Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

 Quyển Thượng : Từ Thượng Cổ đến Cận Đại


Ki no Tsurayuki (868?-945?) đă góp phần biên soạn Kokin

Chương 8 :

Cổ Kim Ḥa Ca Tập (Kokin Waka-shuu)

thi tuyển xác định giá trị của thơ quốc âm

Nguyễn Nam Trân  

 

TIẾT I: THƠ QUỐC ÂM THỜI HEIAN:

A)    Khí thế đi lên của ḍng thơ quốc âm:

Vào đầu thời Hei-an, văn chương chữ Hán chiếm địa vị độc tôn và thơ quốc âm waka bị đẩy lùi vào bóng tối.. Thế nhưng, waka không v́ thế mà mai một hẳn, nó chỉ trở thành một h́nh thức thơ để tỏ t́nh cảm riêng tư, sinh hoạt luyến ái nam nữ hay t́nh tự dân gian. Những bài thơ ấy đă được tom góp lại trong Kokin Waka rokujô [1](Cổ kim ḥa ca lục thiếp, khoảng giữa 951 và 1007) cùng chung với những bài thơ không rơ tác giả đă thấy trong Man.yô-shuu Kokin-shuu.

Thật ra, waka từ trong bóng tối đă ló dạng ra từ cuối thế kỷ thứ chín và đạt được tầm vóc quan trọng như văn thơ chữ Hán trong đời sống công cộng cùng một lượt với ư thức văn hóa quốc phong (văn hóa nước ḿnh). Sự phục hưng của waka, không nói cũng hiểu, là nhờ ở sự thành lập hai hệ thống chữ viết mới của chữ kana. Trước đây Nhật đă có man.yôgana, tức hệ thống chữ kana để ghi âm waka trong Man.yôshu mà mỗi âm quốc ngữ được biểu diễn bằng một chữ Hán. Chữ kana một mặt viết thường đi (b́nh) hóa như chữ viết tháu (b́nh giả danh = hiragana) một mặt gạt bỏ nét chỉ để lại một phần (phiến) (phiến giả danh = katakana) có tác dụng giải thoát văn tự khỏi những phiền hà và câu thúc của lối biểu ư của chữ Hán. Do đó những người ít được học chữ Hán như phụ nữ (thời đó) cũng có thể sử dụng được.

Với sự phổ cập của hiragana, thơ quốc âm waka hay Yamato-uta đă có thể phục hưng. Sau thời hoạt động của nhóm Lục Ca Tiên là thời của các cuộc hội họp b́nh thơ (uta- awase = ca hợp) như Zaiminbu Kyôke uta-awase (Tại Dân Bộ Khanh Gia ca hợp) hay Kanpyô no Ontokikiai-no-miya Uta-awase (Khoan B́nh Ngự Th́ Hậu Cung ca Hợp) tức là hai hội thơ họp ở nhà hai quí tộc mà nó mượn tên. Như thế, waka đă bắt đầu có vai tṛ văn chương cửa công như văn thơ chữ Hán. Nhiều khi ta thấy có cả sự liên kết giữa hai thể loại Hán-Ḥa nói trên, ví dụ trong quyển Shinzen Man.yôshuu (Tân tuyển vạn diệp tập) được xem như do Sugawara Michizane soạn năm Kanpyô (Khoan B́nh) thứ 5 (893) có chép những bài thất ngôn tuyệt cú cùng một nội dung đặt bên cạnh những bài waka viết bằng manyôgana. Mặt khác, trong Kudai Waka (Cú Đề Ḥa Ca) của Ôe Chisato (Đại Giang, Thiên Lư) có những bài waka mang tựa đề bằng chữ Hán.

Tạo được khí thế đi lên như thế cho waka là công lao của Kokin waka-shuu (Cổ Kim ḥa ca tập), tuyển tập thơ quốc âm đầu tiên được soạn theo sắc chiếu để tiến lên vua .

B) Kokin waka shuu (Cổ kim ḥa ca tập):

C̣n được lược xưng là Kokin shuu (Cổ kim tập) hay Kokin, đă ra đời trước Kokin waka rokujo trên nửa thế kỷ. Do bọn các ông Ki no Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi), Ki no Tomonori (Kỷ, Hữu Trắc), Ôshikôchi no Mitsune (Phàm Hà Nội, Cung Hằng), Mibu no Tadamine (Nhiệm Sinh, Trung Lĩnh) soạn khoảng năm Diên Hỷ (Engi) thứ 5 (905) hay thứ 14 (914) theo lệnh của thiên hoàng (thứ 60) Daigô (Đề Hồ, trị v́ 897-930). Đây là tuyển tập thơ waka đầu tiên được soạn theo chiếu chỉ và trở thành qui phạm cho những tập soạn theo chiếu chỉ các đời sau.Thi tập nầy gồm 12 quyển, thu thập ước chừng trên 1100 bài thơ, có kèm hai bài tựa (jo), một viết bằng kana (tức bài Kanajo) do Ki-no-Tsurayuki và bài kia bằng chữ Hán (Manajo) do Ki-no-Yoshimochi viết. Tuy hai bài viết bằng hai lối chữ khác nhau nhưng nội dung cũng cùng nói về bản chất và lịch sử của waka và b́nh luận về thơ của “sáu đại thi hào waka” (Rokkasen, Lục Ca Tiên). Phần b́nh luận về 6 nhà thơ nổi tiếng nầy được xem như rất có giá trị. Đặc biệt bài tựa viết bằng kana, không những thuyết minh về sự hoà điệu giữa cái tâm và thi từ mà c̣n nói lên chủ trương về vai tṛ đối đầu của waka với thơ chữ Hán, bày tỏ ư thức dân tộc của người soạn ra nó.

Sau đây, một trong những nhà biên soạn, Kino Tsurayuki, đă nói về ư nghĩa việc làm của họ:

“Waka (thơ Yamato) là hạt giống gieo trong ḷng người để nẩy ra vô số lá tức là lời nói. Người ta sống trên đời ở vào trường hợp nào th́ tùy theo sự việc xảy ra lúc ấy mà suy nghĩ, lấy những điều mắt được thấy tai được nghe gửi vào âm thanh để phát ra tiếng nói. Chỉ cần nghe lời ca của thiên nhiên từ miệng con oanh, con ếch th́ ắt hiểu các giống sinh vật đều biết ca vịnh. Không cần ra sức mà lay chuyển được đất trời, làm xúc động những sức mạnh siêu tự nhiên, giúp cho nam nữ ḥa hợp, làm dịu dàng cả ḷng người vũ sĩ thô bạo, th́ không có ǵ khác ngoài waka.

Waka đă bắt đầu từ thuở khai thiên lập địa nhưng truyền được tới ngày nay là những bài chư thần ca vịnh thấy chép lại trong Nihon Shoki. Ba mươi mốt âm theo thể 5-7-5-7-7 là h́nh thức thấy lần đầu tiên trong thơ ngài Susanô no Mikoto như bài Yakumotatsu (lược) rồi từ đó đến nay, nó đă chứa chất biết bao nhiêu bài ca, tiếng nói của ḷng người. Bài Naniwazu ni (lược) của Wani làm để chúc mừng lúc thiên hoàng Nintoku lên ngôi, bài Asakayama (lược) của nàng Unume khi đón tiếp hoàng tử Katsuragi no Ôkimi là những bài thơ căn bản của waka mà cho đến nay, trẻ con tập viết đă phải học.

Trung quốc có lục nghĩa tức sáu phép làm thơ. Waka cũng có sáu phép là Soe-uta (phúng thích ca), Kazoe-uta[2] (số ca), Nazurae-uta[3] (chuẩn ca), Tatoe-uta (tỉ dụ ca), Tadagoto-uta (đồ ngôn ca) và Iwai-uta (chúc ca). Cách phân loại này dựa trên việc tâm trạng con người được thể hiện bằng lời nói như thế nào. Như phép Tadagoto-uta là cách bày tỏ y nguyên ḷng ḿnh , không ví von ǵ cả. Phép Nazurae-uta dùng thí dụ, kết hợp miêu tả sự vật với bày tỏ tâm t́nh.C̣n Soe-uta là lối thơ tŕnh bày trên mặt một vật ǵ để giúp hiểu ngầm về một điều khác. Tuy nhiên, lắm khi không ḍ được thâm ư của tác giả.

Những năm gần đây, ḷng người trở nên hời hợt, từ đó nội dung của waka có những lời lẽ không xứng đáng, chỉ c̣n là tṛ chơi của bọn nam nữ đam mê sắc dục, không c̣n đem tŕnh bày nơi công cộng được nữa. Xưa kia, Waka thật ra đâu phải vậy. Các vị thiên hoàng đời trước ra lệnh cho quần thần làm thơ là để phán đoán xem ai có tài ai không. Waka bắt đầu bằng những lời chúc tụng, cảm tạ thiên hoàng, sau nói đến t́nh yêu, t́nh bạn, than tuổi già, hoài cổ, buồn việc đời vô thường, hận cảnh vinh khô thịnh suy. Nó là vật dùng để xoa dịu nỗi ḷng của người ta trước những điều không kham được.

