Có lẽ tôi thuộc vào thành phần những người mà Tây phương xếp vào hạng Man di. Phải rồi, tôi chợt nhớ khi ḿnh c̣n bé, cha mẹ tôi bảo rằng v́ tôi sinh ra trong một gia đ́nh samurai, tôi phải biết seppuku (mổ bụng tự tử) khi cần.Tôi c̣n nhớ lúc ấy đă nghĩ là ḿnh phải có đủ can đảm để chịu nổi một sự đau đớn về thể xác kinh khủng như vậy. Và tôi cũng nghĩ có lẽ ḿnh thuộc giống người gọi là Man di đó. Nhưng tôi không thế nào đồng ư với quan điểm như thế của người Tây phương.

Không biết có thực là tôi vẫn giữ được b́nh tĩnh nếu một ngày nào đó thấy ḿnh đánh mất bản ngă? Chắc là không. Tại sao tôi có thể căm giận v́ đánh mất bản ngă trong khi chưa t́m hiểu tường tận xem bản ngă của ḿnh là cái ǵ để mà nuối tiếc ! Thế có đáng buồn không? Đáng buồn v́ đă sống một cuộc đời tóm tắt được trong câu nói sau đây của một nhà nho : “Túy sinh mộng tử “ (Sống giữa cơn say và chết trong giấc mộng). Tôi căm hận và tiếc cho ḿnh đă sống một cuộc đời như thế và cùng lúc, nhận ra là ḷng tôi đang trống vắng mênh mông. Kèm theo đó, một nỗi cô đơn khó tả.

Đó là nguồn gốc của bất an và đau khổ.

Những đêm dài trằn trọc trong cái garccon logis [11]ở Berlin, nhiều lần tôi đă cảm thấy đau khổ như thế đó. Những lúc ấy, tất cả những ǵ tôi đă thực hiện được từ ngày có mặt trên thế gian này đều là hời hợt và lăng phí ngày giờ. Hơn bao giờ hết, tôi cảm thấy ḿnh cho đến nay chỉ là kẻ đóng tṛ trên sân khấu. Vài ba mẩu vụn tư tưởng Phật giáo hay Ki-tô giáo người ta đă truyền lại cho hay chính tôi đọc được, lại ngoi lên trong đầu một cách lộn xộn để rồi biến mất sau đó. Chúng đă tiêu tán trước khi có thể đem lại cho tôi một niềm an ủi. Tôi đă rà soát tất cả những kiểu suy luận nằm trong các môn khoa học tự nhiên mà tôi học được cho đến bây giờ ḥng t́m thấy niềm an ủi nhưng cố gắng ấy chỉ là vô vọng.

Chuyện xảy ra vào một buổi tối tôi đang mang tâm trạng như thế. Tôi định bụng sẽ đọc một quyển sách triết nên không đợi đến khi trời hừng sáng đă vội vă ra đi để t́m mua quyển Triết học về Vô thức[12] của Hartmann[13]. Đây là lần đầu tiên tôi t́m đọc loại sách triết. Nhưng tại sao tôi lại chọn Hartmann? Lư do là vào thời đó, ông là đầu mối của một cuộc tranh luận khá ồn ào. Người ta nghĩ rằng ông đă đề xướng được một hệ thống tư tưởng hoàn toàn mới mẻ. Đến độ một số người khẳng định rằng thế kỷ thứ 19 đă đem đến cho họ hai phát minh lớn: đường xe hỏa và triết học của Hartmann.

Tôi phải biết ơn triết lư này v́ nó đă giải thích cho tôi về ba giai đoạn trong cấu trúc của một ảo tưởng. Để chứng minh là con người không thể đặt hạnh phúc như là mục đích của cuộc đời, ông đă tưởng tượng ra ba giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, con người truy cầu hạnh phúc ở thế gian này. Hartmann đưa ra những yếu tố liên hệ với nó: tuổi trẻ, sức khỏe, t́nh bạn, t́nh yêu, danh dự – nhưng khi nêu tên chúng ra, ông chỉ có mục đích đập tan những ảo tưởng tiềm ẩn bên trong các khái niệm ấy. Bởi v́ t́nh yêu là nguồn cội chính của đau khổ, c̣n hạnh phúc chỉ có thể có khi người ta gạt bỏ được những xung động t́nh dục. Khi trả giá bằng sự hy sinh như thế, con người mới đi đến chỗ thúc đẩy được – dù chỉ là một phần vô cùng nhỏ nhoi – sự tiến hóa của thế giới. Trong giai đoạn thứ hai, người ta đi kiếm hạnh phúc đến sau cái chết. Để được hạnh phúc, tiền đề đặt ra là con người phải tồn tại măi măi. Thế nhưng khi người ta chết đi th́ ư thức cá nhân cũng sẽ chết theo thôi v́ lúc đó, hệ thần kinh không c̣n làm việc nữa. Ở giai đoạn thứ ba, người ta đón đợi hạnh phúc tương lai cho thế giới. Điều này chỉ xảy ra với giả thuyết là thế giới sẽ tiến hóa theo một quá tŕnh. Thế nhưng cho dù thế giới tiến hóa đến mức độ nào, nó cũng không thể làm biến mất tuổi già (lăo), bệnh tật (bệnh) cái chết (tử) cũng như sự bất măn và mọi thứ tai ương.Thần kinh của con người càng nhạy cảm, càng trở nên tinh tế. Cái khổ cũng tiến hóa và sinh sôi thêm lên cùng một nhịp với độ nhạy cảm của con người. Nh́n thật kỹ ba giai đoạn, trước, giữa và sau, mới thấy hạnh phúc là cái con người vĩnh viễn không thể nào đạt đến.

Trong siêu h́nh học của Hartmann, thế giới đă được tạo ra sao cho hoàn hảo. Thế nhưng nếu đặt câu hỏi là liệu sự hiện hữu của nó có cần thiết không th́ chắc phải trả lời là không. Hartman xem “Vô thức” như căn nguyên sự hiện hữu ấy. Ông bảo nếu phủ định cuộc đời, chúng ta sẽ trở thành lạc lơng v́ thế giới này vẫn tiếp tục hiện hữu. Nhân loại hôm nay có biến mất đi nữa th́ lúc nào đó sẽ có một nhân loại khác thế chỗ nó, để lặp đi lặp lại y như trước. Nhân loại bèn nghĩ, nếu đă vậy th́ thôi, thà chúng ta cứ chấp nhận cuộc đời, chịu đựng mọi đau khổ để đợi đến ngày thế giới được giải thoát.

