DONALD KEENE

HÀNH TR̀NH CỦA MỘT NHÀ NHẬT BẢN HỌC

Biên soạn: Nguyễn Nam Trân

Học giả Donald Keene (1922-2019)

Thứ hai 25/2/2019, ở Tôkyô, trời mưa từ tảng sáng. Nhiều nhật báo lớn đă chạy tít trên trang nhất về cái chết của học giả Đonald Keene ngày hôm trước (24/2/2019) ở tuổi 96 (ông sinh ngày 18/6/1922) trong một bệnh viện thủ đô v́ chứng suy tim. Nhân đó, một câu hỏi  được đặt ra: Tại sao người Nhật lại dành t́nh cảm trân trọng đến thế cho một người không phải là nguyên thủ quốc gia,  ngôi sao điện ảnh, thể thao hay lănh đạo tập đoàn kinh tế mà chỉ là nhà nghiên cứu và phiên dịch văn học?

Gắn bó với Nhật Bản

Thực t́nh mà nói, chuyện đó cũng có thể hiểu được. Không riêng v́ sự nghiệp nghiên cứu, b́nh luận, phiên dịch, giáo dục đào tạo cũng như những cống hiến khác nhằm giới thiệu cái hay cái đẹp của Nhật Bản ra cho thế giới Keene đă làm một cách cần mẫn và uyên bác trong bảy thập niên (1940-2019)  mà c̣n v́ tấm ḷng gắn bó thiết tha của ông với con người và đất nước này đến độ sau thảm họa sóng thần và ṛ rĩ ḷ hạt nhân tháng 3/2011, ông đă xin vào quốc tịch Nhật để được chết như một người Nhật. 

Cuộc đời và các thành quả học thuật mà Keene đạt được đầy ắp sự kiện, cần phải tốn rất nhiều trang giấy để có thể liệt kê đầy đủ (600 công tŕnh trong 1.400 ấn bản qua 16 thứ tiếng đặt bên trong trên 39.000 thư viện). Nói chung, về chất lẫn lượng, so với những nhà nghiên cứu khác, ông giống như đỉnh cao phong đột ngột nổi lên giữa quần sơn. Tuy lịch sử không hề lập lại và mỗi người đều có cách đánh giá khác nhau nhưng có lẽ Keene c̣n vĩ đại hơn cả những nhà Nhật Bản học tiền bối cỡ Ernest Fenellosa, Athur Waley, George Samson, Reginald Blyth, Serge Elisseeff, Edwin O. Reischauer... cũng như những nhân vật đồng thời đại với ông như Ivan Morris, Edward Seidensticker, René Sieffert vv...

Không lâu trước khi qua đời ông đă lấy tên Nhật (nhă hiệu, gagô) Kin Do-na-ru-do phiên âm bằng bốn chữ Hán Quỉ Nộ Minh Môn鬼怒鳴門 (kết hợp hai địa danh nổi tiếng Nhật Bản là con sông Kinu 鬼怒ở tỉnh Tochigi và vực nước xoáy Naruto鳴門 trong biển nội địa nằm giữa Okayama và Tokushima) để biểu lộ sự gắn bó với đất nước này. Ngoài ra, ông lại chọn gửi nắm xương tàn của ḿnh trong một nghĩa trang Nhật Bản, điều mà những Fenollosa, Blyth và Seidensticker... trước đó đă làm.

Một sinh viên ưu tú

Không có điều ǵ khiến chúng ta có thể dự đoán rằng cậu bé tóc nâu mắt xanh Donald Lawrence Keene – sinh năm 1922 trong một con phố của khu Brooklyn, New York - một ngày nào có thể trở thành học giả ngành Nhật Bản Học. Bởi v́ khi năm lên 9, có dịp theo cha du lịch Âu châu, cậu c̣n tỏ ra thích học tiếng Pháp và định bụng lớn lên sẽ theo ngành kinh tế. Thế nhưng một chuỗi t́nh cờ khiến cho cậu đă chọn một con đường hoàn toàn khác.

