YAMAMBA

(Bà Chằng)  

Nguyên tác: Zeami Motokiyo (?)

Dịch chú: Nguyễn Nam Trân

Yamamba (ảnh minh họa)

Dẫn nhập:  

Bà chằng (Yamamba = Yama-uba) là một loại nữ quỷ sống giữa núi non thường được nhắc tới trong truyền thuyết dân gian Nhật Bản. Qua vở tuồng dưới đây, tuy bà vẫn hiện ra dưới dạng một nhân vật kỳ h́nh dị tướng và hành tung bí ẩn nhưng bản tâm không ác độc như người ta có thể nghĩ khi nghe nói về quỷ sứ. Theo thiền gia Suzuki Daisetsu (xem bài đọc thêm), bà c̣n chan chứa tính nhân bản hơn ai hết. Ở Nhật gần đây, người ta có khuynh hướng gắn liền bà với phong trào tranh đấu cho nữ quyền. Không những thế, hăy c̣n có một thứ văn hóa địa đạo đề xướng bởi lớp người trẻ – thông qua cách trang điểm và phục sức của họ - biến bà thành một biểu tượng của sự đề kháng  trước một xă hội công thức. 

Đặc điểm của vở tuồng: 

Trường phái: Cả năm chi lưu của Nô (Ngũ lưu = Kanze, Hôshô, Kongô, Komparu và Kita) đều có vở diễn (nội dung chỉ khác nhau ở vài chi tiết).

Thể loại: Lớp thứ 5, loại quỷ súc, để kết thúc ngày diễn.

Tác giả: Zeami Motokiyo (theo một chủ trương). Tuy nhiên ghi chép của một hậu duệ Zeami là Kanze Motomori (Nguyên Thịnh) cho biết ông đă diễn tuồng này trước mặt Shôgun.

Mùa: Không cố định.

Địa điểm: Vùng Sakaigawa, cạnh con sông ranh giới giữa hai miền Etchuu và Echigo (trên ngọn núi Agero thuộc Echigo, nay là Niigata).

Độ dài lớp diễn: khoảng 1h40.

Xuất xứ: Truyền thuyết dân gian về bà chằng Yamamba hiện ra ở núi Agero và truyền thuyết Yamamba đi ruồng trong núi cũng như sự thực ngoài đời về người ca nữ có nghệ danh là Hyakuma Yamamba. Một ai đó lại gắn truyền thuyết Yamamba với triết lư “tà chính nhất như, thiện ác bất nhị” hay “tà chính nhất như, mê ngộ qui nhất”.  

Phối vai: 

Vai chánh màn đầu (Maejite): Người đàn bà (hóa thân của Yamamba).

Vai chánh màn hai (Nochijite): Yamamba (Bà Chằng)

Vai phụ (Waki): Hầu cận nam (người con trai kinh đô)

Vai tùy tùng (Tsure): Ca nữ Hyakuma Yamamba

Các vai đầy tớ trai (Wakizure)

Ai Kyôgen: Một người dân làng 

Mặt nạ (Men): 

Vai Maejite: Các mặt nạ Shakumi, Fukai, Ômi-onna, Ryô no-onna

Vai Nochijite: Mặt nạ Yamamba (đặc chế cho nhân vật).

Vai Tsure: Mặt nạ Ko-omote 

Các thông tin khác: 

Lược bỏ phần nói về phục sức.

Về cách tŕnh bày, để dễ đọc, xin gộp 12 phân tiết (sequences) của vở tuồng thành 5 tiểu đoạn ABCDE.

In nghiêng là phần giải thích ngoài ca từ.

* * *

A-   Ca nữ và đoàn tùy tùng lên đường đến chùa Zenkôji: 

Ca nữ nức tiếng kinh đô là nàng Hyakuma Yamamba (1) bày tỏ nguyện vọng được đến thăm chùa Zenkôji. Người con trai kinh đô hầu cận (Waki) cùng đi theo.

Nhạc giáo đầu (Shidai) nổi lên, trước tiên là Tsure sau đến Waki và các Wakizure ra sân khấu, giăng thành hàng ngang và nh́n ra chính diện.  

Hầu cận / Đám đầy tớ: (Hát Shidai) (Nh́n nhau) Nương theo ánh sáng (= quang) của điều lành (= thiện) để t́m về cơi Tịnh Độ, nương theo ánh sáng của điều lành để t́m về cơi Tịnh Độ (2), chúng tôi muốn tới thăm Thiện Quang Tự (Zenkôji), ngôi chùa của Đức Phật A Di Đà.  

Hầu cận: (Nanori = nói lối) (Nh́n ra chính diện) Tôi là người sinh sống ở kinh đô. C̣n cô tôi đây vốn tên Hyakuma Yamamba, một ca nữ nổi tiếng. Nếu ai muốn biết nguồn gốc cái tên này th́ xin thưa là cô tôi có soạn ra một vở ca kịch ngắn và thường múa hát để kể lại sự tích của Yamamba, bà lăo hay đi ruồng trong núi. Nhân đó mà lớp người trẻ ở kinh thành mới đặt cho cô cái tên Hyakuma Yamamba. Hôm nay nhân cô muốn đi hành hương chùa Thiện Quang trong vùng Shinano nên tôi mới tháp tùng và giờ đây chúng tôi đang bước nhanh cho chóng đến nơi. 