(trong Kanajo ( Lời tựa bằng kana) của Kokin Waka-shuu do Ki no Tsurayuki viết)

Kokin Waka Shuu chia thành nhiều bộ (bộ lập = budate) tùy theo chủ đề: Xuân (thượng, hạ), Hạ, Thu (thượng, hạ), Đông, Hạ (chúc tụng), Ly Biệt, Ki Lữ (lữ hành), Vật Danh, Luyến (t́nh yêu), Ai Thương, Tạp (thượng, hạ), Tạp Thể (thượng, hạ) Đại Ca Sở Ngự Ca (thơ ngự chế của thiên hoàng, hoàng hậu và hoàng tộc). Về thể điệu, phần lớn là những bài ngắn (tanka), có một ít bài dài (chôka hay naga-uta) và thơ đối đáp (sedôka).

Bối cảnh cung đ́nh của waka khiến cho cách biểu hiện của nó có tính chất trau chuốt và tinh tế. Thơ waka có đặc sắc là không vịnh sự vật như nó bày ra trước mắt mà lọc qua lăng kính nội tâm và tri thức rồi tái hiện nó qua kỹ thuật thơ và khả năng ngôn ngữ của ḿnh để gợi ra mối liên tưởng nơi người đọc. Phong cách đó không phải một ngày mà có. Ta thấy nó thành h́nh dần dần cùng với thời gian và những nhà nghiên cứu Kokin waka-shuu đă chia những bài thơ ghi lại suốt đoạn đường 150 năm nay làm ba thời kỳ:  

-Thời kỳ thứ nhất :các tác giả vô danh: không rơ danh tánh người ca vịnh (yomibito): Số thơ của các tác giả vô danh chiếm 40% của toàn thể tập thơ, có thể xem như những bài waka sau thời Man.yôshuu được truyền tụng lại cho đến các bài ra đời vào đầu thời Hei-an (Hei-an sơ kỳ, 850). Ca phong của giai đoạn chuyển tiếp từ Man.yôshuu bước qua Kokin-shuu thô sơ, chất phác và theo thể 5-7 chữ.

-Thời kỳ thứ hai : thời Rokkasen (Lục Ca Tiên): tính từ năm 850 đến năm 890. Đó là thời kỳ hoạt động của 6 nhà thơ waka nổi tiếng đương thời :

1- Sôjôhenjô (Tăng Chính Biến Chiêu) (816-890) tên thật là Yoshimine Munesada (Lương Lĩnh, Tông Trinh) xuất gia sau khi thiên hoàng (thứ 54) Ninmyô (Nhân Minh, trị v́ 833-850) băng hà (850). Thơ nhẹ nhàng thoát tục.

2- Ariwara Narihira (Tại Nguyên, Nghiệp B́nh) (825-880), con trai của thân vương Abo (A Bảo). Ông c̣n có tên là Zaigo Chuujô (Tại Ngũ trung tướng) v́ làm một chức quan to trong đội cận vệ thiên hoàng. Được coi như là nhân vật chính của cuốn truyện thơ diễm t́nh Ise Monogatari (Y Thế Vật Ngữ). Lời thơ t́nh cảm nồng nàn.

3- Funya-no-Yasuhide (Văn Ốc Khang Tú).

4- Hisen Hôshi (Hỉ Soạn Pháp Sư)

5- Ôtomo-no-Kuronushi (Đại Bạn Hắc Chủ)

và cuối cùng, người phụ nữ duy nhất là:

6- Ono-no-Komachi (Tiểu Dă Tiểu Đinh), năm sinh và năm mất không rơ. Hậu thế truyền tụng bà là mỹ nhân số một Nhật Bản. Thơ ca của bà viết nhiều về t́nh cảm luyến ái.

Soạn giả không tán dương xă giao những bài thơ họ chọn vào tuyển tập, nhiều khi c̣n tỏ ra nghiêm khắc. Ngay cả những người được cho là “ca tiên”. Ki no Tsurayuki đă phê b́nh về Rokkasen như sau:

Từ sau đời các thiên hoàng ở Nara, không c̣n ai làm thơ hay bằng (Kakinomoto no) Hitomaro nữa. Chỉ có nhóm sáu người ca tiên (Rokkasen) là Henjô (Chính Biến), Narihira (Nghiệp B́nh), Yasuhide (Khang Tú), Kisen (Hỉ Soạn), Komachi (Tiểu Đinh) và Kuronushi (Hắc Chủ) đáng được để ư. Họ đều có ưu điểm lẫn khuyết điểm.

Tăng Henjô làm thơ thành thạo nhưng không thực. Giống như đi yêu điên cuồng người đẹp trong tranh. Narihira th́ t́nh cảm dạt dào nhưng thiếu lời để diễn tả. Như màu sắc c̣n đọng lại trên hoa tàn. Yasuhide kỹ thuật tinh xảo nhưng chuộng kiểu cách quá nên thơ hóa rỗng, giống như chú lái buôn diện quần áo bảnh. Sư Kisen th́ dùng chữ không biết móc nối, trước sau thiếu rơ ràng, khác nào trăng thu đẹp lại bị mây che khuất. Thơ bà Komachi sầu thảm, yếu ớt như con gái nhà quí phái đang lâm bệnh. Thơ Kuronushi có vẻ thấp hèn như ông tiều mang gánh củi đang nghỉ mệt dưới gốc anh đào.

(Trích từ Kana no jo ( Lời tựa bằng kana) của Kokin Waka-shuu do Ki no Tsurayuki viết).

Thơ thời nầy thường theo thể 7-5, nặng về kỹ xảo với các lối tu từ như engo (duyên ngữ, dùng để gợi liên tưởng trong câu) và kakekotoba[4] (quải từ hay huyền từ, sử dụng đồng âm dị nghĩa). Ví dụ như:

“Thu sang cây cỏ đổi màu
Chỉ riêng hoa sóng không giàu v́ thu”

(Bài Kusa mo ki mo, phần Thu (hạ), quyển 5, thơ Funya no Yasuhide)

“Lá sen vốn chẳng bùn vương,
Để chi sương đọng khoa trương với đời”

(Bài Hachisuba no, phần Hạ, quyển 3, thơ nhà sư Sôjôhenjô) 

“Cuộc đời nếu vắng anh đào
Xuân về ḷng khỏi dạt dào v́ xuân”

(Bài Yo no naka ni, phần Xuân (thượng), quyển 1, thơ vương tử Ariwara no Narihira)

-Thời kỳ thứ ba: thời của các soạn giả: (890-805) đó là thời các nhà soạn tập sách nầy (Kokin Waka-shuu) hoạt động. Đó là những nhân vật:

1- Ki no Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi) ( ?-945) chức vị thấp nhưng được xem như là người chủ biên Kokin Shuu. Thơ thiên về lư trí. Viết Tosa nikki (Thổ Tá Nhật Kư) lúc làm trấn thủ (kami) ở vùng nầy. Sáng tác c̣n có Tsurayuki-shuu (Quán Chi Tập).

2- Ki no Tomonori (Kỷ, Hữu Trắc) ((?-?), anh em họ của Tsurayuki. Ca phong hoa lệ, uyển chuyển.

3- Ôshikôchi Mitsune (Phàm Hà Nội, Cung Hằng) (?-?) cũng như trường hợp Tsurayuki, chỉ là một chức quan nhỏ nhưng địa vị trong làng thơ rất lớn Giỏi về thơ khánh hạ hoặc thơ đề trên tranh b́nh phong (byôbuu-uta).

4- Mibu no Tadamine (Nhiệm Sinh, Trung Lĩnh) (?-?) có đặc sắc là ca phong ấm áp, tao nhă.Có để lại tập phê b́nh thơ (ca luận) Wakatai Shuushuu (Ḥa ca thể thập chủng) nói về Tadamine Shuushuu (Lĩnh Trung thập thể) hay 10 thể thơ waka theo Tadamine.

Ngoài 4 soạn giả chính kể trên, c̣n phải nhắc thêm tên tuổi những nhà thơ cùng thời của họ như Sôsei Hôshi (Tố Tính Pháp Sư), Ôe Chisato (Đại Giang, Thiên Lư), Minamoto Muneyuki (Nguyên, Tông Vu), Ise (Y Thế), Fujiwara Okikaze (Đằng Nguyên, Hưng Phong), Ariwara Motokata (Tại Nguyên, Nguyên Phương), Saka-no-ue Korenori (Phản Thượng, Thị Trắc), Kiyohara no Fukayabu (Thanh Nguyên, Thâm Dưỡng Phụ)…

Trong số 4 soạn giả chính, Ki no Tsurayuki là một khuôn mặt trội hơn cả. Ông cùng với Sugawara no Michizane và Ôe Chisato đóng vai tṛ chủ đạo trong văn học Heian. Ta hăy thử t́m hiểu thêm về nhân vật nầy.

