Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

 Quyển Thượng : Từ Thượng Cổ đến Cận Đại

Cảnh quỉ mổ bướu người kể lại trong Konjaku Monogatari. 
Trích Genshoku Shin Kokugo Binrnan (2002)

Chương 10 :

Từ Truyện Giờ Đă Xưa (Konjaku monogatari)

đến Góp Nhặt Đá Cát (Shaseki-shuu).

Văn học thuyết pháp và và răn đời.

Nguyễn Nam Trân

 

TIẾT I: TRUYỆN THUYẾT PHÁP HAY RĂN ĐỜI (SETSUWA) [1]:

Kể từ giữa thời Nara (710-794), Phật giáo bắt đầu truyền bá rộng răi [2]và những “ truyện nhằm thuyết phục” người ta hăy tin vào đạo Phật đă được đem ra rao giảng nơi chùa chiền. Tập sách đầu tiên gom góp những truyện răn dạy, làm gương (giống như các exempla trong bài giảng đạo của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ) có tính cách tôn giáo như thế (thuyết thoại Phật Giáo) là quyển Nihon ryôi-i ki (Nhật Bản linh dị kư)[3] mà tăng Kyôkai (Cảnh Giới) biên tập trong thời gian từ năm 810 đến 824, sẽ được bàn thêm trong những trang kế tiếp khi nói về ảnh hưởng Phật giáo đối với văn học. Đến giữa thời Hei-an lại thấy xuất hiện các tác phẩm như Sanbô-e [4](Tam Bảo hội), Uchigiki-Shuu[5] (Đả văn tập). Mặt khác, cuối thời Hei-an, cùng với sự suy vi của tầng lớp quí tộc, đă thấy khuynh hướng đi t́m một cơ sở cho văn học xoay quanh xă hội quí tộc truyền thống hiện ra rơ nét. Điều đó có nghĩa là giới quí tộc cũng bắt đầu biên tập những tác phẩm tuy có tính cách răn đời nhưng không giới hạn trong phạm vi tôn giáo nhà Phật mà có tính cách thế tục hơn (thuyết thoại thế tục). Nguồn cội và đối tượng của những thuyết thoại đó là giới quí tộc, vũ sĩ và thứ dân trong cuộc sống thường ngày của họ. Đến thế kỷ thứ 11 th́ có Uji Dainagon monogatari[6] (Vũ Trị Đại Nạp Ngôn vật ngữ) do Minamoto no Takakuni (Nguyên, Long Quốc), quan tham nghị cấp cao ở vùng Uji, gần Kyôto, biên soạn là tập truyện răn đời đại diện được cho khuynh hướng thứ hai nầy.

Đến thời viện chính ( insei hay chính trị của viện sảnh) nghĩa là quăng thời gian 250 năm từ năm 1086, khi mà các thái thượng hoàng đă xuất gia tức các Hô-Ô (Pháp Hoàng) dù đă về hưu vẫn c̣n giật giây đằng sau các quyết định chính trị, khuynh hướng văn học thuyết thoại quí tộc nầy càng tiến triển thêm. Do đó, giữa tiền bán thế kỷ thứ 12, chúng ta mới có được tác phẩm tập đại thành của văn chương thuyết thoại (setsuwa bungaku) Nhật Bản là Konjaku Monogatari Shuu (Kim Tích Vật Ngữ Tập).

A)    Konjaku monogatari-shuu (Kim tích vật ngữ tập):

Sách được biên soạn vào tiền bán thế kỷ 12 (khoảng 1120?) nhưng không rơ ai là tác giả. Nó sưu tập trên 1000 câu truyện, gồm 31 cuốn, (thiếu mất các cuốn 8, 18 và 21), chia làm ba bộ nói về Ấn Độ (Thiên Trúc, các cuốn từ 1 đến 5), Trung Quốc (Thần Đán, các cuốn từ 6 đến 10) và Nhật Bản (bản triều, các cuốn từ 11 đến 31). Đối với nhận thức của người đương thời, ba nước trên có nghĩa là toàn thế giới. Nội dung gồm 2 phần, một về thuyết thoại Phật Giáo, một về thuyết thoại thế tục (ví dụ như có mục đích khuyên người ta giữ đạo hiếu).

Phần thuyết thoại Phật Giáo (các cuốn 1 đến 9 và 11 đến 20)  tŕnh bày những truyện kể từ lúc Phật Giáo ra đời cho đến khi đạo nầy được truyền bá đến các nước nhưng không chủ đích nói về sự linh nghiệm của ḷng tin Phật Giáo. Qua những câu chuyện về đạo Phật, phần nầy chỉ tŕnh bày cách sống, hành vi của con người trong xă hội của ba nước ấy mà thôi.

 

Sinh hoạt hội hè của tầng lớp thứ dân

Phần thuyết thoại thế tục (cuốn 10 và các cuốn từ 21 đến 31) đặc biệt chú mục đến hành động muôn màu muôn vẻ của con người.Các nhân vật được đưa lên sân khấu là mọi thành phần trong xă hội, không những quí tộc mà c̣n là vũ sĩ, thứ dân và cả đạo tặc nữa. Qua nó ta thấy tất cả bức tranh xă hội về những con người đang sống trong một thời đại hổn độn, đảo điên, được tô vẽ một cách khéo léo. V́ thế, giá trị văn học của loại thuyết thoại nầy được đánh giá cao.

Những thuyết thoại trong Truyện giờ đă xưa ( Konjaku [7]) đều tŕnh bày với lớp lang, thu thập từ nhiều nguồn khác nhau[8] nhưng lúc nào cũng bắt đầu bằng công thức Xưa kia có…(Ima wa mukashi), nếu đem dịch từng chữ một th́ nó là “So với bây giờ th́ đă xưa rồi[9] và kết luận bằng công thức Truyện đă được kể như thế đấy (to namukatari-tsutaetaru to ya). Tóm lại, cách tŕnh bày của nó có vẻ thống nhất và đồng loạt. 

Có thể nói những ǵ mà văn học cung đ́nh (Truyện Genji, Ôkagami…) không nói tới th́ người ta viết cả vào trong Konjaku. Nhật Bản có 60 tỉnh th́ chỉ có 3 tỉnh (Iki, Tsuhima, Iwami) là không được nhắc tới.

Để viết một tác phẩm có tầm vóc như thế nầy, đă đành phải có những người biên soạn thích quan sát và nghiên cứu tâm lư con người nhưng sự ra đời của Konjaku cũng phản ánh phong trào của thời chính trị viện sảnh (của Kamakura). Các thiên hoàng ẩn dật muốn dành lại quyền bính nên quay nh́n, đánh giá và chỉnh lư văn hoá giai đoạn toàn thịnh của chính trị vương triều (thời Hei-an) vừa khép lại. Về mặt h́nh thức, Konjaku được viết bằng chữ Hán kèm theo chữ katakana viết cỡ nhỏ bên cạnh như h́nh thức từng thấy trong các chiếu chế  (senmyôsho = tuyên mệnh thư) có tính chất văn thư hành chánh[10]. Cách diễn tả bằng thứ văn tự hỗn hợp và thống nhất như thế rất thích hợp cho nội dung cuốn sách vốn thô sơ, gọn gàng nhưng mạnh mẽ.

Về mặt nội dung, Konjaku nổi bật với bốn đặc điểm[11]:

1- Tuy nhằm ca tụng cái cao diệu của Phật Giáo nhưng phần lớn trong Konjaku, số truyện kể việc các nhân vật được cải tử hồi sinh và trở nên giàu có được thấy rất nhiều và thường là dài. Điều nầy chứng tỏ người biên soạn Konjaku rất hiểu tâm lư quần chúng Nhật cùng thời vốn có khuynh hướng muốn thực hiện cảnh cực lạc ngay trong cuộc sống hiện tại chứ không đợi một cơi đời sau.

2- Konjaku pha trộn rất nhiều truyện có nguồn gốc dân gian (truyện hai người đàn bà mạnh bạo đánh nhau, quyển 23, truyện 17 hay truyện người bị phun nước bọt vào mặt thành ra biết tàng h́nh, quyển 16, truyện 32). Nhiều khi c̣n có tính cách “đạp đổ thần tượng” (iconoclast) như cả việc chế diễu phù thủy ( phù thủy biết bay nhưng sau khi lấy vợ quên mất pháp thuật, quyển 11, truyện 6) , thần thánh (nhà sư dũng mănh ngăn được dân làng đem gái tế thần khỉ, quyển 26, truyện 8) hoặc những kẻ trá h́nh Phật để doạ nạt người (con trăn thành tinh giả dạng Phổ Hiền Bồ Tát, lừa được nhà sư nhưng bị gă thợ săn bắn chết, quyển 20, truyện 13). Điều này chứng tỏ cái lẽ thông thường (common sense) nhiều khi đáng tin cậy hơn cả tôn giáo.

