Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

 Quyển Thượng : Từ Thượng Cổ đến Cận Đại

Búp bê sân khấu Bunraku (ảnh bưu thiếp của Iwajima Takeji, NBC Japan)

 

Chương 12 :

Sân khấu Jôruri, Kabuki và văn học.

Vai tṛ chủ đạo của Chikamatsu Monzaemon, Shakespeare Nhật Bản

 Nguyễn Nam Trân

TIẾT I: SÂN KHẤU JÔRURI:

Cuối đời Muromachi (1333-1573), Jôruri monogatari[1] (Tĩnh Lưu Ly vật ngữ), truyện thuật lại mối t́nh của Ushiwakamaru (Ngưu Nhược Hoàn, tên chàng Minamoto no Yoshitsune tức Nguyên, Nghĩa Kinh thời trẻ) và nàng tiểu thư Jôruri-hime (Tĩnh Lưu Ly Cơ), đă được các thầy tăng mù vừa đánh đàn tỳ bà hay lấy quạt làm phách đệm theo đi kể dạo với thanh điệu trầm bổng du dương. Sau đó tất cả những truyện kể với thanh điệu như thế được gọi một cách tổng quát là jôruri (tĩnh lưu ly). Ngày nay, jôruri được biết qua cái tên bunraku hay ningyô jôruri (nhân h́nh tĩnh lưu ly), nôm na là sân khấu búp bê. Sân khấu này có ảnh hưởng lớn đến văn học v́ nó là động cơ để sinh sôi ra các tác phẩm tiểu thuyết lăng mạn mới, phổ biến rộng răi nhờ sự phát triển của nghề in. 

A)    Sân khấu Jôruri lối cổ:

Các truyện mang tên jôruri sau đó đă kết hợp với loại đàn ba giây tên là samisen (tam vị huyền), nhạc khí truyền từ Trung Quốc bằng đường phía Nam tức qua quần đảo Ryuukyuu (Lưu Cầu), và tṛ múa rối các h́nh nhân gọi là ningyô ayatsuri (điều khiển con rối) để tạo thành cơ sở sân khấu Jôruri, xuất hiện lần đầu tiên vào thời cận đại.

Tṛ điều khiển con rối thật ra đă có tự thời Heian (794-1185) với những thầy múa rối tên gọi kugutsu-shi (khối lỗi sư) du hành khắp nước tŕnh diễn kiếm ăn. Lúc đầu, con rối chỉ làm được vài động tác cơ bản nhưng càng ngày càng tinh xảo và tŕnh bày được cả những động tác phức tạp. Đến thời Edo, nó đă đạt đến tŕnh độ cao, sẵn sàng để kết hợp với văn thơ và âm nhạc để tạo nên h́nh thức văn nghệ mới.

Thường thường người ta dùng thời điểm ra đời của lối kể truyện (tiết = bushi) tên gọi Gidayuubushi (Nghĩa Thái Phu tiết) hay “khúc hát theo kiểu ông Gidayuu”, làm cái mốc phân định jôruri lối cổ và jôruri lối mới. Jôruri cổ lại c̣n có nhiều phân nhánh. Tính chất địa phương mỗi vùng cũng có thể ảnh hưởng lên h́nh thức diễn xuất của nó. Ví dụ ở vùng Edo, loại kể truyện với thanh điệu hùng tráng gọi là Kinpirabushi[2] (Kim B́nh tiết) rất phổ biến trong khi ở vùng kinh đô Kyôto th́ lối kể thanh nhă mỹ lệ tên gọi Kadayuubushi (Gia Thái Phu tiết) do Ujika Ga no Jô (Vũ Trị Gia, Hạ Duyện, 1635-1711) đặt ra lại được yêu chuộng hơn.    

B)    Gidayuubushi (Nghĩa Thái Phu tiết):

Đệ tử phái Ujika Ga no Jo là Takemoto Gidayuu (Trúc Bản, Nghĩa Thái Phu, 1651-1714) mở rạp tên gọi Takemoto-za ở phía tây bờ hào Dôtonbori, trung tâm thành phố Ôsaka vào năm Jôkyô nguyên niên (Trinh Hưởng, 1684) và mời nhà soạn tuồng Chikamatsu Monzaemon đến trợ giúp, đă gây được tiếng vang lớn. H́nh thức tuồng hát của Gidayuu khống chế toàn thể nghề diễn jôruri đương thời.

Gidayuu không phải chỉ biết kinh doanh. Ông là một người kể truyện (tayuu = thái phu) tức là nhân vật chính đạo diễn lớp lang của vở tuồng. Trước đó, jôruri chỉ được tŕnh diễn ở những rạp nhỏ gọi là koya (tiểu ốc). Khi Gidayuu trở thành một tên tuổi lớn với nghệ thuật xướng thanh kể truyện độc đáo của ḿnh th́ “lối kể truyện của Gidayuu” (Gidayuu-bushi) đă trở thành một mực thước cho những người sau noi theo.

Takemoto từng học hỏi kinh nghiệm ở các koya dưới sự d́u dắt của các đàn anh và khi thấy đă đủ lực lượng, ông đă mở rạp riêng với sự giúp sức của một nhân vật kiệt xuất: Chikamatsu Monzaemon.

C)    Chikamatsu Monzaemon (Cận Tùng, Môn Tả Vệ Môn): 

Chikamatsu Monzaemon

Chikamatsu Monzaemon (1653-1724), soạn giả đặc trách tuồng tích cho rạp Takemoto, tên thật là Sugimori Nobumori (Sam Sâm, Tín Thịnh), c̣n có hiệu là Sôrinshi (Sào Lâm Tử). Ông xuất thân con nhà vũ sĩ xứ Echizen (nay thuộc tỉnh Fukui) nhưng từ đời bố đă mất chủ, sống đời trôi dạt (rônin) ở Kyôto. Vở tuồng đầu tay của ông được biết tới là Họ Soga nối dơi (Yotsugi Sôga, Thế kế Tô Ngă). Ông soạn được tất cả trên 70 vở tuồng Jôruri theo lối kịch lịch sử và 24 biên lối hiện thực xă hội đương thời. Ngoài ra, ông c̣n viết cả kịch bản kabuki nữa[3]. Nhà văn Tsubouchi Shôyô (1859-1935), người dịch Shakespeare ra Nhật ngữ, xem Chikamatsu như “Shakespeare Nhật Bản” và so sánh ông với Murasaki Shikibu, tác giả Truyện Genji, đánh giá hai người là hai cây bút giá trị nhất trong lịch sử văn học Nhật.

Năm 1686, sau khi tham gia rạp Takemoto, ông viết tuồng Shussei Kagekiyo (Xuất thế Cảnh Thanh). ” Xuất thế ”[4] muốn nói vở tuồng mới viết để chúc mừng rạp hát làm ăn phát đạt. C̣n “ Cảnh Thanh ” không ai khác hơn là Kagekiyo, một vũ sĩ thuộc tàn đảng nhà Taira. Sau khi thua trận, chàng t́m kế giết Minamoto no Yoritomo để phục thù cho cố chủ, rốt cục bị bắt. V́ Đức Quan Thế Âm Bồ Tát hiện xuống chịu nạn thay chàng nên ngay Yoritomo cũng chẳng dám xử phạt. Sau v́ không muốn nh́n mặt kẻ thù, chàng bèn tự móc đi đôi mắt cho mù.

Từ sau tuồng đó, Chikamatsu đă góp phần không nhỏ trong việc biến múa rối jôruri (gọi là ko-jôruri hay jôruri kiểu cổ ) thành một h́nh thức mới hoàn toàn mang tính chất kịch nghệ. Thật ra, cho đến thời của Chikamatsu, vai tṛ của soạn giả không đáng kể, anh ta chỉ là hàng phụ thuộc bên cạnh tayuu tức người kể truyện và đạo diễn. Chính Chikamatsu đă đưa vai tṛ của người soạn tuồng đến địa vị xứng đáng của nó[5].