 

1) Nhà văn hóa Ki no Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi, 870?-945):

Dưới triều Nara, ḍng họ Ki là một họ có thế lực chính trị lớn nhưng đến giữa thế kỷ thứ 9 th́ đă bị sa sút dưới sức chèn ép của gia đ́nh quyền thần Fujiwara. Rời bỏ lĩnh vực chính trị, họ đi vào văn học nghệ thuật và có tiếng vang với Kino Haseo (Kỉ, Trường Cốc Hùng, 845-912), một Monjô hakase (văn chương bác sĩ), học tṛ và phó sứ trong chuyến sang nhà Đường bất thành của Sugawara no Michizane năm 894. Con Haseo là Yoshimochi (Thục Vọng, ?-919) viết bài tựa chữ Hán cho Kokin-shuu (905). Ki no Okimichi (Kỷ, Hưng Đạo ) và cháu họ trai là Aritsune (Hữu Thường) đi theo con đường âm nhạc cung đ́nh (gagaku) cũng là đường trong bóng tối.Cháu nội của Okimichi chính là Tsurayuki vậy. Có lẽ v́ không thành quan cao được nên Tsurayuki phải chọn con đường văn chương quốc âm nhưng nhờ đó mà tạo nên một sự nghiệp văn học bền lâu.

Ngoài tập Nhật kư Tosa và các bài tựa tuyển tập thơ waka như tựa của Kokin waka-shuu hay bài tựa thơ làm trong cuộc ngự du của thiên hoàng ở sông Ôi (Ôi-gawa gyôkô waka-jo) là các tác phẩm văn xuôi nổi tiếng, Tsurayuki được xem là nhà thơ waka bậc nhất đương thời. Trong Tsurayuki-shuu , thi tập mang tên ông, có gần 900 bài thơ của ông được thu thập lại, đều cho ta thấy cái tinh tế và nhạc tính của thơ ông.Ông c̣n làm nhiều thơ đề b́nh phong (byôbuu-uta), điều này nói lên liên hệ giữa thơ ông và hội họa. Ông có 442 bài thơ được chọn vào các tuyển tập soạn theo sắc chiếu.Ông đúng là học giả và thi nhân tượng trưng cho văn học bản xứ Nhật Bản, có thể đối đầu được trước ảnh hưởng của mẩu mực Trung Quốc.

Một bài thơ vịnh mùa xuân của Tsurayuki, có gợi kỷ niệm mùa hè năm ngoái và vui v́ mùa đông vừa chấm dứt:

“Băng tan theo gió xuân bày,
Nước mùa hạ cũ dầm tay áo ḿnh”

(Bài Sode hijite, Kokin-shuu, quyển 1 Xuân (thượng), bài 2)

“Bụm nước giếng núi giọt vơi
Uống chưa đă khát, như người vội xa”

(Bài Musubute no, Kokin-shuu, quyển 8, Biệt Ly)

2) Vài bài waka thời hoàn thành thi tập:

Vào thời điểm nầy, các lối tu sức engo, kakekotoba lẫn hiyu (tỉ dụ) được sử dụng rất nhiều và khéo léo bên cạnh các kỹ thuật khác như mitate[5] (kiến lập) và gijinhô [6] (nghĩ nhân pháp). Phong cách mang tính kỹ xảo trong việc sử dụng ngôn từ, nặng rơ về phần lư trí cho nên có lúc thơ trở thành một chỗ để chơi chữ.Về vận luật th́ thường theo thể 7-5 và thành từng chùm ba câu một.

Khi trời nổi gió, lá hồng,
Rơi theo làn gió xuống ḍng nước xanh,
Đă in sẵn lá trên cành

(Bài Kaze fukeba, phần Thu (thượng) 304, thơ Ôshikôchi Mitsune)

Xin ḍng lệ đổ thay mưa,
Sông Tam Đồ lụt, nước đưa em về.
Cơi trần gian ở bên ta.

(Bài Imoto no mi, phần Ai Thương bài 829, thơ Ono no Takamura Ason) 

“Lập xuân nhằm tháng mười hai,
Năm cũ? năm mới ? biết ai hỏi cùng!”

(Bài Toshi no uchi ni, phần Xuân (thượng), quyển 1, thơ Ariwara no Motokata, cháu nội Narihira )

B) Các tập waka soạn theo sắc chiếu khác:

Nửa thế kỷ sau khi Kokin-shuu ra đời, thiên hoàng (thứ 62) Murakami (Thôn Thượng, trị v́ 946-967) lại ra lệnh thiết lập Wakadokoro (Ḥa ca sở) ở một chỗ gọi Chiêu Dương Xá trong cung và cho bọn 5 người quan chức chuyên về waka như Minamoto no Shitagô (Nguyên, Thuận), Ônakatomi no Yorinobu (Đại Trung Thần, Năng Tuyên), Kiyohara no Motosuke (Thanh Nguyên, Nguyên Phụ), Ki no Tokifumi (Kỷ, Th́ Văn), Sakanoue no Mochiki (Phản Thượng, Vọng Thành) chua cách đọc theo âm Nhật cho thơ trong Man.yô-shuu (vốn viết bằng man.yôgana) và đồng thời, soạn Gosen Waka-shuu (Hậu Tuyển Ḥa Ca Tập, 951?). Năm người nầy có cái tên là Nashitsubo no Gonin (Lê Hồ Ngũ Nhân, bởi v́ trước Chiêu Dương Xá, chỗ họ làm việc, có trồng cây lê). Tập Gôsen (Hậu tuyển) nầy lấy thơ thời đại của Kokin -shuu làm nồng cốt và không chọn thơ của các soạn giả. Lời thuyết minh thường dài ḍng và có khuynh hướng kể lể như viết truyện.

Riêng về Minamoto no Shitagau (hay Shitagô, 911-983), ḍng dơi thiên hoàng Saga, cũng là một trong 36 ca tiên, năm mới ngoài 20 tuổi đă theo lệnh công chúa Kinshi soạn tập ngữ vựng thơ Wamyô ruiji shô (Nụy danh loại tự sao, 931-938) chú thích rất tường tận bằng tiếng Nhật những chữ Hán dùng trong thơ và sắp xếp nó theo từng chủ đề.Trong Shitagau-shuu (Thuận tập), ông đă thử làm thơ theo h́nh thức sắp quân cờ trên bàn cờ vây khiến ta liên tưởng đến thủ pháp của Apollinaire trong Calligrammes trong bối cảnh thế kỷ thứ 10 ở Nhật.

Đến đầu thời Hei-an th́ thiên hoàng (thứ 66) Ichijô (Nhất Điều, trị v́ 986-1011) ra lệnh soạn tiến lên vua Shuu.i waka-shuu (Thập Di Ḥa Ca Tập, 1004-1012). Tập nầy cũng “nhặt sót” thơ dưới thời Kokin Shuu và tôn trọng phong cách thời đó. Cho nên khi nói đến Kokin-shuu , Gosen-shuu Shuu-I-shuu, người ta gọi nó là Sandai Shuu (Tam đại tập = Thi tập ba đời), ba tập thơ thủy tổ có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sau.

Cuối đời Hei-an có Fujiwarano Michitoshi (Đằng Nguyên, Thông Tuấn) soạn Go shuu.i waka-shuu (Hậu thập di ḥa ca tập), trong đó thâu thập thơ của Izumi Shikibu (Ḥa Tuyền Thức Bộ), Sagami (Tương Mô), Akazome Emon (Xích Nhiễm, Vệ Môn)…Thơ các nữ thi nhân trong tập đó rất nhiều và phong cách mới mẽ, khác hẳn ca phong của Kokin-shuu. Sau đó lại có Minamoto Toshiyori (Nguyên, Tuấn Lại) soạn Kin.yô waka-shuu (Kim Diệp Ḥa Ca Tập, 1127?), phần lớn là thơ của người cùng thời, gồm cả các bài renga (liên ca, một h́nh thức thơ xướng họa liên kết với nhau), cho nên thổi được một luồng gió mới vào thơ đương thời. Tiếp đến phải kể tới Shika waka-shuu (Từ hoa ḥa ca tập, 1151-1154) của Fujiwarano Akisuke (Đằng Nguyên, Hiển Phụ) cũng đưa đến sự mới mẻ như Kin.yô (Kim diệp) nhưng nh́n toàn thể th́ thấy tập thơ giữ được quân b́nh hơn.

Giữa thời hai họ Minamoto (Nguyên) và Taira (B́nh) tranh giành quyền bính nghĩa là giai đoạn cuối thế kỷ 12, Fujiwarano Shunzei (Đằng Nguyên, Tuấn Thành) soạn ra Senzai Waka-shuu (Thiên Tải Ḥa Ca Tập, 1183) với chủ trương chọn lọc những vần thơ miêu tả t́nh cảm u huyền, thâm sâu v́ theo người soạn nó, đó mới là những vần thơ đẹp (tú ca). Cộng thêm với Shin Kokin-shuu (Tân Cổ Kim Tập), tám tập waka, kể từ Kokin-shuu, soạn theo lệnh thiên hoàng được mệnh danh là Bát Đại Tập tức thơ tám đời.

