NHẬP MÔN MAN.YÔSHUU

Qua thi ca, viễn du trong xă hội Nhật Bản cổ đại.

万葉集入門

Biên dịch: Nguyễn Nam Trân

Chương 1

Thời Tiền Man.yô và những nhà thơ cung đ́nh buổi đầu

 

1-Thơ thiên hoàng Yuuraku.
2-Thơ thiên hoàng Jômei.
3- Thơ công chúa Nukata.
4- Thơ hoàng hậu Yamato.
5- Thơ nữ thiên hoàng Jitô.
6- Xướng họa giữa thiên hoàng Tenmu và quí phi Fujiwara.
7- Thơ đại thần Fujiwara no Kamatari.
8- Thơ công chúa Tajima, công chúa Ôku và hoàng tử Arima.
9- Thơ Kakinomoto no Hitomaro.
10- Thơ Takechi no Kurobito.
11- Thơ Naka no Imiki Okimaro.

 

 

Tiết I: Thơ Thiên hoàng Yuuryaku

Man.yôshuu có 4496 bài lồng trong 20 quyển nhưng bài thơ được đặt lên đầu quyển 1 là bài ngự chế của Thiên hoàng Yuuryaku 雄略天皇Hùng Lược, đời thứ 21). Ông là vị  vua mà cuốn sử thư Nihon Shoki cho biết đă trị v́ trên đất Nhật 23 năm trời vào hậu bán thế kỷ thứ 5 và đă từng phái sứ giả sang Trung Quốc năm 478, được người nước ấy gọi với danh hiệu là Vũ (Nụy Vương).

Hai quyển 1 và 2 của Man.yôshuu đóng một vai tṛ rất đặc biệt. Trong đó lúc nào cũng bắt đầu bằng danh xưng của vị thiên hoàng đương nhiệm rồi dưới đó mới kê khai những bài thơ làm ra dưới thời người ấy trị v́. Ngự chế của thiên hoàng Yuuryaku (năm sinh và mất không rơ) là bài thơ cổ đứng vào hàng thứ ba về niên đại, chỉ sau các bài thơ tối cổ ( bài 2-85, 2-86, 2-87, 2-88, 2-89, 2-90) của Hoàng hậu Iwa (Iwanohime no Ôkisaki, vợ Thiên hoàng Nintoku) và bài (13-3263) của thái tử Karu (Karu no Hitsugi no Miko, con trai Thiên hoàng Ingyô). Tuy được viết dưới h́nh thức chôka, nhưng thời đó chôka chưa được đi kèm với một bài hanka đoạn hậu. Về số âm trong câu cũng chỉ là h́nh thức 5 và 7 âm. Ngự chế của ông được xem như là một Ôuta (Đại ca) nghĩa là đem ra tŕnh diễn giữa triều đ́nh và có nhạc khí ḥa tấu theo. Bài thơ đó nguyên văn như sau:

1-1

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

篭毛與 美篭母乳 布久思毛與 美夫君志持 此岳尓 菜採須兒 家吉閑名 告<>根 虚見津 山跡乃國者 押奈戸手 吾許曽居師<>名倍手 吾己曽座 我<>背齒 告目 家呼毛名雄母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

篭もよみ篭持ち 堀串もよ み堀串持ち この岡に 菜摘ます子 家聞かな 告らさね そらみつ 大和の国は おしなべて 我れこそ居れ しきなべて 我れこそ座せ 我れこそば告らめ 家をも名をも

Phiên âm:

Komoyo miko mochi / fukushimoyo / mibukushi mochi / kono oka ni / natsumasu ko / ieki kana / nanorasanu / soramitsu / Yamato no kuni wa / oshinabete / ware koso ore / shikinabete / ware koso mase / ware koso wa norame / ie wo mo na wo mo.

Diễn ư:

Giỏ (tre, mây) đây, cầm cái giỏ tốt này đi. Cuốc (nhỏ bằng tre, cây, để đào gốc) đây, cầm cái cuốc tốt này đi. Hỡi cô gái đang lên đồi cao kiếm (hái) rau. Ta muốn hỏi nhà em ở đâu? Nói cho ta biết tên với. Dấu làm ǵ, ta là người cai trị toàn thể đất nước Yamato mà lại. Mọi người đều nghe theo và đưa ta lên làm vua. (Chính ta là người muốn thành chồng em), ta sẽ cho em biết nhà ta ở đâu (nên cứ yên tâm mà nói cho ta hay đi).

Tạm dịch thành thơ:

Cầm đây cái giỏ tốt / Cầm đây cái cuốc con/ Hỡi người con gái trẻ / Lên đồi hái rau non / Nhà em ở đâu thế? Nói cho ta hay cùng / Tên em là ǵ vậy? / Ta biết có được không? / Yamato toàn cơi / Lập ta làm vua chung / Ḷng ta đang ao ước / Cùng em thành vợ chồng / Nhà ta, ta sẽ chỉ / Cớ sao c̣n ngại ngùng!

Giải thích:

Thời thượng cổ, khi một người con trai hỏi tên và hỏi nhà của người con gái là có ư cầu hôn. Việc đi lại với nhau rất là quan trọng cho nên khi nghe con trai ướm hỏi, con gái không bao giờ đáp lời. Cho dù người đang đứng trước mặt có địa vị cao sang, tùy tùng theo tấp nập đi nữa, việc do dự không xưng tên hay cho biết nhà cửa là điều thường t́nh. Do biết phong tục dân gian như thế nên nhà vua phải tự giới thiệu về ḿnh trước. Như thế nhà vua muốn giải tỏa mối lo âu của cô gái nhưng cũng để thúc bách cô chấp nhận lời cầu hôn của ḿnh.

Về loại thơ hỏi tên họ, hăy c̣n có bài 9-1726 của Tajihi no Mahito hỏi thăm tên của người con gái đi vớt rong biển trên băi Naniwa (Ôsaka bây giờ) khi nước triều rút xuống:

難波方 塩干尓出<> 玉藻苅 海未通<>等汝名告左祢

難波潟潮干に出でて玉藻刈る海人娘子ども汝が名告らさね

Naniwagata / shio hi ni idete / tamamo karu / amaotomedomo/ na ga nanorasane   

Khi nước triều rút cạn / Khỏi băi Naniwa / Hỡi nàng con gái biển / Nhặt rong đẹp bên bờ / Tên chi xin hăy tỏ.

Các nàng cũng đă đáp lại bằng những vần sau đây (bài 9-1727) để đuổi khéo anh ta, với ư khuyên chàng nên bớt những lời cầu hôn nồng nhiệt đi một chút cho dù chưa chắc bọn họ là những người con gái thuộc giai cấp tầm thường.

朝入為流 人跡乎見座 草枕 客去人尓 妾<>者不<>

あさりする人とを見ませ草枕旅行く人に我が名は告らじ

Asari suru / Hito to wo mimase / kusamakura / tabiyuku hito ni / wa ga na wa noraji

Khách lạ qua đường ơi / Đừng để ư chúng tôi / Phận nghèo hèn chài lưới / Tên tuổi ai lại nói / Cho người ḿnh không quen.

Cũng thế, bài 11-3101 va bài 11-3102 cũng là lời đối đáp giữa một người con trai si t́nh và một người con gái thận trọng. Nàng đă trả lời thẳng thừng trước lời cầu hôn của chàng trai, mới gặp lần đầu đă yêu ḿnh ngay và cho biết nàng không thể đem tên tuổi thổ lộ cho một người đàn ông không hề quen biết.

Bài ngự chế của Thiên hoàng Yuuryaku có hai đoạn. Đoạn đầu cho ta thấy bối cảnh của bài thơ là một ngày xuân đẹp, nhân vật chính là nàng con gái đang lên đồi hái rau. Tất cả như vẽ ra một bức tranh đẹp, lôi cuốn ḷng người đọc. Đoạn thứ hai tức là phần c̣n lại đưa ra h́nh ảnh trang trọng của một vị vương giả với dáng dấp đường đường đang bày tỏ và nhấn mạnh đến địa vị tôn quí và ư chí và hoài băo thực hành chính trị của ḿnh. Bắt đầu bằng komoyo (3 âm), tiến lên mikomochi (4 âm), fukushimochi (5 âm) rồi mibukushimochi (6 âm), t́nh cảm của nhà vua như càng ngày càng dâng lên một cách mạnh mẽ như lớp sóng, khi thế của nó thích hợp cho một bài ôuta tŕnh diễn trong cung điện với nhạc khí ḥa tấu theo.

Thiển nghĩ bài thơ này có phong vị mộc mạc chất phác giống thơ Quan Thư trong Kinh Thi và những bài trai gái tỏ t́nh với nhau trong ca dao Việt Nam.

Xin chú ư sora mitsu (nh́n quét ngang trời) là một makura-kotoba, cụm từ chuyên dùng để tu sức, chỉ đất Yamato.

Nói về phong cách hùng tráng của Thiên hoàng Yuuryaku, đoạn 179 trong Kojiki có chép bài thơ này kèm theo một giai thoại về ông. Lúc ông ở ngôi, có lần để mắt đến một người con gái đẹp là bà Hiketabe no Akaiko khi bà đang giặt đồ trên bờ sông Miwa và hứa cưới bà làm vợ, xong về cung. Akaiko vui mừng khôn xiết, sửa soạn chu tất để được nhà vua vời vào cung. Thế nhưng nhà vua sau đó tuyệt vô âm tín, cô gái đẹp trở thành một cụ già ngoài 80, mặt hoa đă héo, làn da đẹp mỹ miều nhăn nheo, mái tóc huyền cũng bạc trắng. Hết chịu nổi cảnh tượng ḿnh sẽ chết đi trong câm nín và quên lăng nên một hôm bà sắm sửa lễ vật vào chầu. Khi nghe tâu, hoàng đế mới sực nhớ, hết sức kinh ngạc và hối hận đối với nàng nhưng không thể nào vời một bà cụ vào cung, cho nên chỉ biết tặng lại bà bài thơ và khi nghe đọc, bà chỉ biết khóc sụt sùi ướt đầm áo xống. Bà cũng phụng đáp một bài thơ và nhận được nhiều ân thưởng từ nhà vua. Đối với chúng ta, qua bài thơ này, th́ chỉ thấy được h́nh ảnh một ông vua trẻ tuổi, hào hoa và hơi vô tâm mà thôi. Và âu chuyện cớ phần phi lư v́ nếu bà Hiketabe lúc đó đă ngoại bát tuần th́ tuổi tác của Thiên hoàng phải đến bao nhiêu? 

(Có lẽ ḍng liên tưởng dẫn đi quá xa nhưng riêng cá nhân người viết khi đọc những bài thơ cầu hôn này có nghĩ đến quá tŕnh thành h́nh nhà nước từ xă hội mẫu hệ bước qua phụ hệ. Những ông vua như Yuuryaku đang ve văn, toan tính chuyện gộp đất qua hôn nhân với một nữ tù trưởng nào đó chăng?)

 

Tiết II: Thơ Thiên hoàng Jomei

Thiên hoàng Jomei (舒明天皇Thư Minh, 593-641, trị v́ 629-641) đă ngâm bài thơ nổi tiếng sau đây lúc ông leo lên núi Kaguyama trong xứ Yamato và đưa mắt nh́n xuống giang sơn đất nước trải rộng bao la dưới chân núi.

1-2

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

山常庭 村山有等 取與呂布 天乃香具山 騰立 國見乎為者 國原波 煙立龍 海原波加萬目立多都 怜A國曽 蜻嶋 八間跡能國者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

大和には 群山あれど とりよろふ 天の香具山 登り立ち 国見をすれば 国原は 煙立ち立つ 海原は 鴎立ち立つ うまし国ぞ 蜻蛉島 大和の国は

Phiên âm:

Yamato ni wa / murayama aredo / tori yorofu / ame no Kaguyama / noboritachi / kunimi wo sureba / kunihara wa / kemuri tachitatsu / unahara wa / kamame tachitatsu / umashi kuni zo / Akitsushima / Yamato no kuni wa/    

Diễn ư:

Trên đất Yamato núi non trùng điệp nhưng trong những nói núi đó, có ngọn nào đầy đủ ưu điểm như núi Kagu (Hương Cụ Sơn) chăng? Leo lên núi ấy mà nh́n suốt cả nước th́ thấy khắp b́nh nguyên đâu cũng có Yamato khói thổi cơm ở các nhà dân bốc lên, c̣n trên mặt hồ (ao) Naniyasu rộng kia th́ biết bao nhiêu chim hải âu bay lượn. Nước Yamato này thật là một xứ sở tuyệt vời.

Tạm dịch thơ:

Yamato trùng điệp / Bao nhiêu là núi non / Nhưng có ǵ sánh được / Núi tên Hương Cụ Sơn / Ta leo lên đỉnh ấy / Nh́n suốt cả giang san / B́nh nguyên tỏa khói bếp / Mặt nước bóng âu vờn / Yamato no ấm / Hỏi nơi nào đẹp hơn?

Núi Kagu nằm phía Tây Nam huyện Shiki thuộc Nara tương truyền ngày xưa có thần nhân giáng hạ, cho nên được xem như một ngọn núi linh thiêng. Núi lại có h́nh dung cân đối, cây cối xum xuê xanh tốt nên không ḥn núi nào sánh bằng. Khi nhà vua lên cao thị sát dân t́nh th́ thấy phong quang đẹp đẻ của đất nước nên cất tiếng ca ngợi. Trong đoạn đầu, tác giả đứng ở vị trí khách quan để tŕnh bày sự vật, đoạn hai đi dần vào lập luận chủ quan. H́nh thức với biển chuyển tâm lư như thế rất quen thuộc trong thi ca Man.yô. Những câu nói về khói bếp (ám chỉ no cơm) hay cánh âu (ám chỉ nhiều cá) có khi chỉ để nói lên niềm ước vọng cho một cảnh đời sung túc chứ chưa chắc đó là thực tế ngoại giới.