Như đă tŕnh bày, trong tác phẩm của Chikamatsu có hai loại : tuồng lịch sử và tuồng xă hội. Tuồng dă sử (jidaimono) dựa vào lịch sử, ngoài Shussei Kagekiyo c̣n có Kokusenya Gassen (Quốc Tính Gia hợp chiến), vở tuồng diễn lần đầu tiên năm 1715. Tuồng kể sự tích chàng Watônai (Ḥa Đằng Nội), cha là di thần triều Minh, mẹ người Nhật. Mang hai ḍng máu, Watônai (tức là Kokusenya[6], Tây Phương gọi là Coxinga) quay lại Trung Quốc t́m cách khôi phục đất nước khỏi tay người da trắng. Đó là một vở tuồng Nhật lấy bối cảnh ngoại quốc, một kiệt tác với nhiều t́nh tiết ly kỳ rất ăn khách, đă được diễn suốt 17 tháng ṛng.

Yotsugi Sôga (Thế kế Tô Ngă) nói trên dựa trên tác phẩm cổ điển Truyện anh em Sôga (Soga monogatari) nói về cuộc tầm thù rửa hận của anh em nhà Sôga (Tô Ngă) cũng là một thành công lớn để giương cờ cho rạp Takemoto lúc ấy mới vừa mở. Vở “ Đảo Heike Cấm Đàn Ông” Heike Nyogogashima (B́nh Gia nữ hộ đảo) kể truyện một nhân vật quí tộc tên gọi Shunkan (Tuấn Khoan), âm mưu lật đổ quyền thần Taira no Kiyomori bất thành bị bắt đày ra ngoài đảo và hóa thành người rừng rồi chết ở đó, cũng là một tuồng lấy cảm hứng từ đề tài trong Truyện Heike. Bắt đầu từ Yotsugi Sôga, Chikamatsu đă viết cả thảy 9 vở tuồng thuộc loại soga-mono có tính cách huyền bí linh thiêng mà cảm hứng vốn đến từ các tuồng jôruri cổ hoặc từ các tác phẩm cổ điển như Truyện GenjiTruyện Ise. Thời gian này cũng là lúc đă thấy xuất hiện những nhân vật hài trong các vở tuồng lịch sử với nội dung quá căng thẳng, với mục đích làm thư giản đầu óc người xem. Điều đó cho thấy có sự tiếp thu ảnh hưởng của Kyôgen mà các vai hài thường xuất hiện trong những màn xen kẻ trong một buổi tŕnh diễn kéo dài đến 5 màn với những chủ đề quá thần bí và nghiêm trang.

Loại tuồng xă hội (sewamono) bắt nguồn từ tin thời sự, với những chi tiết người thực việc thực, nhất là truyện trai gái cùng nhau quyên sinh v́ t́nh mà người ta cho là hành động của t́nh yêu tuyệt đỉnh. Từ năm Genroku 15 (Nguyên Lộc, 1703), sau khi vở Sonezaki shinjuu[7] (Tăng Căn Kỳ tâm trung) có nghĩa là “ Vụ quyên sinh v́ t́nh ở Sonezaki ” của Chikamatsu được tŕnh diễn, ông đă viết thêm Meido no hikyaku (Minh đồ phi cước) tức “ Kẻ giao hàng của cơi u minh ”, Shinjuu Ten.no.amijima (Tâm trung Thiên vơng đảo) hay “ Vụ quyên sinh v́ t́nh ở đảo Ten no Amijima ”, Onna goroshi no abura no jigoku (Nữ Sát Du Địa Ngục) tức “ Địa ngục của gă bán dầu sát nhân ” vv...Sonezaki Shinjuu tŕnh diễn lần đầu năm 1703, thuật chuyện anh người làm trong tiệm bán nước tương tên là Tokubê (Đức Binh Vệ) và cô gái làng chơi O-hatsu (Sơ) bị dồn vào bước đường cùng, để giữ tṛn đạo lư nên vào rừng tùng gần mũi đất Sonezaki cùng nhau quyên sinh. Meido no hikyaku (1711) kể về cuộc đời anh chàng Chuubê (Trung Binh Vệ) làm công ở một tiệm chuyên môn giao hàng (như bưu điện bây giờ), v́ mắc tội mới định đi tự tử với cô gái làng chơi ở Shinmachi (Xóm Mới) tên Umekawa nhưng về đến thôn Ninokuchi gần quê nhà th́ bị bắt. Shinjuu Ten.no.Amijima nói về anh chàng hàng giấy Jihê (Trị Binh Vệ) sau những vụ lộn xộn giữa vợ nhà là nàng O-san và cô gái làng chơi Koharu, đă cùng Koharu tự sát. Onnagoroshi abura no jigoku (1721) lấy chủ đề cậu du đăng Yohê (Dữ Binh Vệ) con ông chủ tiệm dầu Kawachi v́ túng tiền, đi giết bà chủ hiệu Teshima, một phụ nữ tốt bụng, hay giúp đỡ xóm giềng. Đó là một kiệt tác Chikamatsu viết lúc về già, miêu tả hành động phi lư của kẻ sát nhân.

Đời sáng tác của Chikamatsu Monzaemon (1653-1724)

Xuất xứ: Siguma Shin Kokugo Binran, Tôkyô, 2002.

- 1653 (1 tuổi): Ra đời ở Echizen (tỉnh Fukui).

- 1667 (15 tuổi) : Cả nhà theo bố trôi dạt lên kinh đô.

- 1678  (26 tuổi) : Diễn tuồng Kabuki “ Yugiri nagori no shôgatsu ”.

- 1683 (31 tuổi) : Soạn “ Yotsugi Soga ”. 

- 1684 (32 tuổi) : Ông bầu Takemoto Gidayu mở rạp Takamoto-za.

- 1686 (34 tuổi) : Diễn “ Shussei Kagekiyo ”

- 1703 (51 tuổi): Diễn tuồng “Sonezaki shinjuu

-1705 (53 tuổi): Trở thành soạn giả đặc trách của rạp Takemoto.

- 1711 (59 tuổi): Diễn “Meido no hikyaku”.

- 1715 (63 tuổi”: Diễn “Kokusenya Gassen”. Vở nầy rất ăn khách.

- 1720 (68 tuổi): Diễn “Shinjuu Ten.no.Amijima”.

- 1721 (69 tuổi): Diễn “Onnnakoroshi abura jigoku ”.

- 1722 (70 tuổi): Diễn “Shinjuu Yoigôshin”.

- 1724 (72 tuổi): Diễn “Kanhasshuu Tsunagi-uma”. Mất ngày 22 tháng 11 cùng năm.

Sau đây xin triển khai nội dung vở tuồng Sonezaki shinjuu “ Vụ quyên sinh v́ t́nh ở Sonezaki ” (1703): 

1-     Màn trước cổng đền Ikudama :

Ngày mồng sáu tháng tư, cô gái làng chơi tên O-Hatsu ở hàng lầu xanh Tenmanya, sau khi cùng với một người khách nhà quê đi thăm 33 chỗ thờ Phật Quan Âm ở Ôsaka, trên đường về mới ngồi nghĩ chân ở quán nước chè trước cửa đền Ikudama.Lúc đó, một người khách quen của O-Hatsu là Tokubê, làm chân quản lư cho một tiệm bán nước tương chợt đi qua.Lâu ngày không gặp, nàng ta mới vẫy lại nói chuyện, hỏi tại sao vắng tin. Anh ta mới cho biết : Ông chủ của anh, thực sự là ông chú, thương anh làm ăn chăm chỉ hết ḷng, có ư cưới cho anh cô cháu gái của bà chủ là người có của hồi môn, để kế nghiệp nhà buôn bán. Anh nay đă có em rồi nên không thể đổi ḷng nhưng bà mẹ kế dưới quê đă nhận tiền nên chuyện không gỡ ra được nữa. Anh định đến mai, mồng bảy tháng tư, là hạn cuối sẽ đem tiền trả ông chủ rồi xin thôi, bỏ Ôsaka ra đi. Và như thế ḿnh sẽ không c̣n gặp nhau nữa. Biết thế nào đây ! Nói xong sụt sịt khóc làm O-hatsu cũng khóc theo. Cô ta bảo nếu không ở Ôsaka được nữa th́ đi qua thế giới bên kia cho xong và khuyên anh nên đem tiền trả gấp cho ông chú.