Kết luận này làm tôi phải chau mày nhưng tôi thấy ḿnh bị thu hút bởi luận điệu mà Hartmann dùng để phá vỡ những ảo tưởng. Tôi hoàn toàn đồng t́nh với chủ trương “disullision” (giải ảo) của ông. Sau đó, được biết Hartmann đă nh́n nhận là nhờ đọc kỹ bài viết của Max Stirner[14] nên mới có cảm hứng để viết ra lư luận về ba giai đoạn, tôi bèn t́m đọc Stirner. Cuối cùng, khi biết rằng nguồn gốc của mọi triết lư về Vô thức đều bắt nguồn từ Schopenhauer, tôi lại t́m đến tận tác phẩm của ông này.

Khi đọc Stirner, tôi có cảm tưởng là trong khi Hartmann diễn đạt một cách lịch sự th́ Stirner phát biểu như kẻ vô lại. Đối với ông ta, khi tất cả những ảo tưởng đă bị hủy hoại, bản ngă vẫn c̣n đó. Trong cuộc đời này, cái khả dĩ được coi như bền vững là bản ngă của con người. Nếu ta lần theo chuỗi lư luận của Stirner mà tiến về phía trước th́ cái mà ta bắt gặp sau cùng chỉ có thể là chủ nghĩa vô chính phủ.

Nghe thế, tôi hơi rờn người.

Tôi đă đọc Schopenhauer và nhận ra ông là “một Hartmann trừ bớt tiến hóa luận”[15]. Đúng thật, phải chi đừng có cái thế giới này th́ tốt bao nhiêu. Nhưng thế giới con người đă được tạo ra sao cho càng tệ hại càng tốt. Công cuộc tạo thiên lập địa là kết quả của một sai lầm. Cái yên ổn của hư vô đă bị khuấy động bởi sai phạm này. Không có phương pháp nào - ngoài sự nhận thức về thế giới - có thể giúp chúng ta t́m lại sự yên ổn của hư vô. Mỗi con người sinh ra đều là một lầm lẫn, tốt hơn họ không nên có mặt trên đời. Dục vọng muốn được trường sinh bất tử của con người chỉ kéo lê sự lầm lẫn ấy đến vô cùng. Nếu cá nhân mất đi, loài người vẫn c̣n đó. Dục vọng muốn tồn tại măi và không chịu biến đi, được Schopenhauer mệnh danh là “ư chí”, hiểu theo nghĩa rộng.” Ư chí” này đối nghịch với cái h́nh tượng thay mặt cho nó vốn là vật thể có thể bị hủy hoại. Nhân v́ “ư chí” hiện hữu cho nên hư vô không c̣n tuyệt đối nữa mà trở thành tương đối. “Ư chí” đó, Kant[16] gọi là “bản thể của sự vật” (chose en soi). Nếu con người muốn trở về với hư vô, hắn chỉ cần làm một hành động là tự sát. Nhưng ngay cả khi cá nhân hắn chết đi rồi, loài người vẫn tồn tại. Tồn tại trong bản thể của sự vật. Tốt hơn là nên tiếp tục sống cho đến khi hết tuổi trời. Cái mà Hartmann gọi là “Vô thức”, không có ǵ khác hơn là “Ư chí” mà Schopenhauer đă chủ trương nhưng ở dưới một dạng khác.

Tôi thấy ḿnh càng ngớ ngẩn hơn.                 

                          *

Như thế tôi đă sống ở nước ngoài suốt ba năm du học. Khi vừa cảm thấy trong ḷng ḿnh có một vật thể ǵ đó đang dao động v́ nó không t́m được thế quân b́nh, tôi đă phải từ giă đất nước văn vật này, nơi tôi dễ dàng t́m được một vị thầy bất cứ ở trong lănh vực nào. Không chỉ là những ông thầy bằng xương bằng thịt. Tôi muốn nói đến cả những cuốn sách, chúng cũng là những người bạn tâm sự của tôi. Không cần phải đi đâu xa cũng kiếm ra. Vào thư viện của Đại học là có ngay. Tôi cũng có thể đặt mua mà không gặp phải những cản trở như thủ tục đăng kư rắc rối hay phải chờ đợi lâu la nhiều tháng trời. Thế nhưng nay tôi phải rời đất nước đầy đủ tiện nghi này.

Tôi nhớ quê hương tôi lắm. Cái mà tôi đang thiếu thốn là một xứ sở xinh đẹp trong những giấc mơ và hoài niệm. Thế nhưng để đào sâu kiến thức y học và khai phá lănh vực khoa học thì thật đáng tiếc nếu bắt buộc phải về lại quê hương, nơi tôi không thể hưởng được những điều kiện làm việc tốt như ở đây. Tôi muốn lớn tiếng chống đối: “Ít nhất bên nhà hăy c̣n chưa chuẩn bị đầy đủ !” Một người Đức[17] sống nhiều năm ở Nhật và hiểu biết về đất nước tôi một cách cặn kẽ, đă tuyên bố rằng Nhật chưa hội đủ điều kiện để nghiên cứu các ngành khoa học tự nhiên và hơn nữa, bầu không khí làm việc ở một đất nước phương Đông chắc sẽ không bao giờ cho phép điều đó thực hiện. Nếu như thế th́ Đại Học Đế Quốc và Viện nghiên cứu bệnh truyền nhiễm[18] của ta chẳng qua là nơi chỉ để tiếp nhận những kết luận nghiên cứu đến từ các nhà khoa học Âu châu mà thôi sao? Đó cũng là luận điệu mà người ta đă thấy trong Taifun[19], một vở kịch thành công trên sân khấu Âu châu đúng vào lúc Chiến tranh Nhật Nga vừa kết thúc. Thế nhưng tôi tin rằng người Nhật “không đến nỗi” bất lực đến mức đó. Tôi xin chữa lại là “chưa đến nỗi” cho chính xác hơn. Tự hồi đó, tôi đă nghĩ rằng một ngày nào, người ta sẽ xuất khẩu được thành quả của một ngành khoa học hoàn chỉnh đến từ Nhật Bản.