Hầu cận / Đám đầy tớ: (Nh́n nhau và hát điệu Ageuta) Từ khi rời kinh đô, chúng tôi đă lên thuyền từ bến Shiga nơi có những con sóng nhỏ xô bờ (3) mà ḷng hoài vọng cũng dâng theo từng bước lữ hành. Rời thuyền xong, chúng tôi đă vượt qua ngọn núi Arachi và khi đến cây cầu bắc qua sông Tamae (Ngọc Giang) th́ mấy giọt sương mai lấm tấm giờ đă thấm đầm tay áo. Nghĩ tới đoạn đường c̣n lại mới thấy đích đến là hai xứ Ecchuu và Echigo hăy c̣n xa vời vợi... 

Qua ngọn đèo Shiogoe (4) nơi sóng bủa đến đầu ngọn cây, qua ngọn đèo Shiogoe nơi sóng bủa đến đầu ngọn cây, chúng tôi vừa đưa mắt ngắm những bóng tùng xanh của vùng Ataku đang mờ dần trong lớp sương chiều vừa bước tiếp th́ đă đến được ngọn núi Tonami hiểm trở và nhọn sắc như thanh kiếm của Đức Phật A Di Đà dùng để cắt đứt bao nhiêu tội lỗi dây dưa bám vào cái Ngă mê lầm (5). Nh́n mây đang kéo đùn lên, chúng tôi hối hả lấy con đường Mikoshiji (6) vốn dẫn vào ba xứ Việt (= Echizen, Etchuu và Echigo).

Khi đến ngôi làng ở cuối xứ Etchuu và hỏi thăm, mới biết đó là vùng có con sông giáp giới (Sakaigawa). Cái tên ấy làm cho chúng tôi cảm thấy giờ đây kinh đô đă thành nơi muôn trùng xa cách. Đây là xứ Sakaigawa, chúng tôi đă tới xứ Sakaigawa.

Hầu cận: (Báo tin ḿnh tới nơi = Tsukizerifu) V́ bước nhanh nên giờ đây chúng tôi đă đến được Sakaigawa, nơi có con sông chia cắt hai tỉnh Ecchuu và Echigo. Chúng tôi tạm dừng chân giây lát rồi sẽ hỏi thăm xem đâu là con đường đưa đến chùa Zenkôji. 

Hầu cận bèn hỏi thăm một người dân sở tại con đường đưa tới Zenkôji. Người ấy mới tŕnh bày 3 giải pháp để chọn lựa: một là lấy con đường thấp (Hạ đạo = Shimomichi), hai là con đường cao (Thượng đạo = Kamimichi) và ba là một lối đi cực cao có tên là Đường đèo trên đỉnh núi (Agerogoe). Ông ta cũng giải thích thêm Agero là con đường hiểm trở nhưng v́ là nơi Đức Phật A Di Đà  thường xuất hiện (7), mới là con đường đầy ánh sáng và nhiều phúc lành (8). Đường này rất cheo leo, không thể đi cách nào khác ngoài lội bộ nên đoàn người phải bỏ lại tất cả phương tiện chuyên chở dưới chân núi. Hầu cận mới đem sự t́nh như vậy thưa lại cô chủ.  

Ca Nữ (nàng Hyakuma Yamamba): (Ngồi và hát vấn đáp) Ta vẫn thường nghe cơi Tây phương Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà Như Lai vốn nằm rất xa, ở bên kia thập vạn ức lănh thổ. Nếu ngọn đèo Agero mới là con đường tắt mà Đức Phật có thể hiện ra để tiếp dẫn (= lai nghênh) chúng ta th́ ḿnh phải chọn lấy nó. Ngoài ra, với mục đích hành hương, chúng ta đâu ngại ǵ chuyện cuốc bộ và bỏ lại dưới chân núi những phương tiện chuyên chở. Vậy xin người hăy hướng đạo cho. 

Sau khi ca nữ nhờ người dân sở tại (dân làng) dẫn đường cho ḿnh, cả đoàn bèn theo ông mà lấy con đường đèo Agero. Đang đi bỗng nhiên người dân làng báo tin là không hiểu v́ cớ ǵ mà giữa ban ngày, trời bỗng sụp tối. 

Hầu cận: Chao ôi, lạ lùng thay! Đang giữa trưa mà trời bỗng tối sầm? Biết làm sao đây? 

Hầu cận mới hỏi dân làng vùng này có nhà trọ qua đêm hay không và dân làng trả lời là không (có bản thêm cả lời đối thoại của hai người vào chỗ này). 

B-  Có tiếng ai đang gọi đoàn người đi đường: 

Một người đàn bà không rơ tuổi tác cất tiếng gọi đoàn người, cho biết bà sẽ dành chỗ cho họ qua đêm. Bà ta mời họ về cái am kết bằng nhánh củi nơi ḿnh trú ngụ và cho biết ḿnh chính là Yamamba. Bà tŕnh bày nguyện vọng được ca nữ hát một đoạn trong ca kịch nói về nhân vật truyền thuyết đó. Quá đỗi sợ hăi, ca nữ định cất tiếng ca nhưng Yamamba đă bảo nàng hăy tạm ngưng chờ cho đến nửa đêm lúc trăng lên cao, bà sẽ hiện nguyên h́nh đến nghe. 

Người đàn bà: (Từ trong màn gọi ra) Này này, lữ khách, ta sẽ giúp các người có chỗ trọ qua đêm. Nào, hăy theo ta! 

Dân làng cho hầu cận biết người đàn bà muốn cho họ chỗ ở xong bèn rút lui. 

Người đàn bà: (Từ trong màn bước ra) Nơi đây là ngọn núi Agero (Thượng Lộ Sơn) vốn cách xa xóm làng có người ở. Nay trời đă tối, lữ khách có chịu về am ta ngủ đỡ một đêm cho đến sáng mai không? 