3- Nếu trong văn chương cung đ́nh như các monogatari, tính dục chỉ được tả lướt qua hoặc gián tiếp th́ trong Konjaku, nó bộc lộ rơ ràng (truyện người đàn bà đi chữa cái nhọt trong chỗ kín từ chối sự thèm muốn của ông thầy thuốc, quyển 24, truyện 8). Có lúc đi đến chỗ khích dâm như truyện bà Some dono (Fujiwara Akiko, phi tần của thiên hoàng Montoku) làm t́nh với con tinh núi Kongô một cách thoải mái giữa cung cấm một cách “bẩn thỉu không bút nào tả nổi ”trước mặt thiên hoàng và văn vơ bá quan làm nhà vua chỉ biết bụm mặt khóc (quyển 20, truyện 7).

4- Thế giới của Konjaku không mô tả nhiều diễn biến tâm lư bên trong nhân vật. Nó là thế giới của hành động. Lấy ví dụ truyện 23 trong quyển 29 nói về một chàng quí phái cùng vợ vượt núi Ôeyama, đem cung đổi lấy kiếm của một tên cướp, sau bị nó trói và hiếp cả vợ, cho ta thấy ở đời nếu không suy xét t́nh h́nh và hành động kịp thời sẽ gánh lấy hậu quả không hay. Dĩ nhiên về sau, qua truyện Bốn bề bờ bụi (Yabu no naka) của Akutagawa hay phim Cổng La Sinh Môn (Rashômon) của Kurosawa, triết lư của câu chuyện nhằm ở chỗ phân tích đâu là sự thật và có mấy sự thật nhưng chưa chắc là bản ư của người sưu tập truyện ấy trong Konjaku.

Quỉ quái trong Konjaku

Những cảnh tả về thế giới hành động được thấy qua các truyện liên quan đến cuộc sống của lớp samurai (hành quân, báo thù …) và đă để lại dấu ấn trong các kư sự chiến tranh về sau như Truyện Heike (Heike Monogatari).

1)      Truyện bà mẹ sinh 500 trứng:

Đức vua nước Hanshara ngạc nhiên thấy bà hoàng hậu có thai và sinh ra một lượt 500 cái trứng. Ngài rầu rĩ vô cùng. Hoàng hậu sợ quá mới tóm hết mớ trứng bỏ vào cái hộp và thả xuống sông Hằng cho trôi đi.

Lúc đó vua nước láng giềng đi săn, t́nh cờ bắt gặp cái hộp, mới cho đem về thành. Thế rồi, ít lâu sau, trong hộp lần lượt chui ra những chàng dũng sĩ. Vua vốn không con nên mừng quưnh, hết ḷng dưỡng dục các cậu như con đẻ. Năm trăm cậu trở thành 500 dũng sĩ ưu tú, cả nước không ai sánh kịp.Nước nầy với Hanshara trước đây vẫn có hiềm khích, vua của họ trông cậy có 500 dũng sĩ làm vây cánh nên mới tuyên chiến với Hanshara, đem binh viễn chinh, bao vây thành tŕ địch.

Hoàng hậu khuyên đức vua Hanshara chớ sợ. Bà nói:

-Năm trăm dũng sĩ của địch chính là 500 cái trứng thiếp đă sinh ra. Nếu thấy được mẹ th́ chúng nó sẽ trở về đường thiện.

Thế rồi, hoàng hậu lên thành lâu, kêu gọi 500 chàng dũng sĩ:

-Các con là con ta đẻ ra.Khi ta bỏ trôi sông, vua láng giềng đă bắt được đem về nuôi.Thế th́ tại sao các con lại t́m giết cha mẹ ruột để phạm tội tầy đ́nh? Các con có tin lời mẹ không? Nếu tin th́ hăy hướng về ta mà mở miệng ra!

Thế rồi, hoàng hậu tự tay ḿnh bóp đầu vú. Tức th́ một gịng sữa trắng bay vọt ra và đổ vào miệng của 500 chàng dũng sĩ/

-Mẹ ơi!

Năm trăm vương tử dũng sĩ reo lên như vậy và không c̣n ư muốn tấn công nữa. Về sau, hai nước lân bang trở thành ḥa hiếu.

(Konjaku Monogatari, Quyển 5 nói về Thiên Trúc, truyện số 6)

2)      Truyện bát canh giun:

Đời nhà Tùy niên hiệu Đại Nghiệp, ở đất Hà Nam có một người đàn ông bỏ vợ, dắt người ấy về trả lại cho cha mẹ.Thế nhưng đến nơi, người nhà ra đón vừa thấy mặt cô ả đă thét lên bởi v́ người mà anh đàn ông kia đưa về thân thể tuy như người thường nhưng cái đầu là đầu chó trắng. Họ bèn vặn hỏi anh chồng:

-Chuyện nầy xảy ra như thế nào?

Anh ta cho biết cô vợ anh được giao phó chăm sóc bà mẹ chồng nhưng cô rất ghét bà ta. Có hôm, biết mẹ chồng mắt đă ḷa, mới đi bắt giun cắt ra nấu canh cho bà ăn.

-Thức ăn ǵ mà nùi vị kỳ lạ thế này?

Bà cụ lén giấu thứ thịt đó một bên và đợi con trai về đem cho xem.Anh con chán ngán quá, ly hôn lập tức. Thế rồi anh ta dắt vợ đi trả nhà vợ nhưng giữa đường nghe tiếng sét đánh rồi không thấy bóng cô ta đâu nữa. Một lúc sau trên trời có vật ǵ rơi xuống. Nh́n lại th́ rơ ràng là một người mặc quần áo của vợ nhưng cái đầu đă biến thành đầu chó. Không c̣n nói năng được nữa, chỉ biết sủa như chó mà thôi. Tuy nhiên khi nói chuyện với chồng th́ đối đáp được.

-Tôi là con dâu bất hiếu, bắt giun nấu canh cho mẹ ăn. Trời phạt tôi như thế nầy đó.

Anh con trai không biết cách nào khác, cứ như thế dắt vợ về trả. Sau đó, người vợ ra chợ ngồi ăn xin nhưng chỉ ít lâu sau, không c̣n ai biết tông tích.

(Quyển 9, phần nói về Thần Đán tức Trung Quốc, truyện số 42).

3)      Truyện nữ đạo tặc kỳ dị:[12]

Một buổi chiều kia, một anh samurai khoảng ba mươi tuổi, thân thể vạm vỡ, râu đỏ, đang đi trên đường th́ chợt nghe có tiếng ai suỵt suỵt gọi ḿnh. Không phải là chuột kêu nhưng đó là tiếng một nàng con gái trong ngôi nhà bên đường đang đưa tay vẫy gọi. Nàng ta là một người đẹp tuổi độ đôi mươi, trên môi nở một nụ cười. Nàng mời samurai vào nhà.Chưa chi hai bên đă có vẻ tâm đầu ư hợp. Đêm đến bọn người nhà đem đồ ăn đồ uống đến. Hai người ăn uống xong lại ăn nằm với nhau. Họ cứ ở trong nhà mà lúc nào cũng có người đến, khi th́ cung phục cơm nước, khi th́ thu xếp dọn dẹp. Anh samurai không phải làm ǵ cả, cứ thế hưởng thụ.Lúc sau khi anh ta đi đâu th́ người con gái lại sắm sửa y trang, ngựa tốt, kẻ tùy tùng cho.

Được hai mươi hôm th́ nàng mới nói:

-Chúng ḿnh coi bộ có duyên với nhau. Nếu bây giờ em có nhờ anh chuyện nguy hiểm ǵ, liệu anh có giúp em không?

-Em cho anh sống th́ anh sống, bắt anh chết th́ anh chết!

-Anh dễ thương quá!

Nói rồi đến tối, nàng ta dẫn anh ta vào một căn nhà có đủ mọi thứ h́nh cụ khảo tra, bắt anh tra cởi trần rồi ḿnh ăn mặt như ngục tốt, thẳng tay đánh khoảng 80 roi.