Tóm lược về Bát Đại Tập

Tên Tập

Số Quyển

Năm Ra Đời

Đời thiên hoàng hay thái thượng hoàng (In = Viện) hạ lệnh soạn

Người biên soạn

Chính

(1) Kokin (Cổ Kim)

20

905 hay 914

Daigo (Đề Hồ)

Ki no Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi) và 3 người khác

(2) Gô Kokin

(Hậu Cổ Kim)

20

951

Murakami

(Thôn Thượng)

Minamoto no Shitagô

(Nguyên, Thuận) và 4 người khác

(3) Shuu-i (Thập Di)

20

951

Kazan-In (Hoa Sơn Viện )

Kazan-in (có thuyết là Kintô (Đằng Nguyên Công Nhiệm)

(4)Go Shuu-i

(Hậu Thập Di)

20

1086

Shirakawa (Bạch Hà)

Minamoto no Michitoshi (Đằng Nguyên Thông Tuấn)

(5) Kinyô

Shuu

(Kim Diệp)

10

1127

Shirakawa-in (Bạch Hà Viện)

Minamoto noToshiyori (Nguyên, Tuấn Lại)

(6) Shika

(Từ Hoa)

10

1151-54

Sutoku-in ( Sùng Đức Viện)

Fujiwara no Akisuke (Đằng Nguyên Hiển Phụ)

(7) Senzai

(Thiên Tải)

20

1188

Gô Shirakawa-in ( Hậu-Bạch Hà Viện)

Fujiwara no Shunzei (Đằng Nguyên Tuấn Thành)

 

(8) Shin Kokin (Tân Cổ Kim)

20

1205

Gô Toba-in (Hậu Điểu Vũ Viện)

Minamoto no Michitomo (Nguyên Thông Cụ) và 4 người khác

 

So sánh Manyôshuu (Vạn Diệp Tập), Kokinshuu (Cố Kim Tập) và Shin-Kokinshuu (Tân Cổ Kim Tập)

 

Manyôshuu

Kokinshuu
Shin-Kokinshuu

Xuất hiện

thời Nara (từ giữa thế kỷ thứ 8 trở đi)

đầu thời Heian (khoảng năm 905 hay 914)

Đầu thời Kamakura (khoảng 1205)

Người biên soạn

không rơ chỉ biết Ôtomo no Yakamochi là chính

4 người mà Ki no Tomonori và Ki no Tsurayuki là chính

6 người mà Fujiwara no Teika là chính

Thi nhân tiêu biểu

Nukata no ôkimi, Kakinomoto no Hitomaro, Yamabe, Akahito Yamanoue no Okura, Ôtomo no Tabito, Ôtomo no Yakamochi

Các soạn giả và Rokkasen, Ariwara no Akihira, Fujiwara no Toshiyuki, Sosei Hôshi, Ise

Các soạn giả và tăng Saigyô, Shokushi Shinnô, Fujiwara Shunzei, tăng Jien và thái thượng hoàng Go-Toba 

Số quyển

20 quyển, khoảng 4500 bài

20 quyển, khoảng 1100 bài

20 quyển, khoảng 2000 bài

Số quyển

20 quyển, khoảng 4500 bài

20 quyển, khoảng 1100 bài

20 quyển, khoảng 2000 bài

Thể thơ

Đoản ca, trường ca, ca đối đáp, lối ca khắc ở tượng chân Phật

đoản ca, trường ca, ca đối đáp

đoản ca

Nội dung

Thơ t́nh, thơ nhớ nhau, thơ phúng  điếu , tạp ca

thơ vịnh bốn mùa, thơ t́nh, chúc tụng, ly biệt, bi thương

Thơ vịnh bốn mùa, thơ t́nh, chúc tụng, ly biệt, bi thương, thơ tôn giáo Thần Phật

Khổ thơ và  phương pháp tu từ

Khổ 5/7 (cắt làm 2 hay 4 câu). Dùng makura-kotoba, jôkotoba, tsuiku, hanpuku, jiamari

Khổ 5/7 (cắt làm 3 câu một). Dùng makura-kotoba, jôkotoba, tsuiku, hanpuku, thêm vào đó hiyu (midate, gijinhô)

Khổ 5/7 (cắt  cuối câu đầu và câu thứ 3). Dùng makura-kotoba, jôkotoba, tsuiku, hanpuku, thêm vào đó honkadori, taigendome

Thi phong

Hùng tráng, thẳng thắn, chất phác, tức

masuraoburi

kỹ xảo, thiên về lư trí, khái niệm, tinh tế, hoa mỹ, tức taoyameburi

kỹ xăo, tượng trưng, kể lể, ugen, yuushin

Xuất xứ: Genshoku Shiguma Shinkokugo Binran, 2002

 

C) Các thi tập waka cá nhân (tư gia tập=shikashuu)

Sau thời của các Kokin -shuu (Cổ kim tập) “gom góp thơ xưa nay” là thời đại của các Shuu-I -shuu (Thập di tập) “nhặt sót” giới thiệu những thi nhân waka (kajin = ca nhân) tiếng tăm như Sone no Yoshitada (Tăng Nỉ, Hiếu Trung), Izumi Shikibu (Ḥa Tuyền, Thức Bộ) và Fujiwara no Kintô (Đằng Nguyên, Công Nhiệm, 966-1041).

Fujiwara no Kintô là con trai của chức kampaku tên Yoritada (Lại Trung), là người bác học và đa tài. Ông đóng vai chủ tể thi đàn thời bấy giờ và c̣n để lại hai tập phê b́nh thơ Shinsen zuinô (Tân tuyển tủy năo) và Waka kubon (Ḥa ca cửu phẩm) cũng như tập biên sọan Wakan rôei-shuu (Ḥa Hán lăng vịnh tập, khoảng năm 1012). C̣n Sone no Yoshitada (?-?) v́ làm chức Duyện ở xứ Tango (Đan Hậu Duyện) nên được đời gọi là Sotan (Tăng Đan) tức là ông họ So (Tăng) xứ Tango (Đan Hậu). Tuy thơ được tán thưởng nhưng tính khí bướng bĩnh nên không ai dung. Ca phong của ông tự do, phóng túng, mới mẽ tân kỳ. Để lại tập Sotan shuu (Tăng Đan tập). Người thứ ba là bà Izumi Shikibu (Ḥa Tuyền, Thức Bộ) (?-?), con gái của Ôe Masamune (Đại Giang, Nhă Chí). Trước tiên, bà kết hôn với Tachibana no Michisada (Quất, Đạo Trinh) và sinh ra Koshikibu (Tiểu Thức Bộ), rồi trở thành t́nh nhân của hai thân vương Tametaka (Vi Tôn) và Atsumichi (Đôn Đạo). Sau đó nhân hầu cận Jôtômon-in (Thượng Đông Môn Viện)[7] tức là bà Fujiwara Shôshi (Đằng Nguyên, Chương Tử, 988-1074), hoàng hậu của thiên hoàng Ichijô (Nhất Điều), bà mới tái hôn với Fujiwara Yasumasa (Đằng Nguyên, Bảo Xương) rồi lại ly hôn ông nầy. Cuộc đời t́nh ái sóng gió như vậy chứng tỏ tính t́nh tự do độc lập của bà. Thơ của bà điêu luyện về mặt kỹ thuật và phóng túng trong cảm nghĩ.

Fujiwara no Kintô chủ trương Tâm và Từ phải có sự ḥa điệu trong khi Yoshitada và Shikibu bộc lộ cá tính khác đời trong thơ của họ. Tập Sotan-shuu của Yoshitada và Izumi Shikibu- shuu của Shikibu là những “tập thơ cá nhân” mà người Nhật gọi là shikashuu (tư gia tập) hay kashuu (gia tập).

Ngoài ba nhân vật nói trên, thời Gô kokin-shuu có Minamoto Tsunenobu [8] (Nguyên, Kinh Tín), thời Kin.yô-shuu có soạn giả tập ấy là Minamoto Toshiyori [9](Nguyên, Tuấn Lại), đều là những thi nhân waka kiệt xuất. Với Toshiyori (con của Tsunenobu), đề tài và phong cách của waka có thêm sự mới mẽ cũng như tự do về mặt biểu hiện.Tập thơ cá nhân của Toshiyori có nhan đề là Sanboku kika-shuu (Tán Mộc[10] Kỳ Ca Tập). Ông c̣n được biết tới v́ tài thổi sáo, làm thơ thi tài trong các cuộc uta-awase và thiện nghệ về loại renga ngắn mang tên là tan-renga (đoản liên ca), một thứ tanka có 2 vế xướng họa giữa hai người. Có thể xem ông như người tiếp nối tư tưởng thi ca của Kintô và đă ảnh hưởng không ít đến waka thời Kamakura. Năm 1127, theo chiếu chỉ của thiên hoàng Shirakawa, ông đă soạn Kin.yô waka-shuu (Kim diệp ḥa ca tập).