Thế nhưng Tokubê cho biết món tiền định đem trả th́ cuối tháng trước anh lỡ đem cho người bạn tên Kuubêji mượn mất, mà chưa đi đ̣i lại được. Nội đêm nay anh phải đi lấy để trả chú cho đúng hẹn.

Lúc đó Kuubêji cùng với lũ bạn ở đâu say khướt đi ngang.Tokubê hoảng hốt nắm tay hắn đ̣i tiền nhưng Kubêji nuốt lời, nói ḿnh không nhớ đă mượn tiền bao giờ. Khi Tokubê ch́a giấy tờ th́ hắn bảo con dấu đóng trên văn tự là con dấu hắn đă khai bị đánh mất nên nếu Tokubê tŕnh văn tự nầy ra sẽ c̣n mang tội trộm dấu người khác để làm giấy tờ giả mạo. Tóm lại, Tokubê đă bị bạn lừa.Bây giờ gây gỗ th́ lại thế cô, không làm ǵ được. Tokubê uất ức, không biết làm thế nào để giăi bày.

2-Màn ở Tenmanya :

O-hatsu về lại nhà chứa, thuật chuyện cho mấy chị em, nhưng họ chỉ thở dài, không biết giúp hai người thế nào. Lúc đó Tokubê lén t́m tới, O-hatsu dấu Tokubê trong nhà. Bọn Kuubêji cũng ồn ào ghé đến, nói xấu Tokubê. Trong chỗ nấp, Tokubê giận run nhưng O-hatsu gh́m anh ta lại được.O-hatsu lớn tiếng mắng Kuubêji và thanh minh cho Tokubê.

O-hatsu biết Tokubê có ư quyên sinh và muốn cùng được chết với anh ta. Hai người bày tỏ nỗi ḷng và khóc thầm với nhau. Sau khi bọn Kuubêji bỏ về, vợ chồng chủ nhà chứa Tenmanya bảo mọi người coi chừng củi lửa và đừng để mèo tha mất cá rồi đi ngủ nhưng trong ḷng, O-hatsu đă âm thầm quyết chí ra đi.Khi bọn tớ gái đă ngủ say, O-hatsu mặc bộ đồ màu trắng, cùng Tokubê cầm đèn lồng, mở then, bỏ trốn .

3-     Màn đi đường (Michiyuki) :

Tokubê dắt tay O-hatsu đi ḷng ṿng trên con đê Umeda và bảo “ Rạng ngày mai, chúng ḿnh sẽ đến rừng Tenjin để chết chung với nhau ”. Nàng lần tràng hạt, trả lời : “ Năm nay anh 25 tuổi, em 19 đều là năm xui tháng hạn của hai đứa. Âu cũng là cái duyên nợ trời xui. Mong Thần Phật tác thành cho những lời nguyện ước ở cơi đời nầy trong một kiếp sau ! ”.

Khi tới khu rừng ở Sonezaki, trời muốn nỗi cơn giông. Có chớp nháng.

-Đó là ǵ thế hở anh ?

-Linh hồn người ta đấy. Không chỉ có ḿnh anh với em chết đêm nay đâu. Có bao nhiêu người đă đi trước chúng ta. Họ đưa đường cho chúng ḿnh về cơi u minh mà. Nam mô A Di Đà Phật!….

-Ôi, thôi đừng khóc nữa. Khi anh c̣n nhỏ, cha mẹ sớm ra đi, một tay chú nuôi dạy. Ơn ấy chưa báo đền mà sau khi chết lại gây cho chú điều phiền nhiễu. Ôi, xin chú tha tội cho cháu. Chúng ḿnh hăy đi gặp mặt cha mẹ dưới suối vàng nào!

-Anh thật sung sướng. Cha mẹ em hăy c̣n sống cả. Em chết đi th́ biết bao giờ mới gặp được nhau. Đầu xuân năm nay nhận được tin, gặp nhau vừa mới thu rồi! Ngày mai, nếu biết em quyên sinh với anh th́ hai người sẽ khóc than biết mấy! Nếu ba má hiểu ḷng con th́ xin được gặp nhau trong mộng nhé….Thôi, nói chi nữa cũng vô ích. Ra tay nhanh đi anh, giết em đi!……..

Nghe O-hatsu giục, Tokubê vừa niệm Phật vừa rút thanh đao ngắn bên hông ra nhưng không tài nào đâm vào được chỗ nào trên cái da thịt yêu kiều ấy….

Rốt cuộc, mắt mờ, tay chân lẫy bẫy, Tokubê cũng giết được nàng và đâm ngược lưỡi dao vào cổ ḿnh. Lời ca “đi đường” của hai người ḥa vào trong gió của cánh rừng trên mũi đất Sonezaki, không cần ai bảo, đă trở thành một mẫu mực của những câu truyện t́nh.

(Theo Sonezaki no Shinjuu)

Nhân vật trong loại tuồng xă hội tức sewamono của Chikamatsu là những người thường dân (những anh bán dầu, bán tương, bán giấy, cô gái làng chơi, bà chủ tiệm...) và t́nh tiết vở tuồng có khi chỉ là chuyện vừa mới xảy ra được một tháng. Trước ông, không có vở jôruri nào nói đến những con người b́nh thường như thế nên tuồng ông viết có sức hấp dẫn đặc biệt.

Đề tài của Chikamatsu thường là sự xung khắc giữa đạo lư và t́nh người. Các vở tuồng miêu tả hoàn cảnh bi đát và dằn vặt nội tâm của những cặp thanh niên nam nữ của ông được khán giả đánh giá rất cao. Bàn về lư luận sáng tác tuồng jôruri của Chikamatsu, nhà b́nh luận Hozumi Ikan[8] (Tích Huệ, Dĩ Quán) đă tóm tắt trong Naniwa Miyage (Nạn Ba thổ sản) hay “ Món Quà Từ Ôsaka ” qua mấy chữ Kyojitsu hinikuron ( c̣n đọc là Kyojitsu himakuron, Hư Thực B́ Mạc Luận). Theo Hozumi, “ Nghệ thuật là những ǵ người ta t́m thấy ở cái vách ngăn (b́ mạc) giữa hư và thực. Chính ở chỗ hư chẳng ra hư, thực không ra thực mới có cái hay ”.

Sau đây là đoạn mào đầu cho lớp michiyuki (đạo hành =đi đường), một kỹ thuật tŕnh diễn của jôruri kabuki, khi các nhân vật, thường là nam nữ, d́u nhau đi ṿng vo theo nhịp múa trên sàn sân khấu, tượng trưng cho con đường lữ hành và cũng là cuộc đời thu gọn. Có thể là một cảnh rủ nhau đi trốn như trong vở Sonezaki Shinjuu. Lời văn viết theo điệu thơ 5/7 chữ nhịp nhàng vừa thuật sự vừa trữ t́nh, có khả năng lôi cuốn người xem lẫn người nghe :

Đêm hầu tàn, đời cũng sắp tàn theo. Thân đi về cơi chết khác ǵ sương trên con đường đưa về cửa mộ đang tan dần dưới từng bước chân ta. Vật vờ, bi ai như giữa giấc mộng thấy ḿnh đang nằm mộng. Chao ôi, bảy tiếng chuông báo sáng, thử đếm th́ chuông đă ngân đến sáu rồi. Chỉ c̣n thêm một tiếng sẽ tỉnh giấc kim sinh. Chuông cũng vang niềm vui chết là hết khổ.

(Sonezaki Shinjuu, Đoạn Konoyo no nagori).