-Anh thấy thế nào?

-Không ăn nhằm ǵ!

-Giỏi quá ta!

Thế rồi nàng tiếp tục đánh đập anh chàng suốt ba hôm nhưng anh ta vẫn chịu đựng. Nàng để vết thương vừa lành, lại đánh tiếp. Lần nầy không đánh vào lưng mà vào bụng.

-Lần nầy th́ sao ?

-Vẫn chưa đáng kể !

-Thế th́ cừ quá !

Thế rồi nàng đợi cho vết thương lành, vào một buổi tối, cho samurai mặc trang phục màu đen, vũ trang bằng cung.

-Kỳ nầy, anh sẽ ra trận dưới quyền chỉ huy của một người. Họ bảo anh canh giữ chỗ nào, phải làm đúng như thế ấy, không cho kẻ địch lọt qua. Có điều là khi chia phần, anh không có quyền đụng vào măy may nào cả !Hiểu chưa !

Nhận lệnh xong, anh ta đến chỗ hẹn . Bốn, năm mươi tên đạo tặc đă đợi sẵn. Trong đám, có một chàng trai trẻ nhỏ con, ra vẻ đầu lĩnh.

Bọn đạo tặc vào đánh một nhà giàu lớn ở kinh đô. Anh ta chiến đấu rất hăng, đánh tan kẻ địch nhưng đến khi chia phần, không chịu nhận ǵ cả. Thủ lĩnh coi có vẽ bằng ḷng.

Samurai mê cô gái cho nên anh ta không ngần ngại trở thành đạo tặc và chẳng hối hận ǵ. Sau đó anh ta c̣n tham dự nhiều trận và được người con gái giao cho một tài sản kếch xù để cai quản.

Một hai năm sau, nàng con gái ra vẻ lo lắng, khóc lóc.Anh ta mới hỏi :

-Lạ nhỉ, em có bao giờ khóc như thế nầy đâu !

-V́ em thương anh nhưng bây giờ chúng ḿnh phải bắt buộc buông nhau ra, nên em buồn.

-Em ăn nói lạ nhỉ !

-Cuộc đời đâu có chi bền, hở anh. Chuyện đúng như em nói đó anh !

Anh samurai vẫn không tin điều cô nói là thật. Nhưng một hôm ra ngoài th́ kẻ tùy tùng và ngựa bỗng biến đi đâu mất tiêu, anh ta buộc phải hấp tấp đi về một ḿnh. Về đến nhà th́ nhà cửa chẳng thấy đâu , của cải nàng giao cho anh ta giữ cũng không cánh mà bay. Anh ta mới nhớ lại lời cô gái.

Anh ta không c̣n trở lại sống cuộc đời b́nh thường được nữa. Bèn xin nương náu nơi một người quen nhưng đă quen nghề cướp bóc, rốt cuộc có lần bị quan bắt.

Nàng con gái là ai thế ?Làm thế nào mà chợt biến mất không để lại tông tích. Không giải thích được nhưng bây giờ dù có biết th́ chẳng ích lợi ǵ !

Duy anh ta chợt để ư một điều. Người thủ lĩnh của bọn đạo tặc mà anh ta gặp được mỗi một lần. Khuôn mặt người đó dưới ánh lửa đuốc trông giống mặt người con gái...

(theo Quyển 29, trong phần nói về Nhật Bản, truyện số 3)

B) Các tập truyện thuyết pháp khác :

Cùng với Konjaku, ta cần nhắc đến một số tác phẩm sưu tập các thuyết thoại thời Hei-an như Hokke genki (Pháp Hoa nghiệm kư), ra đời khoảng 1044-1044, do tăng Chingen (Trấn Nguyên) soạn, thu thập những truyện linh ứng của kinh Pháp Hoa. Ngoài ra, c̣n có Nihon ôjô Gokuraku-ki (Nhật Bản văng sinh Cực Lạc kư) của Yoshishige no Yasutane (Khánh Từ, Bảo Dận, ? – 1002) viết khoảng trước năm 985 kể lại truyện những người cả tăng lẫn tục mà tác giả cho rằng có đủ đức hạnh để được siêu thăng cực lạc. Có thể xếp nó vào loại thuyết thoại Phật Giáo như mấy cuốn sách trước. Đến thời viện chính th́ có Kohon Setsuwa-shuu (Cổ bản thuyết thoại tập) ghi chép lại cả hai loại thuyết thoại liên quan đến thế giới của đạo cũng như đời. Nên kể thêm Kôtan-shô (Giang đàm sao) của Ôe Masafusa (Đại Giang, Khuông Pḥng, 1041-1111), tập truyện chuyên ghi chép những chuyện đời xưa do Masafusa kể về xă hội quí tộc từ những liên hệ thân tộc, giai thoại về kiến văn quảng bác, truyền thống thi họa, các chuyện quái lạ và âm mưu...xung quanh của họ.

 

Theo học giả người Pháp Bernard Frank (trong từ điển J.J. Origas), nhà nghiên cứu văn học quốc dân Haga Yaichi (Phương Hạ, Thỉ Nhất, 1867-1927) khi xuất bản tập Konjaku monogatari-shuu (1913) đồ sộ của ông đă định giá trị của Konjaku rất cao trong ḍng văn học thế giới. Ông xem nó như một kho tàng hiếm có trong loại “túi khôn của người b́nh dân” được ghi lại bằng văn viết, làm cái gạch nối quan trọng của truyền thống truyện cổ dân gian có từ Pancatantra của Ân Độ đến Kinder-und-Hausn archen của anh em nhà Grimm.

TIẾT II: TRUYỆN THUYẾT GIÁO VÀ TRUYỆN RĂN ĐỜI CÓ TÍNH CÁCH THẾ TỤC:

Mối quan tâm của người đương thời (Kamakura) đối với truyền thống văn hóa và chính trị đời trước (Nara, Heian) rất sâu đậm nên họ quan tâm đến việc ghi chép những chuyện liên quan đến đời sống của xă hội quí tộc thuở ấy. Tuy nhiên, cùng lúc, đời sống mới qua sinh hoạt của lớp thường dân và của các địa phương lại đem đến cho họ những chất liệu tươi mát và đầy hứng thú. Ḷng tin vào Phật giáo càng ngày thấy phổ biến trong dân gian. Nhiều tập truyện có tính cách luân lư Phật Giáo, ghi chép giai thoại liên quan đến hành tung của cao tăng, ẩn sĩ cũng như chuyện ứng nghiệm linh thiêng về đạo Phật, đă ra đời.

Có thể nói thời trung cổ là thời đại của thuyết thoại[13]. Lư do là không những có nhiều tập truyện thuộc thể loại nầy được truyền bá mà thuyết thoại cũng đă trộn lẫn vào các h́nh thức văn học khác như kư sự chiến tranh, tiểu thuyết lịch sử[14], truyện giải buồn cũng như dao khúc tức ca từ của tuồng Nô.

A)    Uji shuu.i monogatari (Vũ Trị thập di vật ngữ) :

Tác phẩm nầy có lẽ đă ra đời vào khoảng năm 1221, nhưng chưa rơ tác giả là ai. Nó chứa đựng tất cả 197 biên thuyết thoại dài lẫn ngắn với lối văn chữ Nhật (Ḥa văn) sáng sủa và giản dị.Truyện sắp xếp không theo thứ tự nào cả. Nội dung có đủ mọi đề tài liên quan đến người b́nh dân. Nào truyện sư phá giới, truyện bọn trộm cướp, truyện đàn bà có sức mạnh dị thường, truyện kẻ béo người mập, truyện dân cờ bạc đi làm rể… Tất cả được viết ra một cách trôi chảy, nhẹ nhàng, không câu thúc nhưng ư nghĩa đậm đà.Tác giả diễu cợt không tiếc lời giới quí tộc nhưng tỏ ra thông cảm với hạng b́nh dân nên được yêu chuộng rộng răi. Imogayu “Cháo Khoai”, Chuutô “Bọn đạo tặc” và Jigokuhen “Bức b́nh phong địa ngục”của Akutagawa Ryuunosuke đă lấy cảm hứng từ Uji Shuui.