Như thế, tôi đă trở về quê hương hằng mơ ước, để lại đằng sau một đất nước đầy đủ tiện nghi và một hoàn cảnh thật thích hợp cho việc nghiên cứu khoa học tự nhiên. Không chút chần chờ, cán cân đă ngả sang phía quê hương mơ ước tuy rằng có một bàn tay trắng trẻo và khả ái[20] đă dịu dàng níu kéo tôi về phía đất nước đầy đủ tiện nghi kia. Nhưng dù sao, quê hương vẫn nặng cân hơn trong sự lựa chọn lúc đó.

Dạo ấy, đường sắt xuyên Si-bê-ri c̣n chưa thông xe nên tôi phải lấy tàu thủy vượt Ấn Độ Dương. Khi chúng ta làm một cuộc hành tŕnh ngắn chừng một ngày, sẽ thấy lượt đi có vẻ dài và lượt về ngắn. Một cuộc hành tŕnh dài 45 hôm cũng tạo ra ấn tượng tương tự. Chuyến vượt đại dương này dường như buồn tẻ và ngắn hơn lượt đi v́ lúc tôi ra nước ngoài, ḷng hăy c̣n háo hức về nơi ḿnh sẽ đến, một thế giới hoàn toàn xa lạ. Lần này, tôi chỉ duỗi người trên một chiếc ghế mây dài, suy nghĩ về những món quà đem về nước trong hành lư.

Trong lănh vực khoa học tự nhiên, tôi không chỉ đem về những kết luận mà cả hạt giống để gieo mầm cho những nghiên cứu mai sau. Thế nhưng đất nước tôi hiện không phải là mảnh đất thích hợp cho chúng đơm hoa. Ít chất là chưa có thể. Tôi e rằng những hạt giống đem về khi chưa đủ thời giờ để trở thành hữu ích th́ đă héo khô. Một tâm trạng u ám, nặng nề, fatalistisch (bó tay trước số mệnh), bủa vây tôi.

Trong hành lư, tôi không mang theo một triết lư nào mà ánh sáng khả dĩ xóa tan âm khí nặng nề ấy. Chỉ có mỗi cái triết lư bi quan yếm thế theo hệ tư tưởng của Schopenhauer và Hartmann. Nó chủ trương rằng thế giới của những hiện tượng chẳng thà đừng có mặt th́ hơn. Thế mà nó vẫn rành rành trước mắt. Không phải vì cái triết lư tôi mang về không nh́n nhận sự tiến hóa. Thế nhưng nó chỉ nh́n nhận sự tiến hóa ấy như một sự choàng tỉnh giữa hư vô.

Đến Tích Lan (Sri Lanka bây giờ), có một anh chàng, cả đầu và người ngợm quấn trong một cái khăn rằn màu đỏ, đă bán cho tôi con chim với đôi cánh màu xanh tuyệt đẹp. Lúc tôi leo lại lên tàu cùng cái lồng chim trong tay, một thủy thủ người Pháp đă nói với tôi một câu kỳ lạ bằng ngôn ngữ nước anh ta: Il ne vivra pas! (Nó không sống nổi đâu!). Thực vậy, con chim quí đă chết trước khi tàu cập bến Yokohama. Một món quà kỷ niệm quá đỗi mong manh!

                        *

Gương mặt những người đồng hương ra đón tôi đều phảng phất vẻ thất vọng. Tôi phải nh́n nhận thái độ của họ là đúng. Ít khi người ta thấy được một anh chàng từ phương Tây trở về lại giống như tôi. Nói chung, khi ở bên ấy về, mặt mày ai nấy đều rạng rỡ. Họ lấy từ trong hành lư ra bao nhiêu là quà cáp, láu lỉnh phô ra trước mặt bà con chẳng khác chi những nhà ảo thuật. Tôi chỉ làm toàn chuyện ngược lại.

Lúc đó ở Tokyo người ta đang thảo luận hăng say về chuyện cải cách thiết kế đô thị. Có nhiều người tỏ ra hào hứng với việc xây những Wolkenkratzer (ṭa nhà chọc trời) giống như ở thành phố A thành phố B bên Mỹ. Tôi đă góp ư: “Khi mật độ dân số tăng trên một diện tích có giới hạn th́ số tử vong sẽ nhiều lên gấp bội. Đặc biệt là trẻ em. Thay v́ đem chồng chất theo chiều dọc trong các ṭa nhà cao tầng những người xưa nay vẫn quen sống dàn trải theo chiều ngang, tốt hơn hết nên cải thiện hệ thống cung cấp nước uống và thoát nước cho họ đă”. Những thành viên trong ủy ban khi đề nghị các qui chế cho việc xây cất đă muốn các ṭa nhà trong thành phố Tokyo phải có cùng một chiều cao nhất định. Họ nghĩ làm như thế sẽ tạo nên một quang cảnh khang trang và trật tự cho thành phố. Tôi phản biện rằng một thành phố mà nhà cửa sắp hàng thẳng đứng như đám lính dàn chào th́ đẹp nỗi ǵ. Nếu muốn xây cất theo kiểu Âu bằng mọi giá th́ thay v́ cất các ngôi nhà có cùng một độ cao, hăy làm ngược lại tức là đa dạng hóa các kiểu kiến trúc, như thành phố Venezia bên Ư, nơi có một vẻ đẹp sinh ra từ sự so le, không cân đối.   

Hồi đó cũng có một cuộc tranh luận về việc cải cách chế độ ăn uống. Một số người chủ trương đừng ăn cơm nữa và cổ động cho việc tiêu thụ ồ ạt thịt ḅ. Tôi phản đối: “Cơm với cá ăn dễ tiêu. Tốt hơn nên giữ thói quen tự ngàn xưa của dân ta! Tuy nhiên, điều này không cấm các bạn phát triển việc nuôi ḅ để phục vụ cho nhu cầu ăn thịt của các bạn”.

Rồi lại có một cuộc thảo luận về chữ viết nữa chứ. Một số người đề nghị viết theo h́nh thức tượng thanh bằng văn tự Kana[21]. Tôi lên tiếng: “Không, không! Trong mọi nền văn hóa, đâu đâu cũng có Orthographie (chính tả) riêng của họ. Xưa đă viết sao th́ nay cứ nên viết vậy!”.