Kể về những thi nhân waka cuối đời Hei-an th́ có những nhân vật nổi tiếng như Fujiwara no Shunzei (Đằng Nguyên, Tuấn Thành) và tăng Saigyô (Tây Hành). Shunzei vốn là con của Toshitada (Tuấn Trung) và là cha của Teika (Định Gia). Trước kia Shunzei đă nhập môn phái bảo thủ của Fujuwara no Mototoshi (Đằng Nguyên, Cơ Tuấn, ? - 1142) nhưng v́ mến mộ phong cách thanh tân của trường phái Minamoto no Toshiyori (Nguyên, Tuấn Lại, 1016-1129) nên lấy cái hay của hai nhà mà lập ra phong cách thi ca đặc biệt cho ḿnh.Chủ trương cái đẹp nằm ở chỗ ẩn dấu, u huyền. Để lại tập thi luận Korai Futeishô (Cổ Lai Phong Thể Sao) ghi chép lại các thể thơ xưa nay và tập thơ cá nhân (kashuu) của ông tựa đề là Chôshuu Eisô (Trường Thu Vịnh Tảo). C̣n tăng Saigyô (Tây Hành) (1118-1190) vốn có tục danh là Satô Norikiyo (Tá Đằng, Nghĩa Thanh) trước là vũ sĩ bảo vệ cung cấm nhưng sau bỏ vợ con lại, xuất gia làm tăng. Du lịch nhiều nơi và sáng tác. Thơ ông chuộng tự nhiên, không học đ̣i kỷ xảo. Để lại tập thơ riêng Sanka-shuu (Sơn Gia Tập).

A)    Các hội thi thơ (ca hợp=uta-awase) và phê b́nh thơ (ca luận = karon):

Uta-awase[11](ca hợp) bắt đầu có vào giữa thế kỷ thứ 9, ban đầu chỉ là những cuộc hội họp để làm thơ có tính cách xă giao tiêu khiển mà thôi. Nhưng từ sau những hội thơ (xin hiểu là những cuộc b́nh thơ) có tiếng tăm như Teiji no in uta-awase (Đ́nh Tử Viện ca hợp, 913) họp ở Teiji-no-in là chỗ ở của pháp hoàng[12] Uta (Vũ Đa) và Tentoku Dairi Uta-awase (Thiên Đức Nội LưcCa hợp, 960) trong năm Tentoku (Thiên Đức) thứ 4 ở điện Seiryô (Thanh Lương) trong hoàng cung, th́ những lời phẩm b́nh thơ vào dịp đó (hanji = phán từ) đă trở thành cơ sở cho lư luận phê b́nh thơ (karon = ca luận) về sau.

Bài viết về lư luận thơ waka đầu tiên có lẽ là lời tựa bằng quốc âm kana (kanajo) của Kokin-shuu (Cổ kim tập).Sau khi waka đă hưng thịnh rồi th́ người viết về lư luận waka càng ngày càng nhiều và phải kể đến những tên tuổi như Mibu-no-Tadamine (Nhiệm Sinh, Trung Lĩnh) với Wakatai Jisshu (Ḥa ca thể thập chủng), Fujiwara Kintô (Đằng Nguyên Công Nhiệm) với Shinsen Zuinô (Tân tuyển tủy năo) và Waka Kubon (Ḥa ca cửu phẩm), Minamoto-no-Toshiyori (Nguyên, Tuấn Lại) với Toshiyori Zuinô (Tuấn Lại tủy năo), Fujiwara Kiyosuke[13] (Đằng Nguyên Thanh Phụ) với Fukurono Sôshi (Đại thảo tử). Như đă đề cập ở trên, đến đầu thời Kamakura (1185-1333) th́ Fujiwara no  Shunzei (Đằng Nguyên, Tuấn Thành) lại cho ra đời tập ca luận Korai Futei Shô (Cổ lai phong thể sao) ghi chép các thể thơ và phong cách waka từ trước đến nay.

E) Vài đặc điểm của ngôn ngữ và cách sáng tác thơ Waka:

1)      Vần điệu:

Văn vần khác với văn xuôi ở chỗ có “vận luật”. Vần là những chữ đồng âm hay có âm tương cận và sự xếp vần là một công phu cần thiết trong khi làm thơ. Luật là số chữ trong câu hoặc số câu trong bài theo một mẫu mực cố định mà người làm thơ phải theo. Tiêu biểu cho văn vần (vận văn) Nhật Bản , waka lại không có vần, dù là cước vận (vần ở cuối câu như Âu Mỹ, Trung Quốc, Việt Nam) hay yêu vận (vần ở giữa câu như Việt Nam). Waka không theo một luật thuần nhất về số chữ trong câu (tứ ngôn, ngũ ngôn, thất ngôn…) hay số câu trong bài (tứ tuyệt, bát cú…) như Trung Quốc. Waka gồm một số câu, thường là theo hàng lẻ, và là một chuỗi 5/7/5/7/7 âm như đă tŕnh bày ở phần trên. Sự hạn chế về vận luật của waka và các thể loại thơ Nhật về sau được giải thích bởi Uchida Kentoku (Nội Điền, Hiền Đức)[14] là v́ ngôn ngữ Nhật Bản cấu thành bằng những âm mở ở cuối chữ (mẫu âm a/i/u/e/o chứ không phải âm đóng như phụ âm) và có những dấu nhấn cao thấp (chứ không phải mạnh yếu) làm cho nó không bắt vần dễ dàng được.

2)      Từ ngữ:

Về từ ngữ sử dụng trong waka th́ khởi thủy nó dựa trên những chữ dùng trong các tác phẩm cổ điển, từ từ tăng thêm để có một ngữ vựng thi ca gọi là kago (ca ngữ). “Ca ngữ”mà cơ sở là “tiếng Nhật thanh nhă” tuy biến đổi với thời gian nhưng luôn luôn được phân chia ranh giới với ngôn ngữ hằng ngày và Hán ngữ. “Ca ngữ” được dùng lập đi lập lại trong thơ nhưng nội dung (hàm ư) của những chữ dùng đó dần dần được xác định.Nội dung đó có tên là hon-i (bản ư) tức là ư chính.Ví dụ khi sử dụng chữ ume (hoa mơ) th́ các người làm thơ đă có qui ước với nhau là phải đặt trọng tâm đến làn hương (khứu giác) cứ không phải màu sắc (thị giác) của hoa.Nói đến tachibana no kaori (hương cam quít) , thi nhân đều đồng cảm về mùi hương gợi nhớ thương đến một người hay một cuộc gặp gỡ trong quá khứ. Chim cuốc (hototogisu) [15] là loài chim báo tin mùa hè. Xưa kia, một thi sĩ như Ôtomo no Yakamochi chẳng hạn, viết rất nhiều về chim cuốc. Cũng vậy, bài mở đầu cho phần mùa hạ trong Kokin waka-shuu đă vịnh ngay hototogisu và trong số 34 bài thơ nói về mùa hạ của tập nầy, đă có 30 vịnh tiếng cuốc kêu. Qui ước của tiếng cuốc là ḷng nhớ thương người, là quá khứ xa xưa đuổi theo ḿnh. Không những tiếng cuốc đầu mùa (sơ âm) mà lúc cuối mùa, tiếng cuốc vắng đi cũng là một đề tài nói về tiếc nuối.

Những qui ước về “ca ngữ” như trên đă trở thành một bảo chứng cho thành viên của xă hội thơ cung đ́nh để, khi áp dụng nó, họ cảm thấy ḿnh là một bộ phận của xă hội đó.

3)      Nơi chốn sáng tác:

Theo Hayashi Tatsuya[16], khi làm waka, người ta ít khi làm một ḿnh kiểu “độc vịnh” như để thoát ra tiếng thở dài trong cô quạnh. Thơ waka dầu là để tặng ai, dầu là làm trong một hội thơ, luôn luôn phát xuất từ mối quan hệ với người khác. Làm như waka là phương tiện giao cảm với tha nhân và việc sử dụng “ca ngữ” mà ai cũng chấp thuận, cũng đóng góp vào sự gắn bó, ràng buộc giữa người làm thơ và những kẻ chung quanh.

Thời Heian, tâm lư người đến dự các hội thơ (uta-awase) cũng giống như người đến dự một cuộc đua ngựa hay xem đấu vật. Hội thơ là nơi để tiêu khiển trong sự phân tài cao thấp giữa các người làm thơ. Chính nhờ có những hội thơ như thế mà waka đă phục sinh sau một thế kỷ im ắng từ khi Man.yô-shuu ra đời, và nó lại c̣n là động cơ cho việc các thiên hoàng giáng chiếu soạn thi tập.