Uji Shuui hay Truyện Nhặt Sót Truyện Uji chịu ảnh hưởng của Kojidan (Cổ sự đàm) và Uji Dainagon Monogatari (Vũ Trị Đại Nạp Ngôn vật ngữ). C̣n Kojidan do Minamoto no Akikane (Nguyên, Hiển Kiêm) soạn ra khoảng trước năm 1215, có đặc điểm là ghi chép lại những truyện bí mật bên trong cuộc sống của giới quí tộc. Về Uji Dainagon Monogatari chính gốc, đă nói ở phần trên, tương truyền do quan tham nghị cấp cao Dainagon tên là Minamoto no Takakuni (Nguyên, Long Quốc, 1004-1077) viết vào hậu bán thời Heian nhưng nay thất truyền. Truyện giờ đă xưa (Konjaku) và Truyện nhặt sót Uji Shuui nầy, hai tác phẩm hàng đầu của văn chương “thuyết thoại” đều tiếp nhận ảnh hưởng sâu đậm của Uji Dainagon Monogatari, truyện gốc của nó.

Sau đây xin giới thiệu hai truyện ngắn trong tập Uji Shuu.i:

1-     Mắc cỡ hai lần:

Một ông samurai già thề với Đức Phật là sẽ không bao giờ nói dối.

Có cậu chủ trẻ nọ thường cho ḿnh là con đẻ của cụ cố chủ nhà nhưng kẻ chung quanh thường chê bai, tỏ ư không tin v́ tuyệt đối không thấy anh ta giống bố chỗ nào cả.

Khi cha anh ta chết, ông samurai già, vốn làm việc lâu năm trong nhà, xin thôi để về quê sinh sống nhưng v́ vợ lại chết, đành t́m trở lại kinh đô.

Thế nhưng, sinh kế khó khăn, không nơi nương tựa, ông phải quay về nhà chủ cũ. Nghe nói người con hay tự xưng là con đẻ của chủ đang sống ở ngôi nhà cũ, bèn t́m đến. Xin vào gặp th́ được cho phép ngay, ông ta mừng thầm, cho là “ngon lành “ rồi. Nh́n quanh, căn pḥng khách anh ngồi đợi xem ra chẳng có ǵ khác xưa.

Lát sau, cánh cửa pḥng bên mở. Anh chàng tự xưng là con đẻ bước vào. Vừa thấy anh ló dạng, ông già đă cất tiếng khóc bù lu bù loa. Anh con nhà chủ mới hỏi:

-Chuyện ǵ mà chú khóc như thế?

 Th́ nghe anh ta trả lời :

-V́ thấy cậu giống cụ ngày xưa qua đỗi, tôi cảm động cầm ḷng không đậu !

Cậu chủ trẻ mới nghĩ ḿnh giống ông thân sinh quá cố đến thế nầy mà thiên hạ cứ bảo ḿnh không phải là con đẻ của cụ. Cậu ta bèn ủy lạo ông samurai già :

-Tôi lúc đó c̣n nhỏ lại được gửi nuôi ở quê mẹ nên không nhớ rơ cụ thân sinh tôi thế nào.Thôi từ nay tôi sẽ xem bác như bố tôi và trăm sự trông cậy vào bác đấy nhé.

Nói xong đem áo xống đẹp đẽ ban cho rồi mời đến gặp các bậc trưởng thượng trong thân tộc.

Cậu chủ nghĩ nếu là người mới đến giúp việc th́ không nói ǵ chứ đây là kẻ từng hầu hạ cụ cố lâu năm mà c̣n bảo là “ giống quá đỗi ” th́ lấy làm vững bụng.

Thế rồi cậu chủ mới mời tất cả những ai c̣n nghi ngờ về gốc rễ của ḿnh đến để đưa người samurai nầy ra trưng bằng cớ. Cậu cho bày tiệc khoản đăi họ. Sau mấy tuần rượu, mọi người đều khoan khoái. Ông samurai già được cho gọi đến kể lại chuyện vào hầu cụ cố một bước không rời từ năm 13 cho đến 50 tuổi. Lúc đó chủ nhân bèn cắt ngang :

-Thế hôm trước tôi gọi bác tới, mới thấy tôi ở nhà trông bước ra, bác vừa nh́n tôi đă khóc bù lu bù loa. Thế là v́ cớ ǵ ?

Ông samurai mới trả lời :

-Từ khi cụ nhà qua đời, tôi muốn trở lại thăm chốn cũ nhưng lúc được mời vào, vừa ngẫng mặt nh́n lên th́ nh́n thấy cậu đội cái mũ đen trong nhà bước ra. Xưa cụ nhà lúc nào trong nhà bước ra cũng đội mũ đen cho nên khi thấy cái mũ đen của cậu, tôi lại nhớ cụ nên cầm ḷng không được.

Người ngồi chung quanh nghe nói đều cười khoái chí. Cậu chủ biến sắc mặt,hấp tấp bảo :

-Thế th́ tôi c̣n giống ông cụ chỗ nào khác không ?

Ông samurai già bảo :

-Thưa không. Ngoài cái mũ th́ không giống chỗ nào cả.

Người trên chiếu rượu có vẽ thoả thuê v́ lời phát biểu của ông già. Từng người một, họ dần dần lăng ra và xin kiếu về. Ông samurai già v́ muốn giữ lời nguyền “ không nói dối ” đă tự tay đập vỡ mất nồi cơm mà ḿnh vừa mới kiếm được.

(Theo Uji Shuu.i, truyện số 77)

2) Cao tăng giảng kinh Pháp Hoa:

Ở Tôhokuin (Đông Bắc Viện) có vị cao tăng giảng về cái tâm Bồ Đề. Ngài nguyên là một kẻ gian ác đă từng vào tù cả 7 lần. Lần thứ bảy, ngục lại ngồi bàn với nhau:

“Thằng nầy ác ôn quá mức. Ở tù một hai lần cũng là quá rồi huống chi đến bảy lần. Thật là cái thứ bất trị.Chúng ḿnh chặt chân đi cho nó chừa!”.

Vừa lúc đó, có người giỏi tướng số đi qua, mới bảo họ:

-Xin các thầy tha cho người nầy. Đây là người có tướng sẽ siêu sinh về miền Cực Lạc đấy.

Bọn họ nói:

-Đừng tán nhảm!

Rồi sửa soạn h́nh phạt chặt chân.

Thấy thế, ông thầy tướng mới đặt bàn chân ḿnh lên trên bàn chân người tù và la to:

-Nếu thế xin các thầy chặt chân tôi thay v́ chặt chân bác nầy chứ tôi không nỡ nào đành ḷng nh́n các thầy chặt chân một người có tướng văng sinh về miền Cực Lạc được.

Nghe thế bọn ngục lại bèn thưa với quan h́nh án và viên nầy mới tŕnh lên thượng cấp mọi sự t́nh. Ông nầy phán:

-Thôi được, thế th́ tha hắn đi!

Và cho thả tội nhân. Người nầy cảm động, bèn xuất gia tu hành, trở thành một cao tăng chuyên giảng kinh Pháp Hoa cho ai muốn t́m về Bồ Đề Tâm. Đúng như lời người xem tướng, ngài này sau đó đă được văng sinh hạnh phúc.

(Theo Uji Shuu.i, truyện số 58)

 

Ḍng văn học truyện thuyết pháp hay răn đời (setsuwa)

Thế kỷ

Thời Heian

Thời Heian

9

 

10

 

11

 

12

 

Nihon Ryô-i ki

 

Sanbô –e kotoba

Nihon ôjô Gokuraku-ki

Uji Dainagon monogatari

Hokke genki

Gôdan-shô

Konjaku monogatari

Kobon setsuwa-shuu

Uchigiki

 

 

 

 

 

 

 

 Thời Kamakura

Thời Kamakura

13

Ḍng Phật Giáo

Hobutsu-shuu

Hosshin-shuu

Kankyo no tomo

Senjuu-shô

Shaseki-shuu

Ḍng Thế Tục

 

Koji-dan

Uji shuu.i monogatari

Jikkun-shô

Kokon chômonjuu

 

B) Ngă rẽ giữa thuyết thoại Phật Giáo và thuyết thoại thế tục:

1) Ḍng Phật Giáo:

Ngoài những tác phẩm đă nêu tên trong những trang trước, bản phân loại vừa tŕnh bày c̣n nhắc đến tên một số tác phẩm thuyết thoại khác như sau :.

- Hobutsushuu (Bảo vật tập, 1195) của TairaYasuyori (B́nh, Khang Lại), luận rằng Phật pháp chính là của báu của con người. Phải theo Phật, bỏ mọi điều oán niệm để sống hạnh phúc.