Cũng thế, trong mọi lănh vực đang cần có sự đổi mới, tôi đều đề nghị là nên lưu ư tới hiện trạng. Thiên hạ mới liệt tôi vào thành phần thủ cựu. Sau đó, có một loạt người đă về nước mang theo tinh thần thủ cựu và gây nên một phong trào, nhưng với những động cơ khác tôi. Dù sao, có lẽ tôi là người đă mở đường cho họ.

C̣n những kiến thức về khoa học tự nhiên mà tôi học được bên đó  hiện giờ ra sao à? Hai ba năm sau ngày về nước, tôi đă vào một Laboratorium (Pḥng thí nghiệm, Trung tâm nghiên cứu khoa học) và cật lực làm việc như một tên tù khổ sai với ư định tạo ra cơ sở cho lư luận về sự “từ chối cải cách”[22] của tôi. Nếu quan sát mọi chuyện cho chu đáo, ta sẽ thấy rằng người Nhật đă tiến hóa một cách mạnh mẽ và chặt chẽ từ hàng ngh́n năm nay, họ sẽ không thể nào theo một lối sống phi lư cho được. Đó là điều lâu nay ai cũng biết.

Tôi muốn tiến thêm bước nữa để hoàn thành một Forschung (nghiên cứu) trên một địa hạt chưa khai thác, thế nhưng được thăng chức rồi đổi đi làm việc ở nơi khác[23], tôi đă không thực hiện được những cuộc điều tra. Thôi đành vĩnh biệt khoa học tự nhiên!

Dĩ nhiên là trong lănh vực nói trên, chung quanh tôi có bao nhiêu bạn đồng sự ưu tú, họ c̣n giỏi và gắng gổ hơn tôi nữa, nên việc tôi ra đi chẳng thiệt hại mảy may cho đất nước cũng như cho nhân loại.

Tôi chỉ buồn cho những người bạn đang phấn đấu hết ḿnh. Họ vẫn tiếp tục sống trong một môi trường thiếu thốn, không thuận lợi cho công việc, chẳng khác chi mấy người thợ lặn đang khổ sở v́ phải chịu sức ép quá cao dưới nước. Bằng chứng của sự thiếu thốn đó là vẫn chưa ai t́m ra trong tiếng Nhật một chữ tương đương với Forschung. Bởi v́ xă hội ta vẫn chưa thấy cần thiết việc định nghĩa chính xác khái niệm đó. Không phải để lên mặt với ai chứ tôi đă sáng chế và làm quà cho học giới ngành khoa học tự nhiên mấy từ như gyôseki (thành tích nghề nghiệp) hay gakumon no suiban (thúc đẩy học vấn) nhưng hiện vẫn chưa thấy trong Nhật ngữ có từ nào găy gọn và chính xác tương đương với Forschung.

Từ kenkyuu[24] (nghiên cứu) th́ quá chung chung, không đáng đem ra dùng. Mở một quyển sách ra thôi, cũng gọi là nghiên cứu hay sao ?

                            *

Dù đă tŕnh bày về quá khứ của ḿnh như thế nào đi nữa, thực t́nh tôi vẫn là tôi, một con người chạy theo ảo tưởng tương lai thay v́ nghĩ cho thực tế trước mắt. Đời tôi hiện nay đang đi xuống dốc và thử hỏi cái h́nh ảnh mà tôi t́m kiếm nay đă ra sao?

“Làm cách nào chúng ta có thể tự hiểu ḿnh? Chắc không phải bằng quan sát mà bằng hành động. Hăy thử hoàn thành nhiệm vụ của ḿnh đi, rồi anh sẽ biết ngay anh đáng giá bao lăm. Thế nhưng nhiệm vụ của anh là ǵ à? Đó là những đ̣i hỏi của cuộc sống hằng ngày”. Goethe từng viết như thế[25]

Thực hiện được những ǵ mà cuộc sống hằng ngày đ̣i hỏi và làm cho đàng hoàng. Điều này đi ngược với thái độ khinh chê những ǵ đang có. Thế nhưng tại sao tôi không giữ được tư thế đó?

Để làm tṛn nhiệm vụ trước những đ̣i hỏi được đặt ra mỗi ngày, phải biết trước là làm đến đâu th́ ḿnh sẽ thỏa măn.Thế nhưng tôi chưa h́nh dung ra mức độ đó. Tôi là người vĩnh viễn không biết thỏa măn

Dù có cố gắng, tôi có cảm tưởng nơi tôi đang đứng không phải chỗ của ḿnh. Không cách chi bắt tôi gọi một con chim xám là chim xanh. Tôi lạc lơng. Tôi mơ. Tôi chỉ đi t́m con chim xanh đó trong giấc mộng. Nếu ai hỏi tại sao lại thế, thật khó trả lời. Chỉ qua là một sự thực mà tôi ư thức được.

Hiện nay tôi đang đi xuống con dốc của cuộc đời. Và tôi cũng biết rằng dưới chân con dốc, cái chết đứng chờ ḿnh. 

Thế mà tôi không sợ chết. Người ta bảo “càng già càng sợ chết” nhưng tôi lại khác.

Ngày c̣n trẻ, tôi cảm thấy có một nhu cầu vô cùng bức bách là trước khi đi đến điểm cuối cùng là cái chết, phải trả lời bằng được vấn nạn này. Nay nó đang bày ra đó. Tuy nhiên, cảm giác ấy không c̣n bức bách như trước nữa mà đă phai nhạt theo thời gian. Không phải v́ tôi lơi là, không nghĩ về câu hỏi khó khăn và c̣n chưa được giải đáp ấy. Cũng không phải v́ tôi không c̣n muốn t́m câu giải đáp. Vấn đề vẫn nằm sờ sờ. Tôi không c̣n hối hả như trước, thế thôi.

Dạo đó, tôi nghe người ta bàn về Philipp Mainlander[26]. Tôi có đọc một quyển sách ông viết nhan đề Philosophie der Erlosung (Triết lư về sự cứu rỗi). Ông nh́n nhận giả thuyết ba giai đoạn của Hartmann nhưng lại bảo là việc khuyên ai đó hăy có thái độ khẳng định trong cuộc sống sau khi biết họ đă phải trải qua bao cuộc chiến đấu chống lại các thứ ảo tưởng là một điều thái quá. Mainlander nói nếu tất cả chỉ là ảo tưởng và ngay cái chết cũng không phải lối thoát, ta không thể nào bắt họ tiếp tục chạy theo ảo tưởng. Từ lúc đầu, con người đă thấy cái chết lảng vảng từ xa. Họ sợ hăi và ngoảnh mặt tránh né. Thế rồi, họ vẽ một ṿng tṛn lớn chung quanh nó, vừa tiến bước vừa run sợ. Cuối cùng, ṿng tṛn đó thu hẹp dần và họ phải đặt bàn tay mệt mỏi của ḿnh lên trên gáy cái chết, mắt nh́n tận mặt nó. Họ t́m thấy sự b́nh an trong cái chết. Mainlander đă biện luận như thế.