Hầu cận: Thế th́ hay quá. Khốn nỗi đằng trước trời sao lại đột nhiên tối sầm. Nào, ta đi thôi! 

Người đàn bà: (Ngồi xuống hát vấn đáp) Hôm nay ta mời các bạn ở lại, không phải là không có lư do. Ta đang muốn cô nương đây hát cho nghe một đoạn trong vở ca kịch nói về Yamamba. Đây là ước mơ bao nhiêu năm qua ta hằng ôm ấp. (Giọng cảm khái) Màn tŕnh diễn của nàng sẽ là kỷ niệm khó quên, không chi thay thế được trong cuộc đời của kẻ quê mùa này. (Nh́n ra chính diện) Do đó, ta đă khiến cho trời mau tối để có dịp mời các bạn ở qua đêm. Vậy xin nàng hăy hát.  

Hầu cận: Thầy tṛ tôi không ngờ bà lại yêu cầu một điều như vậy. Chứ bà có biết cô tôi là ai không mà lại muốn cô ấy hát cho nghe một đoạn Yamamba? 

Người đàn bà: Ôi thôi, việc ǵ mà phải dấu diếm nhau? Vị đang ngồi kia là Hyakuma Yamamba chớ c̣n ai nữa. Có phải khúc hát ấy trong phần giáo đầu (shidai) vốn có câu “Yoshiashibiki no Yamamba ga yama mawari suru” (Khi Yamamba đi ruồng trong núi, bà kéo lê  thiện ác theo chân), hay không?  Đấy, lời ca nghe thú vị chưa? Danh xưng Hyakuma Yamamba của nàng cũng đến từ cái tên của vở ca vũ kịch ngắn (kusemai) ấy. Thế th́ nhân vật Yamamba thực sự là ai hở các bạn? 

Hầu cận: Yamamba là tên một con quỷ cái sống trong núi. Vở kịch ấy đă nói rơ điều đó. 

Người đàn bà: Quỷ cái là người đàn bà tính t́nh quái gỡ đấy ư?. Dù quỷ (nữ quỷ) hay người (quỷ nữ), đă sống trong núi th́ kẻ đó ắt giống ta thôi. Cô nương đă tạo ra nhân vật Yamamba rồi tŕnh diễn khúc hát trong bấy nhiêu năm mà bản thân cô chưa lần nào quan tâm đến ta. Cô chỉ giữ trong đầu h́nh ảnh về ta như một giọt sương mai đọng trên lá cỏ. Hôm nay ta xuất hiện nơi đây là để trách móc cô điều ấy đấy! Nếu cô nổi tiếng trên c̣n đường nghệ thuật, hưởng được phú quư, vinh hoa ở đời chẳng phải là nhờ khúc hát đó hay sao? Cho nên phải cô biết điều mà tŕnh tấu nó để cúng dường, đem tiếng hát vào trong Phật sự (9), giúp ta trở về căn tính ban sơ, thoát cảnh luân hồi, lên miền Cực Lạc chứ. (Hát với giọng thấp = Sageuta) Giờ đây, hồn ma của Yamamba trên núi Agero (hơi ngẩng đầu lên) đang ḥa cùng tiếng chim chóc điểu thú kêu ran trong ánh chiều vàng, bày tỏ ḷng oán hận cho cô nương nghe đấy. 

Hầu cận: Tôi quá đổi ngạc nhiên khi nghe những lời tự bạch của bà. Có phải bà bảo ḿnh chính là Yamamba không? 

Người đàn bà: Ta đă đi ḷng ṿng không biết bao nhiêu nơi trong núi. Hôm nay nếu có đến đây chỉ v́ muốn nghe thiên hạ ca tụng những công đức của ta (10). Vậy th́ cô hăy hát lên để cho ta nhẹ hết mọi vọng tưởng về ḿnh. 

Ca Nữ: Tôi không dám từ chối bà nữa đâu v́ bà làm tôi quá khiếp đảm. Tôi đang lo lắng không biết có điều ǵ không may sẽ xảy đến  cho ḿnh đây. Tôi sẽ lên giọng cho đúng cung bậc rồi sau đó dậm chân bắt nhịp... 

Người đàn bà: Khoan khoan, cô nương chờ ta một chút. Đây là cơ hội ngh́n năm một thuở, (Nh́n ca nữ, vai tsure) vậy cô có thể nào đợi đến khi ngày tắt hẳn và trăng lên cao hay không? Nếu tiếng cô ca trong trẻo như ánh trăng thanh th́ ta sẽ hiện nguyên h́nh cho cô thấy. Xem ḱa, giờ đây con trăng như sắp bị mây che. 

Trong núi sâu, sau khi nắng tắt, tất cả bỗng tối đen. 

Hợp xướng:  (Hát với âm cao = Ageuta) Trong núi sâu, sau khi nắng tắt, tất cả bỗng tối đen. Bóng mây trùm khắp nơi. Nếu cô nương hết ḷng hát bài Yamamba trọn một đêm nay, ta sẽ hiện nguyên h́nh và múa theo nhịp phách của cô. Vừa dứt lời, người đàn bà liền khuất dạng. H́nh bóng của bà như tan loăng vào trong bầu trời.

