Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

 Quyển Thượng : Từ Thượng Cổ đến Cận Đại


Trên những quân bài đầu xuân, có những bài thơ truyền tự thời Vạn Diệp.

Chương 3 :

Man.yô-shuu (Vạn Diệp Tập)

T́m hiểu cái đẹp của ḍng thơ Waka
trong tuyển  tập thơ tối cổ Nhật Bản.

Nguyễn Nam Trân

Lời tôi ca trên đồng lúa   
Lời tôi ca nắng mai hồng
Lời tôi ca cơn sóng nhỏ ḍng sông…  
Lời tôi ca xanh đại dương  
Lời tôi ca những con đường…  
Lời ca măi muôn đời  
Lời ca yêu mến người.  

La Hữu Vang (1970)

I) HAIKU VÀ WAKA:

Ngày nay khi bàn về thi ca Nhật Bản, người ta hầu như chỉ nhắc đến haiku. Trên thế giới có bao nhiêu Haiku-ist, từ người già đến em bé. Dĩ nhiên đó là điều đáng mừng cho văn học Nhật Bản v́ ảnh hưởng sâu rộng của loại thơ ngắn gọn, cô đọng mà học giả phái cấu trúc người Pháp Roland Barthes đă ví von với những “vết xước trên khung thời gian”. Đó là chưa kể việc có thêm một bài thơ th́ bớt đi một viên đạn, điều rất quan trọng để giữ sự ḥa b́nh an thái cho tinh cầu xanh của chúng ta.

Thế nhưng sự toàn cầu hóa và đại chúng hóa haiku không làm ta quên rằng thi ca Nhật Bản không chỉ là haiku mà c̣n biết bao nhiêu h́nh thức khác, trong đó có waka, Hán thi và thơ mới. Cho đến thế kỷ 17 th́ haiku chỉ là một sản phẩm phụ và “thấp hèn” của waka. Nếu không hiểu waka th́ khó ḷng thưởng thức haiku và thơ mới (shintaishi) một cách trọn vẹn. Bài viết nầy có mục đích thử lội ngược ḍng văn học sử để t́m hiểu những nét đẹp của waka (Ḥa ca), h́nh thức thi ca nguyên thủy Nhật Bản nghĩa là những bài thơ viết bằng kana, văn tự biểu âm của người Wa (Ḥa, Nhật cổ).

Waka ta biết bây giờ có hai nguồn cội: ca dao cổ đại và Hán thi nhưng xa xưa nhất là ca dao cổ đại. Jôdai kayô (ca dao thời cổ) phát xuất từ những bài hát (uta = ca) trong khi tế lễ để cảm tạ thần linh, tŕnh bày lập đi lập lại theo một lề lối nhất định nào đó, kèm với múa và dụng cụ âm nhạc đơn sơ. Nó c̣n có tác dụng nâng cao năng suất lao động của tập đoàn.Như thế, uta của thời cổ đă bắt nguồn từ hai lư do trên. Phần văn vần (ca từ) của uta được gọi là kayô vậy. Để khỏi lầm lẫn với từ kayô mà người Nhật dùng ở những giai đoạn sau trong nghĩa rộng hơn nghĩa chữ “ca dao” của tiếng Việt, phần nầy chỉ xin được đóng khung trong lănh vực jôdai kayô (thượng đại ca dao) hay ca dao cổ đại.

Khi cộng đồng thể cổ đại trưởng thành th́ qua kinh nghiệm những lần được tŕnh bày các cuộc tế lễ, hội họp, nội dung của Ca cũng phong phú và h́nh thức trau chuốt hơn. Người thời cổ hay tụ họp vào mùa xuân hay mùa thu trên núi non, ngoài băi biển, trong chợ, bên cầu để ca múa và ăn uống. H́nh thức tụ họp này gọi là utagaki (ca viên) hay kagai. Xuân là lúc con người cầu xin thần linh cho mùa màng được trúng và thu là lúc cảm ơn đă đạt được thụ hoạch mong muốn.Utagaki cũng là cơ hội nam nữ gặp gỡ, t́m người yêu.Utagaki nổi tiếng nhất ở trên núi Tsukuba nơi nam nữ tụ họp hát ca đối đáp và có những trao đổi xác thịt với nhau trong khi tế lễ. Nhà nghiên cứu Katô Shuuichi gọi đó là những cuộc “loạn giao” (sexual orgy) nghĩa là ai muốn ngủ với ai cũng được. Hitachi Fuudôki (khoảng sau 713), tác phẩm có tính cách địa dư chí của vùng Hitachi, có chép 4 bài ca rơ ràng có liên quan tới utagaki và nhắc tới “cuộc chơi trên băi biển” (hama - asobi). Trong đó có bài nói đến tâm sự anh con trai trách người con gái nghe lời và đi theo cậu trai khác không chịu ngủ với anh ta. Có bài viết về một anh nọ tiếc công đă đi đến núi Tsukuba mà phải ngủ một ḿnh, chỉ mong sao trời sáng. Xin trích dịch một trong những bài đó: 

Gió ngoài khơi thổi nhẹ,
Băi Takahama.

Cho anh “yêu” em nhé,

Gọi em là « vợ » ta,
Nghèo, xấu, anh nào sá!

(bài Takahama no trong Hitachi Fudoki)

Người gọi là « em » trong bài nầy không là một người con gái nhất định nào, chữ “vợ” (tsuma) cũng chưa hề có ư nghĩa trân trọng hay pháp lư như bây giờ và “muốn yêu” chỉ có thể hiểu theo ngôn ngữ đời xưa là muốn chung đụng xác thịt (học giả David Chibbett dịch là “make love”) với nhau.

Cũng trong Kojiki, sự biểu hiện khoái cảm nhục thể trong liên quan nam nữ đă được thể hiện qua bài trường ca mà nàng Nunakaha-hime hát cho thần Yachihoko (Bát Thiên Mâu) tức thần Ôkuninishi như sau:

Ṿng tay người giây dâu,
Ôm ngực trẻ tuyết mịn.
Tay ngọc quàng tay ngọc,
Thân thể
quyện vào nhau,
Chân người duỗi dài ra,

Nằm xuống bên ta ngủ.