Tạm dịch :

“Đêm tàn đời cũng hầu tàn,
Đường về cửa mộ sương tan gót giày.
Vật vờ hồn quế mơ mai,
Sáu hồi chuông sớm đă dài tiếng ngân.
Thêm tiếng nữa rũ bụi trần,
Chết là tỉnh giấc, trầm luân qua rồi! ”

Chikamatsu đă sử dụng hai kỹ thuật kakekotobaengo. Nếu kakekotoba được hiểu là tṛ chơi chữ th́ engo là những h́nh dung từ (epithet) để nhấn mạnh ư của người viết. Ở đây, chữ “tan” chính là một kakekotoba vừa dùng cho “sương” vừa dùng cho “mộng” là những cái có đặc điểm là “nhạt nḥa dần”.

Mười bảy năm sau, trong một khúc hát đi đường (michiyuki-bun) của vở Shinchuu Amijima (Quyên sinh ở Amijima) (1720) , Chikamatsu đă để cho cặp nhân t́nh muốn cùng nhau quyên sinh đi qua những nhịp cầu như bước chầm chậm vào cơi chết:

Giết em xong ta sẽ tự sát theo. Tội lỗi của chúng ta không chứa đầy được mảnh vỏ ṣ dưới cầu Shijimi. Đời chúng ta ngắn ngủi như một ngày thu….Cho dù không sống được bên nhau trong cuộc đời này nhưng ḿnh sẽ là vợ chồng ở một kiếp sau.

Tạm dịch:

Giết em, ta chết theo thôi,
Tội ḿnh dù có, chỉ vơi vỏ ṣ.
Cuộc đời ngắn, hỡi ngày thu,
Kiếp này đành lỡ, thân sau phỉ nguyền…

Trong đoạn văn này, Shijimi, được sử dụng như kakekotoba, có hai nghĩa: vỏ ṣ chia làm hai mảnh như sự biệt ly và cũng là tên chiếc cầu họ đang đi ngang qua.

Như đă nói, có một thời Chikamatsu bỏ jôruri để soạn tuồng kabuki. Năm Genroku thứ 6 (1693) ông hợp tác với một kép kabuki tài danh thuở đó là Sakata Tôjurô (Phản Điền, Đằng Thập Lang) và trong khoảng mười năm trời ông viết kyôgen cho người nầy diễn. Thế nhưng về sau ông đă trở lại với jôruri và xác định tài nghệ của ḿnh qua Sonezaki Shinjuu. Cớ sao Chikamatsu trở lại với jôruri? Có ư kiến cho rằng có lẽ v́ trong thế giới kabuki, người diễn viên có vai tṛ chính yếu chứ không phải soạn giả.

D) Hưng thịnh của jôruri :

Sau khi Takemoto-za mà Chikamatsu cộng tác mở ra ít lâu, khu vực phía đông bờ hào Dôtonbori có thêm rạp Toyotake-za với thầy tuồng phụ trách là Ki no Kaion[9] (Kỷ, Hải Âm, 1663-1742), một đệ tử của Gidayuu. Từ đó hai rạp Takemoto bên tây và Toyotake bên đông cạnh tranh nhau làm cho giữa giai đoạn từ niên hiệu Kyôhô (Hưởng Bảo, 1716-1736) cho đến niên hiệu Hôreki (Bảo Lịch, 1751-1764), sân khấu jôruri hết sức hưng thịnh. Phong cách phía tây của Takemoto-za được xem là kín đáo, thâm trầm trong khi phong cách phía đông của Toyotake-za là hoa lệ và phô trương.

Sau khi Chikamatsu Monzaemon qua đời, về phương diện sáng tác, đă có những người thừa kế như Takeda Izumo II [10] (Trúc Điền, Xuất Vân II) của rạp Takemoto và Namiki Sôsuke[11] (Tịnh Mộc, Tông Phụ ) của rạp Toyotake. Hai người c̣n cộng tác với Miyoshi Shuraku (Tam Hảo, Tùng Lạc) để dựng các vở nổi tiếng như Sugawara Denjuu Naraikagami (Quản Nguyên truyền thụ thủ tập giám, 1746) hay Bí mật về thư pháp của phái Sugawara, Yoshitsune Zenbonzakura (Nghĩa Kinh thiên bồn đào, 1747) tức ngh́n cội anh đào và Yoshitsune, Kanadehon Chuushingura (Giả danh thủ bản trung thần tàng, 1748) hay Kho tàng những kẻ trung thần, nói về 47 người vũ sĩ phục thù cho chủ. Người ta thường ca tụng 3 vở ấy là 3 vở danh tiếng (san daimeisaku = tam đại danh tác). Đó là thời kỳ của các soạn giả viết chung, nhiều khi mỗi người viết một lớp (dan = đoạn) của vở, trừ soạn giả chính (tateyakusha) có trách nhiệm đặc biệt hơn.

1) Sugawara Denjuu Naraikagami (Quản Nguyên truyền thụ thủ tập giám, 1746)

Tuồng nói về “ cách học tập thư pháp của Sugawara ” xây dựng trên những t́nh tiết và cuộc đời của nhà học giả Hán văn, nhà thơ lớn và nhà thư đạo thời Heian: Sugawara no Michizane (Quản nguyên, Đạo Chân). Ông này bị địch thủ chính trị là Fujiwara no Tokihira dèm pha nên phải đi đày ở Kyuushuu.Trên đường đi, ông có ghé thăm con gái, công chúa Kariya để từ biệt.

Bi kịch của Michizane phát xuất từ cảnh ngộ oái oăm trong gia đ́nh Shirodayuu, người hầu cận ông. Nguyên Shirodayuu có ba người con sinh ba th́ hai theo cha thờ Michizane trong khi đứa em thứ ba lại theo Tokihira, kẻ địch của chủ họ. Người con trai thứ hai (Sakuramaru tức Anh Đào) yêu nàng Kariya và cản trở cuộc hôn nhân của nàng với một hoàng tử nên chịu tội chết (mổ bụng). C̣n người em út Matsuômaru (Tùng) khi biết chủ anh ta là Tokihira muốn sát hại con trai Michizane, mới tỉnh ngộ đem con trai ḿnh thế mạng cho cậu công tử. C̣n người anh cả Umeômaru (Mơ), trung thành với Michizane, nhịn đói mà chết và hóa thành tia chớp để rốt cuộc báo được thù cho chủ ḿnh. Tuồng này do ba soạn giả Takeda Izumo, Miyoshi Shôraku và Namiki Senyuu cùng viết. Ba cảnh chia tay (wakare): từ giả để sống (iki-wakare), từ giả để chết (shini- wakare) và từ giả thủ cấp (kubi- wakare) là đặc điểm của nó.

2) Yoshitsune Zenbonzakura (Nghĩa Kinh thiên bồn đào, 1747) :

Tuồng “Ngh́n cội đào và Yoshitsune” kể lại cuộc chiến đấu giữa hai họ Taira và Minamoto mà Yoshitsune là nhân vật trung tâm.

Cái thắt gút của câu chuyện là sự hiềm nghi của Tướng Quân Yoritomo - lúc đó đóng bản doanh ỏ Kamakura - đối với đứa em cùng cha khác mẹ của ḿnh là Yoshitsune, người đang hành quân chống nhà Taira, kẻ thù truyền kiếp của họ. Yoshitsune vừa nắm binh quyền, vừa được thiên hoàng ưu đăi và được ḷng dân, vừa có vợ là một công chúa mang ḍng máu Taira v́, oái oăm thay, thuở nhỏ được nhà Taira nuôi dạy. Để chứng tỏ ḷng trung với anh, Yohitsune được lệnh phải nộp thủ cấp 3 tướng Taira (Taira no Tomomori, Koremori và Noritsune) đang bị Yoshitsune bắt làm tù binh. Trong tuồng, khác với những ǵ xăy ra theo lịch sử chép lại, Yoshitsune chỉ đưa cho anh ḿnh ba thủ cấp giả . Ba tướng Taira không ai bị giết và sự kiện này làm cho t́nh anh em bị đổ vỡ.

