TRUYỆN ISE (II)

Tác phẩm cổ điển trong thể loại truyện thơ Nhật Bản

(Ise-monogatari - 伊勢物語, thế kỷ thứ 10)

Nguyên bản: Tác giả vô danh

Dịch chú: Nguyễn Nam Trân

 

Về miền Đông (Đoạn 9)    

Phần II: Đoạn 26 đến 50

Đoạn 26:

Xưa, có chàng trai đau khổ vì không sum họp được với nàng con gái sống ở khu Gojô. Để đáp lại một người bạn cám cảnh mình mà than thở hộ, anh viết mấy vần:

Omôezu /sode ni mina to no / sawagu kana / morokoshi fune no / yori shibakari ni /

(Tôi nào đâu có dè / Tay áo mình ướt đẫm / Vì sóng dậy bến kia / Khi chiếc tàu biển ghé)   

Lời bình (26):

Đây lại là một câu chuyện nói về mối duyên bất thành giữa Narihira và Takako. Thế nhưng bài thơ giống như là lời người bạn chứ không phải tâm sự của nhân vật chính.

Morokoshi fune (Đường thổ chu) hay thuyền buôn Trung Quốc vốn là thuyền đi biển to lớn hơn thuyền Nhật nên khi vào cảng có thể làm dậy sóng.

Theo H. Jay Harris, có thuyết cho rằng bài thơ nói đến tàu buôn Trung Quốc này có lẽ được dịch từ Hán thi vì thấy không được tự nhiên khi đưa vào bối cảnh Nhật Bản.

Đoạn 27: Bên ngòi ruộng

Xưa có một chàng trai đến thăm người con gái nhưng chỉ mỗi một lần rồi không hề trở lại. Buổi sáng ở nơi rửa mặt, khi nàng cuộn cái nắp đậy bồn nước đan bằng trúc qua một bên thì thấy hình ảnh buồn khổ của mình in ra trong đó, nên làm mấy câu thơ:

Ware bakari / mono omou hito wa / mata mo araji / to omoeba mizu no / shita ni mo ari keri

(Tưởng không có người nào / Đau khổ bằng mình cả / Ai ngờ trong đáy nước / Hiện bóng người thứ hai )

Người đàn ông nghe phong thanh như thế mới đáp trả:

Mizuguchi ni / ware ya miyu ramu / kawadzu sae / mizu no shita ni te / moro koe ni naku / 

(Bóng người trên mặt nước / Chỉ có thể là anh / Ngay ếch bên ngòi ruộng / Kêu khóc cũng đồng thanh)

Lời bình (27):

Theo tục lệ thời xưa, đàn ông đến thăm đàn bà chỉ một đêm rồi không đến nữa là có ý không muốn tiến tới hôn nhân. Còn khi ai cuộn một phần cái nắp đậy bằng tre (nukisu貫簀) ở chỗ rửa tay là để tránh nước trong bồn bắn lên làm ướt áo xống. Ngòi nước (mizuguchi水口) là chỗ dẫn nước vào ruộng. Ếch nhái trên đồng kêu (naku鳴く, 啼くcroak) cũng đồng âm với than khóc (naku泣く, cry) và khi chúng cất tiếng kêu thì lúc nào cũng đồng loạt. Chàng trai muốn nói trong sự chia tay giữa nam nữ thì cả hai đều đau khổ chứ nào phải chỉ một mình nàng.

Nhà nghiên cứu Ishida Jôichi lại cho rằng hình ảnh in trong bồn nước không phải là của nàng mà là của chàng trai (vì nàng bị hình bóng chàng ám ảnh tâm trí ?), khác với chủ trương của G. Renondeau và H. Jay Harris.

Dịch giả Jay Harris còn nói người đàn bà bị quên lãng trong đoạn này gợi cho ông nhớ tới hình ảnh nàng Hanachirusato花散里 (Làng hoa rụng) trong Truyện Genji.

Đoạn 28: Khó gặp nhau

Xưa có một người con gái đa tình, bỏ nhà đi đâu mất (làm người đàn ông ở lại viết mấy vần sau):

Nado tekaku / augo katami ni / nari ni kemu / mizu mo saraji to / musubishi mono wo /

(Ai xui chi gặp gỡ / Để rồi khuất bóng nhau / Dù mình từng nguyện thề / Không để tình vơi giọt)    .             

Lời bình (28):

Người con gái ở đây bản tính vốn lẳng lơ (irogonomi) chắc đã bỏ nhà đi theo một chàng trai khác. Trong đoạn này, tình yêu được ví như nước trong vò (water bucket) treo trên rường nhà, khó lòng bị rò rĩ để vơi đi. Thế mà cất ở một nơi cao như vậy vẫn chưa đủ an toàn.

Đoạn 29: Tiệc thưởng hoa.

Xưa kia, khi được mời đến dự tiệc thưởng hoa anh đào ở phủ đệ  mẫu hậu của Đông Cung thái tử, có người làm thơ rằng:

Hana ni akanu / nageki wa itsumo / seshi ka domo / kefu no koyoi / niru toki wa nashi /

(Bao lần nhìn không chán / Dù hoa chưa độ thắm / Đêm nay ngắm hoa bay / Tình cũ càng thêm say)

Lời bình (29):

Hana no Ga 花の賀hay Hana no Utage 花の宴là tiệc thưởng hoa anh đào đang độ nở và cũng có thể là ngày mừng sinh nhật một quí nhân. Trong Truyện Genji lại có Momiji no Ga紅葉の賀 (Tiệc thưởng lá hồng) nhưng được tổ chức vào mùa thu.