- Hosshinshuu (Phát tâm tập, 1215) của Kamo no Chômei (Áp, Trường Minh) nói về cái đáng sợ của ái dục và khuyên người ta lui về ẩn dật, biết cách ly với chính thân thể ḿnh lẫn ngoại giới (như đồ ăn đồ uống chẳng hạn) để có thể nh́n ngắm nó đang bị hủy hoại. Đó là loại thuyết thoại mang tên fujôkan setsuwa (bất tĩnh quan thuyết thoại) “ truyện chứng minh vật chất là đồ ô uế ”.

- Kankyo no tomo (Nhàn Cư Hữu) có lẽ của một tăng lữ tên hiệu Keisei Shônin (Khánh Chính, Thượng Nhân) cho thân thể người đàn bà là vật ô uế và ghi chép truyện những người đàn bà phát tâm bồ đề đi tu.

- Senjuushô (Tuyển tập sao) th́ không rơ năm viết (có lẽ vào giữa thời Kamakura) và tác giả. Có thuyết cho là tăng Saigyô (Tây Hành) đă sáng tác trong khi du lịch, nội dung nói về những chuyện xuất gia hay lánh đời.

- Shaseki-shuu  (Sa thạch tập):

Trong ḍng thuyết thoại Phật Giáo, một tác phẩm quan trọng như Shaseki-shuu xứng đáng có một chỗ đứng riêng.

Góp Nhặt Đá Cát [15] (Shaseki-shuu, Sa thạch tập), có thể đọc là Saseki-shuu, cũng là một tác phẩm có tính cách giáo lư, răn dạy. Tác giả của nó là tăng Mujuu (Vô Trú, 1226-1312). Ông viết với văn thể rất b́nh dị, khéo léo, nhắm vào độc giả đại chúng. Trong lời tựa, Mujuu cho rằng sách của ông tuy là những truyện bông đùa nhưng là phương tiện giúp con người trên đường cầu đạo và bảo những ai muốn t́m được vàng th́ phải biết hốt cát (sa), nhặt đá (thạch) mà mài.

Khoảng giữa năm 1279-1783, tăng Mujuu đă soạn xong 10 tập sách ấy. Mujuu, thụy hiệu Đại Viên Quốc Sư, tuy là tăng phái thiền Lâm Tế (Rinzai) nhưng trong sách, ông đặt tất cả mọi giao lư từ học thuyết Thiền Tông, Chân Ngôn, Tịnh Độ và cả lư thuyết honji suijaku (bản địa thùy tích thuyết = thuyết coi các thần shintô chỉ là hóa thân của chư Phật ở bản địa tức Nhật Bản ) ngang hàng với nhau. Ông xem phần bên trong và bên ngoài đền Ise (thần đạo) cũng chẳng khác ǵ taizô (thai tàng) và kongô (kim cương giới) của Phật giáo Mật Tông. Honji hay cơ sở Phật Giáo và suijaku tức biểu hiện thần đạo chỉ khác nhau bên ngoài chứ bản chất chỉ là một. Ông cho rằng Phật pháp vốn thống nhất, chỉ có tôn phái do người đời phân chia ra nên mới thành tốt xấu mà thôi (Pháp thị nhất vị, tà chính do nhân) .Cứ đi đúng theo Phật pháp th́ không lo ǵ không có sự b́nh an trong đời nầy và hạnh phúc vĩnh cửu trong đời sau.  

Hai đại sư Dôgen (Đạo Nguyên) và Shinran (Thân Loan) trước đó đều từ khước thuyết honji suijaku và dạy rằng đúng hay sai không phải tùy thuộc ở con người mà ở giáo lư. Cả hai không hề hứa hẹn giáo đồ sự yên ổn trong cơi đời nầy. Con đường của Mujuu khác với hai vị tổ sư kia v́ ông không chấp nhận tính độc tôn của họ, đặc biệt đối với những cách thức tu hành thừa thải họ đặt ra. Ông không dạy người ta vượt khỏi hiện thế (cuộc đời nầy) để t́m về cơi cực lạc lai thế ( cuộc đời sau) như Phật giáo Kamukura. Ông thấy ḷng tin của Shinran, lư luận của Dôgen, nhiệt huyết của Nichiren đều không cần thiết. Lối học Phật của Mujuu rất giản dị v́ lấy con người làm trung tâm (chân thị nhân tâm, kiến tính thành Phật). Trong thuyết thoại của Shaseki-shuu thấy xuất hiện đủ mọi thành phần người trong xă hội (samurai, nô bộc, vợ chồng nhà nông...) và ta c̣n thấy ông để ư cả đến tập quán và cách sinh sống của những nhân vật đó.

Không khí Shaseki-shuu có thể được thấy qua những câu chuyện như sau :

1) “ Bốn nhà sư tu theo kiểu “ giữ giới im lặng ”, hứa không mở miệng nói chuyện trong ṿng bảy ngày. Một người tiểu đồng lo mọi chuyện cho họ. Đến canh năm, thấy đèn sắp tắt, ông thứ nhất đă lên tiếng thúc tiểu đồng khêu bấc lên. Ông thứ hai bảo rằng đă giữ giới im lặng, sao lại nói. Ông thứ ba mới mắng hai ông kia ai cho phép mà đă mở miệng. Lúc đó, ông thứ tư, trưởng nhóm, mới gật gù tự đắc : ”Các ông ai cũng nói, trừ mỗi ḿnh tôi  ! ”.

2) “ Một nhà sư kính Phật nhưng khờ khạo.Một hôm, chán đời, muốn chết để thác sanh về cơi tịnh độ. Ông ta mới vào trong pḥng giảng kinh để treo cổ. Biết chuyện, các vị cao tăng đến nơi tụng kinh cho ông trong khi các tăng và tục khác xúm lại chiêm bái. Thế nhưng ông sư trước kia can đảm bao nhiêu th́ lúc đó trở nên nhát nhúa bấy nhiêu. Ông ta bèn đổi ư, bỏ đi, làm những người đang tụ tập để ca tụng hành vi của ông đâm ra thất vọng. Ông sư buộc ḷng phải tự tử chết thật để ḷng mong đợi của mọi người được toại nguyện ”

3) “ Một nhà sư khác muốn được siêu thăng tịnh độ cho sớm, tính trầm ḿnh nhưng sợ ḿnh không được Phật rước nếu lúc chết vẫn c̣n có ư tưởng tham sống. Ông ta bèn nghĩ ra cách vừa nhảy từ thuyền xuống nước, lại buộc người vào dây thuyền để nhỡ khi có ư tham sống th́ có thể leo lên. Con thuyền xa bờ, sư nhảy xuống nước, miệng niệm Phật. Một chốc sau, đă thấy sư giật giây xin kéo lên bờ, người ướt như chuột lột. Chuyện diễn ra vài lần như thế, đến lúc sư ráng không kéo dây nữa th́ trên trời đàn sáo nổi lên và mây tím hiện ra trên ḍng nước. Nhà sư mới về được Tây Phương cực lạc ”.

4) “ Trong ngôi đền ở vùng Shinano, một tăng nhân trụ tŕ có ba đứa con do ba bà khác nhau sinh ra. Đứa con của bà thứ nhất, người mà sư lén lút đi lại và để ư cẩn thận, nhưng ông vẫn nghi ngờ đứa trẻ không phải con ḿnh nên đặt tên nó là thằng Không Ngờ. Con bà thứ hai, người hay bí mật tới thăm ông ở chùa, ông ít nghi hơn nên đặt tên cho nó là thằng Có Thể. C̣n bà thứ ba th́ sống thường xuyên với ông ta, ông ta không nghi ngờ ǵ về gốc tích của cậu con bà nầy nên mới đặt tên nó là thằng Chắc Chắn ”.

5) “ Khi tăng Shôgaku giảng kinh khuyến giáo, có người đàn bà ngồi trên ngạch cửa nhịn không nổi, lỡ đánh rắm, tiếng động và mùi của nó làm rối loạn ḷng khách thập phương. Tăng mới nói : “ Trong các loại nhạc khí như sáo, tiêu, đàn cầm, sênh, phách...không có loại nào có mùi. Trong các loại hương nhang, không có loại nào phát ra tiếng. May nhờ có cái rắm của bà, tôi mới vừa cùng một lúc nghe tiếng lẫn ngửi được mùi hương ”. Được khen ngợi như thế, bà ta bèn cởi áo  tiến cúng nhà chùa và xin ghi tên ḿnh là Phu Nhân Hoa Quưt [16] ”.  