Sọan giả đă thêm vào đó 3 hồi để vở tuồng thành lâm ly bi đát. Mỗi hồi lại có một ông tướng Tải đóng vai chính. Một hồi trong đó tướng Tomomori trao ấu chúa tức là thiên hoàng Antoku cho Yohitsune rồi nhảy xuống biển tự trầm, một hồi tả cảnh tướng Koremori bôn tẩu, giả làm con nuôi một gia đ́nh bán cơm nắm cá giấm trong vùng rừng núi Yoshino nổi tiếng là nơi có anh đào đẹp và vô t́nh gieo tai họa cho gia đ́nh thường dân vô tội đó. Hồi thứ ba kể chuyện về những nổ lực của tướng Noritsune để t́m cách đưa Antoku trở lại ngôi.báu

Tuồng nầy c̣n nói về một con chồn tinh hoá thành người hầu cận của Yoshitsune tên là Satô Tadanobu, kẻ được Yoshitsune giao phó nhiệm vụ đi bảo vệ nàng ái thiếp Shizuka Gozen của ông. Mỗi khi nghe tiếng trống Hatsune (Tiếng Đầu Tiên) mà mặt trống căng bằng da cha mẹ nó th́ Tadanobu giả lại hiện ra.Cái trống ấy là kỷ vật thiên hoàng đă ban cho Yohitsune và chàng tặng lại nàng ái thiếp Shizuka Gozen như một bằng chứng của t́nh yêu.

Truyện thứ ba, nổi tiếng hơn cả, là câu chuyện phục thù của 47 samurai vô chủ , tŕnh bày dưới đây.

3) Kanadehon Chuushingura (Bản kịch quốc âm Kho Tàng Những Trung Thần, 1747):

Năm 1701, Asano Takumi no Kami Naganori (1667-1701), lănh chúa phiên trấn Ako, có nhiệm vụ tiếp nhận chiếu chỉ của Thiên Hoàng tại thành Edo. Người coi việc lễ nghi, tiếp đón của Mạc Phủ là Kira Kôzukenosuke. Asano có sự bất ḥa với Kira, nóng nảy tuốt kiếm ra đe Kira trong hành lang lâu đài Tướng Quân. Có thể lư do là Kira ngạo mạn với các chư hầu đến từ địa phương. Đă có một sự kiện tương tự xăy ra giữa Kira và một lănh chúa khác, Kamei Korechika, của phiên Tsuwano năm 1698. Kira chỉ trầy trợt chút đỉnh nhưng riêng Asano v́ vi phạm vào luật cấm của mạc phủ là “không được tuốt kiếm trong lâu đài của Tướng Quân”, bị xử phải seppuku (mổ bụng) ngay hôm sau. Asano chết, phủ đệ và lănh địa bị sung công. Các samurai dưới quyền trở thành rônin hay vũ sĩ vô chủ. Bốn mươi sáu samurai cùng thủ lănh của họ, Ôishi Kuranosuke Yoshio, mưu kế phục thù. Tuy một người bỏ cuộc nhưng trong đêm trời tuyết rơi vào tháng 12 năm 1702, họ tấn công dinh thự Kira, giết ông ta và cắt đầu đem tế mộ chủ nằm trong khuôn viên chùa Sengaku-ji (Truyền Nhạc Tự) ở Edo. Họ đă tính toán kỹ lưỡng và vượt qua mọi nghịch cảnh để phục thù và sau đó chỉ c̣n chờ đợi sự phán xét của Mạc Phủ. Sau nhiều tranh luận nội bộ, Mạc Phủ v́ không thể để trật tự họ lập ra bị phá vỡ đă an trí các samurai thành từng nhóm nhỏ rồi buộc họ mổ bụng vào ngày 4 tháng 2 năm 1703.

Các học giả Khổng giáo được hỏi ư kiến không hoàn toàn nhất trí. Ogyuu Sorai và Dazai Shundai chẳng hạn, cho rằng tội của bọn họ phạm là sát nhân v́ muốn thoả măn tư thù và không coi trọng phép nước. Trong khi đó, Muro Kyuusô và Itô Tôgai đánh giá ḷng trung nghĩa của họ đối với cố chủ. Phần lớn quần chúng ủng hộ họ và do đó, chỉ 12 hôm sau ngày họ chết, vở kabuki nói về cuộc phục thù cha của anh em Soga hồi thế kỷ 12 đă được ra mắt. Vở tuồng nầy được tŕnh diễn ở rạp tên là Nakamura-za tại Edo nhưng 3 hôm sau bị cấm ngay. Tuy vậy, loại tuồng jôruri và sau đó kabuki cùng có chủ đề “tầm thù phục hận” đă rầm rộ ra đời. Phải kể đến các vở mang tên Goban Taiheiki (1706, rạp Takemoto), Onishikage Musashi Abumi (1713, rạp Toyotake), Oyakazu shi juushichihon (Toyotake, 1747) và nhất là Bản “nôm na” (kana) Truyện kho Tàng Những Trung Thần, Kanadehon Chuushingura, trước xuất hiện dưới h́nh thức tuồng jôruri sau trở thành kabuki năm 1749.

Chính vở cuối cùng này là Chuushingura[12] mà chúng ta biết đến ngày nay. Nó lấy bối cảnh thế kỷ thứ 14 vào thời Kamakura. Kira trở thành Kô no Moronao (Cao, Sư Trực, ?-1351, một nhân vật lịch sử tham bạo có thật thời Muromachi), Asano là En.ya Hangan (mượn tên một người cũng có thật, tướng Sasaki Takasada, ?-1341, đă bị Kô Moronao hăm hại). Nhân vật thủ lănh Ôishi Kuranosuke ở đây mang tên Ôboshi Yuranosuke (không có thực). Tuy nó cũng bắt đầu bằng một cuộc cải vă trong lâu đài Tướng Quân (Ashikaga) và kết thúc bằng cái chết của con người đáng ghét Kô no Moronao nhưng diễn biến của câu truyện đă xa dần sự thực lịch sử. Người bỏ cuộc không báo thù tuy có thực nhưng không được nhắc tới trong vở tuồng. Lúc tế vong hồn cố chủ, 47 người đều có mặt (Có người cho rằng con số 47 chỉ để tượng trưng cho 47 âm tiết trong Nhật ngữ thời đó). Nhiều chi tiết hư cấu do các soạn giả đặt ra như cuộc sống bê tha của Ôishi / Ôboshi để che mắt kẻ thù vốn đang chuẩn bị đối phó với họ, cuộc t́nh duyên ngang trái của hai nhân vật tưởng tượng là Hayano Kanpei (mô phỏng Kusano Sanpei, một trong 47 vũ sĩ vô chủ phiên trấn Ako) và O-karu, dự tính kết hôn của Kon-ami và con trai của Ôboshi cũng như những vấn đề gia đ́nh xăy ra sau đó, ḷng tận t́nh của Gihê, nhà buôn ở Sakai, đă mua khí giới giúp họ. Nói chung, những t́nh tiết nói trên hầu như độc lập với chủ đề ban đầu. và ghép thêm vào bên cạnh câu chuyện phục thù những liên hệ t́nh cảm giữa trai gái, thầy tṛ, bạn bè hết sức éo le.