 

D. Keene thời trẻ

Keene thông minh, nhảy lớp và được học bổng vào khoa văn Đại Học Columbia, một ngôi trường tăm tiếng,  năm mới 16 tuổi (1938). Cần nói thêm là song thân sớm ly hôn, cậu phải về ở với mẹ và hai mẹ con đă gặp phải nhiều khó khăn vật chất trong cuộc sống vào giai đoạn này.

Hai sự t́nh cờ

Mấy năm đầu ở đại học, chịu ảnh hưởng các thày và bạn bè, tuy chuyên về các ngôn ngữ phương Tây như Pháp, Đức, cậu bắt đầu vỏ vẻ dăm ba chữ Hán và tiếng Trung nhưng chưa tiếp cận với Nhật ngữ. Ba sự t́nh cờ sau đây đă đưa đẩy cậu chuyển hướng.

T́nh cờ thứ nhất là năm 1940, trong một hiệu sách ở trung tâm New York, cậu mua được bản The Tale of Genji (= Genji Monogatari 源氏物語, Truyện Genji) do học giả Đông phương người Anh Arthur Waley (1889-1966) dịch (1921-33) và từ đó, đă đọc nó một cách say mê. Thế giới cung đ́nh của Nhật Bản thế kỷ 11 dưới ng̣i bút của nữ sĩ Murasaki Shikibu xem ra hấp dẫn hơn là thế giới cậu đang sống, nơi tiếng súng của cuộc Đại chiến từ Âu châu đang vọng về.  Cậu bắt đầu học tiếng Nhật và nghiên cứu lịch sử tư tưởng Nhật Bản với các thầy gốc Nhật. Đến năm 1942 th́ tốt nghiệp Cử nhân (B.A.). 

T́nh cờ thứ hai là ở Columbia, cậu được quen Jack Kerr, một người bạn từng dạy tiếng Anh ở Đài Loan và có sống bên Nhật một thời gian. Kerr đă khuyến khích Keene học thêm tiếng Nhật vào vụ hè.

T́nh cờ thứ ba là chiến tranh giữa Nhật và Mỹ bùng nổ năm 1941 với cuộc oanh kích Pearl Harbor. Để khỏi phải ra chiến trường, Donald Keene chọn con đường trở thành sĩ quan t́nh báo của Hải quân.  Chàng thanh niên được gửi đi học tiếng Nhật để có thể làm công tác phiên dịch, đọc tài liệu và thẩm vấn tù binh.

Như mọi người học tiếng Nhật thời ấy, ông đă làm quen với bộ Hyôjun Nihongo Tokuhon標準日本語読本 của Naganuma Naoe 長沼直兄 ở Trường dạy tiếng Nhật của Hải quân (Navy Japanese Language School). Trường ấy trước nằm ở vùng Vịnh (Berkeley, California) sau dời về Boulder (Colorado), nơi được coi là an toàn hơn. Chính ở đây ông đă gặp bạn đồng học Edward Seidensticker (1921-2007) , một nhà nghiên cứu văn học lỗi lạc khác, người về sau đă dịch lại Truyện Genji và chuyên sâu về Nagai Kafuu永井荷風.

Tháng 4 năm 1943, Keene thẩm vấn tù binh đầu tiên, phi công Toyoda Jô (Minoru)豊田穰, sau này cũng trở thành nhà văn, người đă bị lực lượng Mỹ bắt được  khi máy bay của ông ta bị bắn hạ gần quần đảo Solomon. Keene làm công việc thẩm vấn này mà không cảm thấy thích thú bao nhiêu. Dù vậy, kể từ đó, ông tiếp tục đồn trú trên các đảo Thái B́nh Dương như Hawai, quần đảo Aleutian, Guam, Leyte và cả Trung Quốc,  đến tháng 5/1945 th́ được chuyển về bộ hành quân chuẩn bị cho chiến dịch Okinawa. Các bạn cùng thời kỳ này của Keene c̣n có Otis Cary và Ivan Morris. Cary sau là giáo sư ưu tú của Đại học Dôshisha同志社 (Kyôto) và nhà viết hồi kư, c̣n Morris là một con người học vấn uyên thâm nhưng có lẽ được đại chúng biết đến nhiều nhất v́ một Tuyển tập truyện ngắn Nhật Bản (Modern Japanese Stories, 1962) do ông chủ biên và nhà Tuttle ở Tôkyô xuất bản.