Sau những lời phát biểu trên đây, Mainlander đă tự sát ở cái tuổi 35.

Tôi th́ đă hết “sợ hăi trước cái chết”, không cả “ước ao được chết”, hai t́nh cảm mà Mainlander đă nói đến.

Tôi lần bước xuống bên dưới con dốc của cuộc đời, không sợ hăi và cũng không ước ao ǵ cái chết.

                           *

Tự biết vô phương trả lời câu hỏi khó khăn ấy, tôi không muốn hối thúc ḿnh phải lao đầu vào đó nữa. Thế nhưng dù tôi muốn cho qua, ư tưởng ấy vẫn quay lại ngay trong đầu và bắt tôi suy nghĩ. Tôi ghét lễ lạc hội hè và những cái gọi là “thú ăn chơi”. Tôi không đánh cờ vây, cờ vua hay bi-da. Từ khi tôi không c̣n đặt chân đến các pḥng thí nghiệm y khoa và từ khi tay tôi hết nắm ống nghiệm, chỉ trừ đôi lúc ngắm tượng điêu khắc, xem tranh hay nghe âm nhạc, tôi đă dành tất cả thời giờ để đọc sách, mỗi khi công việc hàng ngày liên quan đến chức phận cho phép.

Trong lập luận của ông, Hartmann coi tất cả t́nh cảm hạnh phúc của con người đều là ảo tưởng và đả phá nó. Lúc đó, ông đă nói mấy câu đại ư : trong những cái mà con người nghĩ đă làm cho họ hạnh phúc, như rượu chẳng hạn, không phải không đem lại hậu quả cay đắng như đau bụng, dă dượi đến ngày hôm sau. Hartmann cho rằng chỉ có hai thứ không có ảnh hưởng xấu như thế: nghệ thuật và học vấn. Đúng là những cái mà tôi hiện theo đuổi. Không phải v́ tôi tính toán lợi hại và muốn thoát khỏi những tác dụng phụ nói trên nhưng tôi thực t́nh ghét tất cả những thú vui c̣n để lại đằng sau dư vị chán chường.

Tôi đọc rất nhiều sách nhưng cách đọc sách của tôi đă thay đổi hẳn từ khi tôi rời khỏi pḥng thí nghiệm.

Từ hồi sống ở Âu châu tôi đă đăng kư mua dài hạn khoảng mười lăm, mười sáu tạp chí chuyên ngành kể từ số đầu, chẳng hạn như Archive (Tạp chí học thuật) hay Jahresberichte (Niên giám). Tuy nhiên, một khi đă rời thế giới của pḥng thí nghiệm, tôi không c̣n phải kiểm tra sự chính xác của kết quả thí nghiệm nữa. Thường th́ loại sách báo này chỉ bán cho các trường học và thư viện chứ không ra đến người ngoài. Thế nhưng tôi sợ là chưa chắc chính phủ sẽ chịu tài trợ và lại nghĩ rằng chúng sẽ có ích cho việc nghiên cứu của ḿnh nên đă mua hàng ngh́n bản với ư định lưu trữ. Rốt cục, tôi chỉ giữ vài ba quyển Jaresberichte mà tôi nghĩ là cần thiết, có thể giúp đánh giá được hiện t́nh và sự tiến triển của ngành học tôi liên hệ, ngoài ra đem tất cả đi biếu cho các trường công lập.

Thay vào chỗ đó, tôi đi mua sách triết học, sách văn chương. Khi có thời rảnh th́ tôi đọc.

Dù vậy, tôi không c̣n đọc ngấu nghiến, đọc ham hố như ngày xưa đối với tác phẩm của Hartmann. Nay tôi đọc với tất cả sự b́nh tĩnh để xem những nhà văn nổi tiếng ngày xưa và những nhà văn ăn khách bây giờ viết những chuyện ǵ. Sự b́nh tĩnh mà tôi có giống như thái độ thờ ơ khi tôi nh́n khuôn mặt của một khách bộ hành không quen t́nh cờ gặp giữa ngă tư.

Đúng là tôi nh́n người đó một cách thờ ơ. Thế nhưng. đứng lại ở góc đường, đôi khi tôi đă ngả mũ chào bởi v́ có nhiều người đi qua đường, cả người xưa lẫn người của hôm nay, đáng cho tôi tỏ ḷng kính trọng.

Tôi có ngă mũ thật đấy nhưng chưa bao giờ nghĩ rằng ḿnh sẽ bỏ cái ngă tư này để đi theo ai cả. Bởi v́ tôi đă gặp nhiều ông thầy nhưng chưa bao giờ được gặp Người Thầy.

Tôi thường là đối tượng của sự hiểu lầm v́ đă có thái độ như thế. Hồi vừa mới hồi hương sau một thời gian nghiên cứu về khoa học tự nhiên, tôi đă vướng vào một cuộc bút chiến liên quan đến thực phẩm. Lúc đó tôi đă tấn công đối thủ của ḿnh bằng cách sử dụng luận cứ của Voit[27] là người có thẩm quyền trong ngành. Một trong những người đàn anh của tôi đến hỏi rằng chẳng nhẽ tôi tôn sùng Voit đến mức đó th́ tôi đă trả lời:

-Không nhất thiết như vậy. Thế nhưng quả t́nh tôi đang dùng luận cứ của ông ấy như một pháo đài để từ đó bắn trả đối thủ.

Câu trả lời của tôi đă làm người đàn anh ấy mất ḷng. Đứng trước Voit, tôi chỉ ngả mũ chào khi đi ngang qua ông. Cũng vậy, trong lănh vực phê b́nh hội họa, có một dịp, khi tôi dựa trên quan điểm thẩm mỹ của Hartmann để tranh biện trước đối thủ, một anh chàng trẻ tuổi kiêu căng đă trả lời: “Quan điểm mỹ thuật của Hartmann bắt nguồn từ triết học về Vô thức của ông ta. Nếu ông bàn về mỹ học Hartmann, trước hết ông phải có ḷng tin tuyệt đối vào triết học về Vô thức cái đă”.