Về mặt h́nh thức, cụm từ Akitsushima ư nói “ḥn đảo đất đai màu mỡ, có những vụ mùa ngũ cốc tốt đẹp” cũng đóng vai tṛ của một từ tu sức (makura-kotoba) cho danh từ Yamato.

Tuy nhiên, qua bài thơ trên, ta h́nh dung được Yamato như một đất nước có quốc chính hẳn hoi với một bậc vương giả nhân từ và nơi đó, dân chúng sống cuộc đời cần cù làm ăn và sung túc. Yamato là một vị trí địa lư thường được nhắc đến nhiều trong Man.yôshuu.

Sau đây là một ngự chế khác của Thiên hoàng Jomei (bài 8-1511):

暮去者 小倉乃山尓 鳴鹿者 今夜波不鳴 寐<宿>家良思母
夕されば小倉の山に鳴く鹿は今夜は鳴かず寐ねにけらしも

Yuu sareba / Kokura no yama ni / nakushika wa / koyoi wa nakazu / ine ni kerashimo

Trong núi Kokura / Thường hôm nào cũng vậy / Mỗi khi chiều vào tối / Vọng lại tiếng nai xa / Hôm nay sao không nghe / Phải chăng nai ngủ sớm?

Mỗi ngày đúng vào một giờ nào đó, trong núi có tiếng nai vẳng tới. Tiếng nai đó đă trở thành quen thuộc như tiếng của buổi chiều. Hôm nay không nghe nai kêu, Thiên hoàng cảm thấy một nỗi buồn trống vắng và ông chỉ mong sao sẽ chẳng có ǵ bất thường, và biết đâu đó chẳng là một ngoại lệ. Có thể hôm nay nai đă đi ngủ sớm. Nó cũng có thể xem như dấu hiệu cho thấy ông quan tâm đến mọi chuyển biến dù nhỏ nhất của đất nước ông trị v́.

Qua bài thơ này, ta thấy được bản tính thuần hậu của nột ông vua như Jomei. Một bài khác với nội dung tương tự mang số hiệu 9-1664 lại được gán cho Thiên hoàng Yuuryaku nói trên (thường được xem như một ông vua vũ dũng nhưng bạo ngược):

暮去者 小椋山尓 臥鹿之今夜者不鳴 寐家良霜
夕されば小倉の山に伏す鹿の今夜は鳴かず寐ねにけらし

Yuu sareba / Ogura no yama ni / Fusushika no / Koyoi wa nakazu / Ineni kerashimo

Khác nhau chăng chỉ là địa danh Kokura trở thành Ogura và con nai kêu (naku shika) trở thành nai năm phủ phục (fusushika).

 

Tiết III: Thơ Công chúa Nukata

Công chúa Nukata額田王, c̣n đọc là Nukada, con người cao quí, thông minh và tài sắc vẹn toàn, là một nhân vật nữ cao cấp, đóng vai tṛ trung tâm trong làng thơ thời Man.yô. Bà là tác giả bài chôka thứ 16 trong tập thơ mang chủ đề so sánh mùa xuân và mùa thu bên nào hơn bên nào kém cũng như 11 bài thơ đẹp như châu ngọc khác. Cuộc đời t́nh cảm đầy sóng gió của bà xuyên qua những câu thơ ấy đă làm rung động trái tim người đọc nhiều thế kỷ về sau.

Công chúa là con gái của tước vương Kagami (Kính vương) và là em của một bà công chúa khác, Kagami Ôkimi, người cũng đă để lại 4 bài thơ luyến ái trong Man.yôshuu. Bà Nukata lấy tên vùng đất ḿnh cư trú làm tên riêng. Ban đầu, bà được hoàng tử Ôama (Đại Hải Nhân, sau là Thiên hoàng Temmu, Thiên Vũ) yêu dấu, hai bên đă có một con gái tức là quận chúa Tôchi (Tôchi no Himemiko, hoàng phi của Thiên hoàng Kôbun, Hoằng Văn). Hai ông bà rất đỗi yêu nhau. Thế nhưng số phận éo le, Nukata lại bị nạp vào cung Thiên hoàng Tenji (một ông vua anh hùng khác, anh của Temmu, và cũng là ḱnh địch trên chính trường). Bà phải gạt lệ đi vào hậu cung ở Ômi của Tenji lúc ấy quyền lực rất lớn (Temmu chỉ c̣n biết đợi thời để đoạt lại nước cũng như người yêu).

1-20

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

茜草指 武良前野逝 標野行 野守者不見哉 君之袖布流

Dạng huấn độc (đă chua âm)

あかねさす紫野行き標野行き野守は見ずや君が袖振る

Phiên âm:

Akanesasu / murasaki no yuki / shimeno yuki / nomori wa mizuya/ kimi ga sode furu

Diễn ư:

Đi ngang qua cánh đồng thuốc đầy hoa murasaki (một loại hoa nhỏ mùa hạ, cánh trắng và nhỏ nhắn, có rễ tím rất quí dùng làm thuốc nhuộm áo xống các bậc vương hầu và có khả năng giải độc) đẹp lung linh, nơi Thiên hoàng đang tổ chức cuộc săn (tức là hái thuốc), hoàng tử hướng về em phất tay áo như ra dấu vẫy gọi. Người canh vườn (chồng hiện tại của em) có thấy không đó? Xin chớ liều lĩnh làm như thế nữa nhé.

Tạm dịch thơ:

Em qua khu vườn cấm / Rợp hoa tím lung linh / Chàng phất tay áo vẫy / Muốn tỏ muôn ư t́nh / Nhỡ người canh họ thấy / (Lộ hết chuyện đôi ḿnh).

Akane sasu là một từ tu sức (makura-kotoba) cho cây thuốc nhuộm murasaki, một loại cây quí. Người ngoài không được bén mảng đến nơi trồng nó, một khu vườn cấm (shimeno).

Thiên hoàng Tenji tức vị năm 755, hôm đó đă đưa cả quần thần trong đó có ngự đệ là hoàng tử Ôama đi hái thuốc (kusurigari, dù kari có nghĩa là đi săn) ở cánh đồng Kamôno (thường là vào mồng 5 tháng 5). ở Ômi. Trong đám tùy tùng ấy cũng có quí phi của ông là công chúa Nukata, từng là người yêu và có một mặt con với Ôama. Thế mà Ôama dám vuốt râu hùm, vẫy ta áo ra hiệu cho Nukata, tỏ t́nh quyến luyến. Công chúa tuy sung sướng biết người xưa vẫn yêu ḿnh nhưng không khỏi lo sợ v́ cử chỉ bạo dạn đó đă xảy ra trước đông đảo quần thần, e rằng Tenji (người chồng hiện tại, nói bóng gió là người có nhiệm vụ giữ khu vườn cấm) ấy biết được th́ khốn. Bài thơ vừa là lời cảm ơn vừa là lời trách móc Ôama. Nhất là khi trong t́nh anh em của hai ông vua anh hùng kia (Tenji và Ôama, sau này trở thành Temmu) đă thấy có đám mây u ám của cuộc tranh chấp quyền lực bao phủ.

Có thể tưởng tượng được cảnh trời cao xanh, gió nam ấm áp một ngày đầu hạ, trong không khí hứng phấn của cuộc săn (hái thuốc), là tâm cảnh phức tạp của ba nhân vật. Bằng 31 âm thanh ngắn ngủi, công chúa Nukata đă thành công khi diễn đạt được tâm t́nh vừa yêu thương, vừa cảm kích, vừa lo sợ, vừa trách móc đó. Âm điệu, màu sắc và giọng thơ đều trôi chảy, đẹp đẽ nhưng chân thành chứ không có vẻ ǵ là xă giao bề ngoài.

Để đáp lời công chúa Nukata, hoàng tử Ôama cũng đă viết bài đánh số 1-21 liền theo sau:

1-21

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana)

紫草能 尓保敝類妹乎 尓苦久有者 人嬬故尓 吾戀目八方

Dạng huấn độc (đă chua âm):

紫のにほへる妹を憎くあらば人妻故に我れ恋ひめやも

Phiên âm:

Murasaki no / nioeru imo wo / nikuku araba / hitozuma yue ni / ware koi meyamo

Diễn ư:

Hỡi nàng con gái đẹp diễm lệ như cành hoa murasaki kia ơi! Nếu ta thực sự ghét em v́ bây giờ em đă thuộc của về người khác tức là thành vợ ông anh của ta th́ cớ sao ta cứ măi măi yêu em nồng nhiệt đến độ không thể nào giữ ǵn được như giờ đây.

Tạm dịch thơ:

Lộng lẫy như hoa tím / Hỡi người em gái tôi / Nếu ghét v́ em đă / Thành ra vợ của người / Sao (ḷng ta cháy bỏng) / Nhớ nhung hoài không thôi?  

Luân lư của thời Man.yô đă bắt đầu nghiêm ngặt trong chuyện có t́nh ư đối với vợ người rồi. Hoàng tử Ôama, người đàn ông đang bị xâu xé bởi t́nh yêu, xung động t́nh dục và sự ràng buộc của lễ nghi, khi gặp đối tượng yêu đương đă có hành động tỏ t́nh khinh suất trước mặt mọi người. Bài thơ đă nói lên được sự thực của ḷng chàng và v́ nói rơ được sự thực nên nó rất chân thành và nam nhi.

Chữ Nio trong Nioeru không phải là “mùi” như nghĩa tiếng Nhật hiện đại (khứu giác) nhưng trong cổ ngữ, đó là một từ diễn ư “dáng vóc xinh đẹp” (thị giác). Bài thơ này v́  là một hanka (phản ca, thơ họa lại), cho nên hoàng tử Ôama đă dùng cùng h́nh ảnh cây hoa murasaki để đối lại với bài thơ trước của công chúa Nukata vốn đă nói đến hoa này.   

Một chi tiết thú vị là hai bài thơ trên đây được các nhà biên soạn Man.yôshuu xếp vào loại zôka (tạp ca) gồm cả các bài thơ làm ra ở chốn công đường chứ không phải trong mục sômonka (tương văn ca) như thơ luyến ái. Trong Man.yôshuu, loại zôka được sắp lên hàng đầu, trước cả sômonka và banka chứ không phải bị xem như loại thơ đa tạp, vụn vặt đặt ở cuối những thi tập đâu. Điều này chứng tỏ hai bài thơ đó đă được trao đổi ở bàn tiệc của triều đ́nh, trước mặt công chúng và cả Thiên hoàng Tenji. Do đó, nó cho ta thấy hai người t́nh nhân này rất dạn dĩ, nếu không nói là đang đùa với lửa.

Tuy nhiên, công chúa Nukata là một người đa t́nh. Đối với ông chồng, Thiên hoàng Tenji, bà cũng đă tỏ rơ t́nh cảm yêu mến và khó ḷng nói là lúc ấy bà không chân thực. Hăy xem bài 4-488 sau đây:

4-488

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

君待登 吾戀居者 我屋戸之 簾動之 秋風吹

Dạng huấn độc (đă chua âm):

君待つと我が恋ひ居れば我が宿の簾動かし秋の風吹く

Phiên âm:

Kimi matsu to / wa ga koi ireba / wa ga yado no / sudare ugokashi / aki no kaze fuku 

Diễn ư:

Trong khi ḷng em đang nhớ nhung, chờ đợi xa giá quân vương đến chơi th́ bức mành mành nhà em bỗng phất phơ, phát ra âm thanh nhẹ nhàng. Tưởng ngài đến nên ḷng em chợt hết lo âu, chẳng dè tiếng động ấy chỉ là do trận gió thu tạt ngang bức mành thôi.

Tạm dịch thơ:

Thiếp tựa của mong sao / Hôm nay xa giá đến / Chợt nghe tiếng lao xao / (Ḷng mới nguôi lo lắng) / Dè đâu là gió thu / Thổi nhẹ qua rèm vắng.

Đây là một bài thơ b́nh dị nhẹ nhàng và cảm động. Buổi chiều hôm đó có tin Thiên hoàng sẽ ngự tới cung ḿnh nên công chúa đă sửa soạn để tiếp rước và lặng lẽ đợi chờ. Khi nghe tiếng rèm cửa lay động lao xao, nàng tưởng nhà vua đă tới và mới hết lo âu, như thở hắt được ra. Tuy không có kỹ xảo tu từ nhưng bà đă bày tỏ được tấm ḷng mong nhớ dịu dàng mà sâu sắc của một người đàn bà khi đang dồn hết tâm trí để lắng nghe một tiếng người qua.

Bài này có thể đă được đem dâng lên Thiên hoàng nhưng sách vở không chép lại bài họa (hanka) nào của ông. Có lẽ v́ là một ông vua anh hùng, chuộng hành động hơn là lời nói, ông đă trực tiếp t́m đến bà ngay chăng?

Qua hai bài 1-20 và 4-488 của công chúa Nukata, ta thấy bà vừa thông minh, tao nhă, vừa khả ái vừa sâu sắc. Bà không bao giờ quên hoàn cảnh phức tạp của ḿnh đang sống và những người chung quanh, nên thuận theo gịng đời một cách b́nh dị và thanh thoát chứ không hề khóc than cho số phận.

Dưới chế độ nhất phu đa thê, những người đàn bà phải chờ đợi chồng ban đêm đến thăm (Người Nhật cổ gọi là aitsuu = tương thông). Bài thơ của bà, cũng như những bài thơ cùng loại của các mệnh phụ khác (như bài thơ của Sotoori hime viết cho Thiên hoàng Ingyô chẳng hạn) [1]đă nói dược lên tâm t́nh nhớ mong của những người phụ nữ có chung cảnh ngộ khi màn đêm xuống.