(Bài Takuzuno shiroki tadamuki trong Kojiki)

Ḷng mong mỏi vào sự sinh thực của đất đai hoa màu và của con người (chỉ là giải tỏa nhu cầu thể xác và tôn giáo kiểu tập đoàn chứ chưa có thể gọi là luyến ái cá nhân), thu hoạch khi săn bắn và t́nh cảm sơ khai gắn bó với quê hương có lẽ là hai nguồn gốc chính của ca dao cổ đại Nhật Bản:

Bắt đầu uta chỉ có tính cách dân dă, gắn liền với đời sống dân gian (dân dao) nhưng sau khi quốc gia thành h́nh th́ nó đă được đem vào các nghi lễ của cung đ́nh cho nên ta cũng có ca dao cung đ́nh nữa. Những tác phẩm đó thường được gọi là ô-uta (đại ca) được hát kèm theo nhạc khí của cơ quan phụ trách nhạc cung đ́nh tên là Gagakuryô Ô-utadokoro (Nhă Nhạc Liêu Đại Ca Sở).

Ca dao thời cổ đă được ghi lại trong Kojiki (Cổ Sự Kư), Nihon shoki (Nhật Bản Thư Kỷ) , Fudoki (Phong Thổ Kư)[1]Kinkafu (Cầm Ca Phổ). Ca dao cổ đại chép trong các sách ấy có khi gắn liền với những nhân vật tiếng tăm như những bài gọi là “bài ca nhớ nước” (kunishinobi no uta) hay “ngợi khen đất nước” (kunihome no uta) mà tác giả hoặc gán cho thiên hoàng trong thần thoại tên là Keikô (Cảnh Hành) trong khi đi tuần thú, hay cho người anh hùng Yamato no Takeru no Mikoto (con ông ta) tận lực dẹp giặc đến chết. Lúc lâm trọng bệnh trên đường viễn chinh, người anh hùng hướng về quê hương và ca ngợi :

Yamato nhất nước,
Đồng xanh nép núi cao.
Chập chùng giăng mấy lớp,
Yamato đẹp sao!

(bài Yamato wa kuni no mahoroba trong Kojiki)

Ca dao chép lại trong Kojiki Nihon Shoki được gọi chung là Kiki kayô (Kư Kỷ ca dao). Kojiki có 110 bài, Nihon Shoki có chừng 130 bài, nếu bỏ những bài trùng lập th́ ta có tất cả khoảng 190. Khác với dân dao vốn độc lập, Kiki kayô kết hợp với thần thoại và truyền thuyết hay có khi biến thành truyện kể nhưng nội dung vẫn thể hiện sự cúng tế, chiến đấu, luyến ái, yến ẩm, bi thương… tức là cảnh ngộ của cuộc sống con người cổ đại nên quá đó, ta biết được mọi h́nh thức sinh hoạt của họ. Theo nhà nghiên cứu Katô Shuuichi, ca dao cổ đại Nhật Bản có một số lượng lớn về thơ luyến ái, khác với Kinh Thi của Trung Quốc nhiều hàm ư chính trị, cũng như khác với cả nội dung dân ca Omorosôhi của quần đảo Okinawa, vốn cũng bắt nguồn khoảng thế kỷ thứ 5, thứ 6.

Về h́nh thức, loại ca dao này sử dụng nhiều makura-kotoba (chẩm từ = chữ chính yếu) và jo-kotoba (tự từ = chữ giáo đầu), có vần điệu đẹp đẽ và đối qua đối lại. Makura-kotoba (makura là cái gối để gối đầu, ư nói gần gũi và trang trọng) là một câu chữ có h́nh ảnh đẹp để làm điểm tựa (tenkyo) hay hạt mầm (tane) dẫn nhập vào bài ca.[2] Đó là một h́nh thức tu sức có tính cách tỉ dụ giúp cho nội dung thô sơ theo sau sống động lên hơn khi khả năng liên tưởng kết hợp chúng với nhau.

Trong loại Kiki kayô, có điểm lạ là nó đă bắt đầu bằng 6-8 rồi sau đó h́nh thức 6-8 đă được thay thế bằng 5-7. Thể loại không nhiều nhưng ta có thể nhắc đến kata-uta (phiến ca), sedô-ka (triền hay toàn đầu ca), tanka (đoản ca) và naga-uta (trường ca).

-Kata-uta:

5-7-7, thể loại đơn sơ nhất.

-Sedô-ka:

5-7-7 và 5-7-7. h́nh thức kết hợp hai kata-uta. Có tính đối đáp và tập đoàn. Thấy nhiều dưới dạng truyền khẩu. V́ “triền” hay “toàn” có nghĩa là “quay về” nên “triền đầu” phải chăng có nghĩa là trở lại lúc đầu?

-Tanka:

5-7-5-7-7: h́nh thức tiêu biểu của waka (thơ Nhật) về sau.

-Naga-uta:

5-7-5-7 –5-7…7, độ dài không ấn định.

Trong số ca dao ghi chép tại, có thể kể đến văn bản tên gọi Bussoku sekika (Phật túc thạch ca) là 21 bài ca được khắc trên tấm bia đá ( ca bi = kahi) tên gọi Bussokuseki kahi [3](Phật túc thạch ca bi) ở chùa Dược Sư tại Nara, ca tụng công đức Phật.Những bài này làm theo lối tanka đặc biệt mỗi câu có bảy chữ. H́nh thức này rất hiếm dù ở trong Kojiki hay Nihon shoki cũng vậy.

Ngoài ra, giữa thời Heian, vào năm 981, trong tập nhạc dùng cho đàn Nhật (ḥa cầm= wagon), tên gọi Kinkafu (Cầm ca phổ), có chép lại 21 bài ca dao viết bằng lối chữ man.yô-gana tức chữ kana viết trong Man.yô-shuu. Năm bài trong tập nầy trùng với ca dao thấy trong hai tập Kư Kỷ.