Thực vậy, Hartmann đă nối kết quan điểm thẩm mỹ và cái nh́n tổng quát về thế giới của ông với nhau. Thế nhưng khi ta tách chúng để nh́n riêng rẽ th́ sẽ thấy là vào thời đại đó, mỹ học Hartmann được xem như giàu tính sáng tạo và hoàn chỉnh nhất dù nh́n dưới góc độ nào. Trường hợp này cũng vậy, tôi chỉ ngả mũ chào Hartmann như một một người một thời đă có thẩm quyền trong lănh vực đó. Măi về sau, đă xuất hiện nhiều bằng chứng cho thấy mỹ học của ông có thể trụ được vững vàng mà không cần ǵ đến thế giới quan tổng quát của ông. Chỉ cần mở bất cứ quyển sách về mỹ học ra đời sau Hartmann, nhất định đâu đâu cũng thấy người ta đặt vấn đề về Modification (sự biến dạng) về cách nh́n cái đẹp. Khái niệm đo bắt đầu với Hartmann, trước Hartmann nó chưa hề có. Thiên hạ ai ai cũng giảng giải về khái niệm này nhưng ngậm miệng không nhắc tới cái tên người đă nghĩ ra nó. Họ đă dấu hết nguồn dẫn chứng.

Đúng vậy, đứng ở góc đường, tôi đă gặp được rất nhiều ông thầy vậy mà chưa hề chưa gặp được Người Thầy. Từ đó tôi mới ngộ ra rằng một hệ thống triết lư siêu h́nh dù xây dựng chu đáo đến đâu cũng không thể có giá trị hơn một bài thơ trữ t́nh!

Lỗ tai vốn đă mệt mỏi v́ nghe những chuyện siêu h́nh - vốn giống như giàn nhạc đa âm trong một thánh đường Hà Lan[28] - có lúc bỗng vọng đến vài thanh điệu rời rạc mang tính chất Aphorism (cách ngôn).

Ư thức của tôi đă trở thành lừ đừ sau khi nhận những Quietive (liều thuốc an thần) do Schopenhauer đem đến. Chúng bào ṃn ư chí sống c̣n của con người, trả nó về với hư không. Thế nhưng, một ngày nọ, tôi đă tỉnh ra, thoát khỏi t́nh trạng trầm trệ ấy như vừa bị ai đánh cho một roi. 

Cái roi đó triết lư siêu nhân của Nietzsche[29].

Thế nhưng triết lư của ông ta cũng không phải là thức ăn đủ nuôi sống tâm hồn tôi. Nó chỉ là một thứ rượu để tôi uống cho say. Nghe ông bảo cái đạo đức tiêu cực, lợi tha của thời trước là đạo đức của lũ gia súc, mới thống khoái làm sao. Đồng thời ông ta lại bảo lư tưởng xă hội chủ trương tứ hải giai huynh đệ, muốn đánh đổ mọi thứ đặc quyền là đạo đức của kẻ ngu ngốc, đần độn, rồi chửi rủa đám người theo chủ nghĩa vô chính phủ là một lũ chó đang tụ tập và sủa vang trên đường phố Âu châu, ḿnh lại thấy hay hay. Thế nhưng làm sao có thể xem triết lư của Nietzsche là đứng đắn cho được khi ông ta lấy đạo đức quân chủ của Cesare Borgia[30], làm khuôn mẫu! Nhà độc tài này đă đi ngược lại với những qui tắc làm người và c̣n áp đặt ư chí quyền lực của ông như nền tảng văn hóa. Ông ta không ngần ngại sử dụng thuốc độc và đao kiếm để phục vụ cho gia đ́nh và cho ḿnh. Đối với tôi, người từng nghiên cứu kỹ lưỡng lư thuyết về đạo đức mà Hartmann đề xướng, th́ cái mà Nietzsche gọi là “đổi mới phương pháp đánh giá” đă giết chết mọi sự mới mẻ rồi. 

Thế c̣n cái chết đă được hiểu ra sao? Chuyện đầu thai trở lại để sống măi măi (vĩnh viễn tái lai) không an ủi được ai. Tôi tội nghiệp cho tác giả bởi ông không biết phải viết thế nào về đoạn kết cuộc đời Zarathustra[31].     

Sau đó việc Paulsen[32] trở thành tác giả ăn khách đă có lần kích thích trí ṭ ṃ của tôi nhưng v́ không thể nào có thiện cảm với chủ nghĩa chiết trung, tôi không t́m hiểu thêm chi về luồng tư tưởng này.    

                         *

Xưa kia tôi có cất một ngôi nhà nhỏ kiểu nhà nghỉ mát, đủ cho ḿnh thu người vào trong và dùng nó như cái am con để sống ẩn dật giữa chốn đồng quê. Ở đó chỉ vỏn vẹn vài thứ đồ đạc thật cần thiết cho một người tu hành.

Và tôi, ông chủ già nua của ngôi nhà này, đă dùng cả bức tường để làm kệ để đồ đạc, thật ra trên ấy đă chất đầy sách vở.

Cắt hết mọi liên hệ với thế giới bên ngoài, chủ nhân chỉ nhận những thùng sách gửi về từ những nơi xa xăm bên trời Tây. Chút tiền c̣m ông ta dành dụm đă trao cả cho một ông Notar (chưởng khế) bảo quản để rồi hầu hết sẽ được gửi đến nhà buôn sách Mỗ ở Âu châu.

Tuy đă già, mắt chủ nhân hăy c̣n tinh tường như một người da đen châu Phi. Giống bản tính của loài người là hoài niệm kẻ chết, ông ta hay đọc những pho sách cổ. Và cũng giống mọi người vốn thích bước ra ngoài phố để t́m những khuôn mặt mới, ông lại đọc những cuốn sách xuất hiện gần đây.

Khi nào chán đọc sách, ông dạo trên đụn cát và ngắm rừng tùng. Sau đó bước xuống băi biển để xem sóng cuộn vào bờ.

Đói ḷng th́ ăn một bữa cơm rau mà người lăo bộc Yasohachi đă  soạn sẵn.