Người chị của công chúa Nukata là công chúa Kagami (Kagami no Ôkimi 鏡女王), tuy địa vị cao quí, cũng là một người suốt đời t́nh cảm hẩm hiu. Ban đầu, bà được Thiên hoàng Tenji (chồng cô em) sủng ái nhưng sau lại được (bị) vua gả làm vợ chính thức cho đại thần Fujiwara no Kamatari, một công thần của ông. Chẳng ngờ số phận hẩm hiu, đến năm Temmu thứ 12 (Temmu là chồng trước của cô em) th́ bà lại mất. Sử thư Nihon Shoki có chép việc Temmu có thân hành ngự giá đến thăm khi bệnh bà đă nguy kịch. Công chúa Kagami đă để lại 4 bài thơ trong Man.yôshuu. Xin chọn dịch liên tiếp hai bài 4-489 và 2-92:

4-489

Dạng  Man.yôgana:

風乎太尓 戀流波乏之 風小谷 将来登時待者 何香将嘆

Dạng huấn độc (đă chua âm):

風をだに恋ふるは羨し風をだに来むとし待たば何か嘆かむ

Phiên âm:

Kaze wo da ni / kouru wa tomoshi / kaze wo da ni/ komu to shi mataba / nani ka nagekamu

Diễn ư:

Này cô em gái tôi ơi, nghe tiếng gió lao xao động mành cửa mà cô đă rộn ràng như thế, cô thật là người có phước. Chỉ nghe mỗi tiếng gió thôi mà ḷng đă em tôi đă dao động như vậy, chị ghen với cô đấy. Cô ḿnh c̣n được nhà vua (Thiên hoàng Tenji, chồng chung của hai ta) đoái hoài t́m đến, chứ chị đây chỉ biết thở vắn than dài.

Tạm dịch thơ:

Nghe gió em rộn ràng / Chị ước được như em / Nghe gió em c̣n đợi /Bóng quân vương đến thăm / Riêng ḷng chị nức nở / Ghen cả với t́nh em.    

Bài thơ này, công chúa Kagami làm ra để họa lại bài thơ của cô em gái, công chúa Nukata, đă nhắc đến ở trên (4-488). Tuy không rơ bà viết bài này (4-489) vào thời nào nhưng sử chép bà hết c̣n được Thiên hoàng Tenji yêu thương nên ông mới đem gả bà cho Fujiwara no Kamatari như món quà tặng người bầy tôi đắc lực. Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, chồng bà cũng thành người thiên cổ, bà phải sống trong cô pḥng, thành ra lời thơ mới năo nuột như vậy.

Cụm từ Kaze wo da ni lập lại hai lần như muốn nhấn mạnh ḷng thèm thuồng số phận của cô em tốt phúc, tăng thêm ngữ khí cho câu cuối Nani ka nagekamu. Thiên hoàng Tenji, đối tượng của cô em, ngày xưa cũng đă có thời chiều chuộng ḿnh (xin xem tiếp bài 2-92 sau đây, đánh dấu những ngày yêu đương đó). Và bà cũng đă được nhà vua ban cho một bài thơ đầy lời lẽ dịu ngọt nữa (bài 2-91)[2]. Nhưng nay chỉ c̣n tiếng kêu uất nghẹn của một người đàn bà đă đánh mất t́nh yêu, lẽ sống của ḿnh. Nhất là t́nh yêu ấy vốn âm thầm, câm nín nhưng bền bĩ:

2-92

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

秋山之 樹下隠 逝水乃 吾許曽益目 御念従者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

秋山の木の下隠り行く水の我れこそ益さめ御思ひよりは

Phiên âm:

Akiyama no / ko no shitagakuri / yuku mizu no / ware koso masame / omowazu yori wa

Diễn ư:

Ḍng nước nấp dưới những lớp lá rụng của rừng thu vẫn âm thầm chảy và mỗi ngày càng dạt dào thêm nhưng người bên ngoài nào có biết cho đâu. Ḷng của thiếp thương tưởng đến quân vương thật c̣n thắm thiết hơn cả tấm t́nh vô cùng quí hóa của ngài đối với thiếp nữa kia.

Tạm dịch thơ:

T́nh thiếp như nước xiết / Dưới lá rụng rừng thu / Tuôn ra dào dạt bấy / Mà ai thấy cho đâu / Quân vương dầu đoái tưởng / Nồng nàn hơn thiếp sao!

Đây là bài phụng họa bài ngự chế (2-91). Công chúa cho biết t́nh yêu của bà cũng như ḍng nước tuy bị lá rụng che khuất nhưng vẫn chảy xiết. Lối ví von này thật nhẹ nhàng và thấm thía. Đó cũng ẩn dấu một lời trách móc nhẹ nhàng (T́nh yêu của ngài không tương xứng với t́nh yêu của thiếp). Qua hai bài thơ của bà, chúng ta h́nh dung ra được một nàng công chúa mà sự ôn ḥa, nhu ḿ trên bề mặt che lấp một t́nh yêu đam mê và bỏng cháy trong đáy ḷng.

Tiếp theo đây là một bài thơ nổi tiếng khác của công chúa Nukata (bài 1-16), cô em bà, khi có cuộc tranh luận giữa triều thần xem giữa mùa xuân và mùa thu, bên nào đẹp hơn (xuân thu tranh ưu luận) .

1-16

Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):

冬木成 春去来者 不喧有之 鳥毛来鳴奴 不開有之 花毛佐家礼抒 山乎茂 入而毛不取草深 執手母不見 秋山乃 木葉乎見而者 黄葉乎婆 取而曽思努布 青乎者 置而曽歎久 曽許之恨之 秋山吾者

Dạng huấn độc (đă chua âm):

冬こもり春さり来れば 鳴かずありし 鳥も来鳴きぬ 咲かずありし 花も咲けれど 山を茂み 入りても取らず 草深み 取りても見ず 秋山の 木の葉を見ては 黄葉をば 取りてぞ偲ふ 青きをば 置きてぞ嘆く そこし恨めし 秋山吾は

Phiên âm:

Fuyugomori / Harusari kureba / Nakazarishi / Tori mo kinakinu / Sakazarishi / Hana mo sakeredo / Yama wo shimi / Torite mo torazu / Kusa fukami / Torite mo mizu / Akiyama no / kono ha wo mite wa / momiji wo ba / torite zo shinofu / Aoki wo ba / Okite zo nageku / Sonoshi urame shi / Akiyama ware wa.

Diễn ư:

Mùa đông vừa dứt và xuân đă đến, những con chim nằm im trong tổ bắt đầu cất tiếng hót. Cây khô lại bắt đầu ra hoa thắm. Thế nhưng cây trong núi quá rậm rạp cho nên thân gái như ta không có thể vào đó kiếm hoa. Cỏ lại mọc dày măi trong sâu đến nổi không sao nh́n ra hoa để hái. Trong khi đó, khi trời vào thu, ta có thể bẻ cành cây lá đỏ mà trực tiếp thưởng thức vẻ đẹp của nó. Riêng nhưng cành hăy c̣n xanh, ta cứ để nó nguyên trên cành và than thở sao nó chưa chịu đổi màu. Núi mùa thu đẹp hơn núi mùa xuân nhưng riêng có điểm nói trên th́ ta lấy làm tiếc. Kết cuộc, nếu so sánh, ta vẫn phải thiên về cảnh núi mùa thu.

Tạm dịch thơ:

Đông qua xuân vừa tới/ Chim thức giấc ḥa ca / Cành khô dù điểm thắm / Rừng rậm khó t́m hoa / Cỏ xuân dày khắng khít / Ai mà nh́n cho ra! Cảnh thu th́ ngược lại / Lá hồng trong tay ta / Bẻ xuống ngắm tận mắt / Riêng cành xanh bỏ qua / Vẫn để nguyên trên đó / Sao chẳng chuyển sang đỏ ? / Hai mùa nếu so sánh / Tiếc điều đó chăng là / Nhưng dù xuân có đẹp / Ta chỉ ngóng thu xa. 

Chuyện xảy ra vào một hôm khi Thiên hoàng Tenji nói với đại thần Fujiwara no Kamatari hăy luận xem hoa trên núi mùa xuân và lá đỏ trên núi mùa thu cái nào đẹp hơn th́ công chúa Nukata nhân đó đưa ra bài thơ để đánh giá và đặt giá trị của mùa thu lên trên mùa xuân. Ban đầu, bà đưa ra những điểm mạnh của mùa xuân, sau đó mới gợi ra những khuyết điểm của nó. Tiếp đến bà cũng đưa ra cái hay cái dở của mùa thu để đi tới kết luận cho mùa thu thắng cuộc.

Việc tranh luận về ưu khuyết điểm và sự đối lập của hai mùa (xuân thu tranh ưu luận) [3]đă được nhắc tới trong đoạn 15 (Akiyama no shitai otoko / Ha ru yama no shitai otoko) của tập sử thư Kojiki và chương Usugumo (Phận mỏng như mây) của Truyện Genji. Cũng vậy tập nhật kư Sarashina cũng chép lại việc công chúa Yuushi bàn với Minamoto no Sukemichi về cái hay cái dở của hai mùa và đă chọn mùa xuân thay v́ mùa thu. Ngược lại, Shuuishuu (Thập Di Tập) quyển 9 phần Tạp hạ th́ lại đưa ra một bài thơ bênh vực và tán dương mùa thu.

Về mặt h́nh thức, cụm từ Fuyugomori là một từ tu sức (makura-kotoba) để nói việc  mùa xuân đă đến và liên kết nó với sự ra đi của mùa đông (fuyu).

 

Tiết IV: Thơ Hoàng Hậu Yamato

Hoàng hậu Yamato (Yamato no Ôkisaki倭大后) chữ Hán viết là Nụy Đại Hậu, con gái của Hoàng thái tử Furuhito[4], cháu nội Thiên hoàng Jomei, đă được Thiên hoàng Tenji (hàng chú của bà v́ Tenji là con thứ hai của Jomei) tấn phong hoàng hậu vào năm Tenji thứ 7. Trong Man.yôshuu quyển 2, bà có 1 bài chôka và 3 bài tanka. Sau đây là 2 trong 3 bài tanka đó, đều được xếp vào loại banka (thơ điếu tang). Chữ hoàng hậu ở đây viết bằng hai chữ Hán “đại hậu” chỉ muốn cho biết bà là vợ chính (đích thê = chakusai) để phân biệt với các phi tần khác.

2-147

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

天原 振放見者 大王乃 御壽者長久 天足有

Dạng huấn độc (đă chua âm):

天の原振り放け見れば大君の御寿は長く天足らしたり

Phiên âm:

Ama no hara / furisake mireba / ôkimi no / mi-inochi wa nagaku / amatarashitari

Diễn ư:

Ngước nh́n lên bầu trời cao thấy trời kia cao rộng và dài lâu vĩnh cữu. V́ trời là tượng trưng cho bậc thiên tử nên thiếp chắc chắn tuổi thọ của bệ hạ cũng sẽ lâu dài như trời đất. 

Tạm dịch thơ:

Ngước nh́n lên trời cao / Bao la và cao sâu / Trời tượng trưng thánh chúa / Ḷng không nghi chút nào / Thọ mệnh của bệ hạ / Cùng trời đất dài lâu.

Đây là bài thơ nói về việc hoàng hậu Yamato khấn nguyện cho chồng là Thiên hoàng Tenji đang bị bệnh chóng b́nh phục. Người đời thượng cổ tin vào sức mạnh thần bí của bầu trời, cho rằng không gian có thể chi phối vận mệnh của con người nên sùng bái nó. Chắc lúc này triều thần đang nh́n thiên tượng để đoán việc cát hung của nhà vua và khi hoàng hậu ngước nh́n lên thấy bầu trời rộng bao la không bến bờ, bà mới quyết đoán rằng chồng ḿnh nhất định sẽ qua khỏi. Đây cũng là một lời khuyến khích chồng chiến đấu với bệnh tật. Bài thơ tuy đơn sơ, không có ǵ đặc sắc, nhưng mạnh mẽ, tràn đầy sự kính mến của bà đối với chồng.

2-148

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

青旗乃 木旗能上乎 賀欲布跡羽 目尓者雖視 直尓不相香裳

Dạng huấn độc (đă chua âm):

青旗の木幡の上を通ふとは目には見れども直に逢はぬかも

Phiên âm:

Aohata no / kohata no ue wo / kayou to wa / me ni wa miredomo / tada ni awanu kamo 

Diễn ư:

Những chiếc phướn màu xanh cắm trên lăng của nhà vua bay phất phới th́ quả là mắt của thiếp có nh́n thấy rơ ràng. Thế nhưng long nhan th́ từ đây không bao giờ được chiêm ngưỡng nữa nên ḷng thiếp buồn làm sao !

Tạm dịch thơ:

Phướn xanh bay phất phơ / Ở trên vùng lăng tẩm / Mắt thiếp nh́n rơ ràng / Riêng ḷng buồn vô hạn / V́ từ nay măi măi / Không c̣n thấy long nhan.

Đây là sáng tác của hoàng hậu Yamato sau khi Thiên hoàng Tenji băng hà. Người đời xưa tin rằng khi người ta lâm bệnh nặng hay chết đi th́ linh hồn vất vưởng trên trời cao. V́ thế, hoàng hậu đă ngước lên trời, khấn nguyện cho chồng b́nh phục. Nay chồng đă chết, bà chỉ c̣n biết nh́n những tấm phướn màu xanh trên vùng Yamashina, nơi có lăng tẩm của ông mà nhớ về kỹ niệm những ngày thiên hoàng c̣n sống chứ sẽ không c̣n có dịp gặp nhau nữa.