Giữa hai lớp (Nakairi)

C- Người sở tại (vai Ai) thuật chuyện Yamamba trong một lớp độc thoại Kyôgen: 

Người sở tại (dân làng) hiện ra trước mặt mấy thầy tṛ. Mọi người vừa mới nghĩ rằng trời sụp tối th́ giờ đây lại thấy như bừng sáng. Mặt trời đang ở trên cao. Thật là một hiện tượng lạ lùng không sao giải thích. Khi hầu cận đặt câu hỏi về Yamamba, dân làng cho biết bà ta vốn do nhiều thứ vật chất tập hợp mà thành. Nào là thanh kim loại treo trên nóc đền (waniguchi) (11), nào là hạt dẻ, quả óc chó, nấm và giây sắn, nhựa thông (nói chung là những yếu tố có trong thiên nhiên, LND). Ông ta lại đưa ra những thuyết khác, bảo rằng tên của Yamamba có thể đến từ tên gọi cánh cửa gỗ (Kido = mộc hộ) kêu kẽo kẹt trong núi (v́ Kido dễ bị nghe lầm với âm Kịjo = quỷ nữ) hay là loại khoai rừng (Yamaimo) gọi là tokoro (dă lăo = ông già sống nơi hoang dă). Dân làng ra khỏi sân khấu sau khi đă căn dặn mấy thầy tṛ rằng họ có thể nh́n thấy h́nh dáng thực sự của Yamamba sau khi hát một đoạn khúc hát mang tên bà ta. 

D- Yamamba tái xuất hiện: 

Khi đêm trăng đă về khuya, ca nữ mới làm theo lời dặn của Yamamba, chuẩn bị tŕnh diễn một đoạn trong ca vũ kịch ngắn (kusemai) của ḿnh. Yamamba chợt xuất hiện dưới cái lốt kinh dị chưa từng thấy. Bà ta mô tả cho nàng phong cảnh cheo leo hiểm nghèo của vùng núi non thâm sâu. 

Ca nữ: (Ngồi ở vị trí Waki và hát) V́ quá sửng sốt trước mọi việc xảy ra, ta không thể nào h́nh dung những ǵ ḿnh vừa trải qua là hiện thực. Nhưng ta sẽ theo đúng lời dặn của bà, bắt đầu nâng ống tiêu để ḥa cùng tiếng gió đang thổi qua rừng tùng. 

Hầu cận: (Ngồi hát) Nếu tiếng tiêu của cô ḥa theo làn gió của rừng tùng (tùng phong) th́ âm thanh trong trẻo đó sẽ lan xa. Âm hưởng của nó đi vào làn nước trong xanh của ḍng sông dưới thung lũng nơi vầng trăng trước đó đă soi bóng như cốc rượu trôi trên ḍng suối uốn khúc (khúc thủy) của những buổi tiệc thả thơ (12). Trong chốn núi sâu này, cả âm thanh lẫn ánh trăng đều trong ngần. 

Bà Chằng (Yamamba): (Chống gậy bước ra và đi đến chỗ cây tùng thứ nhất) Ôi, kinh hoàng thay, vực này sâu quá thể. Hố thẳm này khủng khiếp chưa! (13). Trong cánh rừng lạnh lẽo (hàn lâm = nghĩa địa) có những u hồn quỷ sứ đang quật roi vào chính mớ xương của chúng, than khóc v́ hận ḿnh đă tạo ra bao ác nghiệp trong kiếp trước. Trên cánh đồng sâu này ( thâm dă, ôn dă = nghĩa địa) có những người tiên đang tự rải hoa trên mộ ḿnh (tán hoa), hớn hở vui mừng với những thiện nghiệp đă dẫn đường cho họ về cơi Tây Phương Tịnh Độ. Nhưng không đâu, thiện ác đều giống nhau. Chẳng có ǵ phải ân hận mà cũng chẳng có ǵ đáng mừng rỡ (14). Việc họ làm thảy đều vô nghĩa. Mọi sự thực đều đang bày trước mắt chúng ta như ḍng nước đổ ào ạt không biết tới bến bờ nào và những ghềnh đá cao đang đâm thẳng lên bầu trời (15). 

Đến đây, vai bà chằng làm động tác iroe (ra điệu bộ) và tachimawari (đi ḷng ṿng). Bà chằng chậm răi bước vào sân khấu: 

Bà chằng: (Nh́n lên cao rồi hướng tầm mắt về phía tay phải) Ḱa núi với núi. Ai là người thợ khéo đă tạc những thảm rêu xanh lên ghềnh đá trên cao? Ḱa nước với nước. Nhà nghệ sĩ nào đă nhuộm màu ngọc bích cho vực sâu phía dưới? (16) 

Ca nữ: (Vẫn ngồi và hát đối) Ôi, khiếp quá! Cây cối rậm rạp đằng sau lưng núi che khuất cả ánh trăng, làm ta không thấy rơ. Khuôn mặt kinh hoàng mới ló ra kia, có phải là của Yamamba, người vừa mới xuất hiện hồi năy đấy không? 

Bà chằng: Ta chẳng đă sớm tiết lộ đôi điều về ta cho cô hay rồi sao? Cô làm ǵ phải hớt hơ hớt hăi! 

Ca nữ: Gặp bà hỏi ai chẳng cuống cuồng. Nhưng thôi, ta sẽ làm y như bà yêu cầu. Nh́n mặt bà từ trong tối ló ra th́ quả là một khuôn mặt người biết nói tiếng người. 

Bà chằng: Mái tóc bạc bà ta cứng như gai... 

Ca nữ: Đôi mắt sáng quắc tựa ngôi sao... 

Bà chằng: C̣n nước da thời... 

Ca nữ: Đỏ quạch như quét chu sa... 

Bà chằng: (Nh́n lên về phía tay mặt) Trông chẳng khác tấm ngói h́nh mặt quỷ mái đền. 

Ca nữ: Đêm nay là lần đầu tiên trong đời ta mới được nh́n một khuôn mặt hăi hùng như thế. 

Bà chằng: Không biết phải so sánh với cái ǵ đây?... 