Nhà văn Tanabe Seiko giải thích rằng “mẫu hậu của Đông Cung” có lẽ ám chỉ bà Nijô (Fujiwara Takako).

Đoạn 30: Ngắn như chuỗi ngọc

Xưa có chàng trai gửi cho người con gái chàng chỉ gặp có một đôi lần bài thơ như sau:

Au koto wa / tama no o bakari / omo oete / tsuraki kokoro no / nagaku miru ramu /

(Ngắn như giây xâu ngọc / Thời gian gặp gỡ nhau / Nhưng lòng bạc bẽo kia / Vẫn dài theo nỗi nhớ)

Lời bình (30):

Giây xâu ngọc (tama no o) là một “chữ gối đầu” (makura-kotoba, pillow word) dùng để so sánh độ dài với độ ngắn. Độ dài được thấy trong câu chót (nagaku miru) về lòng bạc bẽo của người tình khiến mình hận khó quên. Còn độ ngắn là khi nói về cái hạnh phúc của buổi gặp gỡ (au koto) mà nhà thơ so sánh với dây xâu chuỗi ngọc..

Bài thơ giống như là một lời bào chữa của người đàn ông về lý do tại sao anh ta không đến thăm người đẹp nữa.

Đoạn 31: Được lắm, giống hay quên!

Xưa có chàng trai khi vừa đi ngang qua gian phòng trong cung của một nữ quan hầu cận (có lẽ vẫn mang mối hận lòng đối với chàng) thì nghe có tiếng nói: ”Được lắm! Ta đoán ngươi rồi sẽ tàn héo thôi, hỡi cái lá cỏ quên xanh tốt kia”. Thấy thế, chàng ta bèn làm một bài thơ:

Tsumi mo naki / hito wo ukeeba / wasuregusa / ono ga ue ni zo / ou to iu naru /

(Ai mà thích trù ẻo / Kẻ chẳng tội tình chi / Lời xưa : “Giống cỏ quên / Sẽ mọc nơi người đó”)

Tuy nhiên, đàn bà không thiếu chi những kẻ ghen tức với nàng này (vì nàng đã có một cuộc phiêu lưu tình cảm thích thú như vậy)

Lời bình (31):

Câu nguyền rũa của người con gái có lẽ đã được trích ra từ Zoku Manyôshuu (Tục Vạn Diệp Tập) như lời bàn của Fujiwara no Sanetaka (1455-1537) trong tác phẩm bình chú Isemonogatari Chokkai. (Y Thế vật ngữ trực giải). Toàn văn bài đó như sau:

Wasureyuku / tsurasa wa ika ni / Inochi araba / Yoshi ya kusaba yo / Naran sa ga mimu /

( Dẫu quên câu chuyện cũ / Lòng cay đắng chưa nguôi / Đến chết còn mong mỏi / Cỏ ấy héo đi thôi )

Có thể nàng con gái trong Đoạn 31 này cũng là người nữ quan mà chúng ta đã biết đến trong Đoạn 19 (Như mây trời).

Wasuregusa là tên văn vẻ của yabukanzô (tawny day lily), một giống hoa đồng nội thuộc họ bách hợp (yuri, lily).

Đoạn 32: Giây tơ buộc thư tình.

Xưa có một nàng con gái mà chàng trai từng đi lại, nhiều năm sau bỗng gửi cho anh một bài thơ:

Inishie no / shidzu no odamaki / kurikaeshi / mukashi wo ima ni / nasu yoshi mogana /

(Giây tơ buộc thư tình / Ngày xưa mình trao đổi / Nay mà đem tháo mối / Phải đẹp biết bao không?)

Thế nhưng không hiểu chàng trai đó còn tình ý hay không mà chẳng thấy hồi âm.

Lời bình (32):

Xưa cuộn lại rồi nay muốn cởi ra, tình ý khá lộ liễu. Người con gái bạo dạn ngỏ lời nhưng người con trai vì một lý do nào đó đã không đáp lại tình xưa.

Giải tơ nhiều màu sắc (odamaki) cuộn những bức thư tình (shizu) hàm ý sắc tình (iro) nữa.

Đoạn 33: Truyện vùng Mubara.

Xưa có một chàng trai đi lại với một người con gái vùng Mubara trong xứ Tsu (tức Settsu, ngày nay thuộc tỉnh Mie) nhưng thái độ của nàng tỏ ra thì như e sợ lần này nếu ra về chắc chàng sẽ không trở lại. Chàng trai mới viết bài thơ;

Ashibe yori / michifuru shio no / iyamashi ni / kimi ni kokoro wo / omoimasu kana /

(Như sóng lớn tràn lên / Rặng lau bên bờ nước / Tình ta đối với nàng / Ngày càng thêm dào dạt )

Nàng bèn đáp:

Komori e ni / Omou kokoro wo / ikade ka wa / funasasu sao no / sashite shiru beki /

(Điều nghĩ ở trong đầu / Như sông bị lau lấp / Làm sao anh biết rõ / Bằng người chống mũi sào)

Thơ của cô gái chốn quê mùa như vậy, xin hỏi thử là hay hay dở ?

Lời bình (33):

Chữ funasasu sao (cây sào dùng để cắm thuyền đỗ lại) còn có ý thăm dò mực nước nông sâu (cũng là sasu). Thế nhưng lòng người còn khó dò hơn mực nước.