Tâm trạng trong thơ rất gần gủi với sự thực ngoài đời. Nếu bài thơ trước trang trọng th́ bài này có nhiều cảm khái. Về mặt h́nh thức, có thuyết cho rằng cụm từ Aoki no kahata là một từ tu sức chỉ việc tang lễ. Chữ Kohata trong câu đầu có thuyết cho là cây cờ, có thuyết cho là một địa danh ở gần khu lăng tẩm.   

 

Tiết V: Thơ Nữ thiên hoàng Jitô

Nữ thiên hoàng Jitô持統天皇 trước khi lên ngôi là con gái Thiên hoàng Tenji và hoàng hậu của Thiên hoàng Temmu.Sau khi Temmu băng, con ruột là Thái tử Kusakabe mất sớm, bà tức vị. Khoảng 7 năm sau, bà nhường ngôi cho cháu nội, con trai cả của Kusakabe, tức Thiên hoàng Mommu. Mất lúc 58 tuổi. Ngự chế có 4 bài tanka (trong quyển 1, 2 và 3) và 2 bài chôka (quyển 2) nhưng bài tanka trong quyển 3 không lấy ǵ làm chắc.

1-28

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

春過而 夏来良之 白妙能 衣乾有 天之香来山

Dạng huấn độc (đă chua âm):

春過ぎて夏来るらし白栲の衣干したり天の香具山

Phiên âm:

Haru sugite /natsu kitarashi/ shirotae no / koromo hoshitari / ame no Kaguyama

Diễn ư:

Mùa xuân mới qua th́ mùa hạ đă đến. Trên ngọn Kaguyama linh thiêng như xuống tự trời cao, có những tấm áo trắng đẹp được đem ra phơi trên đó.

Tạm dịch thơ:

Xuân đi qua mất rồi / Hạ cũng vừa đến nơi / Bao nhiêu áo trắng đẹp / Đem hong nắng bên đồi / Ngọn Kagu linh hiển / Như hạ cánh từ trời.

Ngọn Kaguyama nằm cách cung điện Fujiwara của bà Jitô khoảng trên nửa cây số. Dưới bầu trời xanh lơ, trên lưng núi cây xanh lục mơn mởn, dân chúng đă đem áo trắng vừa giặt xong ra phơi nắng mới . Có thể tưởng tượng đây là lúc thời tiết giao mùa cuối xuân đầu hạ khi hoa anh đào dại (yamazakura) hăy c̣n chưa tàn trên một số cành. Lúc thời tiết đă ấm áp, người ta bắt đầu thay áo trắng (koromogae) cho nên cảnh tượng của một vùng chỉ toàn là những màu sắc tươi tắn nhất là khi những cánh áo trắng lấp lóa ánh nắng trong làn gió nhẹ đầu hè như những cánh bướm. Từ cung điện nh́n ra ngọn núi Kaguyama, chứng kiến cuộc sống thanh b́nh của người dân, nữ hoàng đế không khỏi cảm động, tức cảnh sinh t́nh. Bài thơ rất sống động, khung cảnh thiên nhiên như vẽ được ra trước mắt độc giả. Ngoài ra, bài thơ cũng làm người ta thấy phảng phất đâu đây h́nh ảnh diễm lệ và uy nghi của nữ hoàng bên cạnh các thị nữ và đ́nh thần.

Có những bài thơ tập trung vào cảm giác chính là thính giác như bài thơ vịnh mùa thu của Fujiwara no Toshiyuki Ason trong Kokin-shuu[5] th́ bài thơ này, cảm giác chính là thị giác. Và khi bài thơ mang lại màu sắc tươi tắn và phong phú như vậy, nó thể hiện được tâm t́nh sảng khoái, vui tươi của người trong cuộc.

Tâm t́nh của con người cổ đại đối với thiên nhiên thường tùy thuộc vào cuộc sống vật chất của họ. Thích xuân và thu nhưng lại ghét hạ và đông. Đối với những kẻ văn hóa c̣n thấp kém như người thường dân th́ hạ và đông chỉ đem lại những khó khăn và bức bách (nóng nảy, lạnh lẽo, dễ mệt mỏi lúc làm việc, khó kiếm miếng ăn). Do đó họ vui mừng khi thoát được cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông hay cái nóng dữ dội của mùa hè. Do đó thơ vịnh xuân (nắng ấm) và thu (gió mát) th́ nhiều, chứ ít thấy thơ viết về hạ và đông .

Tuy nhiên, dưới triều đại Jitô, có thể sinh hoạt vật chất của người dân Nhật dễ chịu hơn trước, họ đă có khả năng nh́n được thiên nhiên như một khách thể nên mới có những bài thơ nói về mùa hạ như thế này. Cũng có khi v́ vị nữ hoàng đế này, sống trong cung điện, không hiểu hết được thực tế khó khăn của cuộc sống bên ngoài và bà chỉ thấy cái mặt tốt của mùa hạ. Tâm t́nh của bà v́ thế nên tao nhă, khác những vần thơ của đại chúng nói chung?

Bài thơ này đă được Fujiwara no Teika xem như một giai tác và tuyển như 1 trong 100 bài vào tập Hyakunin Isshu (Thơ Waka Trăm Nhà) của ông và có một bản tương tự trong Kokin-shuu nhưng mặt phẩm chất th́ không bằng. C̣n về Kaguyama, ta c̣n thấy bài 10-1812 vịnh cảnh một chiều vào tiết lập xuân có sương lam che đầu núi.

Sau đây là một bài thơ khác liên quan đến cuộc sống thường nhật trong cung đ́nh của nữ thiên hoàng:

3-236

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

不聴跡雖云 強流志斐能我 強語 比者不聞而 朕戀尓家里

Dạng huấn độc (đă chua âm):

いなと言へど強ふる志斐のが強ひ語りこのころ聞かずて我れ恋ひにけり

Diễn âm:

Ina to iedo / Shiuru shiinoga / Shiiigatari / kono koro kikazu / ware koi ni keri

Diễn ư:

Bao nhiêu lần nói ḿnh chán ngấy nên từ khước không nghe chuyện của mụ rồi, mà mụ Shii này cứ mời mọc ta nghe. Một thời gian vắng tiếng mụ, bỗng nhiên ta thấy thèm nghe trở lại, thật là chuyện lạ lùng.  

Tạm dịch thơ:

Đă bảo đà chán ngấy / Chuyện mụ kể xin thôi / Nhưng Shii cứ thế / Vẫn ép uổng khuyên mời / Bẵng đi thấy thiêu thiếu / Lại muốn gọi mụ rồi!

Đây là bài sômonka tức loại thơ hỏi thăm của Nữ thiên hoàng Jitô gửi tặng bà hầu cận già tên là Shii (Trong tập ông chú thích (xem thư mục tham khảo), Sakurai Michiru lại xếp nó vào loại zôka).

Tại sao một vị vua đă viết những bài thơ cao sang và tinh tế như thơ nói về Kaguyama (bài 1-28) mà lại có thể viết những vần nhẹ hẫng và tầm thường như bài 3-236 này. Thật ra cả hai đều tượng trưng cho những t́nh cảnh trong cuộc sống cung đ́nh của vị nữ thiên hoàng. Bà Shii chắc là một bà già trong kataribe (ngữ bộ) tức một bộ phận nhân sự hầu cận, chuyên môn kể chuyện giải khuây cho các bậc tôn quí. Người như vậy phải có trí nhớ tốt và ăn nói thật lưu loát. H́nh như bà cũng rất được ḷng Jitô. Bài thơ của Jitô rất trôi chảy, bộc lộ được tính hài hước và rộng lượng qua sự lập đi lập lại 3 bận âm shi (hàm ư nài nĩ, cưỡng ép) trong câu: Shifuru, Shii, Shiigatari như thể muốn trêu chọc người hầu cận thân thiết của ḿnh v́ tên bà là Shii no Omina (đồng âm dị nghĩa với hai từ Shiifuru và Shiigatari trong lời thơ). Học giả Hashimoto Shinkichi bảo rằng khi gọi là Shii no ga…và giản lược tên người ḿnh gọi th́ chữ no này được cho vào để gợi ra ư thân thiết.

Bà Shii cũng hiểu ư nhà vua, đă phụng họa như sau (bài 3-237):

3-237

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

不聴雖謂 語礼々々常 詔許曽 志斐伊波奏 強<>登言

Dạng huấn độc (đă chua âm):

いなと言へど語れ語れと宣らせこそ志斐いは申せ強ひ語りと詔る

Phiên âm:

Ina to iedo / katare to katare to / norase koso / Shii iwamaose / shiikatari to noru

Diễn ư:

Đă tâu là không kể nữa mà bệ hạ cứ phán là hăy kể nữa đi, kể nữa đi. V́ đó là đ̣i hỏi của bệ hạ nên Shii tôi mới tiếp tục thưa chuyện. Thế mà ngài lại bảo là Shii cưỡng ép. Lời ngài dạy là trái với sự thật, quá sức tưởng tượng của thần.

Tạm dịch thơ:

Đă tâu không kể nữa / Quân vương cứ ép nài / Tuân lời thần tiếp tục / V́ thánh thượng khuyên mời / Nỡ ḷng nào nói ngược / Nào ai dám buộc ngài.

Nữ thiên hoàng Jitô thường gọi bà Shii (Shii no Omina) đến kể chuyện giải khuây nhưng v́ muốn làm tăng thi vị cho cuộc gặp gỡ mới viết bài thơ có tính hài hước như trên để trêu bà. Để giữ thể diện của ḿnh, bà Shii này cũng biết dí dỏm đáp lời. Bà đă khéo léo dùng câu mở đầu Ina to iedo (Đă bảo rằng không) của Jitô để mở đầu cho bài họa của ḿnh. Bài thơ này chứng tỏ được tài năng của người hầu già, chắc đă khiến cho nữ thiên hoàng chỉ biết cười trừ.

 

Tiết VI: Thơ thăm hỏi giữa Thiên hoàng Temmu và hoàng phi Fujiwara

Trong hậu cung của cung điện Kiyomigahara ở vùng Asuka, ngoài hoàng hậu Jitô (mẹ của thái tử Kusakabe, sau là nữ thiên hoàng), Thiên hoàng Temmu 天武天皇c̣n có nhiều phi tần mỹ nữ như công chúa Ôta (mẹ của hoàng tử Ôtsu), công chúa Nukata... Các bà đều là những người tài mạo tuyệt vời. Theo hệ phổ định việc kế thừa hoàng vị, ông có đến 10 bà vợ chính, sinh cho ông 10 hoàng tử và 7 công chúa. Các hoàng tử ấy sau này sẽ đóng vai chính trong một cuộc huynh đệ tương tàn v́ tranh nhau ngôi báu.

Tuy tên không được kể vào 10 người vợ nói trên nhưng hoàng phi (phu nhân) Fujiwara (藤原夫人Fujiwara no bunin) là người được Temmu vô cùng yêu dấu. Bà tên thật là Ioe no Iratsume, con gái của đại thần Fujiwara no Kamatari. Chị ruột bà, Hikami no Otome, là một trong số 10 người vợ chính của Temmu. Hoàng phi Fujiwara là một người đàn bà đầu óc thông minh, phong thái thanh lịch, rất hợp tính với Temmu. Bà đă sinh cho ông hoàng tử Niitabe no Miko. Bunin (phu nhân) là một chức danh trong hậu cung, địa vị chỉ dưới tước hậu có một nấc chứ không có nghĩa phu nhân như ngày nay.

Bà Fujiwara sống riêng ở Ôhara, một thôn làng trong vùng Asuka, phong cảnh rất đẹp. Một hôm, trời đổ tuyết lớn, Thiên hoàng dang buồn bực trống vắng giữa bọn cận thần tẻ nhạt trong cung, bèn nhớ đến người đẹp thông minh và tài hoa của ḿnh, muốn gặp bà, nên mới gửi tặng bài thơ sau đây.

2-103:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾里尓大雪落有 大原乃 古尓之郷尓 落巻者後

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が里に大雪降れり大原の古りにし里に降らまくは後

Phiên âm:

Wa ga sato ni / ôyuki fureri / Ôhara no / furinishi sato ni /furamaku wa nochi

Diễn ư:

Nơi trẩm đang ngự (cung điện Kiyomigahara), sáng hôm nay có mưa tuyết lớn, tuyết tụ lại thật nhiều, cảnh sắc trông hết sức đẹp mắt. Nơi nhà ngươi đang ở, chốn làng thôn quê mùa cổ lổ như Ôhara th́ c̣n lâu tuyết mới rơi tới nơi đấy nhé. C̣n đợi ǵ không đến đây ngắm tuyết với ta! 

Tạm dịch thơ:

Nơi cung ta tuyết lớn / Phong cảnh đẹp làm sao! Thôn làng nàng khuất nẻo / C̣n lâu tuyết mới vào / (Hăy bỏ nơi thô lậu / Đến đây ngắm tuyết nào).