Bà chằng / Ca nữ: Khi xửa khi xưa... 

Hợp xướng: Nghe kể rằng trong một đêm mưa, có con quỷ nuốt chững người đàn bà giữa cơn giông sấm nổ đùng đùng, làm ai nấy đều kinh hăi (17). Cảnh tượng đêm nay làm ta nhớ lại cái đêm trong truyền thuyết ấy. (Đi một ṿng lớn quanh sân khấu) Cũng giống như người đàn bà vừa kể, ta có thể bị quỷ sứ nuốt gọn. Ta sẽ rất hổ thẹn nếu người đời rêu rao cái tin ta bị quỷ nuốt.  

E- Bà chằng kể lể, múa và khấn nguyện:  

Bà chằng giục giă ca nữ hát cho nghe một đoạn ca vũ kịch (kusemai) mang tên ḿnh. Bà kể cho nàng chuyện ḿnh đi rong trong núi với mục đích rao giảng giáo lư nhà Phật. Tiếp đó, bà múa một vài vũ khúc. Giữa khi đang tŕnh bày cho ca nữ h́nh ảnh núi non trong những chuyến đi của ḿnh th́ thêm một lần nữa, bà đột nhiên biến mất 

Bà chằng: Đêm xuân một khắc giá ngh́n vàng. Hoa đang tỏa hương thơm ngát, lại có ánh trăng huyền ảo trên nền trời (18). Ước nguyện bấy lâu của ta nay đă thành sự thật. Ta may mắn được cô nương chịu hát cho nghe khúc ấy. Chỉ tiếc là đêm sắp tàn, thời gian không c̣n bao lâu nữa, vậy cô hăy hát nhanh cho!  

Ca nữ: Thực vậy, ta không thể nào từ chối măi lời yêu cầu của bà, nhất là giữa cảnh thanh u của núi rừng, không lời nào tả nỗi. 

Bà chằng: Một con chim cuốc vừa cất tiếng hót và vỗ cánh bay đi (19)... 

Ca nữ: Tiếng thác đổ sẽ thay cho điệu trống... 

Bà chằng: Khi vung ống tay áo lụa lên... 

Ca nữ: Chúng ta sẽ múa như những đóa hoa mơ trắng tựa tuyết đang rơi lả tả.. 

Bà chằng: Tất cả và tất cả... 

Ca nữ: Đều tán dương Phật pháp. 

Bà chằng: Không phải thế hay sao? 

Hợp xướng: Đối với Yamamba đang hoang mang và bị ám ảnh bởi hai chữ thiện ác, đối với Yamamba đang hoang mang và bị ám ảnh bởi hai chữ thiện ác, việc phải đi ḷng ṿng trong núi này quả là một sự hành xác!

Chẳng phải núi non chỉ là bùn đất và bụi bặm nhờ tích bao nhau mà trải rộng đến hàng ngh́n dặm và cao đến tận mây hay sao? Chẳng phải biển cả đă được tạo thành từ những giọt sương rơi trên thảm rêu mà trở thành một hải vực âm vang tiếng sóng hay sao? (20) 

Bà chằng: Những thanh âm vọng đến từ lũng sâu hư vô sẽ lan xa trên đầu ngọn cây. 

Hợp xướng: Nó sẽ cho bà cơ duyên nghe được tiếng nói “vô thanh” (21) của sự giác ngộ vang lên từ trái tim ḿnh. Có người hiền nữ thời xưa chịu giam ḿnh trong hẻm núi v́ nơi ấy bà ta không phải nghe tiếng vọng. Có phải đó cũng là những ǵ bà mong muốn? 

Bà chằng: Đặc biệt ngôi nhà của ta nằm trên núi cao và ở cạnh biển. Từ đó, ta có thể phóng tầm mắt xuống vực sâu trước mặt và tai ta nghe tiếng suối chảy về xa. 

Hợp xướng: Trước mắt là biển cả nước tràn mênh mông. Vầng trăng chiếu ánh sáng của Chân Như giúp ta t́m về chân lư. Có những rặng tùng vươn cao trên đỉnh núi sau lưng, nhưng làn gió đă t́m đến phá tan giấc mộng thường trụ êm đềm (thường lạc) của ta.  

Bà chằng: (Ở đó, ta như sống vào một thời thịnh trị) mà chiếc roi để đánh phạm nhân đă mục và hóa thành đom đóm bay đi (22). 

Hợp xướng: C̣n cái trống đánh để can gián v́ chẳng ai dùng nên giờ đă phủ rêu, không c̣n làm cho con chim nào phải sợ (23). Trong núi sâu này, nơi ta không có thước đo để biết xa gần, bỗng vọng đến tiếng chim cuốc cô đơn, thảng thốt. Mỗi lần tiếng chim ấy thấm vào trái tim ta cùng âm hưởng tiếng chặt cây của kẻ tiều phu, cảnh núi rừng càng thêm u tịch (24). Đỉnh núi vươn cao như thể hiện Pháp tính, cho thấy tâm nguyện của chư bồ tát t́m đến bồ đề. C̣n thung lũng sâu thẳm kia, nó tượng trưng cho sự Vô minh của chúng sinh và cũng là chiều sâu ḷng từ bi của các ngài muốn cứu vớt họ ra khỏi đó (25). Ḷng từ bi ấy đụng được đến đáy của vũ trụ này (26). Nguyên lai, một bà chằng không có nơi sinh ra và không chỗ ở nhất định. Bà chỉ theo chân mây nước, thăm viếng bất kỳ hang động sâu thẳm nào nằm giữa núi non. 

Bà chằng: V́ ta nào có phải loài người. 