Tăng Mujuu quả thực đă cảm thông được với tâm hồn đại chúng qua những câu chuyện giảng dạy có tính hài hước của ông. Nếu ông không phải là một vị chân tu th́ người ta có thể ngỡ ông có dụng ư bài xích Phật giáo rồi cũng nên. Sau Shaseki-shuu, hai quyển Zoku Shaseki-shuu (Tục Sa thạch tập) và Shinsen Shaseki-shuu (Tân tuyển Sa thạch tập) nối gót nhau ra đời vào thế kỷ 19 chứng tỏ ảnh hưởng bền lâu của tác phẩm. Tây phương cũng chú ư tới tác phẩm này. Giáo sư H.O. Rotermund đă dịch Shaseki-shuu ra Pháp văn [17].

2) Ḍng thế tục:

Về khuynh hướng thuyết thoại thế tục trước hết phải nói đến Kokon Chômonjuu (Cổ Kim Trứ Văn Tập, 1254) của một quí tộc và văn nhân thời Kamukura là Tachibana Narisue (Quất, Thành Quí, ? - ?). Sách sưu tập một số lớn thuyết thoại từ đời Heian cho đến thời Kamakura, về lượng chỉ đứng sau mỗi Konjaku. Ngoài ra có Jikkunshô, với cách đọc khác là Jikkinshô, (Thập huấn sao, 1252) do một nhân vật không ai rơ hành tung tên Rokuhara Jirô Zaemon Nyudô (Lục Ba La Nhị Lăng ( ?) Tả Vệ Môn Nhập Đạo) biên. Như tựa sách cho biết, nó có mục đích khuyến thiện trừng ác, dạy người trẻ tuổi phải giữ mười điều đức hạnh.

Trong khoảng Nam Bắc Triều bước qua thời Muromachi có các tác phẩm thuyết thoại khác như Shintô-shuu (Thần Đạo tập) và Sangoku Denki (Tam Quốc truyện kư), thu thập những chuyện cho liên quan gần gũi với loại truyện giải khuây (otogizôshi).

C) Truyện Giải Khuây (Otogizôshi):

Cuối thời trung cận đại, các truyện kể mô phỏng đề tài và cách viết của người xưa (giko monogatari) yếu đi dần.Thay vào đó loại truyện vừa ngắn gọn, vừa dễ hiểu nhắm một quần chúng độc giả rộng răi đă thế vào chổ đó. Chữ otogizôshi (ngự già thảo tử ) vốn chỉ loại sách mang tên bắt chước tên gọi của tuyển tập Otogi Bunko (Ngự già văn khố) của một nhà xuất bản ở Osaka thời Edo thu thập 23 truyện ngắn và cho in ra. Từ đó những loại sách cùng h́nh thức và nội dung đều được gọi bằng tên nầy (ngự già), mà chữ ngự già để chỉ “ người đi theo bên cạnh ḿnh làm bạn để nói chuyện ” hay “ tỳ thiếp chung pḥng ” của bậc vua chúa .

Với mục đích giải khuây, mua vui như thế, loại sách nầy thường có những tranh vẽ đơn sơ có tô mầu nên gọi là emaki-mono (hội quyển vật), h́nh thức thông dụng nhất lúc đó gọi là Nara ehon (Nại Lương hội bản), kể lại những truyện cổ như Truyện Genji, Truyện Sumiyoshi, tô màu đẹp đẽ có thể chưng trên giá sách hay để các cô dâu mang về nhà chồng.

Thế nhưng lại có những truyện đậm đà màu sắc dân gian hơn, chẳng hạn truyện Issunbôshi (Nhất thốn pháp sư) là cậu bé tí hon, cao chỉ bằng ngón tay nhưng có tài trừ yêu diệt quỉ, hay truyện Monokusa Tarô (Vật xú thái lang), chàng trai không nghề ngỗng, chỉ ngủ li b́ suốt ngày nhưng sau lên kinh đô nhờ tài ca hát được vời vào cung và làm nên sự nghiệp.Truyện Bunshô Zôshi (Văn chính thảo tử) nói về gă Bunshô chỉ làm ruộng muối mà sau bán muối có tiền giàu ức vạn. Truyện Hachikazuki kể đời một công nương mồ côi mẹ, bị mẹ ghẻ hành hạ và đuổi khỏi nhà, phải đội cái b́nh bát (hachi) của mẹ để lại lúc lâm chung, sống đời trôi nổi, nhưng sau nhờ cái b́nh bát đó mà thoát hiểm và đạt được hạnh phúc. Truyện Iwaya no Zôshi (Nham ốc thảo tử) nói về một công nương khác bị mẹ ghẻ quẳng xuống hố đá, được vợ chồng người thợ lặn cứu giúp, sau làm dâu nhà quan đại thần.Truyện Fukutomi Zôshi (Phước phú thảo tử) kể truyện một ông già nhờ tài đánh rắm mà được giàu sang và một ông già khác bắt chước theo lại thất bại. Như thế ta thấy loại chuyện giải khuây nầy mang đề tài vừa đứng đắn, vừa lạ lùng, vừa hài hước, có khi thô tục nữa. Đứng đắn như truyện người b́nh dân lập thân xuất thế nhờ tài cán hay nhờ buôn bán, truyện mẹ ghẻ con chồng. Truyện lạ lùng như phật, bồ tát biến thành thần và xuống thế gian như thế nào (loại gọi là honjimono hay bản sự vật) và thú vật cây cỏ thay thế người xuất hiện trong truyện như thế nào (iruimono hay dị loại vật). Truyện tếu như truyện hai ông già thi thố tài đánh rắm kia.Nói chung, phạm vi của otogizôshi hết sức rộng răi và đa dạng.

Loại truyện giải khuây này trong một thời gian lâu đă bị các nhà nghiên cứu xem thường nhưng không những nó đă đóng vai tṛ đại chúng hóa các tác phẩm cổ điển trước thời Muromachi (1333-1568) , ảnh hưởng đến các h́nh thức văn học có tính trào lộng về sau mà c̣n là một kho tài liệu về dân tộc học vô cùng phong phú làm ta hiểu được một cách sống động sinh hoạt của người xưa (từ thế kỷ 14 đến 19).

TIẾT III: GIÁO LƯ CƠ ĐỐC VÀ PHÁP NGỮ PHẬT GIÁO:

A) Văn học Cơ Đốc Giáo (Kirishitan Bungaku) xuất hiện:

Từ cuối đời Muromachi (1333-1568), các nhà truyền giáo Tây Phương đă lần lượt đến Nhật. Để học tiếng Nhật và truyền giáo, họ bắt đầu dịch thuật hay sáng tác bằng chữ La Mă. Trong số những công tŕnh được biết tới lúc đó có Isoho Monogatari (Y Tăng Bảo vật ngữ), Dochirina Kirishitan, Nhật Bồ Từ Điển, Heike Monogatari bản Amakusa[18].

Isoho Monogatari tức là bản dịch sang Nhật ngữ tập truyện ngụ ngôn của Aesopos (ta đọc theo âm Pháp là Ê-Xốp). Nguyên tác có tên là Aesopos Fabulas, một tác phẩm cổ điển Hi-Lạp. Bản năm 1593 dịch sang âm Nhật với chữ La-Mă nhưng đến năm 1639 th́ đă có bản viết theo chữ Hán và hiragana, bản năm 1659 có cả tranh.

Dochirina Kirishitan không ǵ khác hơn Doctrina Christă (Giáo lư đạo Cơ Đốc) được viết dưới dạng vấn đáp và dịch vào năm 1592 từ tiếng Bồ sang tiếng Nhật theo lối chữ La-Mă. Văn dịch theo ngôn ngữ vùng Kyôto với tất cả đặc điểm về âm vận, ngữ pháp, ngữ vựng... của vùng nầy nên ngày nay được xem như một văn kiện quan trọng để nghiên cứu lịch sử tiếng Nhật.