Ba âm f trong fureri, furi, furamaku và hai âm ô trong ôyuki, Ôhara lập đi lập lại gây được một hiệu quả âm thanh cho bài thơ. Chê Ôhara, nơi hoàng phi ở là quê mùa, ta thấy Temmu viết bài thơ một cách đột xuất và có ư hài hước. Sau khi nhận được bài thơ này, là người tài hoa và nhanh trí, hoàng phi Fujiwara đă hóm hĩnh đáp lời nhà vua. Bài thơ phụng họa của bà Fujiwara (bài 2-104) có nội dung như sau:

2-104

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

吾岡之 於可美尓言而 令落 雪之摧之 彼所尓塵家武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が岡のおかみに言ひて降らしめし雪のくだけしそこに散りけむ

Phiên âm:

Wa ga oka no / okami ni iite / furashimeshi / yuki no kudakeshi / soko ni chirikemu

Diễn ư:

Bệ hạ chỉ tự hào là nơi ngài ở, tuyết rơi nhiều (đại tuyết = ôyuki) nên cảnh sắc xinh đẹp nhưng thiếp xin thưa thật với ngài là trên đồi cao cạnh nhà thiếp đây có một vị thần đảm nhiệm việc phân phát gió mưa. Thiếp đă ra lệnh ông ấy ban bố cho bệ hạ một lượng tuyết cực nhỏ thôi. Ngôi nhà của thiếp mà ngài coi thường đó mới là chỗ tuyết xuất phát. Xin quân vương mau dời gót ngọc đến đây.

Tạm dịch thơ:

Đồi bên nhà thiếp ở / Có thần rắc gió mưa / Thiếp đă nhắn thần hăy / Tặng ngài ít tuyết thừa / (Nếu muốn xem tuyết thật / Xa giá đến ngay cho)

Bài thơ họa của phu nhân thật là nhẹ nhàng nhưng đáo để, áp đảo được địch thủ bằng chính diện, chắc nhà vua khi đọc xong, thế nào cũng phải chịu phục là bị người đẹp trả đ̣n đau. Hai bài sômonka xướng họa này vẽ lên một cách sống động sự phong phú của cuộc sống cung đ́nh thời cổ mà không một thước phim nào có thể ghi lại được cho chúng ta.

 

Tiết VII: Thơ đại thần Fujiwara no Kamatari

Kamatari 藤原鎌足là Nội Đại Thần, chức quan đầu triều, bạn chiến đấu với Thiên hoàng Tenji và cũng là cha vợ của Temmu (hai con gái của ông là vương phi Hikami no Otome và phu nhân Fujiwara đă được Temmu sủng ái).

1-95:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾者毛也 安見兒得有 皆人乃 得難尓為云 安見兒衣多利

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我れはもや安見児得たり皆人の得かてにすとふ安見児得たり

Phiên âm:

Ware wa mo ya / Yasumiko etari / Mina hito no / E kateni sutofu / Yasumiko etari

Diễn ư:

Ta nay đă cưới được nàng Yasumiko về làm vợ. Người đời bao nhiêu kẻ mong muốn nhưng nàng có lọt vào tay họ đâu. Chao ôi, ta lấy được cô nàng rồi!

Tạm dịch thơ:

Ngày nay ta đă cưới / Yasumiko về / Người đời bao kẻ ước / Đều thất bại năo nề / Chao ôi sung sướng quá / Rước được cô nàng về.

Qua bài thơ, ta có thể h́nh dung một cảnh rất sống động là Kamatari đang nhảy cỡn, sung sướng hạnh phúc v́ lấy được một người vợ trẻ đẹp. Có lẽ lúc đó ông đă đứng tuổi trong khi Yasumiko (tên đầy đủ là Uneme no Yasumiko) là một cung nữ trẻ hầu cận lo việc cơm nước cho Thiên Hoàng. Trên nguyên tắc, bà phải có dung mạo xinh đẹp và xuất thân từ hàng quí tộc, cỡ con một chức quan trấn thủ địa phương. Kiểu diễn tả như “ai nấy đều ước mơ nhưng nàng đă lọt vào tay ta” hay nhắc đi nhắc lại tên bà Yasumiko...chứng tỏ ông mừng rỡ thực sự như đứa bé con được ai cho miếng bánh. Không thấy đâu là dấu vết của một trang dũng tướng và chính trị gia lăo thành.

Sau đây là thơ trao đổi giữa một cặp vợ chồng mới cưới khác, Sami (Mikata no Sami) và Ikuta (Sono no Omi Ikuta no Musume) (bài 2-123 và 1-124) mà đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa rơ là ai nhưng có lẽ là một cặp vợ chồng rất trẻ thuộc một gia đ́nh quí tộc.

2-123:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

多氣婆奴礼 多香根者長寸 妹之髪 此来不見尓 掻入津良武香

Dạng huấn độc (đă chua âm):

たけばぬれたかねば長き妹が髪このころ見ぬに掻き入れつらむか

Phiên âm:

Takebanure / takanebanagaki / imogakami / kono koro minu ni / kirei tsurakamu

Diễn ư:

Mối lần muốn bới tóc em lên cao th́ cứ tuột tay, không làm sao kết thành búi. Bẵng đi lâu ngày ta bệnh không đến gặp nàng, chẳng biết mái tóc em nay đă đủ dài để lấy lược chải lên và bới được chưa.

Tạm dịch thơ:

Xưa mỗi lần muốn bới / Tóc mượt búi không thành / Lâu ngày anh chẳng đến / (Hỏi tóc có thêm xanh) / Giờ đây đem lược chải / (Thành búi chưa, cô ḿnh?).

Sami bắt đầu đi lại (đến thăm người hôn ước hay vợ vào ban đêm ở nhà bố mẹ nàng) từ lúc mái tóc của Ikuta hăy c̣n để rẻ (con gái thời xưa từ 7, 8 tuổi đă bắt đầu để đường rẻ cho đến 15, 16 tuổi th́ búi, kiểu tóc đó gọi là furiwakegami hay unaibanari, obanari) và chưa thành búi (taba) (với tục lệ tảo hôn, con gái 12, 13 là vừa đến tuổi có thể lấy chồng). Chẳng bao lâu, Sami mắc bệnh và không lui tới với nàng được nữa. Nằm trên giường bệnh, chàng trai da diết nhớ về người vợ (hôn ước) trẻ, không biết mái tóc ngày xưa, lúc mới đến với nhau, mỗi lần muốn bới mà tay cứ vuột, nay tóc đă dài ra đủ để có thể lấy lược chải cao lên thành búi hay chưa. H́nh ảnh mái tóc đă thay thế cho h́nh ảnh nụ cười ánh mắt, những lời ân ái trao đổi với người ḿnh thương nhớ, nghĩa là tất cả kỷ niệm ngày tháng yêu đương đă qua. Nó c̣n tượng trưng cho ḍng thời gian đi qua một cách vô t́nh nữa.

Nàng Ikuta đă làm bài thơ sau đây để họa lại

1-124

Nguyên văn (dạng Manyô.gana):

人皆者 今波長跡 多計登雖言 君之見師髪 乱有等母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

人皆は今は長しとたけと言へど君が見し髪乱れたりとも

Phiên âm:

Hito mina wa / ima wa nagashi to / take to iedo / kimi ga mishigami / midare tari tomo

Diễn ư:

Người chung quanh ai cũng bảo trông thấy tóc đă dài ra hẳn. Họ khuyên em nên bới lên cao nhưng mái tóc của em mà chàng từng thấy đó, cho dầu có rối bời th́ em cũng để mặc nó, không thiết ǵ.

Tạm dịch thơ;

Chung quanh ai cũng bảo / Tóc dài phải bới lên / Nhớ xưa chàng ve vuốt / Mái tóc này của em / Nên giờ em chẳng thiết / Tóc rối để y nguyên.

Tấm chân t́nh của Sami đă làm cho Ikuta cảm động. Bài thơ trả lời này có giá trị như một thang thuốc hiệu nghiệm cho người đang ở trên giường bệnh. Ikuta không sử dụng kỹ xảo, tu sức nhưng đă nói lên được t́nh yêu với người chồng xa cách (đang thời hôn ước). Ngày xưa, khi con gái đến tuổi thành nhân, lần đầu tiên bới tóc phải nhờ bàn tay của người chồng hay người hôn ước. Midaregami (tóc rối) là một h́nh ảnh tượng trưng cho nhớ nhung, tương tư và t́nh yêu nhục thể giữa trai gái, là một chủ đề lớn trong văn học Nhật. Nữ sĩ Yosano Akiko (1878-1942) đă dùng nó làm tựa đề cho một tập thơ của bà.

 

Tiết VIII: Thơ các công chúa Tajima, Ôku, các hoàng tử Ôtsu và Arima

Công chúa Tajima 但馬皇女là con gái Thiên hoàng Temmu. Mẹ bà là vương phi Fujiwara Hikami no Otome (con gái đại thần Fujiwara no Katamari), một trong 10 người vợ chính của Temmu. Như thế bà là cháu, gọi phu nhân Fujiwara “nghịch ngợm” khi viết về tuyết ở trên là d́. Bà mất năm Wadô nguyên niên (708), có để lại 4 bài thơ, tất cả đều làm theo thể tanka và đều vịnh về t́nh yêu thương quyến luyến đối với Hoàng tử Hozumi (Hozumi no Miko), người anh em cùng cha khác mẹ (mẹ Hozumi là một vương phi khác của Temmu tức công chúa Ôe). Lúc ấy công chúa Tajima đang sống (owasu) trong cung một người anh em cùng cha khác mẹ khác là Hoàng tử Takechi (Takechi no Miko).

2-114

Nguyên văn (dạng Man.yôgana)

秋田之 穂向乃所縁 異所縁 君尓因奈名 事痛有登母

Dạng huấn độc (đă chua âm):

秋の田の穂向きの寄れる片寄りに君に寄りなな言痛くありとも

Phiên âm:

Aki no ta no / homuki no yoreru / katayori ni / kimi ni yori nana / kochitakari tomo[6]

Diễn ư:

Giống như những bông lúa chín trên cánh đồng mùa thu cứ ngă về một phía, em cũng chỉ ngă một chiều về hướng anh thôi. Cho dầu người chung quanh có lời ong tiếng ve thế nào đi chăng nữa th́ em cũng để ngoài tai.

Tạm dịch thơ:

Như bông lúa đồng thu / Chỉ nghiêng về một phía / Ḷng em anh biết rơ / Chỉ nép vào anh thôi / Dù cho ai cười cợt / Em cũng mặc tiếng đời.

Bông lúa đến mùa thu th́ chín và nặng trĩu hạt, thấy như chỉ nghiêng đầu về một phía. Nh́n thấy cảnh đồng quê như thế, cô công chúa tuy không phải là con gái nhà nông, cũng cảm thấy nó sao mà giống như in tâm sự của ḿnh. Nhưng cũng có thể công chúa Tajima đă mượn ư từ một câu ca dao đương thời. Lối “tỉ” như thế thật khéo léo và nói lên được sự quyết tâm sống chết v́ t́nh của tác giả.

Sau đây thêm một bài thơ thứ hai nói lên t́nh cảm nồng nàn của công chúa: 

2-116

Nguyên văn (dạng Man yô.gana):

人事乎 繁美許知痛美 己世尓 未渡 朝川渡

Dạng huấn độc (đă chua âm):

人言を繁み言痛みおのが世にいまだ渡らぬ朝川渡る

Phiên âm:

Hitogoto wo / shigemi kochitami / onogayoni / imada wataranu / asakawa wataru

Diễn ư:

V́ tiếng đời đồn đại quá đỗi phiền hà khiến cho em phải làm một việc từ khi sinh ra ḿnh chưa từng làm là lội qua con sông lạnh lẽo vào một buổi sáng tinh sương.

Tạm dịch thơ:

Tiếng đời quá phiền nhiễu / Ôi khó sống làm sao / Em đành làm một việc / (Thân gái) chưa khi nào / Lội qua sông buổi sáng / (Từ chỗ hẹn cùng nhau).

Việc công chứa đanghay sống (owasu) trong cung, có thuyết cho là đó là cách nói cung kính của người thời cổ thông báo việc bà là hoàng phi của Hoàng tử Takechi 高市皇子 chứ không có ǵ khác. Trong bài thơ thứ hai này, quyết tâm của công chúa đă bắt đầu giảm sút sau khi đă bị những lời đàm tiếu tấn công tới tấp và bắt bà hầu như phải qui hàng. Do đó, sợ mang tiếng nên từ chỗ hẹn (aibiki) với người yêu là hoàng tử Hozumi 穂積皇子, công chúa phải trở về cung ḿnh lúc trời hừng sáng và tất tả lội qua sông lạnh lẽo để giữ sự bí mật, điều mà con người khuê các tôn trọng lễ nghi ấy chưa hề làm trong đời.

Có thể nói bài thơ này của công chúa là một trong những bài thơ đầu tiên nói về cuộc sống t́nh cảm của trai gái quí tộc, mở đường cho ḍng thơ luyến ái của họ. Nó sẽ được các thi nhân cung đ́nh khai triển suốt thời trung cổ.

Xin chuyển đoạn qua một đề tài khác, tuy vẫn là thơ của một nàng công chúa: công chúa Oku (大伯皇女Oku no Himemiko). Tuy nhiên, đối tượng 2 bài thơ sau đây (2-105 và 2-106) của bà không phải là người yêu mà là cậu em ruột, Hoàng tử Ôtsu 大津皇子(663-686), một ông hoàng tài giỏi nhưng số phận bi đát.

2-105

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

吾勢乎 倭邊遺登 佐夜深而 鷄鳴露尓 吾立所霑之

Dạng huấn độc (đă chua âm):

我が背子を大和へ遣るとさ夜更けて暁露に我れ立ち濡れし

Phiên âm:

Wa ga seko wo / Yamato e yaru to / akatoki tsuyu ni / waretachi nureshi

Diễn ư:

Ta đi ra bên ngoài lúc trời đă khuya để tiễn đưa em trai ta về vùng Yamato trước ngày em quyết tâm cử sự. Sương móc trong ánh b́nh minh (akatoki) đă thấm ướt áo của ta. 

Tạm dịch thơ:

Trời khuya chị bước ra / Tiễn em về phương xa / Yamato chốn ấy / (Biết mai sau sao là) / Trong b́nh minh đỏ ối[7]/ Sương đẫm đầy áo ta.