Hợp xướng: Bấy lâu nay xa cách thế nhân ẩn ḿnh trong đám mây của những vọng tưởng, chấp nê (27), thay đổi bản chất của ḿnh  thành giả tướng. Thế rồi nhất niệm hóa sinh, ta đă lộ nguyên h́nh nữ quỷ trước mặt các bạn (28). Thế nhưng nếu quan niệm là “tà chánh nhất như” (29) và chấp nhận cái lư “sắc tức thị không” (30) th́ thế pháp cũng không khác ǵ Phật pháp, phiền năo chính là bồ đề. Đă có Phật th́ phải có chúng sinh, đă có chúng sinh th́ phải có quỷ sứ như Yamamba. ( = Nếu có giác ngộ th́ phải có mê lầm, LND). Tuy liễu th́ lục và hoa th́ hồng (31) nhưng mặt khác, chúng đều là hư không.

Những khi dạo chơi trong thế giới loài người, nếu gặp một lăo tiều đang ngồi nghỉ mệt dưới bóng hoa trên con đường đèo (32), ta sẽ đỡ hộ ông ta gánh nặng trên vai, rồi khi trăng lên, ta lại nương ánh trăng đưa lăo ra khỏi núi và về đến tận làng. Có lúc ta theo cửa sổ vào trong pḥng một cô gái đang bận rộn bên nhiều khung cửi (33), nấp ḿnh một góc để xe cho nàng những sợi tơ như con chim oanh (ngoài kia) đang xe tơ liễu bằng một cành lá nhỏ (34). Yamamba là kẻ hay giúp đỡ mọi người nhưng dưới con mắt của những con người ti tiện, ta nào có đáng ǵ đâu. V́ thế ai nấy đều xem ta là quỷ cái.      

Bà chằng: Chán ngán thay cho cơi đời đầy phiền năo. Trong tấm áo đẹp đẽ này (dang hai tay = hiraki) , thân ta trống rỗng, có khác nào một cái xác ve (dậm chân = ashibyôshi). 

Hợp xướng: Sương rơi trên ống tay áo mà không phủi, giờ đây áo đă thấm đầy ánh sáng lạnh lẽo của vầng trăng bạc đêm nay. Ngay khi người cô phụ ngơi cánh tay mệt mỏi v́ cầm chày đập vải, các bạn vẫn c̣n nghe văng vẳng một ngh́n lần, một vạn lần âm hưởng của tiếng chày ấy vang lên trong núi (35). Điều đó nếu có được là nhờ sự giúp đỡ của Yamamba đấy. Vậy th́ khi cô nương về lại kinh đô, hăy kể lại chuyện của ta cho mọi người nghe nhé. Than ôi, lời cầu xin này  cũng lại là một thứ vọng niệm. Thôi thôi, đừng bám víu vào điều chi nữa. Nếu Yamamba c̣n kéo lê câu hỏi thiện ác theo chân th́ bà ta vẫn phải lang thang hoài trong núi!. 

Bà chằng: Ta lê những bước chân... 

Hợp xướng: Lang thang giữa núi non... 

Lúc này Yamamba có thể diễn kakeri (điệu vũ mô tả tâm trạng hoang mang), các hataraki (động tác đi kèm với âm nhạc nhưng không phải là một điệu múa) hoặc làm động tác tachimawari (đi ḷng ṿng) trên sân khấu). 

Bà chằng: Được nằm chung dưới một bóng râm hay uống cùng ḍng nước một con sông đều là cái duyên đến từ tiền kiếp. Huống chi cô nương lại là người kể chuyện về ta th́ cái duyên của chúng ta c̣n sâu đậm dường nào. Cô nương đă xưng danh Yamamba thay ta rồi c̣n “lang thang trong cơi đời đầy phiền năo, đi ḷng ṿng giữa chốn núi non” và hát những lời ca nói về định mệnh của ta th́ cho dù chỉ là một lớp ca vũ kịch (làm kế sinh nhai) nhưng qua đó cô đă dâng lên Đức Phật những lời tán dương công đức (36). Ôi, từ đây ta sẽ nhớ cô nhiều lắm, cô ơi! Xin vĩnh biệt cô, ta trở lại núi rừng! 

Hợp xướng: Khi xuân về, ta sẽ ngóng xem khi nào hoa nở trên đầu ngọn cây... 

Bà chằng: Ta đi ṿng quanh núi t́m hoa... 

Hợp xướng: Mùa thu ta t́m ánh sáng trong lành... 

Bà chằng: Ta đi ṿng quanh núi kiếm chỗ ngắm trăng... 

Hợp xướng: Mùa đông khi mây mang về những cơn mưa rào lạnh lẽo.. 

Bà chằng: Ta sẽ đi ṿng quanh núi để mời gọi tuyết rơi... 

Hợp xướng: Đi ḷng ṿng, cứ phải đi ḷng ṿng. Bà khổ sở v́ không sao thoát khỏi kiếp luân rồi. Cát bụi của vọng tưởng đă tích tụ để làm ra Yamamba, Giữa khi đặt câu hỏi các ngươi có muốn xem h́nh thù một con quỉ cái hay không và vừa mới lập lại th́ Yamamba đă phóng ḿnh lên đỉnh núi. Người ta nghe tiếng nói của bà vang dội trong thung lũng. Tưởng chừng bà hăy c̣n có mặt đâu đây nhưng thực ra bà đă lên đường, đang vượt hết núi này qua núi nọ. Bà hăy c̣n đi, đi măi cho đến khi bóng h́nh ch́m khuất, không biết về một phương trời nào.