Dầu vậy, các hội thơ không phải tổ chức ở những chốn riêng tư trong dân mà được diễn ra ở chốn công cộng như những nơi yến tiệc (hare no uta- awase) v́ hare có nghĩa là lúc vui tươi nhộn nhịp. Muốn chiều ư đám đông, nó phải tránh né một số giới hạn về ngôn ngữ v́ có những cấm kỵ, mê tín. Do đó, nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao nhưng không hợp với quan niệm đạo đức đương thời hay có nội dung quá cá nhân, đă bị gạt ra. Người chấm thi chính hay chủ khảo (hanja) chỉ chấp nhận t́nh cảm trung dung hay t́nh cảm mới nhưng lồng trong lời thơ theo qui ước cũ. Chủ đề “thuật hoài” than thở cảnh ngộ sinh ra không gặp thời chẳng hạn chỉ xuất hiện trong các hội thơ từ thế kỷ 13 và chủ đề lớn như t́nh yêu cũng chỉ được xếp sau chủ đề về thiên nhiên và sự vật. Những lời b́nh luận (hanji = phán từ) của chủ khảo sẽ là điểm tựa để qui định “bản ư” của câu chữ mà người làm thơ phải noi theo nếu không muốn gặp khó khăn. Đến thời cận đại, t́nh cảm cá nhân bộc lộ qua thi ca được đề cao nhưng dưới thời Heian, thái độ nầy bị coi như đứng bên lề ḍng thơ chính thống nếu không nói là theo tà phái.

4)      Nội dung:

Waka không châm biếm, không ca ngợi chiến tranh hay vẻ đẹp của thân thể con người. Như đă nói, v́ nó kết hợp t́nh cảm của con người với những hiện tượng thiên nhiên bằng một ngôn ngữ đă mă hoá (sương = nước mắt; sương = kiếp người mỏng manh và ngắn ngủi) cho nên thi tăng Saigyô (Tây Hành, 1118-1190) đă có thể nói lên được ḷng tin tôn giáo của ḿnh trong thơ ngay cả khi chỉ vịnh lá hoa, chim chóc. Nội dung của waka chỉ được gợi ra chứ không được đem ra tŕnh bày thẳng. Khổ ngắn của waka chỉ cho phép bóng gió chứ không cho phép giải thích dài gịng. Nhà thơ có tài phải biết cho người ta hiểu nhiều tâm trạng ḿnh dâng trào (amari no kokoro) ra ngoài những điều bày tỏ qua chữ viết.

Nội dung của waka phong phú v́ từ ngữ phần nhiều đa nghĩa.Hai âm kiku chẳng hạn có thể hiểu là “nghe” có thể hiểu là “hoa cúc”, động từ oku có thể hiểu là đặt xuống” nhưng cũng có nghĩa là “thức dậy”.

5)      Chỗ khác nhau giữa Man.yô-shuuKokin-shuu:

Trước hết Man.yô-shuu qui tụ hầu như những bài thơ viết cuối thế kỷ thứ 7 và tiền bán thế kỷ thứ 8 (trước 759) trong khi Kokin-shuu góp nhặt (năm 905 hay 914) những bài waka chủ yếu làm trong thế kỷ thứ 9.

Man.yô-shuu không soạn theo chiếu chỉ thiên hoàng. Kokin-shuu th́ có, chứng tỏ thời điểm đó waka mới được nhà nước nh́n nhận. Trong các tập thơ soạn theo sắc chiếu trước thế kỷ thứ 9 như Ryôun-shuu (Lăng vân tập), Bunka Shuurei-shuu (Văn hoa tú lệ tập) hay Keikoku-shuu (Kinh quốc tập) không thấy có waka. Thơ thu thập vào Kokin-shuu được sáng tác ở những chỗ hội họp công chúng và được đánh giá theo ư kiến chủ quan của giám khảo và sau đó là nền tảng để soạn những tập lư luận về thơ hay karon.

Theo nhà nghiên cứu Katô Shuuichi, một chỗ khác nhau rơ rệt giữa hai tập là nguồn gốc xă hội của các tác giả. Tác giả trong Man.yô-shuu đủ loại người từ thiên hoàng đến nông dân miền Đông, lính thú miền Nam, quí tộc lẫn người thường. C̣n Kokin-shuu th́ tuy có 30% trong số 1100 bài là của tác giả vô danh (yomibito shirazu) nhưng xem nội dung và ngữ vựng mà xét th́ các tác giả đó không phải là nông dân ở địa phương mà là những người đă tham dự vào các hội thơ (uta-awase) nghĩa là có một địa vị xă hội nào đó. Thế giới của Man.yô mở cho mọi người th́ thế giới của Kokin hầu như đóng khung trong giai tầng quí tộc cung đ́nh. Đặc điểm khác là có một số nhà thơ chủ yếu nổi lên, đó là 4 nhà biên soạn, xuất thân từ tầng lớp tiểu quí tộc. Riêng họ đă viết độ 1/5 tập rồi.

Về mặt h́nh thức, chữ Hán thấy trong Man.yô đă nhường bước cho kana của Kokin. Trong Man.yô có nhiều chôka lẫn sedôka bên cạnh tanka nhưng hai thể loại đó đă vắng bóng đi trong Kokin (10/1100). Bởi v́ tanka vốn ngắn, dễ làm hơn hai loại kia, được yêu chuộng ở các hội thơ. Tóm lại, waka càng phổ biến trong đại chúng bao nhiêu th́ những thể thơ khó làm sẽ mất đi lư do tồn tại.

Màu sắc Phật giáo thoáng thấy trong Kokin (khoảng 100 bài) nhưng chưa đủ nhiều để bảo là nó đi xa hơn Man.yô. Có chăng là trong Man.yô thơ nói về t́nh yêu nam nữ th́ nhiều, thơ về sự thay đổi bốn mùa so với thơ nói về t́nh yêu th́ ít (2/10 tập). Khuynh hướng đó ngược lại trong Kokin (6/20 tập) , thơ về bốn mùa có khi không đả động đến t́nh yêu. Có lẽ v́ sự xuất hiện của một số “nhà thơ chuyên nghiệp” đă khiến cho đề tài của thơ “phi nhân cách hóa” đi chứ người thời Kokin không có lư do đặc biệt nào để yêu thiên nhiên hơn người thời Manyô cả

Chúng ta cũng cần để ư một số điểm tuy nhỏ nhưng quan trọng. Đó là ngữ nghĩa. Động từ kou (yêu) khi dùng trong Man.yô th́ có nghĩa “ ôm ấp ”, “ ngủ chung ” “ lên giường ” và hướng về một đối tượng trong khi kou trong Kokin chỉ là “ nghĩ tới ”, “ mơ tưởng ” và thường dùng để chỉ một trạng thái của chủ thể phi đối tượng. Thơ Kokin tránh những động từ như ineru (ngủ chung) v́ nó gợi rơ ư luyến ái xác thịt. Các nhà thơ thường mượn giấc mộng để ám chỉ sự việc muốn nói và lần đầu tiên , “ người t́nh trong giấc mộng ” đă đi vào văn học Nhật Bản qua những vần thơ của Ono no Komachi chẳng hạn.

Cũng vậy, thi nhân Man.yô khi ngâm vịnh thường dùng th́ hiện tại. Trong Kokin, liên hệ giữa hiện tại và quá khứ, hiện tại và tương lai được đề cập tới với một tâm lư phức tạp hơn người thời Nara.

Một điều có thể nói ở đây là qua Kokin, ta thấy được truyền thống của quí tộc cung đ́nh Heian, nó sẽ giúp họ xác định được bản sắc của ḿnh, bản sắc mà họ c̣n truyền đạt cho nhau trong bí mật (Kokin denjuu : truyền thụ bí quyết thơ Kokin từ thầy qua tṛ) cho dầu khi quyền lực chính trị của họ rơi vào tay các vũ sĩ của thế lực mạc phủ Kamakura.

Katô Shuuichi nhận định có một sự định chế hóa (institutionalization) waka trong thời điểm này. Kokin-shuu trở thành khuôn vàng thước ngọc (locus classicus) sau khi được đề cập đến như “ cách làm thơ mọi người phải bắt chước ” trong các tập karon (lư luận thơ) như Waka Kubon của Fujiwara no Kintô viết cuối thế kỷ thứ 10 chẳng hạn. Nó thể hiện mỹ học của giới quí tộc và nhất là nam giới đương thời, t́m về những cảm hứng bắt nguồn ở phong cảnh thiên nhiên. Đam mê t́nh dục của Man.yô-shuu và những vần thơ t́nh cảm lăng mạn của các nhà thơ nữ cung đ́nh như Izumi Shikibu hầu như bị quên lăng.

Hăy thử so sánh hai khuynh hướng đó. Thơ “ mẫu mực ” theo ư kiến của Kintô như sau:

Sáng nay trời mới vào xuân ,
(Núi) Yoshino có ch́m dần sương lam?