Ngoài mớ sách, chủ nhân c̣n thích chơi với cái kính Loope (lúp) nhỏ. Ông dùng nó khi ghé mắt xem hoa hay những nhúm cỏ hái được trên đụn cát. Ông cũng sắm một cái kính hiển vi hiệu Zeiss. Nhờ đó, ông có thể quan sát những vi sinh vật sống trong nước biển. Ông lại có một viễn vọng kính hiệu Mers[33] để ngắm sao hôm nào trời quang. Tất cả giúp cho ông hồi tưởng lại thời c̣n đi học. Đó là những thú tiêu khiển ông tự cho phép khi có dịp.

Thế nhưng ngay cả trong ngôi nhà nhỏ bé này, ông vẫn không quên nổi những xung động một thời đă khiến ông chạy theo bao nhiêu ảo tưởng. Nhớ lại chuyện cũ, ông nghĩ như thế này. Chắc chỉ có những bậc thiên tài mới có quyền không thỏa măn với những công việc hằng ngày. Nếu ông đă là tác giả của một phát minh y khoa vĩ đại, một triết lư tân kỳ, hay là một nghệ sĩ đẻ được tác phẩm lớn rồi, may ra ông sẽ bằng ḷng với hoàn cảnh hiện tại. Thế nhưng, trên thực tế, ông đâu đă được như thế. Mới hiểu v́ sao tâm t́nh ấy hăy c̣n vướng mắc nơi ông.

Những hạt giống gieo trong ḷng khi ḿnh c̣n trẻ đă trở thành những cội cây không thể nào đứt rễ.Chủ nhân nh́n những tư trào triết học và văn học với cặp mắt lănh đạm nhưng đă dành một sự chú ư nào đó – cho dù vẫn giữ khoảng cách – đối với những công tŕnh khoa học được chuẩn bị kiên nhẫn như những tảng đá được sắp hết lớp này trên lớp khác.

Nhiều năm về trước, người Ki-tô giáo Brunetière[34], chủ bút của Revue des deux monde (Tạp chí của hai thế giới)[35] đă tiên đoán sự phá sản của khoa học nhưng coi bộ điều đó hăy c̣n xa. Giữa bao nhiêu là chộn rộn, bấp bênh loài người đă tạo ra, duy khoa học chứng tỏ được nó là một ngành học có tương lai.

Chủ nhân lại tiếp tục nghĩ. Bệnh tật, mầm mống sự bất hạnh của loài người, rồi sẽ được pḥng ngừa hay chữa trị. Tiêm chủng có thể tránh được lên đậu. Những con vi trùng nuôi nhân tạo trong pḥng thí nghiệm và huyết thanh của động vật được miễn dịch nhờ chứa vi trùng này có thể ngăn chặn bệnh thương hàn và viêm yết hầu. Những thứ bệnh khốc hại như Pest (dịch hạch) th́ gần đây người ta đă khám phá vi trùng gây ra chứng ấy và sắp có phương pháp pḥng ngừa thích hợp. Với phong hủi, ít nhất đă biết được tác nhân gây bệnh. C̣n như bệnh lao th́ tuy thuốc Tubercullin không đem đến kết quả mong đợi, vẫn không có thể nói là khoa học đă hết cách. Trường hợp các loại ung bướu ác tính như bệnh ung thư, nếu như đem cấy được lên cơ thể động vật, ta sẽ có những số liệu có ích cho việc dự pḥng và chữa trị. Mới đây người ta t́m ra tân dược Salvarsan[36] để đối phó với  bệnh giang mai. Triết lư lạc quan của Elias Metschnikoff[37] cho rằng tuổi thọ của con người có thể kéo dài thêm măi không phải hoàn toàn vô lư.

Chủ nhân đang sống những tháng ngày c̣n lại như trong một giấc mộng dở dang nhưng ông không sợ hăi cũng không ước ao cái chết. Trong kư ức của ông, đặc biệt chỉ c̣n đọng lại quang cảnh bao quát của những năm tháng trôi qua. Nó đến và đi trong chớp mắt, nối với nhau thành một chuỗi dài. Và lúc đó, đôi mắt của ông mở to ra, long lanh, dơi nh́n về phía mặt biển và bầu trời ở măi xa khơi.

Trên đây là mấy ḍng bản thảo mà chủ nhân bất đồ ngoáy lên mặt giấy.  .

Tháng 3-4 năm 1911

Mori Ôgai

 

 

Thư mục tham khảo:

1)    Mori Ôgai, Gendai Nihon bungakukan: Mori Ôgai (Tuyển tập 8 đoản thiên Mori Ôgai, Tủ sách văn học hiện đại Nhật Bản), Nxb Bunshun Bunko, Tokyo (trang 38 đến 63). Nguyên tác Nhật ngữ.

2)    Mori Ogai, Chimères, 2012, Ryôji Nakamura và René de Ceccatty dịch Môsô (Vọng tưởng, trang 27 đến 78 ) và các truyện ngắn khác sang Pháp văn, Nxb Payot (Tùng thư Rivages Poche), Paris. Bản tham chiếu.

 

 


 

[1] Thực vậy, không những trong tiếng Anh mà cả Đức, Pháp đều viết gần giống như thế.

[2] Ngôi nhà nghỉ mát của Ôgai là có thực, nó nằm ở một ngôi làng ven biển thuộc tỉnh Chiba, sát bên Tokyo.

[3] Giai đoạn 1884-1888, Mori Ôgai 22 -26 tuổi.

[4] Những chữ in ngă (italique) đều được để y nguyên như trong nguyên tác. Bài này viết vào đầu năm 1911, lúc đó tiếng Nhật viết theo văn nói chưa đủ diễn tả hết những phạm trù Tây phương nên Ôgai phải tạm vay mượn, đồng thời để làm sống lại không khí Tây phương của thời du học,

[5] Ernst von Wildenbruch 1845-1909), nhà viết kịch nổi tiếng người Đức, thường sáng tác theo chủ đề lịch sử, ca tụng ḷng yêu nước.

[6] Ḍng dơi quí tộc Phổ sau đă trở thành hoàng tộc của Đức khi nước này thống nhất. Ư tác giả muốn nói đến vở kịch nhan đề Die Quitzous, lấy bối cảnh lịch sử thế kỷ 14. Một thành công ở Nhà hát Opera Berlin vào tháng 11/1888.