II) NHỮNG TẬP THƠ WAKA ĐẦU TIÊN:

 

Quí tộc Heian ḥa nhạc để tiêu khiển

Như đă nói, khi quốc gia thành h́nh th́ ca dao cũng thay đổi theo: một mặt do sự hưng thịnh của tầng lớp quí tộc và quan liêu, mặt khác tổ chức đời sống xă hội lấy đô thị làm trung tâm đă khiến cho ca dao mất dần tính cách tập đoàn và đượm màu sắc chủ thể cá biệt hơn. Ca dao dần dần được trau chuốt, mất tính cách tự do, bị ràng buộc trong những h́nh thức cố định như ngũ ngôn, thất ngôn…và được soạn theo những ca thể định h́nh với các tên gọi như chôka hay naga-uta ( trường ca), tanka (đoản ca), sedô–ka (triền đầu ca hay ca đối đáp). Đến khi h́nh thức ca vịnh có tính cách cá nhân được phát triển đến mức nào đó th́ các ca tập của từng cá nhân đă được ra đời.Theo ghi chú thấy trong Man.yô-shuu (Vạn diệp tập) th́ thời ấy có những ca tập (kashuu = xin hiểu là tập thơ) tên gọi Kokashuu (Cổ ca tập), Kakinomoto no Hitomaro Kashuu (Thị Bản Nhân, Ma Lữ[4] ca tập), Kasa no Kanamura Kashuu (Lạp Kim Thôn ca tập), Takahashi Mushimaro Kashuu (Cao Kiều Trùng Ma Lữ ca tập), Tanabenosaki Maro Kashuu (Điền Biên Phúc Ma Lữ ca tập), Ruijuu Kashuu (Loại tụ ca tập) nhưng hiện nay không thấy lưu truyền lại quyển nào cả.

Riêng Man.yô-shuu là một tác phẩm lớn tập hợp thơ quốc ngữ Nhật (waka) vào giữa thế kỷ thứ 8, ra đời khoảng năm 758 nghĩa là độ chừng 46 năm sau Kojiki, 38 năm sau Nihon shoki nhưng chỉ có 7 năm sau tập thơ chữ Hán Kaifuusô (Hoài Phong Tảo).

III) MAN.YÔ-SHUU (VẠN DIỆP TẬP):

Man.yô-shuu, tập thơ quốc ngữ tối cổ của Nhật Bản, gồm 20 quyển ghi chép chừng 4500 bài thơ, trong đó 4200 là tanka, 260 chôka và 60 sedôka. Tên của nó có nghĩa là “một vạn chiếc lá”[5], có thể hiểu xa hơn, “ thu thập thơ muôn đời”. Trong bài tựa bằng chữ kana của Kokin Waka-shuu (Cổ Kim Hoà Ca Tập) về sau, nhà thơ Ki no Tsurayuki đă nhắc lại việc biên soạn Man.yôshuu như sau:

“Truyền thống của ca (uta) như thế là bắt đầu từ lâu lắm nhưng ca được phát triển rộng lớn nhất là thời kỳ các thiên hoàng ở Nara. Thời nầy có thi nhân đại tài tên là Kakinomoto no Hitomaro.Ông Maro, ḍng dơi quí tộc cao cấp, làm quan chính tam phẩm, là bầy tôi hầu hạ thiên hoàng, đi đâu cũng có nhau. Trong khi tuần thú vùng Nara, thiên hoàng vịnh lá đỏ trôi trên sông Tatsuta như gấm th́ Maro mượn cḥm mây trắng để so sánh với hoa anh đào núi Yoshino. Sau đó, Yamabe no Akahito, người có tài thơ không kém Maro và các thi nhân ưu tú khác lần lượt xuất hiện. Thiên hoàng bèn cho thu thập tất cả thơ thời đó thành tập và gọi là Man.yô-shuu”.

Tuy năm biên soạn và tên người biên soạn c̣n chưa được minh định hoàn toàn nhưng theo sự phỏng đoán, có lẽ đây là một công tŕnh ṛng ră nhiều năm, dựa trên từ những tác phẩm đi trước như Kokashuu (Cổ ca tập) của Kakinimoto no Hitomaro (Thị Bản, Nhân Ma Lữ). Nhân vật đóng góp ở giai đoạn cuối cùng được biết nhiều nhất có lẽ là Ôtomo no Yakamochi (Đại Bạn, Gia Tŕ). Man.yô-shuu không có tính thống nhất cho lắm nên được xem như trải qua một quá tŕnh biên soạn lâu năm và do nhiều người. Bản hiện c̣n có lẽ là bản ra đời vào cuối thời Nara (710-784).

Tuy không thống nhất nhưng nh́n toàn bộ, Man.yô-shuu xuất hiện dưới ba h́nh thức chính: sômon (tương văn) và banka (văn ca) và zôka (tạp ca). Ngoài ra, có thể phân loại theo lối diễn tả: lối bày tỏ tâm t́nh trực tiếp, lối thác ngụ tâm t́nh trước một sự vật hay cảnh vật, lối tỉ dụ ví von bóng gió chứ không nói thẳng. Lại có thể phân loại theo bốn mùa, hay độ dài ngắn, có đối đáp hay không, hoặc theo thời điểm sáng tác…

Sômon (tương văn) có nghĩa là hỏi thăm tin tức về nhau, phần lớn là thơ giữa người trong gia đ́nh như cha mẹ, anh em và giữa nam nữ yêu đương, viết cho nhau. C̣n về banka (văn ca), nhân v́ chữ “văn” có ư là kéo (văn) xe tang, nên đó là thơ thương tiếc, khóc lóc người chết. Cuối cùng, Zôka (tạp ca) là những bài thơ không gồm trong hai thể loại trên, chủ yếu liên quan đến du ngoạn, lữ hành, yến tiệc, phần lớn những sự việc ở nơi công cộng.

Số tác giả có thơ được thu thập trong Man.yô-shuu rất đông đảo, trên từ thiên hoàng dưới đến người thường, đủ mọi từng lớp dân chúng của nhiều địa phương từ vùng Yamnato trung tâm cho đến miền đông xa xôi (Đông Quốc, nay thuộc vùng Tôkyô) hay đảo Kyuushuu (Cửu Châu) ở phía nam. Thời gian sáng tác kéo dài từ khoảng thế kỷ thứ 4 đến hậu bán thế kỷ thứ 8, ước chừng 450 năm.Tuy nhiên những bài thơ sáng tác trước thời thiên hoàng Jomei (Thư Minh, tức vị năm 629) thường chỉ được truyền tụng nên không có niên đại sáng tác rơ ràng. Trong đó phải kể đến những bài thơ mà người ta gán cho hoàng hậu của thiên hoàng (thứ 16) Nintoku (Nhân Đức, trị v́ khoảng tiền bán thế kỷ thứ 5), của thiên hoàng (thứ 21) Yuuryaku (Hùng Lược, hậu bán thế kỷ thứ 5), Sotôri no ôkimi (Y Thông Vương) hay thái tử Shôtoku (Thánh Đức, đầu thế kỷ thứ 6). Ngoài ra, phần lớn tác phẩm của Man.yô-shuu được sáng tác trong một thời kỳ khoảng một thế kỷ rưỡi kể từ năm 629.