(Bài Haru tatsu to, Shuui-shuu quyển 1, thơ Mibu no Tadamine)

Đi qua bến Akashi,
Trong sương thu nhớ thuyền đi đảo ngoài

(Bài Honobinoto, Kokin-shuu, tập 9, tác giả vô danh)

Địa điểm là núi Yoshino và bến Akashi, hai “ gối thơ ” quan trọng và kigo (chữ về mùa) là sương lam mùa xuân (kasumi) trong bài thứ nhất và sương mù mùa thu (kiri) trong bài thơ thứ hai theo ngữ vựng thời Heian.

Trong khi ấy, những tuyệt tác của các nhà thơ nữ (không rơ ai viết nhưng có thể là của bà Izumi Shikibu) c̣n ghi lại trong Goshuui waka -shuu (Hậu thập di tập ḥa ca tập, 1086) không được các nhà phê b́nh nam giới, tức là trọng tài không thể thay thế được của các cuộc b́nh thơ thời ấy, đánh giá cao, v́ các tác phẩm đó không hợp với cảm xúc của quí vị đó. Thơ như sau  :

Tóc huyền chảy rối bờ vai,
Mơ màng em nhớ tay ai vuốt hoài.

(Bài Kuro kami no, Goshuui-shuu, bài 775)

Mai sau để c̣n nhớ người,
Giờ xin gặp một lần thôi cũng đành.

(Bài Arazaran, Goshuui-shuu, bài 775)

Ngày nay, người ta c̣n giữ lại được bản phúc tŕnh kết quả các hội b́nh thơ (uta-awase) mà xưa nhất là hội thơ tổ chức ngày mồng ba tháng 3 năm 913, lúc đó thiên hoàng là người thắng giải (điều mà ta không lấy chi làm lạ). Cách chấm giải rất bảo thủ và chủ quan nên có thể bảo các hội thơ là cơ hội để củng cố truyền thống hơn là thực sự đi t́m cái hay, cái đẹp trong thơ ca. Sự định chế hóa thi ca nầy cũng thể hiện nhu cầu kết hợp mọi người theo một ư kiến chung, điều thường thấy trong xă hội Nhật Bản xuyên qua mọi thời đại.

6)      Thiên nhiên trong thơ Waka:

Trong waka nói riêng và thi ca Nhật Bản nói chung, thiên nhiên đóng một vai tṛ rất quan trọng, như một kỹ thuật, như một qui ước giữa những người sáng tác. Ḷng yêu thiên nhiên và sự nhạy cảm đối với thời tiết là một đặc điểm của tâm hồn Nhật Bản. Chủ đề thiên nhiên tuy có làm phong phú nội dung thi ca nhưng trong một chiều hướng khác, nó đă tạo ra những câu thúc và khuôn sáo. Xin dẫn ra đây vài tên thực vật và động vật thông dụng v́ thơ waka c̣n nói đến nhiều giống chỉ sống ở vùng ôn đới và đôi khi chỉ sống ở Nhật Bản.

-Mùa xuân (tháng giêng đến tháng 3 âm lịch):

Thực vật: mơ (ume), lan tím (sumire), anh đào (sakura) , hải đường (tsubaki), lê (nashi), tử đằng (fuji), đào (momo), liễu (yanagi), hồng vàng (yamabuki), ngải cứu (yomogi), cây đuôi chồn (warabi).

Động vật: chim oanh (uguisu), én (tsubakurame), sơn ca (hibari), ong (hachi) ếch (kawazu), tằm (kaiko), bướm (chô), susume no ko (sẻ con)

Vụ mùa: ngày dài (hinaga), đêm 88 (hachijuhachiya) để chỉ mùa hái trà, tiết xuân (haruoshimu), văn xuân (yukuharu).

Thiên văn-Địa lư: trăng mờ sương (oborozuki), tuyết tan (yukidoke), sương lam (kasumi)

Sinh hoạt-Hội hè: kusamochi (bánh nếp bọc lá), tako (diều), vỡ ruộng (hatakeuchi), ngắt lá chè (chatsumi)…

-Mùa hè (tháng 4 đến tháng 6 âm lịch)::

Thực vật: hoa xương bồ (ayame), hoa diên vỹ (kakitsubata), hoa sơn chi (kuchinashi), sen (hachisu), hahakigi (kim tước chi), mẫu đơn (botan), hoa lưu ly thảo (wasurenagusa)

Động vật: chim bói cá (u) gà nước ( kuina), c̣ (sagi), cuốc (hototogisu), đom đóm (hotaru), kiến (ari), muỗi (ka) , cá hương (ayu), ve (semi), cá vàng (kingyo).

Vụ mùa: đêm vắn (mijikayo), nyuubai (đầu mùa mưa hè), atsusa (cái nóng), kề thu (akichikashi).

Thiên văn-Địa lư: kaminari (sấm), niji (mống trời), yuudachi (mưa rào)

Sinh hoạt -Hội hè: mugikari (gặt lúa mạch), yukata (áo mát), kaya (mùng), taue (cấy lúa)…

-Mùa thu (tháng 7 đến tháng 9 âm lịch):

Thực vật: lau sậy (ashi), cúc (kiku), chuối (bashô), lau già (ogi), quả hồng (kaki).

Động vật: chuồn chuồn (kagerô), dế mèn (kirigirisu), dế tùng (matsumushi), chim cút (uzura), ngỗng trời (kari), chim “cát” (sandpiper, shigi), hải âu (miyakodori), gà gô (yamadori).

Vụ mùa: yosamu (đêm lạnh), zansho (hơi nóng c̣n sót), chuushuu (trung thu)

Thiên văn-Địa lư: Amanokawa (sông Ngân), inazuma (chớp nháng), trăng (tsuki), sương thu (kiri), tiếng thu (aki no koe).

Sinh hoạt -Hội hè: Tanabata (Thất Tịch), kinuta (chày), tsukimi (ngắm trăng), tảo mộ (hakamairi), được mùa (hônen)…

Mùa đông (tháng 10 đến tháng chạp âm lịch)

Thực vật: tầm gửi (yodoriki), ochiba (lá rụng), negi (hành), suisen (thủy tiên), sazanka (sơn trà), daikon ( củ cải trắng)

Động vật: vịt trời (kamo), chim óc cau (chidori), hạc (tsuru), thỏ (usagi), ṣ (kaki), mimizuku (một loại chim cú).

Vụ mùa: rittô (lập đông), cuối năm (toshi no kure), oomisoka (trừ tịch)

Thiên văn-Địa lư: kareno (đồng khô lá), sương giá (shimo), kitsunebi (lửa ma trơi), hatsuyuki (tuyết đầu mùa)

Sinh hoạt-Hội hè: tất (tabi), ho (seki), futon (nệm), sumiyaki (đốt than), susuhaki (quét bồ hóng)…

Đó là khởi điểm cho những chữ về mùa hay kigo (quí ngữ), rất thông dụng trong việc sáng tác thơ haiku.

7)      T́m hiểu thêm về phương pháp tu từ của Waka:

-Makura-kotoba (chẩm từ, chữ làm gối, chữ gợi hứng): Thường thường là một câu chữ gồm 5 âm tiết để dẫn vào và trang điểm cho chữ đến ngay đằng sau. Phải có một mối liên hệ về mặt ư nghĩa giữa nó và nội dung bài thơ. Không được diễn ư nó ra văn nói mà phải để nguyên như thế.

Ví dụ: kusamakura (lấy cỏ làm gối) để tiếp nối với tabi ( chuyến đi xa,) hay chữ utsusemi no (xác ve) để tiếp nối với munashi (sự trống rỗng), yo (cuộc đời), mi (thân phận), hito (con người,) trong khi chữ hisakata no (phía xa vời) để bắt liền với ama (trời), tsuki (trăng), kumo (mây), sora (bầu trời), hikari (ánh sáng) vv…

-Jo-kotoba (tự từ hay chữ giáo đầu): Câu chữ không có h́nh thức nhất định nhưng ít nhất là bảy âm tiết, cũng đóng vai tṛ dẫn lối hay tu sức cho chữ đến sau. Tuy không dính liền với ư của bài thơ nhưng được dùng như một tỉ dụ hay một tương trưng.Khi muốn dịch ra văn nói phải gia công khéo léo.

Ví dụ:  Kazefukeba otsu shuranami (Gió nổi ngoài khơi sóng bạc đầu) nối liền với chữ tatsu (nổi lên, dựng lên) có thể làm người đọc vừa liên tưởng đến “sóng bạc nổi lên”, vừa liên tưởng đến “ngọn núi Tatsutayama” mà người tác giả nghĩ đến đang vượt qua trên đường đi.

-Kakekotoba (Quải Từ, chữ mắc lên, treo lên) lợi dụng khả năng đồng âm dị nghĩa để dùng một chữ mà nói được hai ư, tạo nên một h́nh ảnh phức tạp.