Nơi nàng con gái sống là vùng Ashiya xưa có nhiều lau (ashi), nay thuộc Kobe nhưng thời xưa, so sánh với Kyôto th́ Kobe chỉ là chỗ quê mùa.

Đoạn 34: Nếu có thể giải bày.

Xưa có một chàng trai gửi bài thơ sau đây cho một nàng con gái đã lãnh đạm với mình:

Ieba e ni / iwwaneba mune ni / sawagarete / kokoro hitotsu ni / nageku koro kana /

(Muốn tỏ lòng oán hận / Nhưng chẳng nói nên lời / Vì không thể tỏ bày / Hôm nay tim uất nghẹn)

Dường như anh chẳng còn sợ xấu hổ tí nào khi viết như thế.

Lời bình (34):

So với thời đại chúng ta thì lời thơ trên có vẻ thậm xưng nhưng đây là đặc điểm của các tác giả thời Heian. Có thể thấy phong cách này ở nhiều nơi, cả trong Truyện Genji.

Đoạn 35: Gút thắt bền chặt

Xưa có chàng trai nọ dù lòng không muốn nhưng đã đi đến chỗ tuyệt giao với một người đàn bà.

Tama no o wo / awao ni yorite / musubereba / taete no nochi mo / awamu to zo omou /

( Vì gút thắt bền chặt / Nên ngọc chẳng hề lìa / Lòng dẫu có xa xôi / Cũng có ngày nối lại)

Lời bình (35):

Giống như Đoạn 32, Đoạn 35 này cũng chứa chan tình ý nhưng vén khéo hơn. Bài thơ thấy ở đoạn này viết phỏng theo một bài trong Man.yôshuu (bài 763) của công nương Ki no Iratsume:

Tama no o wo / awao ni yorite / musubereba / arite nochi ni mo / awazarame ya mo /

(Như giải tơ xâu ngọc / Buộc chặt mối tình ta / Cho dù năm tháng qua / Tình nào xa cách nhỉ?)  

Bài này đã được Otomo no Yakamochi – người biên tập và cũng là một nhà thơ lớn trong Man.yôshuu - đáp lại như sau:

Momo tose ni / oijita idete / yoyomu tomo / ware wa itowaji / koi wa masu tomo /

(Đến trăm năm cuộc đời / Răng rụng lưng còng rồi / Thì trong lòng ta vẫn / Yêu người tình chưa vơi)  

Ojitai và yoyomu đều là những chữ trình bày dung nhan và dáng điệu người già, chắc là của cả hai.

Theo H. Jay Harris thì trong bài thơ của bà Ki có dùng chữ musubu (gắn bó) nhưng trong ngôn ngữ của thời Man.yôshuu,nó chỉ có nghĩa là gắn bó tình cảm (emotional love). Đến thời Ise monogatari thì ý nghĩa của động từ này đã trở thành gắn bó xác thịt (sexual liaison).

Đoạn 36: Dây leo lên mỏm núi

Xưa, có chàng trai khi nghe người con gái gửi thư trách móc: “Chàng đã quên mất em rồi sao?”, mới làm một bài thơ:

Tani sebami / mine made haeru / taemu to hito ni / wa ga omowanaku ni /

(Bởi vì hẻm núi hẹp / Dây leo tới đỉnh cao / Không bao giờ đứt đoạn / Khác nào tình anh đâu)  

Lời bình (36):

Người con gái không làm thơ để trách móc người tình một cách gián tiếp. Nàng đã chọn lối trình bày trực tiếp, không loanh quanh.

Trong bài thơ của chàng trai, hình ảnh dây cỏ bò lan hàm ý từ từ nhưng mạnh mẽ. Trên đỉnh núi cao có nhiều gió nhưng vẫn không làm cho giây leo đứt đoạn nghĩa là mối tình có sức mạnh vượt được thử thách.

Đoạn 37: Giải áo bên dưới.

Xưa kia có chàng trai đi lại với một cô gái đa tình. Có lẽ vì thấy tâm hồn nàng dễ thay đổi, chàng mới viết:

Ware nara de / shitahimo toku na / asagao no / yuukage matanu / hana ni wa aritomo /

(Đừng để ai cởi áo / Trừ một mình anh thôi / Biết em, hoa triêu nhan / Đâu đợi đến chiều tối)

Nàng ấy mới đáp lại:

Futari shite / musubishi himo wo / aimiru made wa / tokaji to zo omou /

(Giải áo này ngày xưa / Hai chúng ta cùng thắt / Một mình cởi làm sao / Xin đợi khi gặp mặt )

Lời bình (37):

Hoa triêu nhan (asagao, bìm ban sáng) là loài sớm mở tối tàn. Chàng trai lo rằng nàng ta không đợi nổi đến tối khi chàng đến thăm để cởi giải áo bên dưới (shitahimo). Nàng trấn an chàng là sẽ không đi lại với ai khác ngoài chàng.

“Giải áo bên dưới” hàm ý lòng trung thành trong tình yêu. Thế nhưng thiển nghĩ sự trung thành này cần phải được áp dụng cho cả hai bên chứ không chỉ cho phái nữ thời đó vốn bị động trong ái tình vì chỉ biết chờ đợi những cuộc viếng thăm nhiều khi quá thưa thớt. 

Đoạn 38: Nhà của Ki no Aritsune.