Cho đến thời Nara, chữ quốc ngữ kana chưa phát triển nên người ta phải dùng chữ Hán, một văn tự biểu ư, như là một văn tự biểu âm để ghi chép âm Nhật. Cách dùng như thế đă được áp dụng từ thời viết Kojiki rồi nhưng nó đạt được mức độ thành thuộc với Man.yô-shuu nên cách ghi đó được mệnh danh là man.yô-gana (Vạn Diệp giả danh) nghĩa là chữ Kana dùng trong Man.yô-shuu.[6] Phong cách thơ trong tập này đă biến chuyển theo ḍng thời gian dài và được chia làm 4 thời kỳ nhưng hai thời kỳ quan trọng hơn cả là thời thứ 2 và thứ 3.

1) Thời kỳ thứ nhất (629-672):

Thời này tính từ thời thiên hoàng Jomei đến loạn năm Nhâm Thân hay Jinshin-no-ran, biến cố đă đưa thiên hoàng Tenmu lên ngôi. Đó là sơ kỳ của Vạn Diệp, lúc mà ảnh hưởng ca dao cổ đại hăy c̣n rơi rớt nhưng t́nh cảm cá nhân đă thể hiện mạnh mẽ. Thơ thời đó tuy thô sơ nhưng thanh tân, trong sáng, lưu loát, có vẻ đẹp đặc biệt mà đời sau không có. H́nh thức của thơ bắt đầu được đóng khung trong khuôn khổ 5 chữ hay 7 chữ. Những bài thơ được ghi lại trong giai đoạn này thường do các tác giả xuất thân từ hoàng tộc. Nổi tiếng nhất có các thiên hoàng Yuuryaku (Hùng Lược), Jomei (Thư Minh), Tenji (Thiên Trí), Tenmu (Thiên Vũ) và thân vương (ở đây xin hiểu là công chúa) Nukata (Ngạch Điền).

Jomei là thiên hoàng đời thứ 34, trị v́ khoảng năm 629-641, cha của anh em Tenji và Tenmu. Ông có bài thơ như sau khi leo lên ngọn Kaguyama:

Yamato núi bủa giăng,
Dưới trời hỏi núi nào bằng Kagu.
Leo lên đỉnh nh́n tuyệt mù,
Khói lan đồng rộng, chim vù đảo xa.

Đẹp sao là đất nước ta! 

(Bài Yamato ni wa, quyển 1, thơ thiên hoàng Jomei)

Nukatano ôkimi (Ngạch Điền thân vương) là con gái của Kagamino ôkimi (Kính Vương), không rơ năm sinh năm mất. Bà trước đă là vợ của (thiên hoàng thứ 40) Tenmu (hồi c̣n là hoàng tử Ô.ama tức Đại Hải Nhân) và đă có con với ông này, sau bị nạp vào hậu cung của (thiên hoàng thứ 38) Tenji (lúc trẻ tên là hoàng tử Naka no Ôe no Ôji tức Trung Đại Huynh), anh của Tenmu. Việc bà lần lượt lấy hai chồng không có ǵ đáng làm lạ v́ hôn nhân đương thời là do những cuộc dàn xếp có tính cách chính trị. Bà là nữ thi nhân waka quan trọng độc nhất lúc đó.

Sau đây xin đơn cử vài bài thơ thời kỳ thứ nhất của Man.yô-shuu và dịch thoát ra tiếng Việt:

Bến Nikita đợi trăng,
Ḱa vầng nguyệt tỏ triều dâng nước ṛng.

Nhanh tay chèo lái theo ḍng!

(Bài Nikitazu ni, quyển 1, thơ Nukata no Ôkimi)[7]

Tương truyền bài thơ nầy vịnh cảnh nữ thiên hoàng (thứ 37) Saimei (Tề Minh, trị v́ 655-661) lên đường đi đánh nước Tân La (Shiragi, thuộc Triều Tiên).

Bà Nukata c̣n liên quan đến hai bài thơ t́nh nổi tiếng:

Trên đồng hoa tí m [8] t́m ai,
Chàng qua vườn cấm vẫy tay tỏ ḷng.
Người canh có thấy chàng không?

(Bài Akanesasu, quyển 1, thơ Nukata no Ôkimi)

Đẹp như hoa tím lung linh,
Nếu giận ai đó gửi thân cho người.
Cớ sao ta nhớ em hoài?

(Bài Murasaki no, quyển 1, thơ Ô-ama no Miko)

Tương truyền bài “Lang thang vườn cấm” và “Đẹp như hoa tím” là hai bài thơ t́nh của Ô.ama no miko (hoàng tử Đại Hải Nhân, sau là thiên hoàng Tenmu) trao đổi với người vợ cũ nay lấy chồng khác, Nukata no ôkimi (công chúa Ngạch Điền ), nói về t́nh quyến luyến với nhau.

Chồng công chúa (tức thiên hoàng Tenji), vốn là nhà chính trị tài ba, lúc c̣n là hoàng tử đă diệt họ Soga và thực hiện cuộc cải cách hành chánh Taika, không phải là không biết chuyện, cũng có bài vịnh về mối t́nh tay ba nầy mà ông ví với mối t́nh của ba ngọn núi Đại Ḥa Tam Sơn (Kaguyama, Mirunashiyama và Unebiyama):

Kagu, Mirunashi,
Tranh nhau cũng bởi yêu v́ Unebi.
Nay người tranh vợ khác ǵ !

(Bài Kaguyama wa, quyển 1, thơ Naka no ôe no ôji)

Như thế th́ thơ Man.yôshuu đă có tính cách cá nhân hơn thơ chung chung của Kojiki rồi.