Những nhân vật hư cấu không phải là samurai nữa mà là chônin tức người dân kẻ chợ. Chuyện Ôboshi đi lại xóm lầu xanh Gion đă được kéo dài suốt cả hồi thứ bảy của vở tuồng. Ta biết chônin rất thích “ xuống xóm ” và đó là một phần quan trọng trong sinh họat của họ. Mối t́nh của O-Karu đối với Kanpei cũng vậy. Khi Kanpei tự sát v́ nghĩ lầm ḿnh đă giết cha O-Karu th́ nàng chỉ khóc người yêu chứ không khóc cha v́ “tuy cha tôi có chết thảm nhưng ông ấy đă già rồi”, T́nh cảm nầy đi ngược với quan điểm Khổng giáo và gần gủi với t́nh huống “tự sát chung v́ t́nh” trong tuồng jôruri của Chikamatsu Monzaemon hơn. Gihê, người cung cấp vũ khi, bị “cảnh sát” dọa giết đứa con trai nhỏ nếu không khai mua vũ khí cho rônin bằng cách nào, đă thà chịu chết chứ không tiết lộ. May cho ông ta là “cảnh sát” nầy chỉ là chính rônin giả dạng và họ rất khâm phục tinh thần trung nghĩa của ông. Ôboshi, thủ lănh của họ, phải buột miệng: “Ông chỉ là một con buôn nhưng có cái khí phách của một ông quan cai trị” và những kiểu phát biểu như thế găi đúng vào ḷng tự hào của chônin, những người đă được nuôi dưỡng bởi triết lư Shingaku[13] (Tâm học) nên không c̣n cảm thấy tự ti trước giai cấp samurai.

Ngoài cái giri (nghĩa lư) là trật tự xă hội mà họ phải tôn trọng, người chônin ngưỡng mộ cái ninjô (nhân t́nh) tức t́nh cảm cá nhân, t́nh người, và khiến cho quan niệm giri được hiểu một cách uyển chuyển hơn. Đến thời Duy Tân Meiji, khi giai cấp chônin đă tàn đi rồi, những t́nh cảm đó vẫn tiếp tục tồn tại.

E) Jôruri suy thoái:

Tuy nhiên, tuồng “búp bê” jôruri v́ cạnh tranh với kabuki nên phải t́m ra những chủ đề cá nhân hơn để đập mạnh vào tâm lư khán giả. Tuồng Imoseyama Onna Teikin (Tấm gương tiết liệt của Núi Vợ Chồng) do Miyoshi Shôraku (Tam Hảo, Tùng Lạc, 1696?-1772?) và Chikamatsu Hanji (Cận Tùng, Bán Nhị, 1725-1783) viết, tŕnh diễn năm 1711 ở rạp Takemoto, kể truyện tranh chấp giữa hai thủ lănh chính trị Fujiwara no Katamari và Soga no Iruka hồi thế kỷ thứ 7 mà lại ăn mặc áo xống và theo phong tục thời Tokugawa (thế kỷ 17 trở đi) . Nội dung nói về một cặp vợ chồng vừa đính hôn, sống trong hai lâu đài nh́n xuống một ḍng sông, đă phải chia rẽ v́ mối thù sâu sắc giữa hai gia đ́nh mà họ không có dự phần, đă đi đến cái chết sau đó như Roméo và Juliette bên trời Tây. Đó là những xen gây xúc động cho khán giả, được tạo ra như một màn biệt lập đối với vở tuồng.

Tuy nhiên v́ không bắt kịp những chuyển hướng của thời đại, nên qua đến hậu bán thế kỷ 18, sân khấu jôruri hết ăn khách, sang đến niên hiệu Meiwa (Minh Ḥa, 1764-1772) th́ hai rạp Takemoto và Toyotake lần lượt đóng cửa. Sân khấu kabuki sẽ hưng thịnh và chiếm chỗ của jôruri khi h́nh nộm hay “búp bê” được thay bằng diễn viên thật, đối thoại và kịch tính được triển khai thêm. 

 TIẾT II: SÂN KHẤU KABUKI (CA VŨ KỸ)

Thông thường ta nghĩ Ca Vũ Kỹ là “kỹ thuật ca múa“nhưng thật ra kabuki chỉ là cách ghép chữ Hán khéo léo của người Nhật để ba âm Ka-Bu-Ki thành một cái tên nhằm tăng giá trị của nghệ thuật tuồng dân tộc của họ. Kabuki là danh từ biến thể của động từ kabuku có nghĩa là “làm những động tác thân thể khác đời, nhố nhăng”. Nói nó “khác đời, nhố nhăng” bởi v́ nghệ thuật kabuki đă sinh ra từ bối cảnh phóng túng của xă hội Nhật thời cận đại, vốn không chịu g̣ bó theo một qui luật nào.

A) Nàng Okuni đất Izumo (Izumo no Okuni):

Khoảng đầu năm Keichô (Khánh Trường, 1596-1615) ở đền thần Izumo Taisha (Xuất Vân Đại Xă) thuộc tỉnh Shimane , tây nam đảo Honshuu, có một nàng miko[14] tên gọi O-kuni (A Quốc) ngực mang thập tự giá, bên hông đeo hồ lô, lên kinh đô Kyôto múa kabuki-odori, một điệu múa với những động tác lạ lùng. Đó là khởi thủy của sân khấu kabuki.

Kích thích bởi sự xuất hiện của lối múa kabuki của O-kuni, khắp các nơi, thiên hạ cũng bắt chước diễn tṛ onna-kabuki (nữ ca vũ kỹ) tức kabuki do đàn bà thủ các vai. Mạc phủ cho là phạm thuần phong mỹ tục (v́ thường là măi dâm trá h́nh) nên ngăn cấm. Cái nầy vừa cấm đă mọc ra cái khác: wakashuu-kabuki (nhược chúng ca vũ kỹ) tức là loại do các cậu thiếu niên (wakashuu) thủ vai chính, và cũng bị mạc phủ cấm đoán ngay v́ cùng một lư do như trên (xă hội Nhật Bản không thiếu ǵ truyện đồng tính luyến ái) vào năm JôÔ nguyên niên (Thừa Ứng, 1652). Măi về sau mới có loại kabuki do đàn ông đă thành nhân (yarô) đóng tên gọi yarô-kabuki (dă lang ca vũ kỹ). Những anh chàng nầy thường là dân bên jôruri ế khách đang rỗi việc. V́ loại nầy thiếu sức hấp dẫn của hai loại trước về phương diện dung mạo bóng sắc nên diễn viên đă tập trung sức lực nghiên cứu kỹ thuật tŕnh diễn ḥng lôi cuốn khán giả.Dần dần, kabuki đă thành h́nh với tư cách một sân khấu tuồng mà vai tṛ của diễn xuất được đặt lên hàng đầu.

B) Kabuki thời Genroku:

Đến thời Genroku (Nguyên Lộc, 1688-1704) kabuki phát triển mạnh mẽ từ vùng kinh kỳ Kamigata cho tới Edo, trung tâm chính trị mới. Vùng kinh kỳ có kép Sakata Tôjurô (Phản Điền, Đằng Thập Lang) đă nhắc đến ở trên và kép giả gái (oyama) Yoshizawa (Cát Trạch) Ayame[15] là những diễn viên thượng thặng đóng tuồng wagoto (ḥa sự), loại tuồng có chủ đề t́nh cảm yêu đương trai gái. Như đă nói, soạn giả Chikamatsu Monzaemon từng viết tuồng cho Tôjuurô diễn. Trong khi ấy, ở Edo, loại tuồng ăn khách là aragoto (hoang sự) tức là loại tuồng nói về quỹ thần hay vơ nghệ, do các diễn viên như Ichikawa Danjuurô (Thị Xuyên, Đoàn Thập Lang) và loại wagoto do Nakamura Shichisaburô (Trung Thôn, Thất Tam Lang) chủ diễn. Ḍng dơi hai nhà nầy vẫn c̣n truyền đến ngày nay và đời nào cũng có người “tập danh” (mang tiếp tên tuổi) để nối nghiệp tổ tiên. Tuy loại sân khấu nầy coi trọng diễn viên và kỹ thuật tŕnh diễn được đặt lên trên hết nhưng bản tuồng dần dần được chỉnh lư nên cùng với thời gian, nó bộc lộ được tính kịch nghệ. Đó là điều cần chú ư.Trước thời Meiji những bản tuồng không được sao chép, truyền bá. Chúng biến hóa tùy theo phong cách diễn xuất của diễn viên. Do đó, trong kabuki, diễn viên quan trọng hơn cả soạn giả.