Xưa có người đến thăm nhà Ki no Aritsune nhưng ông đi vắng mãi không về, bèn để lại bài thơ:

Kimi ni yori / Omoi nara inu / yo no naka no / hito wa kore wo ya / koi to iu ramu /

(Chờ ông tôi chợt hiểu / Thế gian lời người ta / Bảo yêu ai chính là / Tình cảm như thế đấy!)

Ông đáp lại:

Narahaneba / yo no hitogoto ni / nani wo kamo / koi to wa iu to / toi shi ware shimo /

(Đến nay vẫn chưa biết / Làm sao định nghĩa yêu / Nay người bảo nhờ ta / Chuyện này nghe sao lạ ! )

Lời bình (38):

Ki no Aritsune là một nhân vật gần gũi với Narihira. Đã xuất hiện ở Đoạn 16 và sẽ xuất hiện ở Đoạn 87.Tuy nhiên, người ta ngờ rằng đây chỉ là hai bài thơ dịch từ Hán thi như từng thấy ở Đoạn 26 và được đem gán cho ông vì thấy bài này quá thiên về lý luận và không có một tứ thơ nào đặc biệt.

Đoạn 39: Lửa đom đóm.

Xưa có một vị thiên hoàng tên là Sai-in Tennô (Tây viện thiên hoàng tức Thiên hoàng Junna, Thuần Hòa). Cô công chúa con gái ông là Takaiko (Sùng tử) mất sớm. Hôm đám tang, có một người con trai sống bên cạnh cung muốn đến xem buổi lễ diễn ra như thế nào nên mới trèo lên trên chiếc xe đàn bà con gái đi đưa tang để có một chỗ ngắm tốt. Anh ta nằm chực trong đó đã lâu nhưng linh cữu chưa ra. Đợi mãi nản quá, anh đã tính chuyện bỏ về. Trong khi các nàng đang than khóc, có một chàng trai khác tên Minamoto no Itaru là kẻ phóng đãng nhất trần đời. Anh ta cũng muốn tham quan buổi lễ, thấy đấy là một chiếc xe chở phụ nữ, bèn tiến đến gần định tán tỉnh. Để trêu ghẹo các nàng, anh ta bắt đom đóm ném vào xe. Sợ ánh sáng đom đóm sẽ làm lộ hình tích của họ, những người đàn bà trong xe bảo nhau dập tắt. Người con trai đi cùng bèn thay lời họ làm một bài thơ như sau:

Idete ina / bakagiri narube / mito moshi ke / chitoshi henuru ka to / naku koe wo kike /

(Nếu linh cữu đưa ra / Sao gặp công chúa nữa / Hãy nghe tiếng thở than / Cho đời nàng đã tắt)

Gã Itaru kia mới họa lại:

Ito aware / naku zo kikoyuru / tomoshi kechi / kiyuru mono tomo / ware wa shirazu na /

(Nghe ai khóc não nuột / Ta cũng chạnh lòng thương / Tuy hồn nàng lịm tắt  / Lửa đóm vẫn soi đường )

Đó là bài thơ của một chàng trai tiếng là phóng đãng bậc nhất dưới gầm trời này nhưng thấy không có gì khởi sắc. Thái độ của anh ta tỏ ra bất kính với đám tang của công chúa.

Lời bình (39):

Thiên hoàng Junna (786-840), con trai Thiên hoàng Kammu, sau khi thoái vị năm 833 về ở Tây viện nên gọi là Tây viện Đế (Sai.in no mikado). Công chúa Takaiko, con gái ông, chết năm 848, lúc mới 19 tuổi. Còn Minamoto no Itaru là con ông Sadamu, một trong số rất đông những người con trai của Thiên hoàng Saga.

Khác với những gì ta có thể tưởng tượng, chàng trai trốn trong xe không có mục đích nào khác hơn là xem đám tang. Còn hình ảnh của Itaru – cứ xem nếp nhà và dòng dõi học thức của ông - Itaru sau là tổ phụ của thi hào và nhà soạn từ điển Minamoto no Shitagô, người mất vào năm 908 – thì cũng chưa hẳn phải xấu xa đến vậy.

Lời thơ bị xem là bất kính có lẽ vì hai chàng tuy tỏ ra xót thương công chúa những lại dùng những chi tiết “tức sự” nói về tình cảnh xảy ra lúc đó như việc trong xe tối om hay việc thảy đom đóm vào.

Đoạn 40: Tình khờ khạo

Xưa có chàng tuổi trẻ đem lòng yêu một người con gái khá xinh xắn đang giúp việc trong nhà mình. E rằng việc chàng yêu thương cô ta sẽ đưa đến khó khăn cho gia đình, cha mẹ chàng chống đối kịch liệt đến độ dọa đuổi nàng ra khỏi nhà. Nói thế chứ chuyện ấy vẫn chưa xảy ra. Anh con trai hãy còn chưa tự lập làm sao ngăn cha mẹ mình phản ứng như vậy. Mặt khác, nàng con gái thân phận tầm thường, không đủ sức đương đầu với ông bà chủ. Thời gian trôi qua, tình cảm giữa đôi trẻ càng thêm thắm thiết. Đùng một cái, cha mẹ anh chàng đuổi nàng đi. Chàng trai khóc đến chảy máu mắt nhưng cha mẹ anh vẫn không rút lại quyết định. Nàng con gái bị một người khác đưa đi đâu mất. Anh con trai tức tưởi viết một vần thơ như sau:

Idete inaba / tare ka wakare no / katakaramu / arishi ni masaru / kefu (kyô) wa kanashi mo /

(Là người bị chia cách / Làm gì chẳng đớn đau / Nay còn buồn gấp bội / Khi nhớ thuở bên nhau)

Rồi ngất xỉu. Cha mẹ không biết xử trí thế nào vì xưa nay vẫn nghĩ mình vì tương lai con trai mà làm như thế, nào dè sự thể đã chuyển qua cách khác. Lúc đó họ mới ăn chay nằm đất, thành tâm xin Thần Phật giúp đỡ. Buổi chiều cậu con bất tỉnh nhưng đến giờ Tuất hôm sau (8 giờ sáng) anh đã hoàn hồn. Bọn trẻ ngày xưa xem trọng tình yêu đến mức đó chứ ngày nay, ngay cả người lớn tuổi, chắc không dám chết vì tình như vậy đâu.