Các cuộc tranh chấp quyền lực cung đ́nh đưa đến nhiều thảm cảnh. Năm 658, thiên hoàng Tenji đă khép hoàng tử Arima (Arima no Miko, Hữu Gian Hoàng Tử, 640-658, con trai thiên hoàng Kôtoku) vào tội mưu phản (dười thời nữ thiên hoàng Saimei, mẹ Tenji) và đem ra hành h́nh. Trong hai bài thơ bi ai chép lại ở Man.yô-shuu có một bài nội dung như sau:

Bên ao Iwashiro,
Nhánh tùng ai buộc, có chờ nhau chăng ?
Ngày ta trở lại đây thăm.

(Iwashiro no, Man.yôshuu, quyển 2, bài 54)

Có thể một người bạn của hoàng tử Arima đă buộc hai nhánh tùng lại với nhau như một lời khấn nguyện vận may cho hoàng tử và đă gieo cho ông một niềm hy vọng. Nếu như hoàng tử không trở về để tháo nhánh tùng, có nghĩa là ông ra đi vĩnh viễn. Ông đă bị xử treo cổ lúc mới 18 tuổi.

Cũng là một thảm kịch liên quan đến tranh chấp quyền lực chính trị đă đẻ ra bài thơ của Ôtsu no Ôji (hoàng tử Đại Tân, 663-686), một ông hoàng văn vũ toàn tài, con của Tenmu phải chết dưới tay người vợ góa nhiều tham vọng của cha ḿnh tức nữ thiên hoàng Jitô (Tŕ Thống, 645-702), nguyên là con gái thứ hai của Tenji (và dĩ nhiên không phải mẹ của hoàng tử). Giai thoại cho rằng trước khi chưa bị khép vào tội chết, Ôtsu bí mật đến gặp bà chị, Ôku no hime (công chúa Đại Bá), một người miko hay trinh nữ phụng sự ở đền thần Ise (Y Thế thần cung). Hoàng tử c̣n để lại bài thơ với niềm hy vọng:

Sau đây là bài thơ của hoàng tử viết trước khi giă biệt cơi đời:

Hôm nay ao Iware,
Chắc là lần cuối được nghe vịt trời.

Mai mây che khuất ta rồi.

(Momozutau, Man.yôshuu, quyển 3, bài 416)

Hoàng tử Arima bị tử h́nh 50 năm sau khi chùa Hôryuuji (Pháp Long Tự) hoàn thành (607) và hoàng tử Ôtsuu chết năm 686 tức 2 năm sau chùa Yakujishi (Dược Sư Tự) được xây lên (684) thế nhưng thời ấy tư tưởng vô thường Phật giáo chưa đi vào thơ văn. Trong bài tuyệt mệnh nầy chỉ thấy ḷng ao ước sống c̣n cũng như bài Hán thi ( bài Kim ô lâm tây xá [9]) tương truyền chính ông đọc trước giờ lâm h́nh, chép trong tập Hán thi Kaifuusô (Hoài Phong Tảo).

Công chúa Ôku đă đoán trước cái chết đứa em ruột, có làm hai bài thơ nói lên tất cả lo âu. Sau khi hoàng tử chết và được chôn ở ngọn núi Futakamiyama, bà lại có thơ :

Mai đây cho đến cuối đời,
Futa phía núi mỗi ngày lặng trông.

Nhớ em, chị xót trong ḷng.

(Bài Utsusomino, Man.yôshuu, quyển 2, thơ Ôku no Hime miko)

2) Thời kỳ thứ hai (672-710):

Tương ứng với khoảng thời gian từ cuộc biến loạn năm Nhâm Thân đến khi chính quyền thiên đô về Heijô-kyô (B́nh Thành kinh) kéo dài cỡ 40 năm. Đó là thời kỳ toàn thịnh của cuộc sống cung đ́nh đóng đô ở Fujiwara-kyô (Đằng Nguyên kinh) dưới thời trị v́ của các thiên hoàng (thứ 41) Jitô (Tŕ Thống, trị v́ 686-697) và (thứ 42) Mommu (Văn Vũ, trị v́ 697-707), khi mà chế độ pháp luật bắt đầu từ cuộc cải cách hành chánh năm Taika (Đại Hóa Cải Tân, 645) được củng cố và phát triển (qua Taihô Ritsuryô tức bộ luật Đại Bảo, 701). Cuộc sống phồn vinh và an định của cung đ́nh đă làm thi ca phát triển mạnh, waka (ḥa ca, thơ quốc âm) càng thêm tinh xảo với việc ấn định những qui tắc tu từ (đă nói ở trên) như makura-kotoba (chẩm từ), jo-kotoba (tự từ), tsuiku (đối cú) và việc phân biệt thơ dài chôka (trường ca) với thơ ngắn tanka (đoản ca). Trong thời gian này những nhà thơ chuyên môn cung đ́nh đă xuất hiện. Tiêu biểu là Kakinomoto no Hitomaro.

Kakinomoto no Hitomaro (Thị Bản Nhân Ma Lữ):

 

 

Kakinomoto no Hitomaro, nhà thơ lớn nhất thời Vạn Diệp

Ông sinh và mất năm nào không rơ, chỉ biết là một chức quan nhỏ thờ hai triều Jitô và Mommu (690-707). Thơ ông vừa hùng tráng, vừa trang trọng, có những bài vịnh tán để ngợi khen hoàng tộc, có những bài văn ca ai điếu họ vào dịp tang ma. Ông có công trong việc hoàn chỉnh thể trường ca. Cùng với Yamabe no Akahito (Sơn Bộ Xích Nhân), ông được đời sau xưng tụng là đại thi hào ( uta no hịjiri, ca thánh). Tác phẩm c̣n để lại là thi tập mang tên ông Kakinomoto no Hitomaro-shuu (Thị Bản Nhân Ma Lữ ca tập). Một mặt, ông làm những bài thơ có tính cách cá nhân như thơ thương nhớ vợ, một mặt ông để lại nhiều thơ cung đ́nh trong Man.yô-shuu và được coi là nhà thơ số một đă đóng góp trong tập nầy.Tuy nhiên, trong số khoảng 365 bài gọi là trích từ ca tập nói trên nay đă thất truyền e rằng không phải tất cả đều là của ông mà c̣n là của các thi nhân đương thời mà ông chép lại. Ông thiện về chôka mà bài thơ ai điếu hoàng tử Takechi với 149 câu được xem là bài thơ dài nhất trong Man.yô-shuu. Thơ ông trang trọng, thanh nhă, bắt nguồn từ hai ḍng Hán thi và quốc âm nhưng biết phối hợp chúng một cách tài t́nh.Ông đă sáng tạo trên một trăm makura-kotoba tức “ câu chữ gối đầu” làm nguồn thơ cho người làm thơ về sau. Giai đoạn cuối đời của ông thế nào không ai rơ . Học giả Umehara Takeshi phân tích những bài thơ cuối cùng của ông, đưa ra thuyết là ông bị thất sủng phải đi đày ở vùng Iwami và tự kết liễu đời ḿnh nơi đó.Từ thế kỷ 12, người ta tôn sùng ông như bậc thần linh và dùng cả thơ ông vào cả việc bùa chú.