D)    Giao lưu giữa Jôruri và Kabuki:

Khi nói đến khía cạnh kết cấu vở tuồng và mô tả tâm lư con người, jôruri tỏ ra tiến trước kabuki một bước.V́ thế từ đời Genroku về sau, nhờ tài năng của các soạn giả Chikamatsu Monzaemon và Ki no Kaion, jôruri của thời toàn thịnh đă đè bẹp kabuki. Tuy nhiên, từ thế kỷ thứ 18 trở đi, lúc jôruri xuống dốc, kabuki đă hồi sinh trở lại. Người đóng vai tṛ then chốt trong sự phục hưng của kabuki là soạn giả tên Namiki Shôzô (Tịnh Mộc, Chính Tam, 1730-1773). Ông chịu ảnh hưởng của jôruri v́ là học tṛ của soạn giả jôruri nổi tiếng Namiki Sôsuke (Tịnh Mộc, Tông Phụ, 1695-1751). Ông đă biết đem cách kết cấu t́nh tiết phức tạp của tuồng jôruri vào trong kyôgen của kabuki, cũng như đă biết thay đổi cách trang trí phông cảnh, sáng chế ra sân khấu quay ṿng tṛn, dùng những dụng cụ đồ sộ hơn để cảnh quan sân khấu rộng lớn thêm lên và do đó, đáp ứng nhu cầu của khán giả. Ông là người đă soạn ra tác phẩm Con Thuyền Ba Mươi Thạch Lên Đường Sanjikkoku yofune no hajimari (Tam thập thạch đăng thủy), truyện kể về loại thuyền buôn “ba mươi thạch” (trọng tải trên 5 tấn v́ một “thạch” hay “hộc” tương đương 180 lít) chở hành khách và hàng hóa trên sông Yodogawa ở vùng Ôsaka.

E)     Truyền thống Kabuki vùng Edo:

Môn đệ của Shôzô là Namiki Gohei (Tịnh Mộc, Ngũ B́nh, 1747-1808), sở trường về sewakyôgen tức loại Kabuki nói về nhân t́nh thế thái đương thời, thừa kế sự nghiệp của thầy. Gohei trở thành soạn giả số một của vùng kinh kỳ nhưng năm Kansei (Khoan Chính) thứ 6 (1794) lại bỏ sang miền Đông, mang theo cả tác phong tả thực của kabuki vùng Kyôto-Ôsaka đến Edo. Cùng lúc ấy, soạn giả đồng thời đại với Gohei bấy giờ là Sakurada Jisuke I (Anh Điền, Trị Trợ đời thứ nhất, 1734-1806) cũng nổi tiếng với những vở tuồng mang sắc thái nhẹ nhàng tươi mát của phong cách Edo. Jisuke I là người đă kết hợp, pha trộn các loại tuồng kabuki mà trước đây khi mỗi vở ra đời liền được sắp xếp vào một “nhóm tuồng” cố định (gọi là “sekai” và vào thời Bunsei (1818-1830) người ta đă tính ra có tới trên 120 “sekai”). Cách pha trộn của Jisuke I gọi là “maizame”.

Namiki Gohei có vở “Ngô đồng cửa chùa” Kinmon Gosan no Kiri (Kim môn ngũ tam đồng) do Ishikawa Goemon (Thạch Xuyên Ngũ Hữu Vệ Môn) chủ diễn, Sakurada Jisuke I có “Quyển sổ khuyến giáo” Gohiiki kanjinchô (Ngự nhiếp khuyến tiến trương) có đoạn “Sư không biết đọc kinh” thuật lại bước đường cùng của Yoshitsune (Nghĩa Kinh) và người tùy tùng là Benkei (Biện Khánh) trong đó Yoshitsune là chủ lại đóng vai sư trẻ để mặc cho kẻ hầu hạ ḿnh (Benkei) trong vai hoà thượng chửi rủa đánh đập lúc họ giả dạng làm sư để vượt qua cửa ải. Thấy hoàn cảnh tội nghiệp, tướng giữ ải, tuy đoán ra ai là chủ ai là tớ nhưng cảm động, đă tảng lờ cho đi. Cả hai vở đều đáng gọi là kiệt tác.

F)     Soạn giả Tsuruya Nanboku (Hạc Ốc, Nam Bắc):

Trong khoảng niên hiệu Bunka –Bunsei (1804-1830) có thể nói kabuki đă tới độ chín muồi. Nhà soạn giả tiêu biểu cho thời này không ai khác hơn Tsuruya Nanboku (Hạc Ốc, Nam Bắc,1755-1829) tập danh đời thứ tư. Ông sinh trưởng ở Edo và là học tṛ Sakurada Jisuke.Lúc chưa phất được, ông soạn tuồng dưới bút hiệu Katsu Hyôzô (Thắng, Biểu Tàng) trong một thời gian dài nhưng đă đóng góp cho Kabuki nhiều cải cách độc đáo. Ông sở trường về thể loại kizewamono (sinh thế thoại vật) tức là kabuki kyôgen tả thực nhất, sinh động nhất, trong loại kabuki, hoàn toàn dựa vào thực tế xă hội để dựng tuồng. Ông mô tả vô cùng sống động những cảnh đời cùng cực tận dưới đáy xă hội phong kiến. Tác phẩm tiêu biểu của ông là “Truyện kinh dị ở vùng Yotsuya trên đường Tôkaidô” Tôkaidô Yotsuya Kaidan (Đông Hải Đạo Tứ Cốc quái đàm) được quần chúng đặc biệt tán thưởng, ghi chép những ǵ xấu xa, tồi tệ, gian ác của xă hội, phản ánh chân tướng thời kỳ Bunka-Bunsei. Tuồng nầy đă được diễn lần đầu năm Bunsei thứ 8 (1825) kể lại lời đồn đại trong dân chúng về cuộc đời người đàn bà sống ở vùng Yotsuya tên gọi O-iwa, ghen tuông đến phát điên mà chết, sau oan hồn trở về quấy nhiễu phá phách chồng.Bản tuồng nầy c̣n có những chi tiết liên quan tới thế giới của Chuujingura (Trung thần tàng, truyện 47 người vũ sĩ phục thù cho chủ) nữa.

G)    Soạn giả Kawatake Mokuami (Hà Trúc, Mặc A Di, 1816 -1893):

Sau khi Nanboku mất rồi, không có soạn giả nào có đủ tầm cỡ để nối tiếp ông. Kabuki vùng Edo v́ thế đă im lắng trong một thời gian. Măi đến năm Ansei (An Chính, 1854-1860) cuối đời Mạc Phủ bước qua thời Duy Tân mới có Kawatake Mokuami (Hà Trúc, Mặc A Di), một nhân tài lỗi lạc xuất hiện. Kabuki của Edo như bắn được phát pháo bông cuối cùng.

Mokuami tên thật là Yoshimura Yoshisaburô, gốc gác vùng Edo, đệ tử của Nanboku V (tập danh đời thứ năm), chuyên về loại tuồng xă hội (kisewamono). Ông hợp tác với kép Ichikawa Kodanji IV (Thị Xuyên Tiểu Đoàn Thứ đời thứ tư) và viết cho Kodanji IV diễn loại tuồng mà ông tỏ ra xuất sắc hơn cả mang tên shiranami-mono (bạch lăng[16] vật) tức là loại tuồng nói về bọn đạo tặc, trộm cướp.Những tác phẩm để đời của ông có “Ba người cùng tên Kichisa đầu năm xuống xóm” tức Sannin Kichisa Kuruwa no Hatsugai (Tam nhân Cát Tam quách sơ mại, 1860) “Truyện năm chàng tướng cướp” (Shiranami gonin otoko, Bạch Lăng ngũ nhân nam), c̣n được gọi với một cái tên bí hiểm là Aotozô shi Hana no Nishikie (Thanh chỉ cảo hoa hồng thái họa, 1862). Sannin Kichisa hay ba người cùng mang tên Kichisa là một nhà sư, một cậu ấm và một cô gái, cả ba đều sống bằng nghề trộm cướp. Aotozô là một vở nổi tiếng nhờ màn thứ ba và thứ năm khi những nhân vật đóng vai đạo tặc Benten (Biện Thiên) và Shiranami (Bạch Lăng) ra sân khấu kể lể danh tánh dài ḍng.