[7] Ôgai sang Đức để tu nghiệp ngành Y (Dịch tễ học)

[8] Xưa ta gọi là Nhà thương thí. Tên một bệnh viện b́nh dân do đại học điều hành ở Berlin.

[9] Có lẽ h́nh ảnh nhân vật này được Ôgai dựng lên theo em trai ḿnh, Junzaburô (1879-1944),

[10] Ở Âu châu, đó là bọn Barbares, chưa được giáo hóa, thường để ám chỉ những dân tộc không theo đạo Ki-tô.

[11] Pḥng trọ có bày biện giường tủ đủ cho một người đàn ông độc thân. Lối diễn đạt đến từ tiếng Pháp này lưu hành ở Đức vào thời đó.

[12] Triết học nói về giai đoạn trước khi lư trí, ư chí và ư thức có mặt.

[13] Karl Robert Edouard von Hartmann (1842-1906). Sách nhan đề Philosophie des Unberwusste (1872)

[14] Max Stirner (1806-1856), triết gia Đức, người đề xướng một chủ nghĩa cá nhân cực đoan, xem chỉ có sự tồn tại của bản ngă như một cá thể mới là một thực tại.Tác phẩm chính nhan đề “Bản ngă, kẻ duy nhất” (The ego and íts own).

[15] Evolutionism, chủ thuyết xem con người và vạn vật không do thần thánh tạo ra mà chỉ là những sinh vật nguyên thủy hoặc bị đào thải, hoặc tiến hoá theo những điều kiện ngoại giới để sinh tồn. Được biết với Darwin qua tác phẩm “Nguồn gốc của các loài” (1859).

[16] Immanuel Kant (1724-1804), triết gia Đức, cha đẻ của triết học tiền cận đại.

[17] Ôgai muốn nói đến Henrich Edmund Naumann (1854-1927), nhà động vật học và hỏa sơn học người Đức đă sống 10 năm ở Nhật (1875-1885). Ông xuất bản nhiều tác phẩm về nước Nhật cho người Đức và từng bút chiến với Ôgai..

[18] Viện này được thiết lập năm 1900 và là một cơ quan phụ thuộc vào Đại học Đế quốc, tên cũ của Đại học Tokyo.

[19] Tên vở kịch ăn khách ra đời năm 1909 của soạn giả người Hung Melchior Lengyel tức Menyhert Lebovics (1880-1974). Ông nầy sau trở thành một nhà viết kịch bản phim cho Hollywood.Trong Taifun, soạn giả đă dựng nên một nhân vật người Nhật làm gián điệp. Mục đích của vở kịch là kêu gọi dư luận Âu châu chống lại “Hiểm họa da vàng” (Yellow Peril).

[20] Có thể là nàng Elise, người con gái ông yêu thời ở Berlin. Để hiểu về ẩn dụ này, nên xem thêm hai truyện Nàng vũ công (Maihime) và Đang trùng tu (Fushinchuu) cũng của Ôgai.

[21] Ư nói không dùng văn tự biểu ư như chữ Hán,

[22] Trong nguyên tác là Moto no Mokuami setsu về nhà sư Mokuami, một điển tích lịch sử thời Sengoku, ngụ ư là thay v́ đổi mới, cứ giữ nguyên trạng thái cũ có khi lại hay hơn (đỡ khổ thân).

[23] Năm 1893, Ôgai được bổ làm một nhân viên hành chánh cấp cao trong Trường Quân Y của Lục quân.

[24] Chính ra từ kenkyuu ngày nay đă được dùng chính thức để dịch Forschung của tiếng Đức. Tuy nó không diễn tả đúng khái niệm ấy như Ôgai đ̣i hỏi nhưng thực dụng hơn là các đề nghị của ông.

[25] Trích Maximen und Reflexions, tập văn nghị luận được in năm 1842 sau khi Goethe mất.

[26] Triết gia có chủ trương bi quan yếm thế, chịu ảnh hưởng của Schopenhauer và Leopardie. Tên thật là Philipp Batz (1841-76). Từng ở trong quân đội và có triệu chứng bệnh tâm thần, sau ra làm ngân hàng.

[27] Carl von Voit (1831-1908), nhà dinh dưỡng học người Đức.

[28] Có lẽ Ôgai muốn ám chỉ loại nhạc đa âm (polyphonic) trong nhà thờ như loại nhạc của Roland de Lasus (1532-1594).

[29]  Friedrich Willem Nietzsche (1844-1900), triết gia Đức, phê phán tư tưởng dân chủ là đạo đức của kẻ nô lệ, ca tụng tinh thần tự chủ của những kẻ mạnh mà ông gọi là siêu nhân, xem ư chí hướng về quyền lực như bản chất của vũ trụ.

[30] Cesare Borgia (1475-1507), chính trị gia người Ư thời Phục Hưng. Rất bạo ngược, gian dâm và hiểm độc, giết cả em và tàn sát kẻ chống đối.

[31] Nhân vật trong tác phẩm chủ yếu của Nietzsche, thể hiện tư tưởng siêu nhân. .

[32] Friedrich Paulsen (1846-1908), triết gia Đức, chủ yếu luận về đạo đức học hay tương quan giữa triết học và khoa học.

[33] Zeiss và Mers đều là những nhà sản xuất sản phẩm quang học có tiếng của Đức.

[34] Ferdinand Brunetière (1849-1906), viện sĩ Hàn lâm viện, một nhà tư tưởng Ki-tô giáo và phê b́nh văn học. Có chủ trương chống đối Zola, Baudelaire và Flaubert và phản bác lại những lư thuyết theo chủ nghĩa duy khoa học (scientism) cuối thế kỷ 19.

[35] Tạp chí bán nguyệt san của Pháp.

[36] Thuốc trị giang mai rất có hiệu quả, do Nhật và Đức cộng tác chế ra vào năm 1910. Người Nhật là Hata Sahachirô, cùng quê Shimane với Ôgai.

[37] Elias Metschnikoff, tên viết theo kiểu Đức của Illya Ilitch Metchnikov (1845-1916), nhà động vật học người Nga, từng làm việc cho Viện Pasteur, giải Nobel Y khoa 1908, đă khám phá ra vai tṛ của bạch cầu trong việc chống trả vi trùng. Ông chủ trương hăy bắt chước người Bun-ga-ri ăn nhiều sữa chua (yogurt) để có thể kéo dài tuổi thọ như họ. 

 

 

 

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com