Tuy không thể giải thích lư do sự tiếp xúc của Nhật Bản với phương Tây bằng một sự kiện đơn thuần nhưng không ai có thể bỏ qua vai tṛ của Oda Nobunaga (Chức Điền, Tín Trường, 1534-1582), người đă tạo nên cơ sở cho việc thống nhất Nhật Bản. Xuất thân chỉ là một chức vơ quan nhỏ vùng Owari thuộc Trung Bộ Nhật Bản, Oda nhờ tài dụng binh và súng ống Tây Phương (do người Bồ đem vào Nhật lần đâu tiên năm 1543) đă lần lượt b́nh định các thổ hào chung quanh để trở thành nhân vật có thể khuynh đảo chính quyền Ashikaga.Theo lời giáo sĩ Ḍng Tên (Jesuit) Luis Frois[19], Nobunaga ghét cả Thần Đạo lẫn Phật Giáo mà ông cho là mê tín. Là người Nhật kiểu mẫu với tinh thần thực dụng nên không ngần ngại sử dụng đạo Ki-Tô như một tổ chức (không như một tôn giáo) nhất là nhờ súng mút (matchlock musket) và thuyền bọc thép, ông đă bao vây và tiêu diệt căn cứ của phái Tịnh Độ Chân Tông, địch thủ chính trị của ông, ở thành Ishiyama gần Osaka năm 1580.

Từ năm 1569, Nobunaga đă cho phép các hội truyền giáo cư trú ở Kyôtô. Ngoài Dochirina Kirishitan (1591) đă nói ở trên, các thầy Ḍng Tên c̣n cho in sách giáo lư khác như De Imitation Christi (Kontentsusu Munji, không có tên chữ Hán) của Thomas à Kempis (1596 bằng chữ La Mă, 1610 bằng chữ Hán trộn lẫn Kana) và một phóng tác từ Exercitia Spiritualia (Supiritsuaru Shugyô, Tâm Linh Tu Hành, 1607) của Ignatius Loyola. Từ ngữ tôn giáo thường được phiên âm trực tiếp và không kèm giải thích như trường hợp Deus (Chúa Trời) th́ dịch là Deusu, Fides (Ḷng tin) là Hiidesu. Ngoài ra, có chỗ dịch thẳng ra tiếng Nhật như “ quỷ sứ ” th́ dịch là tengu (thiên cẩu ) hay “ ḷng từ ái của Chúa ” là gotaisetsu “ sự chăm sóc giữ ǵn của Chúa ” vv...Có lúc, họ biết thích ứng với văn hóa bản xứ như dịch “ Chúa ”  ra Dainichi (Đại Nhật) “ Mặt Trời Lớn ” hay Tentei (Thiên Đế) , Tendô (Thiên Đạo), Tenshu (Thiên Chúa).

B)    Pháp ngữ (Hôgô) hay sách giảng đạo Phật :

Vào thời Kamakura, Phật Giáo mọc ra nhiều tông phái như Jôdo-sô (Tịnh Độ Tông), Jôdo-shinsô (Tịnh Độ Chân Tông), Hokke-sô (Pháp Hoa Tông), Ji-sô (Th́ Tông), Rinzai-sô (Lâm Tế Tông), Sôtô-sô (Thảo Đường Tông)...Tất cả được gọi là Tân Phật Giáo. Các vị giáo tổ khai sáng thường sử dụng lối vấn đáp và thư tín để giản dị hóa h́nh thức truyền đạo. Các tư liệu nầy thường được viết bằng tiếng Nhật chứ không phải Hán văn như kinh điển Phật giáo. Qua sách vở c̣n để lại, ta thấy người đương thời đă bày tỏ những thắc mắc tôn giáo sâu sắc. Sự trao đổi và biện luận trong đó đă đúc kết và h́nh thành những quan niệm nhân sinh, xă hội và tôn giáo mới mẽ.

Tác phẩm gọi là pháp ngữ (hôgo) đáng chú ư là Senchaku hongan nenbutsu-shuu (Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập) của tăng Hônen[20] (Pháp Nhiên), Kyôgô shinshô (Giáo hành tín chứng) và Tannishô (Thán dị sao) trong đó tăng Yuien (Duy Viên, 1222-1289) ghi chép lời dạy của tăng Shinran[21] (Thân Loan), Risshô ankoku-ron (Lập chính an quốc luận) của tăng Nichiren[22] (Nhật Liên), Shôbô Genzô (Chính pháp nhăn tàng) và Shôbô Genzô Zuimonki[23] (Chính pháp nhăn tàng tùy văn kư) của tăng Dôgen[24] (Đạo Nguyên), Ippen[25] Shônin Goroku (Nhất Biến Thượng Nhân ngữ lục) của tăng Ippen (Nhất Biến). Ngoài ra c̣n có tác phẩm ghi lại danh ngôn của những cư sĩ theo phái Tịnh Độ (gọi là các hijiri = thánh) tên là Ichigon Hôdan (Nhất ngôn pháp đàm), có ảnh hưởng đến tác giả của cuốn tùy bút Tsurezuregusa (Đồ nhiên thảo).

Khuôn mẫu cách hành văn của pháp ngữ có thể thấy trong một tác phẩm như Tannisho (Thán dị sao) , đặc biệt lối viết nghịch thuyết (paradoxical) và khẩu chiến của Shinran đă được thể hiện. Nó thu hút đặc biệt giới trí thức:

Trong ṿng chư tôn có rất nhiều người không quản ngại lặn lội từ vùng Kantô qua biên giới địa phận của trên mười tỉnh mà đến đây, có chí t́m tôi để hỏi một điều : làm thế nào để văng sinh về miền cực lạc.Thế nhưng khi quí vị nghi ngờ rằng tôi có lẽ c̣n nêu ra trong kinh luận một con đường khác ngoài việc niệm Phật để văng sinh th́ quả là một ư tưởng sai lầm. Muốn thế th́ trên ngọn Hieizan hay ở Nara c̣n thiếu chi các bậc đại sư, hăy tới đó mà lắng nghe cho kỹ những điều các vị ấy nói về yếu quyết văng sinh.

Đối với Shinran này th́ chỉ có việc niệm Phật xin Đức A Di Đà Như Lai cứu độ cho và tin lời ngài Hônen (Pháp Nhiên) dạy bảo là đă đủ. Nhưng niệm Phật là cái nhân để giúp ta được siêu sinh tịnh độ hay là cái mầm khiến ta rơi vào địa ngục, tôi không thể biết.

Cho dầu quí vị có bị ngài Hônen đánh lừa, v́ niệm Phật mà phải sa xuống địa ngục th́ nhất quyết không có ǵ để hối hận. C̣n như đă tu theo lối khác làm cho tấm thân có thể thành Phật, v́ niệm Phật mà phải sa xuống địa ngục th́ chắc là phải hối hận. Thế nhưng trường hợp tôi lại khác v́ tôi là người mang tấm thân tội lỗi dù tu bao nhiêu cũng phải sa xuống đó.

Nếu bản nguyện (lời thề cứu độ chúng sinh) của Đức A Di Đà Như Lai là chân thực th́ những kinh điển để lại từ một đời thuyết giáo của Đức Thích Ca không thể nào dối trá. Nếu lời thuyết giáo của Đức Thích Ca là chân thực th́ những lời giải thích của Thiện Đạo Đại Sư, bậc đại thành của tông Tịnh Độ bên Trung Quốc không thể nào bậy bạ, phải không ? Nếu kinh sách của Thiện Đạo Đại Sư được truyền bá như một chân lư th́ lẽ nào lời ngài Hônen (Pháp Nhiên Thượng Nhân) lại là chuyện bịa đặt ! Và những ǵ Shinran thưa ở đây cũng không thể sai lầm được.

Kết cuộc, ấy là ḷng tin vốn có nơi kẻ ngu muội là tôi. C̣n như có tin tưởng vào sự niệm Phật mà thực hành hay là bỏ mặc không làm, điều đó chư tôn bắt buộc tự phán đoán để lựa chọn.

(Tannishô, điều thứ 5)

Pháp ngữ thường do các đệ tử chép lại nên có nhiều dị bản. Nó đầy dẫy thí dụ cụ thể để giúp tín đồ hiểu đạo. Những thí dụ ấy có thể t́m thấy trong Shasekishuu (Sa thạch tập) nói trên của tăng Mujuu (Vô Trú) chẳng hạn nhưng chúng c̣n có ảnh hưởng không nhỏ đến nghệ thuật tŕnh diễn truyện hài hước của sân khấu rakugo (kể truyện tếu) về sau.