Sau khi Kodanji mất và với những biến chuyển xă hội tương ứng với sự tiếp thu ảnh hưởng phương Tây, Mokuami soạn những vở tuồng tân thời gọi là loại “cắt tóc” (zangiri-mono) và là người đầu tiên thử phóng tác một tác phẩm ngoại quốc (1879) nhưng đó chỉ là vài thay đổi bề ngoài mà ông đem đến cho kabuki. Sâu xa chăng chính là việc hợp tác với kép Ichikawa Danjurô IX, nhờ đó ông đă soạn những vở tuồng “sự thực lịch sử” (katsureki-mono) trong đó ông gạt bỏ những hư cấu và hoang đường của loại tuồng dă sử (jidaimono). Biến chuyển trong lối sáng tác của ông nhằm đáp ứng nhu cầu của tầng lớp trí thức thời đó đ̣i hỏi một nội dung sân khấu mới. Tuy nhiên không thể nói là ông thành công hoàn toàn trong việc cách tân kabuki.

Ông vốn có hiệu là Kawatake Shinshichi II (Hà Trúc, Tân Thất II) và chỉ đổi tên là Mokuami (Mặc A Di), một Phật danh, lúc về hưu (sớm) năm 1881, và từ đó chuyên viết ca-từ hay những vở kabuki phóng tác từ tuồng (gọi là loại tsubame-mono). Mokuami viết tất cả 360 tác phẩm đủ loại.Văn ông theo nhịp 5/7 chữ liên kết với nhau thành đoạn dài, lời đẹp đẽ, nghe lưu loát, êm tai. Được đặt tên là “lối hành văn Mokuami”, nhiều nhạc tính nên khán giả rất yêu chuộng.

 

TẠM KẾT:

Trong bản tuồng kabuki cổ điển, không những tuồng tích được xếp vào khuôn mẫu mà từ ngữ, lối diễn tả cũng đều theo những qui ước tu từ có sẵn và ư hướng “khuyến thiện trừng ác” (kanzen chôaku) nói chung. Bước sang thời hiện đại, Kabuki đă được biến đổi với h́nh thức mới (gọi là shin-kabuki hay kabuki mới) kết hợp sân khấu truyền thống với kịch nghệ phương Tây nhờ tài năng của Tsubo-uchi Shôyô (B́nh Nội, Tiêu Dao, 1859-1935) và các soạn giả đến từ bên ngoài truyền thống kabuki.


 

[1] Truyện Jôruri Monogatari không biết đích xác đă xuất hiện lần đầu vào thời điểm nào và do ai viết. Có tên là Junidan zôshi (Thập nhị đoạn thảo tử) , trước là h́nh thức truyện giải buồn, nói về mối t́nh của Yoshitsune và nàng Jôruri, tiểu thư con quan trấn thủ vùng Mikawa (Tam Hà).

[2] Kinpirabushi lấy tích sự nghiệp anh hùng dũng cảm của chàng Sakata Kinpira (Phản Điền Kim B́nh).

[3] Sieffert (trong Dictionnaire de littérature japonaise do J.J. Origas chủ biên) cho biết Chikamatsu đă viết 150 tuồng jôruri và 30 tuồng kabuki.

[4] Sieffert (sách đă dẫn) cho rằng “ Xuất thế Cảnh Thanh ” có nghĩa là thời trẻ của Kagekiyo ”. Xuất thế c̣n có nghĩa là được Phật độ đi tu. Chúng tôi theo lối hiểu “ khai trương rạp hát ” của hai giáo sư Akiyama và Mikoshi (sách đă dẫn) nhưng với tất cả dè dặt. Do đó chữ Thế Kế trong Yotsugi Soga không biết nên hiểu là “ Anh em Soga nối nghiệp nhà ” hay tuồng về Soga để mừng Takemoto Gidayuu mở rạp hát nối nghiệp nhà ?

[5] Kodama Shôko, The Complete Guide to Japanese Traditional Performing Art , trang 189.

[6] Chỉ Trịnh Thành (Zheng Sen, thường được gọi là Trịnh Thành Công), tướng đời Minh mạt, phản Thanh phục Minh, được vua nhà Minh (Đường Vương) ban cho quốc tính họ Chu, có công đuổi người ngoại quốc ra khỏi đảo Đài Loan.

[7] Shinjuu (tâm trung) là một chữ rất giàu ư nghĩa, ở đây chỉ việc trai gái yêu nhau cùng rủ nhau đi tự sát để bày tỏ t́nh cảm nồng nàn đối với nhau và để tránh một cảnh ngộ khó xử (xung đột giữa t́nh cảm và lư trí, khi phải chọn ninjô hay giri). Ngoài việc mượn cái chết để tỏ t́nh cảm trong ḷng (tâm trung), c̣n có những h́nh thức nhẹ hơn như cắt móng tay, xâm chàm, cắt tóc, chặt ngón tay...

[8] Hozumi Ikan (1692-1769) nhà nho xuất thân ở cửa học giả Hán học Itô Tôkai (Y Đằng Đông Nhai, 1670-1736 ). Hozumi là bạn của Chikamatsu Monzaemon và cũng là cha của Chikamatsu Hanji (Cận Tùng, Bán Nhị), tác giả jôruri đă thừa kế vai tṛ của Monzaemon.

[9] Ki no Kaion (1663-1742), em trai của thầy Kyôka Nagata Teiryuu (Vĩnh Điền, Trinh Liễu). Đặc điểm của ông là hay lư sự trong kịch bản.Tác phẩm có Tamoto no SirashiboriShinchuu Futatsu no Haraobi.

[10] Takeda Izumo II (1691-1756) đời thứ hai v́ cha ông cũng mang tên này (Takeda Izumo I chết năm 1747) và đă từng điều khiển rạp Takamoto-za.Từ bé ông đă được sự dẩn dắt của Chikamatsu. Ông kiêm cả việc soạn tuồng Jôruri.

[11] Namiki Sôsuke (Tịnh Mộc, Tông Phụ, 1695-1751) c̣n có tên là Namiki Senryuu (Thiên Liễu). Cộng tác với Tateka Izumo, nối tiếp được sự nghiệp của Chikamatsu Monzaemon.

[12] Kura trong tiếng Nhật có nghĩa là kho, vựa, nơi chứa đựng, ǵn ǵ những ǵ quí báu.

[13] Dưới thời Edo, nó là hệ thống tư tưởng giản dị và dể hiểu lấy tam giáo Nho, Thích, Lăo nhập làm một, mà nhóm ông Ishida Baigan ( Thạch Điền, Mai Nham, 1685-1744) truyền bá, tượng trưng cho nền tảng giáo dục nơi người b́nh dân.Không nên nhầm với Tâm Học của nhà nho Vương Dương Minh.

[14] Miko (vu nữ ) tên chỉ những người đàn bà thường là chưa chồng phụng sự trong các đền thần, biết múa hát tế thần và đôi khi được thần linh nhập để nói trước điều họa phúc.

[15] Ayame hay Shôbu, tên một loài hoa: hoa xương bồ (blue flag, iris)

 

[16] Bạch Lăng, chữ lấy từ Hậu Hán Thư, truyện tàn đảng Hoàng Sào tụ họp ở Bạch Ba Cốc, trên sông Tây Hà, ăn cướp, do đó ám chỉ giới đạo tặc. Trên sân khấu kabuki, dùng để chỉ nhân vật chính đi làm trộm cướp.


Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

 

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com