Lời bình (40):

Có người so sánh đoạn này với đoạn nói về cái chết của chàng Kashiwagi trong Truyện Genji. Cũng có thuyết xem nó gần gũi hơn với Chương Wakana-ge (Wakana II, Rau non, phần hạ) liên quan đến việc nàng Murasaki no Ue lâm bệnh cũng trong cùng tác phẩm. Thế nhưng theo H. Jay Harris, có lẽ chúng chỉ giống nhau về phần ngữ vựng chứ không phải là về cấu trúc.

“Wakaki otoko” trong nguyên tác có lẽ phải được hiểu là “một chàng trai trẻ còn thiếu kinh nghiệm yêu đương”.

Đoạn 41: Áo bào màu lục.

Xưa có hai chị em nhà kia. Một người lấy chồng nghèo và chức vị thấp, người kia được gả cho con trai nhà quyền quí. Người con gái có chồng nghèo đến ngày cuối năm, đem áo bào (lễ phục) của chồng mình ra giặt và hồ bằng tay, tuy đã cố gắng hết sức nhưng vốn là một cô tiểu thư không quen việc cho nên áo ấy bị rách hỏng. Không biết làm sao chỉ biết ngồi đó rấm rứt khóc.

Người rễ thứ hai sinh trong nhà quyền quí nghe chuyện đó thấy tội nghiệp bèn đem một tấm áo bào mới màu lục (cho hàng lục phẩm mặc) mà tặng cho nàng. Lại kèm theo một bài thơ vịnh rằng:

Murasaki no / iro koki toki wa / me mo haru ni / no naru kusagi zo / wakare zari keri /

(Khi “hoa tím” sẩm màu / Nhìn cánh đồng từ xa / Cỏ cây cùng một sắc / Nào thấy khác chi nhau)

Có lẽ đây cũng là một bài thơ loại nói về cánh đồng Musashi (Musashino) .

Lời bình (41):

Murasaki (tên khoa học: Lithospermum erythrorhizon) là một loài hoa trắng nhỏ nhưng có rễ tím, dùng để nhuộm và làm thuốc giải độc hay chữa bệnh ngoài da. Chứ bảo là loài hoa cánh màu tím nào khác thì trong văn chương Nhật, chỉ có thể là hoa tử đằng (fuji, wisteria). Ở đây, chàng trai cho biết là mình vì thương vợ nên không hề phân biệt sang hèn với gia đình của người chị em vợ, kể cả ông anh em cột chèo.

H. Jay Harris cho biết thêm rằng ngày trừ tịch có buổi chầu trong cung và các quan phải ăn mặt tươm tất. Áo xống cần giặt sạch sẽ và hồ cho cứng. Chiếc áo màu lục mới tinh mà nhà quyền quí đem tặng  người anh em vợ kia là áo dành cho quan lục phẩm, hàng thấp nhất được vào chầu.

G. Renondeau cho biết trong Kokinshuu (Cổ Kim Tập, quyển 17) cũng có một bài thơ tương tự:

Murasaki no / Hitomoto yue ni / Musashino no / Kusa wa minagara / Aware to zo miru /

Bài thơ trên ý nói nhân vì thấy có một đóa hoa murasaki đáng yêu nằm trong đó thôi mà tất cả hoa cỏ trên cánh đồng Musashino đều trở nên đáng yêu cả. Cánh đồng Musashino là nơi mọc nhiều giống hoa murasaki này.

Cũng có thể hiểu thêm là nếu nhìn một cánh đồng từ xa thì người ta không làm sao phân biệt được phẩm chất, màu sắc của từng loài hoa.

Tuy nhiên câu chót trong đoạn văn có lẽ do người đời sau đưa vào như một lời bình luận chứ không phải đã có sẵn từ đầu.

Đoạn 42: Mới bước chân ra.

Xưa có chàng trai năng đi lại với một nàng con gái dù biết tính nàng lẳng lơ. Chàng không đặc biệt oán hận gì nàng về điều đó. Có chăng là dù thường xuyên lui tới nhà nàng mà chàng vẫn không an tâm, thế nhưng nếu không tìm đến nữa thì lòng lại không ổn. Khó chịu đựng sự xa cách hơn nữa nên có lần bận bịu, phải vắng mặt hai, ba hôm, chàng đã gửi đến nàng một bài thơ:

Idete koshi / ato dani imada / kawaraji wo / ta ga kayoi ji to / ima wa naru ramu / 

(Dấu chân anh bước ra / Hãy còn nguyên đấy chứ ? / Hay con đường nhà em / In bàn chân ai khác?)

Qua bài thơ, chàng ta bày tỏ lòng ghen tuông của mình.