Xin đơn cử một vài bài thơ của ông làm trong giai đoạn nầy. Trước tiên là một tiết trong bài ca ai điếu (banka) mà Kakinomoto no Hitomaro viết thay người chồng của công chúa Asuka khi bà nầy mất:

Thật đau đớn, gào v́ lẻ bạn,
Chim đi t́m mỗi sáng mộ ai.
Bóng h́nh ủ rủ hôm mai,
Ngày hè cỏ úa , đêm dài bước sao.
Như thuyền trôi biết biển nào!

(Sarekamo ayani kanashimi, Man.yô-shuu, quyển 2, bài 196)

Ở đây ta đă thấy xuất hiện những h́nh thức tu từ vận dụng khả năng liên tưởng như “chim lẻ bạn”. “cỏ hè uá nắng”, “sao đêm”, thuyền trôi trên biển”…. Ông c̣n viết một bài thơ đoạn hậu (hanka, phản ca) cho một bài thơ dài (chôka, trường ca ) ai điếu vợ ḿnh:

Lá vàng phủ lối sơn khê,
Làm sao ta biết ḿnh về nơi nao!

(Akiyama no momiji wo shigemi, Man.yô-shuu, quyển 2, bài 108)

Trong bài ai điếu cá nhân nầy, có lẽ v́ tâm sự thành thực hơn nên đơn giản, không có h́nh thức tu từ nào quá lộ ra ngoài.

Sau đây là hai bài thơ khác với chủ đề thiên nhiên và có phong vị trữ t́nh:

Phương đông, trời vừa ửng lên,
Lung linh nắng sớm loang trên cánh đồng.
Ngoảnh đầu, nguyệt xế từng không.

(bài Himugashino, Man.yô-shuu, quyển 1, thơ  Kakinomoto no Hitomaro)

Trăng thu năm ngoái lững lờ,
Vẫn c̣n chiếu sáng như xưa thu nào.
Người em cùng ngắm nay đâu!

(bài Kozo miteshi, Man.yô-shuu, quyển 2, thơ Kakinomoto no Hitomaro)

Các tác giả khác của Vạn Diệp thời kỳ thứ hai:

Ngoài Kakinomoto no Hitomaro, thời này c̣n có Takechi no Kurohito (Cao Thị, Hắc Nhân) nổi tiếng về thơ tả cảnh làm trên đường du lịch và Naga no Okimaro (Trường Y, Cát Ma Lữ) giỏi về thơ ứng đối tại chỗ.

Một nữ thi nhân, Ôto mono Sakanoue (Đại Bạn, Phản Thượng Lang Nữ), có thể tiêu biểu cho khuynh hướng trữ t́nh thời đó. Bà là cô của thi nhân nổi tiếng Ôtomo no Yakamochi (Đại Bạn, Gia Tŕ) và là mẹ vợ ông ta. Thơ nói về t́nh yêu của bà có bài như sau:

Chàng nói đến có khi không đến,
Để khi chàng nói chẳng đến đâu,
Th́ em tựa cửa mong sao,
Cho chàng đến, dẫu biết nào có ai.

(Komu to iu mo, Manyô-shuu, quyển 4, bài 527) 

T́nh cảm của thi nhân cung đ́nh thời Heian biểu lộ qua Man.yô-shuu là những t́nh cảm tế nhị thanh tao mà trong đó thiên nhiên (trăng, gió, chim chóc, hoa cỏ) đóng một vai tṛ quan trọng, khác hẳn ca dao thời cổ và cũng sẽ khác những ḍng thơ sau nầy.

3) Thời kỳ thứ ba (710-733):

Thời kỳ này ước chừng 23 năm kể từ lúc thiên đô về Heijô.kyô (B́nh Thành kinh) cho đến năm Tempyô (Thiên B́nh) thứ 5 nghĩa là buổi ban đầu của thời Nara (Nại Lương). Lúc đó chế độ pháp luật đă vững vàng, việc biên soạn hai quyển Kư và Kỷ đă xong xuôi. Tư tưởng Nho, Thích, Lăo từ lục địa được du nhập vào đất Nhật nên thơ quốc âm waka đă nhuốm màu tư tưởng. Tính cách cá nhân trong thơ bộc lộ rơ nét hơn. Thơ trở nên tinh vi và phức tạp so với trước. Số thi nhân (kajin = ca nhân) hoàng tộc giảm đi nhưng số người làm thơ thuộc tầng lớp khác tăng thêm, phong cách thơ cũng đa dạng hơn. Nền tảng của Man.yô-shuu đă thành h́nh vào lúc nầy.

Yamabe Akahito

Những nhà thơ tiêu biểu cho thời nầy có Yamabe no Akahito[10] (Sơn Bộ Xích Nhân, năm sinh và mất không rơ), người có những bài thơ tả cảnh với lời thơ trong trẻo, Yamanoue no Okura[11] (Sơn Thượng, Ức Lương, 660-733?) v́ thấm nhuần tư tưởng Trung Quốc và Phật Giáo nên hay ngâm vịnh những mâu thuẫn và thống khổ của kiếp người, Ôtomo no Tabito[12] (Đại Bạn Lữ Nhân, 665-731) có phong cách u sầu, thoát tục và Takahashi no Mushimaro[13] (Cao Kiều Trùng Ma Lữ, năm sinh và mất không rơ) với những bài trường ca trữ t́nh điêu luyện.

Bến Waka nước triều đầy,
Băi cạn ch́m hết xui bầy hạc bay,
Vừa kêu, đáp xuống lau dày.

(Bài Waka no ura ni, quyển 6, thơ Yamabe-no-Akahito)

Vườn ta muôn cánh hoa mơ,
Bay theo làn gió, mà ngờ tuyết rơi!