Đời hoạt động

Sau khi giải ngũ, Keene về lại Đại học Columbia học lên lấy Cao học (M.A. 1947) với luận văn về Honda Toshiaki 本多利明(1743-1820), một trí thức thời Edo muốn t́m hiểu Tây phương, dưới sự hướng dẫn của thầy Tsunoda Ryuusaku角田柳作, người thành lập khoa Nhật ngữ của trường. Cùng năm đó, ông chuyển sang Đại Học Harvard, có cơ hội thụ giáo Serge Elisseeff (1889-1975), một học giả người Pháp gốc Nga, đă đến Nhật từ năm 1908 và tốt nghiệp Đại Học Tôkyô. Kể từ 1948, ông theo học Đại học Cambridge bên Anh trong ṿng 5 năm, lấy được một Cao học thứ hai đồng thời làm trợ giáo ở đó. Nơi đây, ông gặp gỡ triết gia Bertrand Russell (1872-1970), tiểu thuyết gia E.M. Forster (1879-1970) và “thần tượng” thời trẻ của ḿnh, Arthur Waley. Năm 1949, ông hoàn tất chương tŕnh Tiến sĩ (Ph. D.) ở Khoa Đông Phương Đại học Columbia.

Năm 1953, ông sang nghiên cứu ở Đại học Kyôto với học bổng do Ford Foundation tài trợ và khi ở nhà trọ t́nh cờ quen biết học giả ngành giáo dục kiêm chính trị gia Nagai Michio永井道夫 (1923-2000),  người sẽ là bạn thiết suốt đời của ông. Năm 1955, ông về Columbia lănh chức Giáo sư phụ tá (Assistant Professor), sau đó là Giáo sư thực thụ (Full Professor) rồi đến năm 1992, trở thành Giáo sư ưu tú (Emeritus Professor). Tuy vậy, dù đă hưu trí ở tuổi 70, ông vẫn tiếp tục hướng dẫn nghiên cứu sinh mỗi năm 6 tháng trong ṿng 20 năm trời cho đến cuối học kỳ mùa xuân 2011. Từ 1987 đến 1989, ông c̣n kiêm nhiệm chức Giáo sư ở Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Nhật Bản (Nichibunken日文研) ở Kyôto. Keene lại là Ủy viên biên tập hải ngoại của Nhật báo Asahi trong nhiều năm (1982-1992). Ông hoạt động hết sức năng nổ, thường xuyên xuất hiện trên các môi thể truyền thông, ra mắt sách và tham dự nhiều buổi tọa đàm. Năm 1999, ông sáng lập Trung tâm nghiên cứu văn hóa Nhật Bản Donald Keene và năm 2006, một Quỹ văn hóa  cũng mang tên ḿnh.

Văn nghiệp

Về trứ tác, ông đă cho xuất bản 30 đầu sách tiếng Anh và 25 đầu sách tiếng Nhật. Phạm vi nghiên cứu của ông rất rộng răi, từ các tác giả cổ điển như Chikamatsu Monzaemon近松門左衛門 (1653-1724) (luận văn Tiến sĩ của ông nhan đề “The Battles of Coxinga” 国性爺合戦 (1715), vốn là một vở kịch búp bê  của Chikamatsu) hay Matsuo Bashô cho đến các tác gia hiện đại như Mishima Yukio, Dazai Osamu.... Công lớn của ông là giới thiệu và b́nh luận về văn học và văn hóa Nhật Bản cho độc giả trong thế giới Anh ngữ. Tuy sở trường là Nhật Bản nhưng ông cũng có lần chủ biên một Tuyển tập văn học Trung Quốc.