Bài thơ vần điệu bi ai phản ánh tâm trạng năo nề của tác giả. Dĩ nhiên phải là như vậy thôi bởi v́ sự t́nh chính trị và hoàng tộc khúc mắc đă buộc Hoàng tử Ôtsu phải khởi binh mưu phản. Cuộc gặp gỡ giữa công chúa trinh nữ đền thần Ise và em trai của bà đă đến lúc chia tay. Ông ta được đưa về vùng Yamato. Tác giả không nói lên t́nh cảm cá nhân của ḿnh trong cuộc chia tay đau đớn (sẽ là vĩnh biệt ngh́n thu) nhưng chỉ diễn tả ngoại giới (sương xuống lúc hừng đông) để nói thay cho nỗi buồn vô hạn của ḿnh. Từ khi hoàng đệ c̣n ở đó cho đến lúc ông đi lâu rồi, bà vẫn c̣n đứng ngóng theo, không biết sương đêm hay nước mắt đă thấm đầy áo ḿnh trong lúc mặt trời hiện ra đỏ ối đằng xa.

Công chúa Ôku và Hoàng Tử Ôtsu đều là con sinh ra giữa Thiên Hoàng Temmu và một trong những vương phi của ông, Công chúa Ôta (Ôta no Himemiko, con gái của Thiên hoàng Tenji và là em gái một cha một mẹ với hoàng hậu của Temmu, người sau sẽ là Nữ thiên hoàng Jitô. Chính bà chị Jitô này là người muốn lấy thủ cấp con trai em gái). Công chúa Ôku năm mới 13 tuổi th́ đă được thần chọn qua quẻ bói để làm trinh nữ đền thần (gọi là Saiguu hay “trai cung”, người đi tu thế cho vua). Sử cũ chép 12 năm sau bà được phép về lại kinh đô rồi mất ở tuổi 41. C̣n Hoàng tử Ôtsu, em trai bà, được mô tả là một ông hoàng tuấn tú, văn vơ toàn tài, được thần dân ngưỡng mộ, nhưng những đức tính và tài năng đó lại là đầu mối cho sự bất hạnh của ông. Cũng theo sử chép lại - và người ta ngờ rằng đó là cái kế thâm độc của Jitô – một tăng sĩ đến từ Shiragi (Tân La, nay thuộc nam Triều Tiên) tên là Gyôshin (Hành Tâm) đă thấy những quí tướng của ông nên xúi giục ông nổi loạn. Ốtsu đă bị bà d́ ruột cho xử tử năm mới 24 tuổi, vừa đúng lúc, cha ông là Temmu (trị v́ 673-686) mới nằm xuống có 25 hôm. Và như một sự ngẫu nhiên, chính bà d́ ấy đă lên nối ngôi thiên hoàng (xưng chế năm 686, xưng vị năm 690. Con ruột Jitô, thái tử Kusakabe, 662-689, đă bị bệnh và mất sớm).

2-106

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

二人行杼 去過難寸 秋山乎 如何君之 獨越武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

ふたり行けど行き過ぎかたき秋山をいかにか君がひとり越ゆらむ

Phiên âm:

Futari yukedo / Yukisugikataki / akiyama wo / ikanika kimi ga / hitori koyuramu

Diễn ư:

Để vượt qua ngọn núi mùa thu buồn bă này dù chị em ḿnh có dắt díu nhau đi cũng đă khó khăn rồi. Cậu em yêu dấu của chị ơi, giờ đây chị đang h́nh dung em làm cách nào (ika ni ka) để có thể vượt qua núi ấy một ḿnh đây! (ở Nhật, quốc gia nhiều núi, núi c̣n được dùng để chỉ sự khó khăn).

Tạm dịch thơ:

Núi mùa thu buồn bă / Dù hai đứa cùng đi / Hăy c̣n lắm gian khổ / Huống một ḿnh nói chi / Hỡi em yêu của chị / Vượt núi cách nào đây ?

Lúc chia tay, trời đă vào thu và gió gào trong cây, con đường đi từ vùng Ise, nơi công chúa đi tu, cho đến vùng Yamato, rất hiểm trở và việc cử sự của hoàng tử nhất định sẽ gặp vô vàn khó khăn, một mất một c̣n. H́nh ảnh người em đang dẫm trên lá vàng dấn bước như hiện ra trước mắt công chúa làm ḷng bà đau đớn. Không cách ǵ giúp em, bà chỉ bày tỏ tấm chân t́nh muốn làm bạn đồng hành.

Riêng về Hoàng tử Arima (有馬皇子Arima no Miko, 640-658), một ông hoàng khác, th́ số mệnh cũng không khá hơn ǵ Ôtsu. Ông là con Thiên hoàng Kôtoku, mẹ là bà Otarashi Hime, con gái của quan Tả đại thần Abe no Kurahashimaro. Sau 3 năm chữa bệnh ở suối nước nóng Muro ở địa phương, ông về kinh đô nhưng lại được bà bác là Nữ thiên hoàng Saimei khuyên nên đi chữa bệnh tiếp. Rồi một hôm, khi nữ thiên hoàng và hoàng thái tử đi Muro, vắng mặt ở kinh đô, đại thần Soga no Akae xúi giục ông mưu phản. Ông lại bị chính Akae bắt giữ (lại một đ̣n phản gián của cánh theo nữ thiên hoàng Saimei nhằm gài bẩy một mối đe dọa tiềm ẩn cho quyền lực của họ?) và cho giải xuống Muro thẩm vấn. Ông trả lời bằng câu nói “Ta không hiểu ǵ cả. Chuyện này chỉ có ông trời và Akae biết thôi”. Hai hôm sau, ông cũng bị xử giảo lúc mới có 19 tuổi.

Hai bài 2-141 và 2-142 mà tác giả chính là Hoàng tử Arima, nói lên t́nh cảm tự thương thân của ông v́ cảm thấy ḿnh bị hàm oan.

2-141

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

磐白乃 濱松之枝乎 引結 真幸有者 亦還見武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

磐白の浜松が枝を引き結びま幸くあらばまた帰り見む

Phiên âm:

Iwashiro no / Hamamatsu ga e wo / hikimusubi / masakiku araba / matakaeri mimu

Diễn ư:

Ngày nay ta mang tấm thân tù phạm bị giải đi, trên đường, để cầu cho ḿnh được xử vô tội, ta (có nhà chú thích cho là một người bạn) đă cột hai nhánh tùng mọc bên băi biển ở Iwashiro lại với nhau. Nếu may ta vô sự trở về th́ sẽ được nh́n thấy cành tùng được cột lại này một lần nữa.

Tạm dịch thơ:

Qua Iwashiro / Cột nhánh tùng băi biển / Ḷng những khấn sao cho / Thân ḿnh được toàn vẹn / Nếu trời cao soi thấu / C̣n thấy lại tùng xưa.

Thời xưa, người Nhật có phong tục cột hai nhánh tùng như nối kết linh hồn với sinh mệnh, để cầu thần cho ḿnh vô sự. Lúc này hoàng tử Arima đang bị quan quân giải đi. T́nh cảnh ông lúc ấy rất đáng thương v́ tuy trong tư thế là người được kế vị ngai vàng mà đă bị bà bác (mẹ của Tenji) hai lần tước đoạt quyền đó mà c̣n hạ lệnh xử thắt cổ lúc ông mới có 19 tuổi, ở cái tuổi c̣n trẻ hơn cả Hoàng tử Ôtsu (24), một người chung cảnh ngộ sau đó. Nhiều người tỏ ra đồng t́nh với ông. Ta thấy trong Man.yôshuu có rất nhiều thơ diễn tả ḷng thương cảm của họ, ví dụ như thơ của Naga no Imiki no Okimaro và của Yamabe no Okura.

2-142

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

家有者 笥尓盛飯乎 草枕 旅尓之有者 椎之葉尓盛

Dạng huấn độc (đă chua âm):

家にあれば笥に盛る飯を草枕旅にしあれば椎の葉に盛る

Phiên âm:

Ie ni areba / ke ni moruii wo / kusamakura /tabi ni shiareba / shii no ha ni moru

Diễn ư:

Lúc ở nhà th́ cơm được dọn ra trong vật đựng thức ăn (hộp, chén, bát). Nay trên đường lữ hành, gối đầu trên cỏ mà ngủ (màn trời chiếu đất), cơm th́ phải bày trên lá giẻ gai mà ăn.

Tạm dịch thơ:

Trong cung lúc dọn cơm/ Bày trên bát trên mâm / (Nay là người tù tội) / Gối cỏ thân ta nằm / (Đến bữa đâu ra bữa) / Lá giẻ bày cơm ăn.

Trong cung điện, hoàng tử được ăn cơm trắng trong những vật đựng thúc ăn mâm bát bằng vàng bạc hay sơn son nhưng nay đă là người tù tội, công sai giải đi, th́ chỉ được nếm cơm hẩm hay hạt kê bày ra trên lá rừng. Hôm qua thế nào mà hôm nay đă thế ấy. Qua sự đối chiếu hai hoàn cảnh, độc giả cảm thấy được cái ngậm ngùi của hoàng tử trước cảnh đổi đời. Đặc biệt chú ư những âm “shi” (shiareba, shii no ha) có hiệu quả âm thanh chết chóc, áp bức, nhấn mạnh nỗi buồn của tác giả.

Bài này đă được xếp vào loại thơ tang (banka) cũng cùng thể loại với bài thơ 3-416 sau đây do Hoàng tử Ôtsu làm ra trược khi từ giă cơi đời:

3-416

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

百傳 磐余池尓 鳴鴨乎 今日耳見哉 雲隠去牟

Dạng huấn độc (đă chua âm):

百伝ふ磐余の池に鳴く鴨を今日のみ見てや雲隠りなむ

Phiên âm:

Momozutafu / Iware no ike ni / naku kamo wo / kefu nomi mite ya / kumogakuri namu

Diễn ư:

Tiếng vịt trời kêu trên ao Iware hôm nay có lẽ là tiếng vịt cuối cùng mà ta được nghe ấy nhỉ! Mai đây ta đâu c̣n nữa bởi v́ mây che khuất thân ta rồi.

Tạm dịch thơ:

Trên ao Iware / Ngày tháng dài bất tận / Nhưng tiếng vịt ta nghe / Chắc chỉ là lần cuối / Thân này mai sẽ khuất / Đằng sau lớp mây che.

Từ Momozutafu là một từ tu sức dùng cho Iware, ư nói thời gian lâu dài gần đầy một trăm năm (momo). Ngày 3 tháng 10 (28 tháng 10 dương lịch), hoàng tử đă bị xử h́nh và đây là bài thơ được truyền tụng như lời vĩnh biệt viết bằng waka của ông (Có một bài thơ chữ Hán nữa, đă được đăng trong thi tập Kaifuusô tức Hoài Phong Tảo (751) nhưng h́nh như là một bài thơ của thi nhân Trung Quốc sao chép lại một cách vụng về). Trước giờ lâm h́nh, ông rơi nước mắt bên bờ ao (như thấy viết trong lời chú dẫn có từ xưa) nghĩ đến số mệnh ngắn ngủi “c̣n một hôm nay thôi” (kefu nomi) nhưng vẫn c̣n có thể diễn tả sự ra đi vĩnh viễn của ḿnh bằng một h́nh ảnh hoa lệ, có giá trị cách điệu cao là “mây che ta rồi” (kumogakuru). Điều đó chứng tỏ rơ ràng văn tài của ông hoàng trẻ. 

 

Tiết IX: Thơ Kakimoto no Hitomaro:

Chúng ta tạm giă từ các ông hoàng bà chúa với những vần thơ đầy nhiệt t́nh và oan khuất của họ để t́m đến với một trong những nhà thơ quan trọng nhất của thời Man.yô: Kakinomoto (tên đầy đủ là Kakinomoto no Hitomaro柿本人麻呂).

Con số tác giả có tên trong Man.yôshuu lên đến con số 500 người, nhưng Kakinomoto là ông vua không ngai của tất cả. Ví von về ông, giáo sư Uemura Etsuko xem ông như ngọn Phú Sĩ đơn độc vượt lên cao vút giữa quần sơn. Nếu nói về số bài để lại th́ người ta suy định ông có 87 bài (trong số đó, 36 bài tanka và 16 bài chôka được biết đích xác là do ông viết, kỳ dư là phỏng đoán). Ông có thơ nhiều hơn các thi nhân lớn khác như các ông Akahito (50 bài), Okura (76 bài), (76 bài), Kurohito (18 bài), Kanamura (30 bài), bà Otomo no Sakanoue no Iratsume (84 bài). Tuy thua xa Yakamochi (479 bài) nhưng điều đó cũng có phần dễ hiểu v́ Yakamochi dưới mắt mọi người là nhà biên soạn chính của tuyển tập.  

Tiểu sử của Kakinomoto có những điểm mù mờ nhưng nói chung, người ta xem ông là một viên quan từng phụng sự hai thiên hoàng Jitô (tại vị 690-697) và Mommu (tại vị 697-707), có những hoạt động đáng kể với tư cách thi nhân cung đ́nh. Đứng về mặt lịch sử thi ca mà nói th́ ông là nhà thơ thuộc vào thời kỳ Man.yô thứ hai.

Sở dĩ ông được xưng tụng là đại thi hào (kasei = ca thánh), nhà thơ tiêu biểu của thời Man.yô, bởi v́ ông đă có những đóng góp rất to lớn cho làng thơ. Nào là đă cố định và hoàn thành được thể thơ dài gọi là chôka, phát triển và tập thành những kỹ xảo tu sức trong biểu hiện và âm nhạc hóa được thơ nên từ đó mới sinh ra cái gọi là Man.yôchô (Vạn Diệp điệu) hay âm điệu đặc biệt của Man.yô. V́ ông có ư thức quốc gia nên đă thành công trong việc nâng được ư thức ấy lên cao bằng thi ca, với sự tán đồng của đông đảo quần chúng độc giả.