Lời bình (42):

Cũng như nhân vật nữ trong đoạn 25, người con gái đa tình ở đây giao du một lượt với nhiều người đàn ông. Sở dĩ chàng trai rứt đi không đành có lẽ vì nàng là một tay thiện nghệ trong chốn phòng khuê. Còn phần chàng thì việc có khi phải “bận bịu hai ba ngày” cũng có thể hiểu là còn đi lại với một người đàn bà khác chăng?

Đoạn 43: Tiếng cuốc kêu

Xưa có một hoàng thân (miko) tên là Kaya. Vị hoàng thân này khi sủng ái đàn bà, thường ban thưởng nhiều ân huệ. Trong số đó có một nàng như thế và cô ta lại đang được người đàn ông khác ve vãn. Một chàng trai thứ thứ ba nghĩ nàng chỉ có mình là người duy nhất yêu nàng nhưng sau nghe lời thiên hạ đồn đãi, mới vẽ hình chim cuốc gửi cho nàng kèm theo một bài thơ:

Hototogisu / Na ga naku sato no / amatareba / nao utomarenu / omou mono kara /

(Hỡi này con chim cuốc / Vì mi hót khắp làng / Nên kẻ có lòng yêu / Không còn nghe tiếng hót )

Muốn làm cho anh ta bớt giận, người đàn bà ấy mới đáp:

Na nomi tatsu / shide no taosa wa / kesa zo naku / iori amata to / utomarenureba)

(Chàng tin chi chuyện hão / Sáng nay chim phải buồn / Giục gieo mạ khắp đồng / Cho nên chim bị ghét )

Bởi vì lúc đó đúng vào vụ gieo mạ tháng 5 âm lịch. Người con trai mới viết thêm một bài thơ khác như sau:

Iori ôki / shide no taosa wa / nao tanomu / wa ga sumu sato ni / koe shi taezu wa /

(Biết rằng chim cuốc kia / Vốn có nhiều chỗ đậu / Chỉ mong mỗi làng anh / Được nghe hoài tiếng hót)

Lời bình (43):

Kaya no Miko (mất vào năm 871) là người con thứ 7 của Thiên hoàng Kammu (Hoàn Vũ). Trong câu chuyện bên trên, không thấy ông đóng vai trò nào, trừ việc người con gái làm việc trong phủ đệ ông. Chàng con trai thứ ba cho rằng nàng tuy đi lại với nhiều người nhưng lại tỏ ra thờ ơ với chàng nên mới có lời trách móc.

Chim cuốc (Cuculus poliocephalus) ngoài cái tên thông thường là hototogisu còn được gọi là shide no taosa (ông lý trưởng của ngôi làng người chết) theo cách hiểu của người đời xưa cho rằng giống chim này như sứ giả đi lại giữa cõi sống và cõi chết (giống như các điển tích thường thấy ở Trung Quốc và Việt Nam) Nó còn được xem như con chim giục giã người nông dân gieo mạ vì thường xuất hiện vào đầu vụ mùa tức tháng 5 âm lịch.

Vì để cho bản dịch được nhẹ, từ hoa shide no taosa không được dịch ra.

Đoạn 44: Hết rủi ro.

Xưa có người tổ chức buổi lễ tiễn hành cho một người quen đi làm quan ở địa phương. Bởi vì họ khá thân nên vợ chủ nhân mới ra chuốc rượu người bạn và tặng một chiếc váy đàn bà (= mo). Nhân đó, chủ nhân mới làm một bài thơ và nhờ vợ mình đính kèm món quà:

Idete yuku / kimi ga tame ni to / nugitsureba / ware sae mo naku/ na rinu beki kana /

(Giờ anh bước đi xa / Cởi váy đem tặng cho / Chắc rồi mọi vận rủi / Cũng không còn nơi ta)

Vì trong những bài thơ hôm đó, bài này có ý nghĩa thâm thúy nên anh ta không đem ra đọc mà để người đó tự hiểu.

Lời bình (44):

Đây là cảnh tượng một bữa tiệc tiễn đưa ngày xưa (hananuke). Việc tặng cái váy hơi khó hiểu. G. Renondeau giải thích là món quà của đàn bà (vợ chủ nhân) tặng cho đàn bà (vợ của người ra đi) nhưng H. Jay Harris cho là món quà này chỉ dành cho anh đàn ông, người ấy sẽ dùng để khoác lên lưng che bụi đường khỏi dây vào áo bào (lễ phục) khi ở trên mình ngựa. Chữ mo (váy) còn có thể hiểu như mo (tang tóc, vận rủi). Thế nhưng nếu chỉ thế thôi thì sao gọi bài thơ này là rất thâm thúy cho được? Hẵn còn có một ý nghĩa gì khác!

Đoạn 45: Đom đóm trên mây

Xưa có một chàng trai. Cô con gái nhà kia vốn được cha mẹ nuôi nấng kỹ lưỡng, rất yêu anh ta nhưng không biết làm sao bày tỏ lòng mình. Vì tương tư, cô lâm bệnh. Khi gần chết mới nói thật với bố mẹ là: “Con yêu anh ấy!”. Bố mẹ cô bèn khóc lóc đến báo tin, anh tất tả tới nơi nhưng không kịp nữa. Cô gái đã chết.