Dịch xong ngày 7/9/2019 (NNT)

Phần chú thích: 

1)     Tên Hyakuma Yamamba được viết bằng nhiều chữ Hán khác nhau: Bách ma, Bách vạn hay Bách gian Sơn mụ. Cô là một du nữ (con hát rong) nhưng thuộc loại có đẳng cấp và tiếng tăm.Có thể là mượn tên ca nữ Hyakuman (Bách Vạn) đă có trong một vở tuồng khác cùng tên.

2)     Để diễn giải nội dung tên chùa Zenkôji (Thiện Quang Tự).

3)     Shiga (địa danh vùng phía nam hồ Biwa, gần kinh đô cũ của triều đ́nh Ômi) và sazanami (những con sóng nhỏ) là hai từ liên kết với nhau trong thơ Waka tự thời xưa và đă trở thành ước lệ.

4)     Shiogoe kết hợp Shio (nước triều) và Koe (vượt qua) để chỉ một địa điểm có sóng mạnh đánh lên cao.

5)     Lợi kiếm = thanh kiếm sắc. Bài tán của tăng Thiện Đạo (613-681) phái Tịnh Độ có câu: “Lợi kiếm tức thị Di Đà hiệu. Nhất thanh xưng niệm tội giai trừ”.

6)     Mikoshiji (Tam Việt Lộ) con đường dẫn vào 3 xứ Việt (Echizen, Etchuu và Echigo).

7)     Không rơ có sự liên kết nào giữa Đức Phật A Di Đà và núi Agero. Có thuyết cho rằng v́ gần núi này có một địa danh là Jôdo (Tịnh Độ). Hoặc là soạn giả muốn ví von là trong sự tu hành, con đường khó khăn là đường mau đến đích nhất v́ đường Agero nổi tiếng hiểm trở?

8)     Cũng qui về hai chữ “Thiện Quang”.

9)     Quan niệm “Thanh vi Phật sự” vốn có nhiều trong kinh sớ.

10) Công đức ấy là việc Yamamba thể hiện được thực tướng của chư pháp và đó là điều bà nghĩ rằng nó hữu ích cho cuộc đời.

11) Ngạc khẩu: vật có h́nh thù giống như miệng cá sấu. Nó được chế  bằng kim loại và đem buộc vào một sợi dây treo trước đền.Khách thập phương sẽ kéo dây đó để phát ra tiếng kêu như gửi đến chư thần lời chào hỏi.

12) “Khúc thủy chi yến”: cách thả thơ uống rượu trên ḍng suối, phát xuất từ Giang Nam thời Lục Triều, rất được quí tộc thời Heian yêu chuộng.

13) Vực thẳm này c̣n ám chỉ vực thẳm của sự vô minh nơi con người.

14) Cách mô tả về ma quỷ khóc lóc và người tiên vui mừng đă dựa theo lối ví von trong trong Thiên Tôn Thuyết A Dục Vương Tỉ Dụ Kinh. Ở Nhật tỉ dụ này  cũng đă được dùng lại trong tập chiến kư Truyện đời Heiji (Heiji Monogatari).

15) Nh́n lên hay nh́n xuống thấy hết sum la vạn tượng nhưng dù núi cao hay nước sâu đều thể hiện cái lư “thuận nghịch bất nhị”.

16) Ư đến từ Ḥa Hán Lăng Vịnh Tập, phần Sơn thủy, thơ Ôe Sumiaki (Đại Giang Trừng Thanh): “Sơn phục sơn, hà công tước thành thanh nham chi h́nh? Thủy phục thủy, thùy gia nhiễm xuất bích đàm chi sắc”.

17)  Chuyện người đàn bà bị quỷ bắt và nuốt chững trong đêm mua giông xuất phát từ một h́nh ảnh tượng trưng trong đoạn 6 Truyện Ise (Ise Monogatari). Vương tử Ariwara no Narihira cùng người yêu của chàng rủ nhau đi trốn nhưng bị các ông anh của nàng (= giả dạng quỷ sứ) bắt được đem về. Người con gái ấy sau sẽ là Hoàng hậu Nijô.

18) Thơ Tô đông Pha trong Xuân Dạ Thi: “Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim. Hoa hữu thanh hương, nguyệt hữu âm”. Ư Yamamba cho biết lần gặp gỡ ca nữ hôm nay của ḿnh là một dịp may hăn hữu cần phải trân quí. Cũng gần với tư  tưởng Ichigo ichie (Nhất kỳ nhất hội) của Trà đạo và Thiền tông.

19) Thơ Hứa Hồn chép lại trong Ḥa Hán Lăng Vịnh Tập, phần Quách Công nói về chim cuốc: “Nhất thanh sơn điểu thự vân ngoại. Vạn điểm thủy trùng thu thảo trung”.

20)  Núi làm thành từ cát bụi tích tụ lâu ngày mà cao đến tận trời. Ư đến từ bài tựa của Kokinshuu (Cổ Kim Tập) sau khi sửa đổi đôi chút mấy câu thơ chép trong Ḥa Hán Lăng Vịnh Tập, phần Sơn thủy: Thái sơn bất nhượng thổ nhưỡng, cố năng thành kỳ cao. Hà hải bất yếm tế lưu...(va câu dưới) ba đào vạn khoảnh, vạn thủy nhất lộ.

21)  V́ vô thanh nên không có tiếng vọng. Ư nói tâm cảnh giác ngộ (theo Phật thuyết thất nữ kinh).

22) Cổ thi (Ḥa Hán Lăng Vịnh Tập): H́nh tiên bồ hủ, huỳnh không khứ.