Ông thạo tất cả mọi h́nh thức thơ dương thời từ tanka, chôka đến sedôka nhưng trong chôka của ông, chủ đề thường liên quan đến người và việc (nhân sự) như những bài thơ nói về cái chết của phi tần các hoàng tử Hinamishi (Hinamishi no Miko no mikoto, bài 1-167) hay hoàng tử Takechi (Takechi no Miko no mikoto, bài 2-199) hoặc thơ ai điếu công chúa Asuka (Asuka no Hime no miko, bài 2-196) cũng như những bài sáng tác khi đi qua phong cảnh hoang tàn của cố đô Ômi (bài 1-29) và ngôi nhà ở vùng Akino, nơi Hoàng tử Karu (Karu no Miko) từng trú ngụ (bài 1-45). Lại nữa, có bài ông làm ra lúc từ giă bà vợ thứ ở Iwami để hồi kinh (bài 2-131) cũng như bài thơ thương khóc người thiếp ở Karu no ichi lúc bà ta qua đời (bài 2-207).    

Tuy thường đưa t́nh cảm luyến ái vào những bài chôka như thế nhưng rơ ràng là ông hay sử dụng h́nh thức thơ cực dài (daichôka – đại trường ca) để bày tỏ trạng thái tinh thần và nói lên nhân sinh quan của ḿnh. Ư thức về quốc gia rất mạnh nơi ông, ông sùng bái Thiên hoàng, người cai trị, như một vị thần. Mỗi khi có một nhân vật trong hoàng tộc chết đi, ông đều thành thực bày tỏ ḷng ai điếu. Điều ấy phản ánh dân tộc tính của người Nhật là sự gắn bó của họ với cuộc sống trong cơi đời hiện tại. Họ yêu cuộc sống, họ mong đợi sự phồn vinh. Do đó, trước cái chết, cảnh biệt ly hay suy vi hoang tàn, họ dễ dàng cất tiếng khóc than. Họ lại xem Thiên hoàng, người có hoài băo lănh đạo quốc gia, như là trung tâm của quốc gia và h́nh ảnh kinh đô, tượng trưng cho sự xán lạn của quốc gia đó, cho nên khi thấy chỉ mới có một thời gian ngắn mà ngai vàng đă đổi chủ, cung cấm đă hoang phế điêu tàn, họ đă bị xúc động và thương khóc.

Thế nhưng dù ngâm lên những bài đưa tang thân tộc của thiên hoàng cũng như than khóc cảnh hoang phế của kinh đô, một con người ư thức được cái đẹp xuất phát từ xúc cảm như Kakinomoto th́ không cần phải chỉ cứ diễn tả t́nh cảm bằng cách miêu tả trực tiếp cảnh vật hiện ra trước mắt như khi đứng trước cảnh chết chóc hay sự hoang phế của kinh đô. Ông c̣n gián tiếp miêu tả nó bằng cách khơi gợi những kỹ niệm sống lại từ quá khứ. Ông ca ngợi nhân cách siêu phàm, công lao hăn mă hoặc sự nghiệp vĩ đại của tiền nhân lúc sinh thời của họ để qua đó, nói lên niềm tự hào về đế đô, một thời đă vinh quang như thế nào. Khi đưa ra cái đẹp huyền ảo đă đánh mất nhưng vẫn như c̣n phảng phất đâu đây, Kakinomoto mới diễn tả được trọn vẹn nỗi buồn và niềm tiếc thương của ông đối với chốn đế đô huy hoàng mà giờ đây chỉ c̣n là cảnh hoang vu đổ nát, dâng cao sự cảm động trong ḷng người đọc tới cực điểm.

Có thể nói Kakinomoto là một mẫu người chuộng lư tưởng thẩm mỹ (aesthetic idealist), bài thơ nào của ông cũng có mục đích đi t́m cái đẹp.Trong những bài thơ sầu thảm ai oán như bài viết ra khi ông từ giă bà vợ thứ ở Iwami để hồi kinh hay trong bài thơ than khóc cái chết đột ngột của người thiếp ở Karu no ichi, bài nào cũng bắt đầu bằng những thanh điệu nhẹ nhàng chậm răi để rồi dần dần dâng lên dào dạt, sau đó trở nên ồ ạt, bức bách và cuối cùng kích động mạnh mẽ để đưa đến bùng nổ. Tuy nhiên, bố cục của thơ ông trong những bài như vậy rất thăng bằng, nếu nội dung của nó là 3 phần th́ thường là tự sự chiếm 2, phần c̣n lại dành cho việc mô tả t́nh cảm nội tâm.  

Ông cũng chú ư nhiều đến thiên nhiên, nhất là thông qua h́nh thức ngắn của tanka.Dù sao, Kakinomoto chủ yếu vẫn là một nhà thơ giàu t́nh cảm cho nên ông đặt trọng tâm vào việc diễn tả nội tâm. Hai nhà thơ đi sau, (Yamabe no) Akahito và (Takechi no) Kurohito là những người quan sát thiên nhiên với con mắt lạnh lùng và điềm nhiên, trực cảm cái đẹp và tả cảnh bằng một lối diễn tả khách quan. Không như họ, Kakinomoto ḥa trộn thiên nhiên bên ngoài với t́nh cảm và suy tư bên trong của chính ḿnh để viết lên những vẫn thơ vừa tả t́nh vừa tả cảnh. Ông c̣n là nhà thơ biết sử dụng nghệ thuật tu từ một cách tài t́nh. Thành công về mặt ấy của ông vượt qua tất cả thi nhân đương thời. Ông biết khai thác mọi khía cạnh của kỹ xảo tu từ như các thể so sánh và trang sức makura kotoba (chẩm từ hay chữ gối đầu), jo kotoba (tự từ hay chữ mào đầu), các h́nh thức tsuiku (đối cú), taiguu (đối ngẫu), tôchi (đăo nghịch), gijinhô (nhân vách hóa), on.in (âm vận)…Nói cách khác, ông không tŕnh bày t́nh cảm con người trong trạng thái thô sơ nguyên thủy của nó mà biết biễu diễn bằng âm luật để tạo ra nhịp điệu và nhạc điệu riêng, đem đến cho thơ của ḿnh một nét đẹp cách điệu trang trọng và hùng tráng.

Tóm lại, nếu có đánh giá Kakinomoto như thi nhân số một đời Man.yô và như một trong những ngôi sao sáng nhất của làng thơ Nhật Bản th́ chắc cũng không ngoa. Đối với nhà thơ hàng đầu này, chúng ta nên dành một t́nh cảm trân trọng bằng cách t́m hiểu 8 bài thơ vừa chôka vừa tanka của ông. Bắt đầu là bài thơ ông cảm tác lúc đi qua cung điện hoang phế của cố đô Ômi nên bờ hồ Biwa.

1-29

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

玉手次 畝火之山乃 橿原乃 日知之御世従 [或云 自宮] 阿礼座師 神之<> 樛木乃 弥継嗣尓 天下 所知食之乎或云 食来] 天尓満 倭乎置而 青丹吉 平山乎超 [或云 虚見 倭乎置 青丹吉 平山越而] 何方 御念食可 [或云 所念計米可] 天離 夷者雖有 石走 淡海國乃 樂浪乃 大津宮尓 天下 所知食兼 天皇之 神之御言能 大宮者 此間等雖聞大殿者 此間等雖云 春草之 茂生有 霞立 春日之霧流 [或云 霞立 春日香霧流 夏草香 繁成奴留] 百礒城之 大宮處 見者悲<> [或云 見者左夫思毛]

Dạng huấn độc (đă chua âm):

玉たすき畝傍の山の 橿原の ひじりの御代ゆ [或云 宮ゆ] 生れましし 神のことごと 栂の木のいや継ぎ継ぎに 天の下 知らしめししを [或云 めしける] そらにみつ 大和を置きて あをによし奈良山を越え [或云 そらみつ 大和を置き あをによし 奈良山越えて] いかさまに思ほしめせか [或云 思ほしけめか] 天離る 鄙にはあれど 石走る近江の国の 楽浪の 大津の宮に 天の下 知らしめしけむ 天皇の 神の命の 大宮は ここと聞けども 大殿は ここと言へども 春草の 茂く生ひたる 霞立つ 春日の霧れる [或云霞立つ 春日か霧れる 夏草か 茂くなりぬる] ももしきの 大宮ところ 見れば悲しも [或云見れば寂しも]

Phiên âm:

Tamatasuki / Unebi no yama no / Kashihara no / hijiri no miyo yu / aremashishi / kami no kotogoto / tsuganoki no / iyatsugitsugi ni / ame no shita / shirashimeshishi wo / sora ni mitsu / Yamato wo okite / ao ni yoshi / Narayama wo koe / ikasama ni / omohoshishimeka / amazaru ka / hina ni wa aredo / iwabashiru / Ômi no kuni no / sasanami no / Ôtsu no miya ni / ame no shita / shirashime shikemu / sumeroki no / kami nomi koto no / ômiya wa / koko to kikedomo / ôtono wa / koko to iedomo / harukusa no / shigeku oitaru / kasumi tatsu / haruhi no kireru / momoshiki no / ômiyadokoro / mireba kanashi mo /       

Diễn ư:

Kể từ đời Thiên hoàng Jimmu tức vị ở cung Kashihara dưới chân núi Inebi đến nay, các vị thiên hoàng sinh ra đều nối tiếp nhau trị nước ở vùng Yamato. Đến đời vị thiên hoàng thứ 38 là ngài Tenji mới bỏ vùng Yamato, vượt qua ngọn núi Nara, và không biết nghĩ thế nào mà ngài đă chọn một vùng quê mùa và xa xôi là bến Ôtsu sóng gợn trong xứ Ômi để dời cung điện đến. Ta nghe người sở tại bảo hoàng cung nơi Thiên hoàng Tenji tôn quí ngự để cai trị thiên hạ là chốn này đây thế nhưng sao chẳng thấy cung điện đâu cả mà chỉ có cỏ mùa xuân mọc rậm rạp và sương xuân giăng mắc. Khi nh́n ánh nắng mùa xuân chiếu rọi mơ hồ trên dấu tích cung xưa ḷng ta không khỏi dâng lên một niềm cảm thương vô hạn.

Tạm dịch thơ:

Bên núi Unebi / Bao đời vua trị v́ / Yamato đất rộng / Triều đại ta uy nghi / Thánh thượng nẩy ư lạ / Vượt qua núi Nara / Chọn thôn làng hẻo lánh / Dời cả triều đ́nh qua / Ômi kinh đô mới / ( Cất lên ở ven hồ) / Bến Ôtsu lầu các / Sóng bủa nhẹ vào bờ / Người bảo đây cung xưa / Nhưng ta nào thấy bóng / Chỉ c̣n cỏ mọc dày / Với sương lam che mỏng / Trong nắng nhạt chiều xuân / H́nh bóng xưa phảng phất / Nh́n di tích c̣n đây / Ḷng ta buồn, quặn thắt. 

Nguyên lai, cung điện Ômi là do vị thiên hoàng đời thứ 38, Tenji, ra lệnh kiến tạo. Năm 667, Tenji đă cho dời đô về đây. Sau khi ông băng hà, con trai là Thiên hoàng trẻ Kôbun lên nối ngôi nhưng chỉ qua năm sau (Nhâm Thân 672) đă xảy ra cuộc biến loạn tranh chấp ngai vàng với người chú, sau này là Thiên hoàng Temmu. Cung điện Ômi v́ chiến tranh loạn lạc và v́ Temmu, kẻ thắng cuộc, lại dời đô về Asuka, nên chốn ấy trở thành hoang phế. Hơn mười năm sau cuộc chiến chấm dứt, Kakinomoto nhân ghé ngang qua vùng đó, đứng trước di tích cung xưa, ông hồi tưởng lại đời thịnh trị của Tenji, đă cảm khái làm những vần thơ trên.

Cần chú ư những cách diễn đạt như tamatasuki (c̣n đọc tamadatsuki), tsuka no ki, sora ni mitsu, ao ni yoshi, sora zakaru, iwabashiru, momohiki no đều là những gối thơ (makura-kotoba) dùng để tu sức cho các danh từ đi bên cạnh nó. Ví dụ cụm từ sora ni mitsu (trời rộng nh́n không hết) là để tô điểm cho từ Yamato, với dụng ư ca tụng đất nước Đại Ḥa (Yamato) bao la rộng răi. Cụm từ momoshiki (trăi hàng trăm lớp) th́ dùng để nói đến sự vững chắc của các lớp cây, lớp đá chồng chất lên nhau dựng thành quách cung điện ở Ômi.

Sự nghiệp của người anh hùng Tenji chỉ v́ cái loạn chú cháu tranh ngôi năm Nhâm Thân mà tiêu tan tất cả. Khung cảnh hoang phế của cố đô Ômi cho ta thấy cái triết lư “kẻ sống phải có lúc chết” “vinh quang cho lắm rồi cũng suy tàn”. Ômi càng tráng lệ đẹp đẽ bao nhiêu trong quá khứ th́ cảnh hoang phế hôm nay lại làm chạnh ḷng khách nhàn du bấy nhiêu. Nhất là trong đời Kakinomoto, ông chắc chắn đă chứng kiến bao nhiêu tấn bi kịch chính trị xuất phát từ cuộc thay bậc đổi ngôi sau cuộc loạn Nhâm Thân.