Keene không cố bỏ công sức dịch những tác phẩm lớn nhưng quá dài kiểu Truyện Genji, Truyện Heike hay Thái B́nh Kư (Taiheiki) như các đồng nghiệp tên tuổi nhưng ít nhất ông đă dịch một số các tác phẩm quan trọng chẳng hạn Lăo tiều đốn trúc (Taketori Monogatari), Đồ Nhiên Thảo (Tsurezuregusa), nhiều vở tuồng Nô, thơ Bashô, văn Dazai Osamu, Mishima Yukio, Yamamoto Yuuzô  và Abe Kôbô... Ông có vẻ thích tŕnh bày những cảm nhận và đánh giá của ḿnh cho độc giả hơn là làm công việc dịch thuật thuần túy. Đặc biệt ông dành nhiều th́ giờ đọc các tập nhật kư do người Nhật viết để quan sát bản chất của họ thông qua một ḍng văn học mà ông xem là độc đáo v́ không thấy có ở nơi nào khác trên thế giới. Ông cũng yêu thể loại truyện kư. Bằng cớ là ông đă viết nhiều cuốn như về Thiên hoàng Meiji (2001), về Shôgun Ashikaga Yoshimasa足利義正, một nhà chính trị đă  đỡ  đầu cho nghệ thuật (2003), họa sĩ hội họa Tây phương tiên phong Watanabe Kazan 渡辺崋山(2006), nhà thơ và nhà cách tân thi ca Masaoka Shiki正岡子規 (2013). Ông c̣n viết về ḿnh  qua hai cuốn tự truyện nhan đề On Familiar Terms (Trong ṿng thân mật, 1994) và Chronicles of my life (Những diễn biến trong đời tôi, 2002).

Hai bộ sách quan trọng nhất của ông có lẽ là “Nhật Bản Văn Học Sử”  bằng 2 thứ tiếng Anh và Nhật (3 cuốn, từ năm 1976) và Tuyển tập các trứ tác gồm 15 cuốn  (do nhà Shinchô xuất bản từ 2011 đến 2018). Ông có công giúp Bộ Giáo Dục Nhật Bản thẩm định sách giáo khoa Anh ngữ và c̣n tư vấn cho Hội đồng tuyển chọn ứng viên Giải Nobel văn học từ những nhà văn Nhật Bản (trong thập niên 1960, bên cạnh E. Seidensticker).

Không chỉ trong lănh vực văn học, ông theo dơi cả kịch nghệ, âm nhạc, mỹ thuật (như tranh mộc bản), nghĩa là văn hóa nói chung và đă để lại nhiều đầu sách về các thể loại này. Ông c̣n viết kư sự du hành khi đến thăm các quốc gia Âu, Á và Phi châu. Khó thấy một nhà nghiên cứu nào đa dạng và nhiều sinh lực như ông.

Giao lưu

Ông chơi thân với Mishima kể từ năm 1956 khi bắt tay vào dịch tuồng Nô hiện đại nhan đề Hanjo 班女(Nàng Ban) của nhà văn. Cái tên Nhật “Quỷ Nộ Minh Môn”có lẽ đă lấy cảm hứng cách mà Mishima gọi ông trong một bức thư. Ông cũng thân thiết với Abe Kôbô, người chân thành lo lắng về những phản ứng không tốt có thể xảy đến cho ông từ các nhóm cực hữu khi ông viết bộ truyện kư về Thiên hoàng Meiji (2001) với cái nh́n khách quan của một người từ bên ngoài. May mắn là đă không có ǵ xảy ra nhưng điều đó, trái lại, đă làm ông không thỏa măn.

Donald Keene và Mishima Yukio

Keene giao lưu hữu hảo với Tanizaki Jun.ichirô, Kawabata Yasunari, Yoshida Ken.ichi, Ishikawa Jun, Shiba Ryôtarô, Maruya Saiichi, Shinoda Hitoshi và ở một chừng mục nào đó, Ôe Kenzaburô, v́ trong giai đoạn sau của cuộc đời, hai người không c̣n tương đắc như xưa.

Qua h́nh thức gọi là “đối đàm” (những cuộc tṛ chuyện tay đôi sau đó được in lại thành sách), ông c̣n có cơ hội tiếp cận với các tác giả khác như Ôoka Shôhei, Oda Makoto, Ôoka Makoto, Setouchi Jakuchô, Koike Masayuki vv...