23) Cổ thi (Ḥa Hán Lăng Vịnh Tập): Gián cổ đài thâm điểu bất kinh. Cùng với câu trên (22) đều có ư ca ngợi thiện chính (chính trị tốt đẹp).

24) Ư thơ Đỗ Phủ trong bài Đề Trương thị ẩn cư thi: “Xuân sơn vô bạn độc tương cầu. Phạt mộc đinh đinh sơn cánh u”.

25)  Diễn ư tâm nguyện của chư bồ tát “thượng cầu bồ đề hạ hóa chúng sanh”. Các vị cầu bồ đề là để tự giúp ḿnh, hạ hóa là để giúp cho người khác.

26)  Đáy vũ trụ là một nơi mà sách nhà Phật gọi là “Kim luân tế”. Kim luân là cái ṿng nâng đỡ vũ trụ, nền móng của núi sông đồng bằng. Tế là chỗ tiếp giáp nằm dưới đáy của nó.

27)  Người mắc vào vọng niệm chấp trước giống như vầng trăng bị lớp mây che.

28)  Tuy “bản lai vô nhất vật” nhưng v́ từ một niệm, vọng tưởng sinh sôi biến hóa khôn lường để cuối cùng ḿnh đă mang h́nh thù quỷ nữ.

29)   “Tà chính nhất như, thiện ác bất nhị, mê ngộ qui nhất”. Theo vở Nô này, v́ Yamamba không hiểu được triết lư về chữ Không (tuyệt đối b́nh đẳng) nên c̣n phải kéo lê thân xác đi lang thang trong núi và khó ḷng thoát khỏi kiếp luân hồi. Tuy nhiên, theo thiển ư, có lẽ soạn giả của vở tuồng không có mục đích đồng hóa tà với chính vốn là việc trái với thường thức mà chỉ muốn nhắn bảo là thiên nhiên (tượng trưng bằng Yamamba) luôn luôn hiện ra trước mắt chúng ta trong dáng vẻ tự nhiên của nó và không bị bó buộc vào một ư niệm đạo đức nào hết. Bảo nó tốt hay xấu, thiện hay ác (gây thiên tai gieo hiểm họa hay nuôi sống nhân loại về thể chất lẫn tinh thần vv...) chỉ là kết quả đến từ sự phán đoán của con người.

30)  Có chữ “Sắc bất dị không, không bất dị sắc”. Lại có câu “Sắc tắc thị không, không tắc thị sắc (theo Bát Nhă Tâm Kinh). Nơi khác lại có câu: “Phiền năo tức bồ đề”. “Tam giới duy nhất tâm, tâm ngoại vô biệt pháp. Tâm Phật cập chúng sinh, thị nhất vô sai biệt”.Đó là những quan niệm thiết thân của Phật giáo thời trung đại.

31)  Liễu th́ xanh và hoa th́ đỏ nhưng đó là dạng tướng hiện ra trước mắt ta. Kỳ thực chúng không khác ǵ nhau v́ đều trống không.

32)  H́nh ảnh ông tiều đặt bó củi nằm nghỉ dưới bóng hoa cũng thấy trong bài tựa viết bằng Kana của Kokinshuu (Cổ Kim Tập) khi đề cập đến nhà thơ Ôtomo Kuronushi, một trong Rokkasen (Lục Ca Tiên) thời Heian.

33)  Khung cửi. Điển cố này liên quan đến ngày Thất Tịch, cho biết nàng Chức Nữ là người rất bận bịu v́ phải trông coi 500 khung cửi cùng một lúc (thơ Man.yôshuu, bài số 10).

34)  Chim oanh quấn tơ rời bằng nhành liễu. Ư thơ trong Gosenshuu (Hậu Soạn Tập) phần Xuân tập hạ.

35)  Dĩ nhiên là một h́nh ảnh cổ điển trong văn học Trung Hoa. Đến từ ư thơ Bạch Cư Dị chép trong Ḥa Hán Lăng Vịnh Tập: “Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ. Thiên thanh vạn thanh vô liễu th́”. Ư thơ Nhật Bản về tiếng chày đập vải cũng có nhiều, thí dụ Truyện Ise hay Tục Cổ Kim Tập (Zoku Kokinshuu), c̣n là đề tài của vở tuồng Nô Kinuta (Chày đập vải). Ở đây ư nói Yamamba đă thấu hiểu nỗi cô đơn, mệt nhọc của người đập vải và muốn gánh vác công việc thay cho nàng (cũng như từng làm cho lăo tiều và người dệt cửi trước đó).

36)  Dựa theo câu “Nguyện dữ kim sinh thế tục văn tự chi nghiệp, cuồng ngôn kỳ ngữ chi ngộ, phiên vi đương lai thế thế tán Phật thừa chi nhân, chuyển pháp luân chi duyên” (Bạch Lạc Thiên, Ḥa Hán Lăng Vịnh Tập, phần Phật sự). Ư nói những lời lẽ gọi là kỳ quặc khác đời như trong văn chương hay trên sân khấu cũng có thể dùng để ca ngợi và truyền bá giáo lư nhà Phật. 

 

Thư mục tham khảo: 

1-    Nguyên tác Nhật ngữ (cổ văn với chú thích) vở tuồng Yamamba trong Dao KhúcTập (Nhà xuất bản Shôgakukan).

2-    Nguyên tác Nhật ngữ (cổ văn với chú thích của Itô Matayoshi) trong Dao Khúc Tập (nhà xuất bản Shinchô (Tập Hạ), 1988.

3-    Bản tham chiếu bằng tiếng Anh và tiếng Nhật (đă chuyển sang kim văn) trên mạng của trang chuyên môn The-Noh.com.

 

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com