(Bài Waga sono ni, quyển 5, thơ Ôtomo-no-Tabito)

Việc đời nhớ tiếc chi xa,
Nâng chén rượu đục phải là hời không?

(Bài Shirushi naki, quyển 5, thơ Ôtomo-no-Tabito)

4) Thời kỳ thứ tư (734-759):

Trùng với khoảng 25 năm từ năm Tempyô (Thiên B́nh) thứ 6 đến năm Tempyô Hôji (Thiên B́nh Bảo Tự) thứ 3. Đó là thời kỳ giữa của triều Nara, có nhiều dao động về mặt chính trị như sự thất thế của ḍng họ Fujiwara (Đằng Nguyên) từ cái chết của người cầm đầu cánh này, Fujiwara no Fuhito (Đằng Nguyên, Bất Tỉ Đẳng), vào năm 720 và những cuộc biến loạn xảy ra sau đó. V́ phản ảnh thời thế nên thơ waka lúc ấy mất hẳn sức sống và tri tính mà thiên về cảm thương, ưu nhă. Cảm hứng và biểu hiện đă thành những khung cố định, chuyển tiếp qua phong cách thi ca của triều Heian (B́nh An) đến sau.Loại thơ dài chôka suy thoái, chỉ c̣n thơ ngắn tanka liên hệ nhiều với cuộc sống xă giao thù tạc hằng ngày là hăy c̣n thịnh. Thi nhân tiêu biểu cho thời này là Ôtomo no Yakamochi với những vần thơ u sầu và lối biểu hiện tinh tế.

Ôtomo no Yakamochi:

Otomo no Yakamochi

Ôtomo no Yakamochi (Đại Bạn, Gia Tŕ, 718-785), con của Tabito, làm quan đến chức Chuunagon (Trung Nạp Ngôn) tức quan tham nghị bậc trung. Trong Man.yô-shuu, ông để lại trên 400 bài thơ và được xem như là người biên soạn tập thơ nầy.

Thơ Yakamochi có những vần thanh nhă và gần gũi với thiên nhiên. Thường là những bài waka thật ngắn:

Cạnh pḥng ta, bụi trúc con,
Xạc xào tiếng gió khi hoàng hôn rơi.

(Wa ga yado no, Man.yô-shuu, quyển 19, bài 4291)

Ngày xuân ngập nắng lung linh,
Sáo tung trời biếc cho ḿnh lẻ loi.

(Uraura ni, Man.yô-shuu, quyển 19, bài 4292)

Vượt sông Haitsuki,
Mỏi chân thúc ngựa cũng v́ nước dâng.
Núi Tate băng đă tan ?

(Bài Tateyama no, Man.yô-shuu, quyển 17)

Vườn xuân đẹp cánh đào hồng,
Trên đường, cô gái vào trong ánh đào.

(Bài Haru no sono, Man.yô-shuu, quyển 19)

Đông ca (Azuma.uta):

Trong Man.yô-shuu, quyển thứ 14 c̣n ghi chép khoảng 240 bài Azuma-uta (Đông Ca) tức là ca dao miền Đông. Vùng Azuma (Đông Quốc) thủa ấy được định vị trí từ Shizuoka (Tĩnh Cương) gần núi Phú Sĩ cho đến vùng Mutsu[14] (Lục Áo) thuộc Tôhoku (Đông Bắc) hiện tại, hăy c̣n hoang vu, ít vết chân người. Những bài thơ này thường là của tầng lớp thứ dân nên nội dung thô sơ và có nhiều dấu vết của ngôn ngữ địa phương, biểu lộ t́nh cảm mộc mạc của họ trong cuộc sống hàng ngày.Trong số đó đă có 196 bài xem như là thơ luyến ái.Thơ Azuma-uta không hay nói đến cái chết như các bài banka trong thơ cung đ́nh. Tên các thần thánh thấy trong Kojiki Nihon shoki cũng không có mặt trong thơ miền Đông. Đó là một đặc điểm khác của phần cuối tập Man.yô-shuu vậy.

Ngoài ra trong quyển 14 này và nhất là quyển 20 có thâu thập lại gần 90 bài thơ của lính thú (sakimori = pḥng nhân) sinh quán ở vùng Đông bị trưng binh xuống miền Nam (Kyuushuu) để pḥng thủ các vùng Tsukushi (Trúc Tử), Iki (Nhất Kỳ) và đảo Tsushima (Đối Mă). Những người lính thú, theo luật, ba năm được đổi phiên một lần. Loại thơ nầy có tên là sakimori-uta (pḥng nhân ca). Thơ của lính thú phần nhiều biểu lộ tâm t́nh thương nhớ quê hương và gia đ́nh:

Lũ con nắm chặt áo cha,
Ta bỏ chúng lại để ra cơi ngoài.
Mẹ không c̣n nữa, con ơi!

(bài Karakoromu, Man.yô-shuu, quyển 20, thơ Osada no Toneri Ôshimaga).

Ba bài thơ sau đây là của các anh yoboro (tạp binh, không chức tước, không tên tuổi) làm ra lúc bị gửi đi trấn thủ lưu đồn 3 năm trên đảo Tsukushi. Họ viết được những vần thơ trữ t́nh đẹp tuyệt vời mà giới quí tộc Heian không thể nào viết nỗi. Khi anh lính thú nhớ về người vợ trẻ:

Như huệ núi Tsukuba,
Đêm xưa em đẹp ngọc ngà giường anh.
Ngày nay c̣n ghé mộng lành.

(bài Tsukubane no, Man.yô-shuu, quyển 20, bài 4369)

Họ làm những bài thơ than thở số phận hẩm hiu đời lính:

Lính thú tứ xứ xuống thuyền,
Nh́n cảnh ly biệt dạ phiền, bó tay!

(bài Kuniguni no, Man.yô-shuu, quyển 20, bài 4381)

Quan kia sao ác làm chi!
Tôi đang nằm bệnh bắt đi biên pḥng.

(bài Futahogami, Man.yô-shuu, quyển 20, bài 4382)

Vợ lính cũng gửi tâm sự vào thơ (hay có người đă nói thay cho họ):

Chồng ai đấy, lính ra biên?
Nghe một chị hỏi mà thèm làm sao!
Số may, chẳng biết lo âu.