 

[1] Anh Mỹ dịch là “saying, talk hay report” (như Hepburn, 1872) , người Pháp thường dịch là “anecdote” hay “histoire”(Lemaréchal, 1904) hay “historiette”. Ở Trung Quốc, tùy theo thời đại, những mẩu chuyện con con này, vốn có từ cuối đời Tiền Hán (thế kỷ thứ 1), được gọi là …tiểu thuyết (xiao shuo) dưới đời Lục Triều, truyền kỳ (chuanqi) dưới đời Đường. Thuyết thoại (shuo hua) cũng là chữ được dùng ở Trung Quốc từ sau đời Đường. H́nh thức setsuwa ở Nhật có thể đă thấy ở dạng sơ khai từ thế kỷ thứ 8 trong các tập Fudoki (Phong thổ kư) tức địa dư chí của các địa phương.

[2] Truyền vào Nhật khoảng năm 552, Phật Giáo rất hợp với phong thổ và nếp sống người Nhật nên đă bắt rễ trên đất nước nầy. Giữa thời Hei-an (985) đă có tác phẩm Phật Giáo quan trọng Ôjô Yôshuu (Văng sinh yếu tập) của pháp chủ Genshin (Nguyên Tín), người c̣n được gọi là Eishin Sôzu (Huệ Tâm tăng đô), nói lên sự quan trọng của việc niệm Phật trong kiếp nầy để đời sau được siêu sinh vào cơi cực lạc. Bước qua thời Kamakura, tác phẩm nầy ảnh hưởng lớn đến văn học, nghệ thuật, trở thành cơ sở cho Tịnh Độ Tông (Jôdoshuu) và giúp phái nầy bành trướng mạnh mẽ.

[3] Nguyên là Nihonkoku Gennbô Zen-aku Ryôi-ki (Nhật Bản quốc hiện báo thiện ác linh dị kư), tập truyện 3 quyển viết bằng lối Hán văn kinh viện do Kyôkai, tăng lữ Nara về những điều nghe thấy trong triều ngoài nội. Nó nặng tính “ứng báo” để răn đời nhưng hơi ngây thơ và thiếu tính nghệ thuật trong lối kể chuyện. Phần lớn lối diễn tả trong đó mô phỏng theo mẫu mực Trung Quốc nhưng có ưu điểm là đă làm sống lại được cảnh tượng xă hội Nhật lúc Phật Giáo mới được du nhập vào.

[4] Sanbô–e (Tam Bảo hội, 984), tác giả là Minamotono Tamenori (Nguyên, Vi Hiến). Gồm 3 quyển Phật, Pháp, Tăng. Có thể xem nó là sách nhập môn Phật học, nói về truyện công đức những kiếp trước của Đức Phật (bản sinh đàm hay Jâtaka) và sự tích của tăng lẫn tục cũng như nguồn gốc của các nghi thức Phật sự.Thường có kèm theo tranh nhưng lâu ngày đă thất lạc, chỉ c̣n có lời giảng chép lại (từ thư hay kotobagaki) nên cũng có tên là Sanbô-e kotoba (Tam Bảo hội từ).

[5] Uchigiki-shuu (Đả văn tập) Đả Văn có nghĩa là thoáng nghe, biết chút ít. Sách ra đời trước năm 1134, không biết tác giả là ai. Gồm 27 truyện kể về liên hệ giữa Phật Giáo Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ. H́nh thức giống như bài giảng. nên được xem như một tài liệu quí trọng về văn nói.

[6] Tập truyện này có liên hệ ít nhiều đến Konjaku Monogatari nhưng mối liên hệ ấy không được rơ ràng. Truyện có vẻ hiện thực hơn Konjaku v́ ít bi thương và “dấn thân”, trái lại, mục đích tiêu khiển rơ nét hơn. 

[7] Các nhà văn hiện đại, Akutagawa và Tanizaki hay mượn sự tích của Konjaku làm đề tài, nhất là Akutagawa đă dùng lư trí của con người bây giờ t́m hiểu động cơ tâm lư của hành vi những nhân vật thời xưa. Xin tham khảo Hana (Cái mũi), Imogayu (Cháo khoai), Rashômon (La Sinh Môn) của Akutagawa, Shigemoto shôshô no haha (Người mẹ của tướng Shigemoto) do Tanizaki và Karano (Đồng hoang ) do Hori Tatsuo viết.

[8] Theo học giả Katô Shuuichi, nguồn Hán đến từ Pháp uyển châu lâm, Minh báo kư, Đại Đường Tây Vức kư. Nguồn Nhật là Nihon Ryôi-ki ( Nhật Bản linh dị kư) , Jizô Bosatsu Reigen-ki (Địa Tạng Bồ Tát linh nghiệm kư) vv

[9] Trong tiếng Nhật có chữ konjaku no kan (cảm giác chuyện nay  đă qua rồi), một khái niệm cần nắm để hiểu nghĩa chữ konjaku.

[10] Hiện nay, các sách về luật pháp cũng viết chen chữ Hán (kanji) với katakana, thay v́ chữ Hán với hiragana như sách vở thông thường. Văn tự trộn lẫn chữ Hán với kana gọi là Ḥa Hán hỗn giao văn thể. (wakan konkô buntai ) nhưng cách viết kèm chữ Hán với katakana th́ kém uyển chuyển hơn như khi viết với hiragana, lối viết phổ thông nhất bây giờ.

[11] Katô, Shuuichi.

[12] Truyện này là nguồn cảm hứng cho tác phẩm Chuutô (Bọn Đạo Tặc) của văn hào Akutagawa Ryuunosuke.

[13] Phạm vi của thuyết thoại từ đó đă được khai triển rộng răi. René Sieffert c̣n dịch là “ Contes et Légendes ”. Từ tính cách thần thoại và truyền kỳ buổi đầu, nó đă đa dạng hóa và b́nh dân hóa, bao trùm mọi thể loại dù có tính thuyết giảng, răn đời hay không.

[14] Akutagawa Ryuunosuke (1892-1927) hầu như đă xây dựng sự nghiệp văn học của ông từ những đoản thiên lấy cảm hứng từ thuyết thoại.

[15] Chữ Tập trong Sa thạch tập có thể hiểu hai nghĩa (tập sách hay thu thập, góp nhặt như ư trong bài tựa sách do chính tăng Mujuu viết).

[16] Phu nhân hoa quưt (Tachibana) tức San no Kimi là một nhân vật của chương 11:Hana chiru sato (Làng Hoa Rụng), một nơi toàn hoa cỏ, rất thơm tho, trong Truyện Genji.

[17] Mujuu, Ichien,  Collections de sable et de pierre, Hartmut O. Rotermund dịch, Gallimard, 1979, Paris.

[18] Bản Amakusa nghĩa là bản in theo kỹ thuật phương tây, bản Cơ Đốc (Kirishitan-ban). Cuối thế kỷ 16, người tây phương đă cho in bằng máy móc Âu Châu đặt ở Amakusa (Thiên Thảo), căn cứ của họ trên quần đảo cùng tên ở ngoài khơi tỉnh Kumamoto, miền cực nam nước Nhật.

[19] Luis Frois đă viết quyển Historia de Japam (Lịch sử Nhật Bản) về giai đoạn 1549-93, cho nhiều chi tiết về thời đó.

[20] Hônen (Pháp Nhiên, 1133-1212) người khai sáng phái Tịnh Độ, thuyết rằng chỉ chuyên tâm niệm Phật là đủ văng sinh về cơi tịnh độ.

[21] Shinran (Thân Loan, 1173-1262), ông tổ Tịnh Độ Chân Tông, môn đệ của Hônen, chỉ nhấn mạnh một vài quan điểm của học thuyết phái Tịnh Độ.

[22] Nichiren (Nhật Liên, 1222-1282), tổ khai sáng Pháp Hoa Tông, c̣n gọi là Nhật Liên Tông, lấy kinh Pháp Hoa làm căn bản.

[23] Ghi chép lời giảng của Dôgen, do bọn đệ tử là Eijô (Hoài Trang) thu lục, ra đời khoảng trước năm 1238.

[24] Dôgen (Đạo Nguyên, 1200-1253), tổ khai sáng phái Tào Động. Học thiền từ tăng Eisai (Vinh Tây), lập chùa Eiheiji (Vĩnh B́nh Tự) ở xứ Echizen (Việt Tiền) tức là vùng tỉnh Fukui bây giờ.

[25] Ippen (Nhất Biến, 1239-1289), tổ của phái Th́ Tông. Du lịch nhiều nơi nên c̣n được gọi là Yugyô Shônin (Du Hành Thượng Nhân). Rao giảng rộng răi trong dân chúng việc tụng kinh niệm Phật.

 


Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

 

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com

.........