Từ đó chàng trai buồn bã, không còn thiết tha với công việc nữa. Một đêm vào cuối tháng 6, trời nóng, anh chơi nhạc để giải buồn. Khi đêm đã khuya, nhân có ngọn gió mát thổi đến, mới làm hai bài thơ:

Yuku hotaru / kumo no ue made / inu beku wa / aki kaze fuku to / kari ni tsugekose /

(Đom đóm đang bay ơi / Nếu lên tận bầu trời / Xin nhắn giùm đàn nhạn / Hơi thu đã dậy rồi)

Kuregataki /natsu no higurashi / nagamureba / sono koto to naku / mono zo kanashiki /

(Ôi từ sáng đến tối / Ta ngồi thừ nơi đây / Trời hạ ngày không tắt / Vô cớ, nỗi buồn dài )

Lời bình (45):

Đây là một thảm cảnh thường thấy vào thời Heian. Người con gái vì nếp nhà gia giáo nên yêu câm nín, không dám bày tỏ lòng mình đến nỗi ốm chết. Còn người con trai - cũng có thể đã tìm thấy nơi mình một tình yêu thức dậy muộn màng trong lòng - nên đã lâm vào cảnh u uất. Có lẽ đêm hôm đó chàng tấu nhạc để chiêu hồn nàng và tạm sống xa cách đám đông trong khoảng thời gian tang tóc như tục lệ đương thời với mục đích tẩy uế cái huông của sự chết dù chàng chưa có ràng buộc xã hội nào đối với nàng.

Đoạn 46: Dù xa mặt.

Xưa có chàng trai chơi thân với một anh bạn, họ lúc nào cũng ở bên nhau thế nhưng người bạn ấy phải đi xa và sống ở một vùng khác. Họ hết sức tiếc nuối lúc chia tay.

Ngày tháng trôi qua, một hôm chàng trai nhận được thư người bạn ấy viết: “ Chuyện bạn và tôi phải rời nhau quả là không ngờ. Sau bao năm tháng, không biết bạn còn nhớ tôi không? Nghĩ đến đó, tôi cảm thấy lòng cay đắng. Thế gian vẫn có câu “xa mặt cách lòng” mà”. Xem thư, chàng trai mới đáp lại bằng một bài thơ:

Me karu to mo / omôenaku ni / wasuraruru /toki shinakereba / omokage ni tatsu /

(Có bao giờ tôi nghĩ / Mình đã hết gặp nhau / Bóng bạn còn hiện rơ / Trước mặt có xa đâu)

Lời bình (46):

Tuy không rõ về tên tuổi và công việc của người bạn ấy nhưng có thể tạm hiểu ông ta là người được bổ nhiệm đi làm quan xa. Thời xưa, ra khỏi kinh đô xem như bị đi đày, ít còn cơ hội gặp nhau. Ngoài ra, theo thiển ý, bài thơ này không có gì đặc biệt ngoài việc nói lên sự khắng khít trong tình bạn.

Đoạn 47: Chùm giấy thiêng.

Xưa có một chàng trai khao khát muốn đi lại với nàng con gái. Thế nhưng cô ta nghe đồn chàng là hạng trăng hoa (uwaki) nên dần dần lãnh đạm và gửi cho một bài thơ như sau:

Ônusa no / hiku ta amata ni / nari nureba / omôedo koso / tanomazari kere /

(Anh quơ chùm giấy thiêng / Qua lại bao nhiêu đám / Tuy có lòng tìm đến / Em chẳng thể nào tin )

Người con trai mới đáp lại:

Ônusa to na / ni koso tatere / nagarete mo / tsui ni yoru se wa / ari to iu mono wo /

Người bảo “chùm giấy thiêng” / Biết trôi giạt về đâu / Nhưng giấy ấy mai sau / Rồi sẽ về một bến)

Lời bình (47):

Để hiểu đoạn này, cần kiến thức về nghi lễ Thần đạo. Chùm giấy thiêng (Ônusa) là một nhánh cây sakaki dài (Cleyere ochnacea, loại cây có lá màu xanh lục) hoặc một cây gậy dài cỡ 1 m, trên có kết tụi vải hay tụi giấy màu trắng, hình thù được xén giống như lá cây. Các thần quan dùng nó làm nghi thức tẩy uế (harai-gushi) nghĩa là phất qua phất lại trên thân người để hút tà khí, chuyển nó qua nhánh cây và tụi giấy, tụi vải. Xong việc họ sẽ vứt xuống nước cho nó trôi ra sông, ra biển.

Chàng con trai bị buộc tội là hay nhìn dọc nhìn ngang. Chàng đã tự thú rằng mình tuy không cưỡng nỗi sóng lòng mà đi lang chạ nhưng sẽ xem nàng là người yêu cuối cùng. Rõ khéo nói!

Đoạn 48: Bây giờ mới hiểu

Xưa có một chàng trai mở buổi tiệc tiễn hành cho một người bạn phải đi xa nhưng đợi mãi vẫn không thấy người ấy tới. (Mới có thơ):

Ima zo shiru / kurushiki mono to / hito matamu / sato wo ba karezu / tou bekari keri / 

(Bây giờ mới hiểu cảnh / Khổ sở khi đợi ai / Từ nay sẽ không quên / Tìm đến người mình hẹn )

Lời bình (48):

“Người bạn đợi hoài không đến” có lẽ chỉ là nhân vật tưởng tượng mà chàng trai tạo ra để có cớ mà làm bài thơ đặc biệt này.

Sự phản tỉnh của chàng có phải nhắm đối tượng là những người đàn bà trong quá khứ từng vò võ đợi chờ vì chàng hẹn mà không đến (như cách hiểu của G. Renondeau) hay nó chỉ nhắm người đàn bà chàng vừa mới đi lại đây thôi nên chưa dám để nàng phải đợi lâu (như cách hiểu của H. Jay Harris) ?