Donald Keenee tṛ chuyện với Shiba Ryôtarô

Vinh quang một đời cầm bút

Chỉ cần mô tả một cách sơ lược cũng đủ thấy xă hội đă đánh giá Keene rất cao. Ngoài t́nh cảm kính trọng và thân ái của độc giả dành cho ông, học giới và nhà nước cũng rất trân trọng nhà nghiên cứu lăo thành này. Bằng cớ là ông có chức danh Tiến sĩ danh dự (Doctor honoris causa)  của 12 trường Đại học, trong số đó có các đại học danh tiếng như Cambridge, Columbia và Waseda... Về giải thưởng ông nhận được th́ có đến 14 giải danh giá như Giải Văn Học Nhật Bản, các giải Nhật báo Asahi, Yomiuri, Mainichi, Giải Trung tâm nghiên cứu văn hóa Nhật Bản, Giải Kikuchi vv...Nhà nước lại c̣n ban tặng huy chương Mặt Trời Mọc (Asahi với 2 hạng mục khác nhau vào năm 1975 và 1993), huy chương dành cho Nhân vật có công lao văn hóa (năm 2002),  Huân Chương Văn Hóa (2008)  và tước Tùng Tam Phẩm (2019) cho ông.

Chọn quốc tịch Nhật

Sau thảm họa thiên tai và nhân tai ở Fukushima ngày 11/3/2011 và  khi đă xong xuôi công việc ở Đại học Columbia, ông bày tỏ nguyện vọng lấy quốc tịch Nhật Bản như một hành động nói lên ư nguyện muốn chia sẻ phần nào nỗi khổ đau với dân chúng một đất nước mà ông gắn bó từ ngày c̣n trẻ. Sau đó, ông đă dọn về sống hẳn ở khu Kita, nội thành Tôkyô, trong một ngôi nhà nh́n xuống khu vườn rộng xưa kia thuộc tài phiệt Furukawa, là nơi trước đây ông chỉ dừng chân khi đi đi về về giữa Manhattan và Tôkyô. Là một người suốt đời độc thân, năm 2013, ông nhận Uehara Seiki (sinh năm 1950), một nhà tŕnh tấu đàn shamisen cho tuồng Joruri, làm con trai  nuôi và tự đặt cho ḿnh một cái tên Nhật (mà ông nói vui là chỉ có mục đích làm cho thiên hạ cười). Thế nhưng qua mấy việc đó, ông cũng lại phối hợp được những điều ḿnh nói với điều ḿnh làm. Con người của Keene vẫn thực tế như bao giờ: khi nghiên cứu về Nô chẳng hạn, ông không bàn suông mà c̣n mặc đồ lên sân khấu, tŕnh diễn Kyôgen (Cuồng ngôn), một màn ngắn hài hước giữa hai vở tuồng.

T́nh cảm một cựu binh

Keene không thích chiến tranh nhưng đă phải tham gia, môt phần v́ t́nh cảm đối với quê hương nhưng một phần v́ không chấp nhận được chế độ quân phiệt. Ông nhiều khi tự hỏi tại làm sao một đất nước từng sinh ra các sản phẩm văn hóa thanh nhă như sân khấu búp bê (Bunraku) lại có thể nhắm mắt đi theo một thể chế chính trị độc tài như thế. Cũng như Otis Cary, Edward Seidensticker, Ivan Morris, ông là một cựu binh trong Thế Chiến thứ II. Thế mà ngẫu nhiên xui khiến, người cựu binh kia đă có cơ hội t́m hiểu rồi yêu thương đất nước của kẻ thù, đến độ cuối đời đă chọn nơi đó làm quê hương. Keene t́nh cờ sinh ra như một người Mỹ nhưng với ư chí tự do đă chọn lựa trở thành người Nhật. Th́ ra chính là văn hóa chứ không phải là bạo lực mới có thể chinh phục con người?          

NNT

Xem :   VĂN HỌC NHẬT KƯ - Một nét đặc sắc của văn hóa Nhật Bản

 

 

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com