(bài Sakimori ni, Man.yô-shuu, quyển 20, bài 4382)

Ngoài thơ lính thú, c̣n phải kể thơ các học tăng (Abe no Nakamaro hay Yamanoue no Okura) sang nhà Đường và thơ của nhân viên sứ bộ sang Tân La tức Shiragi (145 bài) đă làm cho Man.yô-shuu đa dạng và phong phú.

 

IV) ẢNH HƯỞNG CỦA MAN.YÔ-SHUU ĐẾN ĐỜI SAU:

Phong cách của Man.yô-shuu có tính cách đặc biệt nên người đời sau như (Tướng Quân mạc phủ Kamakura đời thứ ba và là một văn nhân trác việt) Minamoto no Sanetomo (Nguyên, Thực Triều) đă chứng tỏ chịu ảnh hưởng của một cung cách gọi là “thể điệu Man.yô” (Manyô-chô) trong tác phẩm Kinkai Waka-shuu (Kim ḥe ḥa ca tập) của ông[15]. Người thời Edo như Keichuu (Khế Trùng, 1640-1701) trong Man.yô Taishôki (Vạn diệp đại tượng kư) và Kamo no Mabuchi (Hạ Mậu Chân Uyên, 1697-1769) trong Man.yô-kô (Vạn diệp khảo) cũng bỏ nhiều công nghiên cứu về nó với mục đích t́m hiểu bản chất của con người Nhật Bản có trước khi văn hóa Trung Quốc đến xâm nhập. Gần đây nữa, những nhà thơ như Masaoka Shiki (Chính Cương Tử Quy,1867-1902) và Saitô Môkichi (Trai Đằng, Mậu Cát,1882-1953) đều chịu ảnh hưởng của Man.yô-shuu. Các nhà thơ cận kim lại t́m về phong cách Man.yô-shuu để làm mới tanka.


 

[1] Tên các tập sử thư và địa dư chí tối cổ của người Nhật.

[2] Có những makura-kotoba bí hiểm nhưng có khi dễ hiểu ví dụ nubatama (quả dâu đen, blackberry) là chữ dùng khi ví với buổi tối, màn đêm, chiêm bao hay giấc ngủ...

[3] Năm 753, có người tên Bunya-no-mahito Chinu (Văn Ốc chân nhân Trí Nỗ) muốn làm việc khuyến thiện v́ người mẹ đă mất, cho khắc chân Phật và nhiều bài ca tán tụng công đức của Phật theo thể 5-7, 5-7,5-7 vào bia đá. Hiện c̣n được bảo tồn ở khuôn viên chùa Dược Sư ( Yakushiji, Nara).

[4] Ma Lữ (đọc là Maro) cũng dùng như Hoàn (Maru). Thời xưa, nó là một tiếp vĩ ngữ đặt sau tên người đàn ông. Không có ư nghĩa đặc biệt.

[5] Diệp có nghĩa là « lá », vừa có nghĩa là “đời” nhưng trong bài tựa bằng chữ Kana của Kokin Wakashuu, Ki no Tsuranuki có câu “Waka là hạt giống gieo trong ḷng người để nẫy ra vô sớ lời như vô số lá”. Chữ kotoba (lời nói) trong Nhật ngữ được viết bằng hai chữ Hán “ngôn diệp”.

[6] Lối ghi âm khá phức tạp, nhiều khi không c̣n liên quan ǵ đến chữ Hán nữa. Chỉ có thể có nghĩa khi “lực sĩ” đọc theo âm Hán là rikishi (người có sức mạnh) hay “xuân” đọc theo âm Nhật là “haru” (mùa xuân) nhưng hoàn toàn vô nghĩa như khi viết “a mễ đô trí” để diễn ư “ametsuchi” (trời đất, thiên địa) hay “hứa kỷ lữ” để diễn ư kokoro (ḷng, tâm). Do đó việc sử dụng kiến thức Hán Việt để thưởng thức văn chương Nhật Bản hay bút đàm với họ chỉ có giới hạn nếu không nói lắm khi nguy hại.

[7] Kobayashi Yasuharu, Arasuji de yomu Nihon no Koten (Tóm tắt tác phẩm cổ điển Nhật Bản), trang 20.

[8] Tạm dịch tên hoa murasaki, một loại hoa , cánh trắng, rễ tím, dùng để nhuộm hoặc làm thuốc giải độc, chữa bệnh ngoài da. Vườn thuốc v́ có giá trị dược thảo nên được canh pḥng. Lúc nầy Tenji đang bận đi săn (tức là hái thuốc, kusurigari)

[9] Kim ô lâm tây xá, Cổ thanh thôi đoản mệnh, Tuyền lộ vô tân chủ, Thử tịch ly gia hướng .Tạm dịch : Trống giục thu đời ngắn. Bóng ác đă về đoài. Suối vàng không quán trọ, Đêm biết ngủ nhà ai ? (Bài này mô phỏng theo một bài thơ Trung Quốc).

[10] Yamabe no Akahito, không rơ năm sinh năm mất, cũng là một chức quan nhỏ dưới triều Nara và về sau được đời so sánh cùng với Kakimoto no Hitomaro như là hai đại thi hào (ca thánh) của waka.

[11] Yamanoue no Okura (660-733?) từng theo sứ bộ đi TrungQuốc nhà Đường (Khiển Đường Sứ), nhà thơ khuynh hướng tư tưởng. Giỏi về thơ chữ Hán, bạn của Ôtomo no Tabito.

[12]Ôtomo no Tabito (665-731), cha Ôtomono Yakamochi. Từng cai quản súy phủ Dazai (Dazai no sochi) ở Kyuushuu, tương đương tổng trấn. Làm quan đến bậc Dainagon, một chức quan cố vấn bậc cao tham dự vào triều chính.

[13] Takahashi no Mushimaro, không rơ năm sinh năm mất. Người vùng Hitachi (Thường Lục) phía bắc Tokyo bây giờ. Có thuyết cho rằng đă góp phần biên soạn địa dư chí vùng nầy (Hitachikuni Fudoki)

[14] phía trên Sendai, chung quanh Morioka bây ǵờ

[15] Kim có nghĩa là Kamakura (Liêm Thương) v́ chữ Liêm có bộ Kim. Ḥe chỉ bậc đại thần. Đây ư nói tập thơ của người đại thần ở Kamakura (Sanemoto khiêm xưng).

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 

.......

® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com