Đoạn 49: Cỏ mơn mởn.

Xưa có một chàng trai khi nhìn thấy dáng dấp quá dễ thương của cô em gái mình, mới viết:

Ura wakami / neyo ge ni miyuru / wakakusa wo / hito no musubamu / koto wo shi zo omou /

(Dễ thương như cỏ non / Muốn quấn quít em ngủ / Lòng anh những lo lắng / Nhỡ em theo chàng nào)  

Cô bé mới đáp lại:

Hatsukusa no / nado medzurashiki / koto no ha zo / ura naku mono wo / omoi keru kana /

(Như cỏ non mơn mởn / Sao vội nghĩ lạ lùng / Em vẫn hồn nhiên xem / Anh, người anh trai vậy)

Lời bình (49):

Độc giả có thể suy luận rằng đây là một mối tình loạn luân bất chính. Thực ra trong xã hội Nhật cổ xưa, đàn ông có nhiều vợ và con cái được nuôi ở nhà riêng của các bà mẹ. Họ ít khi gặp nhau nên giống như người dưng. Tuy không là một trường hợp chung cho tất cả nhưng tục lệ Nhật (thời đó) khá lỏng lẻo để ngăn cấm anh em ruột thịt (cùng cha nhưng khác mẹ) kết hôn với nhau.

Trong đoạn văn này, câu trả lời của cô gái chưa hẳn là một lời cự tuyệt hoàn toàn. Nó chỉ có nghĩa là “để khi lớn hơn nữa rồi tính sau” tuy rằng khả năng nàng đang đi lại với một chàng trai khác không phải là không có.

Chữ dùng chung cho toàn bài là wakakusa (cỏ non, xem lại đoạn 12), một chữ gối đầu (makura-kotoba), cũng giống như động từ musubu (thắt, kết, đoạn 35).

Đoạn 50: Trách qua trách lại.

Xưa có một chàng trai hận một người con gái bạc tình và nàng cũng hận chàng như vậy. Chàng mới vịnh:

Tori no ko wo / tô wo dzutsu tô wo wa / kasane tomo / omowanu hito wo / omou mono ka wa /

(Dù không tài chồng trứng / Chục này lên chục kia / Nhưng làm sao yêu được / Kẻ hờ hững bao giờ!)

Nàng ấy đáp:

Asa tsuyu wa / kie nokorite mo / arinubeshi / tare ka kono yo wo / tanomi wa tsubeki /

(Sương tan, còn lưu giọt / Chứ anh lưu gì đâu! / Trông cậy làm sao được / Những kẻ đổi lòng mau )

Chàng trai lại viết tiếp:

Fuku kaze ni / kozo no sakura wa / chirazu tomo / ana tanomigata / hito no kokoro wa /

(Dù gió không thổi bay / Hết anh đào năm ngoái / Nhưng riêng trong lòng này / Niềm tin tan tác mãi)

Một lần nữa, nàng trả lời:

Yuku mizu ni / kazu kaku yori mo / hakanaki wa / omowwanu hito wo / omou nari keri /

(Khó còn hơn viết chữ / Lên trên dòng nước trôi / Ai lại đem lòng yêu / Người ghét mình cho được)

Người con trai lại đáp:

Yuku mizu to / suguru yowa hito / chiru hana to / idzure matetefu / koto wo hiraku ramu / 

(Bảo nước trôi, hoa rụng / Hay tuổi trẻ, hãy chờ! / Thì ai mà nghe được / Trách chi lòng đổi thay)

Hai người này trách nhau là lừa dối, ghét bỏ mình nhưng qua lời thơ, ta thấy rằng họ dấu diếm người đời việc cả hai vẫn âm thầm liên hệ.

Lời bình (50):

Trách cứ, nhấm nhẳng như trên chỉ là để cho tình yêu thêm phần thi vị chứ thực ra, ta thấy hai nhân vật này hãy còn quyến luyến nhau. Người này chưa có thể phớt lờ hành động hay thái độ của người kia. Đặc biệt ngôn từ của người con gái rất bạo dạn làm ta liên tưởng tới lối hành văn của nữ sĩ Sei Shônagon (không rơ năm sinh năm mất) thời Heian trong Makura no Sôshi Chẩm Thảo Tử, khoảng sau năm 1000).

Cách ví von (trò chơi sắp từng chục trứng lên nhau, sương rơi, viết chữ lên mặt nước vv...) dĩ nhiên chịu ảnh hưởng điển cố văn học Trung Quốc. Riêng trong bài thơ cuối, có thể nhìn thấy tư tưởng Phật giáo. Ngoài ra, ta nhận ra rằng tình cảm vô thường (mujôkan) lúc đứng trước mọi vật trên đời đã ảnh hưởng đến tâm hồn người Nhật đời Heian.

(Còn tiếp)

 

Thư mục tham khảo:

1)    Ishida Jôji dịch chú. Ise Monogatari, Kadokawa Bunko 466,

Kadokawa Shoten xuất bản, Tokyo, 1979. Bản in lần thứ 19 (1992).

2)    Tanabe Seiko, Taketori Monogatari, Ise Monogatari (Gendaigo yaku). Iwanami Gendai Bunko 980, 2014.

3)     Haris, H.J., The Tales of Ise, Tuttle Publishing Co, Tokyo, 1972.

4)    Renondeau, G., Contes d’Ise, Gallimard / Unesco, Paris, 1969.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com