Ví dụ: Aki vừa có nghĩa là “mùa thu” vừa có nghĩa là “ngán”. Kari  vừa có nghĩa là “ đi săn”, nhưng c̣n có các nghĩa khác như “chim nhạn”, “vay mượn”, “giả tạo”, Nami vừa có nghĩa là “sóng” vừa là “không c̣n ǵ”.

Trong câu thơ; Hitomo kusa mo karenu (Cỏ héo khô, người lăng xa) Th́ chữ karenu có hai nghĩa “đă lăng xa” và “đă khô héo” nên chỉ dùng một động từ kareru (khô héo) mà áp dụng được cho cả hai sự vật tức  người ta (hitome) và cỏ cây (kusa).

-Engo (Duyên ngữ, chữ gợi liên tưởng) Chữ có một liên hệ gần gũi với một chữ khác được dùng trong câu thơ, tạo được h́nh ảnh trùng phức.

Ví dụ: Tsuyu (giọt sương) liên hệ gần gũi với tama (ngọc), namida (lệ), oku (đặt để), hiru (khô), kiyu (tan biến). Ashi (lau sậy) làm liên tưởng tới fushi (đốt cây), yo (lóng cây).

 

Amanohashidate, cầu bắt ngang trời, một gối thơ quan trọng

-Utamakura (Ca chẩm, địa danh làm gối cho thơ) tức là những nơi danh lam thắng cảnh hay có sự tích hay và được đưa nhiều lần vào thơ. Từ sau đời Heian, các Utamakura được dùng làm đề tài để ngâm vịnh (daiei = đề vịnh).

Ví dụ: Núi Sue no Matsuyama (Mạt Tùng Sơn) thuộc Matsushima (Tùng Đảo) gần Sendai bây giờ đă được Kiyohara Motosuke (Thanh Nguyên, Nguyên Phụ, bố bà Sei, Shônagon, 908-990) vịnh để nói lên lời thề trung thành trong t́nh yêu:

Cho dù sóng phủ Núi Tùng,
Không v́ duyên mới, đem ḷng phụ em

(Bài Chigiri kinakatami ni, trong Goshuui-shuu)

Một ví dụ khác: băi biển Awaji trên đảo Awaji (Đạm Lộ Đảo) nay thuộc vùng Kôbe là một nơi nổi tiếng tự thời xưa. Minamoto no Kanemasa, một thi nhân thế kỷ 12 không ai rơ hành tung, có làm một bài thơ vịnh cảnh mùa đông cô tịch của một người ra trấn thủ cửa quan Suma :

Awaji lũ chim trời,
Bao đêm đánh thức giấc người biên cương.
 

(Bài Awajishima, trong Kinkai-shuu)

Ngoài ra Amanohashidate (Thiên Kiều Lập) hay “Cầu Bắc Ngang Trời” ở tỉnh Miyazu bây giờ cũng là một “gối thơ” nổi tiếng. Đó là dải đất hẹp bắc qua một vịnh biển, một trong ba cảnh đẹp nhất nước Nhật. Bà Koshikibu (Tiểu thức bộ), nội thị trong cung và con gái của nhà thơ, nhà văn viết nhật kư tài danh Izumi Shikibu (Hoà Tuyền thức bộ) đă nói lên ḷng nhớ mẹ, lúc đó đang sống ở vùng đó (Tango), muốn đến phải vượt núi Ôe và cánh đồng Ikuno. Đặc điểm bài thơ nầy có chữ iku, vừa xuất hiện trong địa danh Ikuno vừa có nghĩa là “đi đến”, và  fumi vừa có nghĩa là “bước, dẫm lên”, vừa có nghĩa là “thư tín”:

Đường xa, c̣n vượt Ôe,
Cầu Trời chưa tới, thư về cũng không.

(Bài Ôeyama trong Kinyô-shuu)

Các tác phẩm nổi tiếng như Man.yô-shuu hay Truyện Genji là suối nguồn bất tận của các utamakura. Những ngọn Kaguyama, ao Iwashiro, bến Nikita, băi Awaji của Manyô và các băi biển Suma, Akashi, núi non Uji, Kitayama…của Genji đă trở thành chữ thông dụng và hàm súc (nói ít hiểu nhiều) của thi ca Nhật Bản.

 

TẠM KẾT:

Sau khi xác định vị trí ưu việt của ḿnh dưới thời Heian, thơ quốc âm waka sẽ bước vào giai đoạn hoàng kim dưới thời Kamakura và Muromachi khi quá tŕnh Nhật hóa thơ chữ Hán hoàn tất.


 

[1] Kokin Waka rokujô (Cổ Kim ḥa ca lục thiếp) tương truyền do Ki no Tsurayuki, con gái ông và một số công khanh biên soạn, là thi tập ra đời cuối thế kỷ thứ 10 ghi chép thơ waka từ thời Man.yôshuu cho đến lúc đó. Tập gom góp ước chừng 4500 bài xếp theo 25 chủ đề (thiên tượng, địa nghi, nhân sự, thảo trùng mộc điểu…), viết ra làm sách tham khảo cho người muốn sáng tác waka.

[2] Kazoe-uta là loại thơ trong đó có những con số đếm được, ví dụ nói “một cánh chim, hai cánh chim”. Chúng tôi nghĩ loại này bắt nguồn từ thơ Trung Quốc. Ví dụ ta từng thấy những câu như “Nhị thập tứ kiều minh nguyệt dạ” hay “Thập lư oanh đề lục ánh hồng” trong thơ Đỗ Mục đời Đường, người được gọi là “nhà thơ toán học” (toán bác sĩ).

[3] Nazurae-uta vịnh những sự vật giống nhau, cùng một loại, tiêu chuẩn.

[4] Lê Ngọc Thảo dịch là “nói bóng”(Ienaga, sđd).

[5] Mitate (kiến lập) thủ pháp trong waka, haikukabuki biểu hiện một sự vật qua h́nh ảnh một sự vật khác. Được xem như một phương pháp hoán vị. C̣n có mitate-e (kiến lập hội) là loại tranh dùng phương pháp hoán vị nầy, ví dụ vẽ Thúy Kiều là người đời Minh mà ăn mặc theo kiểu cô gái tân thời đời nay.

[6] Gijinhô (Nghĩ nhân pháp) tức là nhân cách hóa

[7] Jôtômon-in là tên lúc bà làm thái hậu (1026). Hai con bà đều là thiên hoàng.

[8] Minamoto Tsunenobu (Nguyên, Kinh Tín) (1016-1097) học rộng đa tài, chủ tể thi đàn đương thời.

[9] Minamoto Toshiyori (Nguyên, Tuấn Lại, 1055-1129) con của Tsunenobu (Kinh Tín) và cha của Shun-e (Tuấn Huệ) là nhà thơ cách tân trong đề tài lẫn h́nh thức biểu hiện. Từng tranh luận với phái bảo thủ của Fujiwara Mototoshi (Đằng Nguyên Cơ Tuấn). Để lại tập thi luận Toshiyori Zuinô (Tuấn Lại tủy năo) và tập thơ Sanboku Kika-shuu (Tán mộc kỳ ca tập).

[10] Sanboku (Tán mộc) lấy chữ trong sách Trang Tử, chương Nhân Gian Thế, ư nói loại cây vô dụng, hàm ư khiêm tốn là người không được việc ǵ.

[11] Trong uta-awase (ca hợp), các nhà thơ ngồi dàn ra hai phía tả hữu và lần lượt ngâm thơ ḿnh để được chấm cao hạ. Giám khảo gọi là hanja (phán giả), lời b́nh của người ấy gọi là hanji (phán từ). Thường được các bậc tôn quí như thái thượng hoàng, thiên hoàng hay hoàng hậu chủ tọa. Uta-awase có sớm nhất có lẽ là Zaiminbu-kyôke Uta-awase (Tại Dân Bộ Khanh Gia Ca Hợp) năm Ninna (Nhân Ḥa) nguyên niên ( 885).

[12] Pháp hoàng (Hô-Ô) tức Thái Thượng Hoàng nhưng sau khi nhường ngôi đă đi tu.

[13] Fujiwara Kiyosuke (Đằng Nguyên Thanh Phụ, 1104-1177) con của Akisuke (Hiển Phụ), giỏi về lư luận thơ. Tác phẩm có Ôgishô (Áo nghĩa sao) và Fukuro-no- Sôshi (Đại thảo tử).

[14] Uchida dẫn bởi Hayashi Tatsuya, Noyama Kashô biên, Kokubungaku nyuumon (Nhập môn quốc văn học), Hôsô Daigaku,Tôkyô, 2004.

[15] Hototogisu (chim cuốc) xuất hiện trong thơ Nhật dưới nhiều biến thể chữ Hán: quách công, tử qui, đỗ quyên, bất như quy…

[16] Hayashi Tatsuya và Noyama Kashô (op.cit.)

 


 Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com

..........