Một thi nhân đa cảm như Kakinomoto khi nh́n lớp cỏ dày phủ trên những phiến đá có thể đă lát nên nền cũ cung xưa và nh́n ánh sáng nhợt nhạt ngày xuân len qua màn sương chiếu xuống cánh đồng rộng, làm sao chẳng tưởng tượng khung cảnh trang nghiêm hoa lệ của triều đ́nh Ômi với những ông quan và người hầu cận ưu nhă phất tay áo rộng tấp nập ra vào. Thế rồi chỉ trong giây phút sau chúng sẽ tan biến theo tiếng chân người ngựa rầm rập đưa tất cả vào thế tu la địa ngục của chém giết. Làm sao Kakinomoto không đưa tay áo lên để gạt giọt lệ khóc thương thời thế.

Khi đọc đến bài thơ này, chúng ta không thể nào không liên tưởng được bài haikai mà nhà thơ cận đại Bashô đă viết trong Oku no hosomichi (Đường ṃn miền Oku) khi đi qua băi chiến trường xưa ở Hiraizumi và thương khóc cho cơ nghiệp oai hùng của 3 đời ḍng họ Fujiwara, hào tộc miền Đông Bắc, bị Shôgun khai sáng Mạc phủ Kamakura là Minamoto no Yoritomo tiêu diệt vào năm 1189:

夏草や兵どもが夢の跡

Natsu kusa ya / tsuwamono domo ga / yume no ato

Vùi trong cỏ mùa hạ / Dấu vết những giấc mộng / Của đoàn xuân thời xưa.

Đại thi hào Trung Quốc, Lư Bạch (701-762), một người có lẽ sống sau Kakinomoto một hai thế hệ, cũng có hai bài thơ rất nổi tiếng nhan đề Việt Trung Hoài Cổ và Tô Đài Lăm Cổ, thương tiếc kinh đô hoang phế của Việt Vương Câu Tiễn và đài Cô Tô của Ngô Vương Phù Sai. Tuy không thuộc vào phạm vi của bài viết này, cũng xin đưa ra 2 câu cuối của mỗi bài theo thứ tự nói trên (bản dịch của Bùi Khánh Đản)[8] để quư độc giả thưởng thức và đối chiếu với thơ Nhật:

Cung nữ như hoa măn xuân điện,
Chỉ kim duy hữu giá cô phi.

(Cung nữ như hoa đầy điện ngọc,
Ngày nay chỉ thấy bóng chim đa).

Chỉ kim duy hữu Tây Giang Nguyệt,
Tằng kiến Ngô vương cung lư nhân.

(C̣n lại Tây Giang vừng nguyệt tỏ,
Từng soi người đẹp ở Tô Đài)

Sau bài trường ca của Kakinomoto nói trên (1-29) là bài hanka ( phản ca, số 1-30) nối tiếp –như trong thơ văn ngày xưa được làm ra với dụng ư chiêu hồn người chết:

1-30

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

樂浪之 思賀乃辛碕 雖幸有 大宮人之 船麻知兼津

Dạng huấn độc (đă chua âm):

楽浪の志賀の辛崎幸くあれど大宮人の舟待ちかねつ

Phiên âm:

Sasanami no / Shiga no Karasaki / sakikuaredo / ômiya hito no / funemachi kanetsu

Diễn ư:

Mũi đất Karasaki ở Shiga (phía tây hồ Biwa, một gối thơ), nơi có những con sóng nhẹ vỗ bờ, tuy vẫn không có ǵ thay đổi so với ngày xưa thế nhưng dù mi (mũi đất) có ngóng măi th́ cũng bằng thừa bởi v́ sẽ không bao giờ thấy lại con thuyền của các quan nhân triều Ômi cập bến mi nữa.

Tạm dịch thơ:

Bến Karasaki / Ở trong vùng Shiga / Sóng muôn đời tấp băi / Nào khác những ngày qua / Nhưng bến ơi, dù ngóng / Cũng hoài công đợi chờ / Thuyền vua quan nước cũ / Đă khuất với xa xưa.

Xin lạc đề một chút nhưng khi đọc đến đây, không khỏi liên tưởng đến hai câu thơ Việt Nam, không nhớ của ai, viết gần đây:

Thuyền ơi, có nhớ bến chăng?
Bến th́ một dạ, khăng khăng đợi thuyền.

Trong bài thơ này, Kakinomoto đă dùng thủ pháp nhân cách hóa (gijinhô) khi ông ví doi đất Karahashi như một kẻ đợi chờ, Sự chờ đợi ấy (matsu) c̣n được gợi ư qua h́nh ảnh doi đất rợp bóng tùng (matsu) xanh, ngụ ư tấm ḷng không thay đổi. Những âm s ( sasanami, Shiga, Karasaki, sakikuaredo) lập đi lập lại, đă được sử dụng một cách khéo léo, gây được ấn tượng buồn man mác trong tâm thức người Nhật.Vùng Karasaki là một doi đất nơi có vàm sông lớn nối với hồ Biwa, ngày xưa vẫn là nơi các nhân vật triều đ́nh Ômi thả thuyền nhàn du. Cảnh vật vẫn như xưa những người xưa đâu c̣n nữa, và điều đó làm cho thi nhân chạnh ḷng hoài cựu.

Đứng trên nền cố cung Ôtsu mà hồi tưởng đến những đổi thay được mất của các triều đại, Kakinomoto cảm thấy được cái mong manh và bọt bèo của kiếp người. Cùng lúc ông nhận thức được cái lâu dài, trường cữu của đại tự nhiên, vốn không hề thay đổi qua bao nhiêu biến chuyển. Như Đỗ Phủ trong bài Xuân Vọng có lần viết: “Quốc phá sơn hà tại. Thành xuân thảo mộc thâm”, (Nước tan, sông núi c̣n đây, Thành xuân tươi tốt cỏ cây một màu)[9], con người thời Man.yô cũng mang một t́nh cảm tương tự. Mũi đất Karasaki và vàm sông rộng vẫn in bóng rẻo cao Hira và ngọn hùng sơn Hieizan. Sóng bến Ốtsu vẫn vỗ nhẹ vào bờ và tùng xanh Karasaki hăy c̣n ŕ rào trong gió nhưng vua quan triều cũ đều đă sang thế giới bên kia, đâu c̣n cập bến để kể lại những chuyện ngày xưa!

Sau đây là bài thơ biệt ly mà Kakinomoto viết ra để từ giă vợ thứ ở Iwami để trở lại kinh đô, một trong 2 bài hanka (1-132 và 1-133) cho một trường ca nhan đề Iwami no umi (1-131, Biển Iwami):

2-133

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

小竹之葉者 三山毛清尓 乱友 吾者妹思 別来礼婆

Dạng huấn độc (đă chua âm):

笹の葉はみ山もさやにさやげども我れは妹思ふ別れ来ぬれば

Phiên âm:

Sasa no ha wa / miyama mo saya ni / sayagedomo / ware wa imo omou / wakarekinureba /

Diễn ư:

Trên con đường ṃn trong núi sâu, khi đang vượt núi, tuy nghe tiếng lá trúc con xào xạc, th́ thào trong gió, ḷng anh vẫn không dao động v́ chỉ có h́nh ảnh người vợ trẻ đang chiếm trọn tâm hồn anh thôi. Anh chưa sống với em cho thỏa ḷng mà đă phải chia tay.

Tạm dịch thơ:

Vượt núi, đường ṃn sâu / Trong gió, trúc lao xao / Nhưng ḷng anh chỉ nhớ / Bóng dáng em hôm nào / Bên nhau sống chưa thỏa / Chia tay ḷng thêm đau.

Về cách huấn độc câu thứ 3 th́ có hai thuyết. Thuyết chua thành âm midaredomo và thuyết chua thành âm sayagedomo. Nếu đọc là midaredomo th́ thiên về thị giác, c̣n đọc sayagedomo th́ thiên về thính giác. Midaredomo ư nói cảnh lá trúc lay động trên con đường núi (cảnh đẹp) làm ḷng ḿnh dao động c̣n sayagemodo ư nói tiếng lá trúc xào xạc (âm thanh quyến rũ) lôi cuốn ḿnh. Tuy nhiên tâm hồn ḿnh bây giờ chỉ đầy ắp h́nh ảnh người vợ trẻ v́ hai đứa mới sống bên nhau chưa được bao lâu mà đă phải chia ĺa. Đối với người Nhật, họ xem những âm thanh bắt đầu với âm sa hay ya rồi mi như sasa, saya, sayage, miya, midare lập đi lập lại, luyến láy với nhau gây nên một hiệu quả âm thanh và nhịp điệu đặc biệt cho bài thơ.

Thời Kakinomoto, việc đi lại rất là khó khăn. Khi ông được bổ làm quan ở vùng Iwami (nay thuộc tỉnh Shimane phía biển Nhật Bản), phải để vợ con lại kinh đô và đi một ḿnh. Để dịu bớt cô đơn, ông đă lấy thêm một người vợ khác ở nơi phó nhậm. Ở đây có lẽ là bà tên là Yosami no Otome mà lịch sử biết đến. Do đó, khi được triệu về kinh th́ ông bắt buộc để bà ở lại địa phương Iwami và thông thường, ấy là một cuộc chia ly vĩnh viễn. Ta hiểu tại sao con người đa sầu đa cảm ông không khỏi day dứt, đau đớn, ngoáy đầu nh́n lại với nỗi tiếc thương khi vượt qua ngọn núi phân chia hai miền. T́nh cảm đó từng được tŕnh bày trong bài chôka đi trước (bài 2-131).

Sau đây là 3 bài thơ thuộc loại banka (văn ca), thương khóc người thiếp yêu ở Karu no ichi mới qua đời, gồm một chôka (2-207) và hai tanka (2-208 và 2-209), được tŕnh bày liên tiếp với nhau:

2-207

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

天飛也 軽路者 吾妹兒之 里尓思有者 懃 欲見騰 不已行者 入目乎多見 真根久徃者人應知見 狭根葛 後毛将相等 大船之 思憑而 玉蜻 磐垣淵之 隠耳 戀管在尓 度日乃 晩去之如 照月乃 雲隠如 奥津藻之 名延之妹者 黄葉乃 過伊去等 玉梓之使之言者 梓弓 聲尓聞而 [一云 聲耳聞而] 将言為便 世武為便不知尓 聲耳乎 聞而有不得者 吾戀 千重之一隔毛 遣悶流 情毛有八等 吾妹子之 不止出見之 軽市尓 吾立聞者 玉手次 畝火乃山尓喧鳥之 音母不所聞 玉桙 道行人毛 獨谷 似之不去者 為便乎無見 妹之名喚而 袖曽振鶴 [一云 名耳聞而有不得者]

Dạng huấn độc (đă chua âm):

天飛ぶや軽の道は 我妹子が 里にしあれば ねもころに 見まく欲しけど やまず行かば 人目を多み 数多く行かば 人知りぬべみ さね葛 後も逢はむと 大船の 思ひ頼みて 玉かぎる岩垣淵の 隠りのみ 恋ひつつあるに 渡る日の 暮れぬるがごと 照る月の 雲隠るごと 沖つ藻の 靡きし妹は 黄葉の 過ぎて去にきと 玉梓の 使の言へば 梓弓 音に聞きて [一云音のみ聞きて] 言はむすべ 為むすべ知らに 音のみを 聞きてありえねば 我が恋ふる 千重の一重も 慰もる心もありやと 我妹子が やまず出で見し 軽の市に 我が立ち聞けば 玉たすき 畝傍の山に 鳴く鳥の 声も聞こえず 玉桙の 道行く人も ひとりだに 似てし行かねばすべをなみ 妹が名呼びて 袖ぞ振りつる [一云 名のみを聞きてありえねば]

Phiên âm:

Ama tobu ya / Karu no michi wa / wagimo ko ga / sato ni shiareba / ne mo koro ni / mimaku hoshikedo / yamazu yukaba / hitome wo ohomi / maneku yukaba / hito shirinu bemi / sanekazura / nochi to awamu to / ohobune no / omohi tanomite / tamakagiru / Iwagakifuchi no / komori nomi / kohi tsutsu aru ni / wataru hi no / kurenuru ga goto / teru tsuki no / yuki gakuru goto / okitsu mo no / nabikishi imo wa / momijiba no / sugite iniki to / tamazusa no / tsukahi no ieba / azusayumi / otonikikite / iwamu sube / semu sube shirani / oto nomi wo / kikiteari eneba / wa ga kofuru / chie no hitohe mo / nagusamuru / kokoro mo ariya to / wagimoko ga / yamazu idemishi / Karu no ichi ni / wa ga tachi kikeba / tamadasuki / Unebi no yama ni / naku tori no / kowe mo kikoezu / tamahoko no / michiyuku hito mo / hitori da ni / niteshi yukaneba / sube wo nami / imo ga na yobite / sode so furitsuru.   

Diễn ư:

V́ trên con đường Karu có thôn xóm mà người vợ hiền của ta đang sinh sống nên lúc nào ta cũng nôn nóng đi về nơi đó, mong sao gặp nàng. Thế nhưng, đi lại thường xuyên th́ thiên hạ nḥm ngó và biết được mối quan hệ của chúng ta, sinh ra chuyện nói ra nói vào. Do đó, trong khi chờ đợi cơ hội sống lâu dài bên nhau, ta chỉ ấp ủ t́nh thương yêu trong ḷng không cho ai hay. Nào ngờ em như ánh mặt trời đă đi từ hướng đông qua hướng tây rồi cuối ngày lại ch́m khuất sau rặng núi. Hay là em cũng giống như ánh trăng trên bầu trời đă ẩn ḿnh sau lớp mây che. Người nhà vừa đưa tin cho biết người vợ đầu gối tay ấp của ta vừa mới vĩnh viễn ra đi. Nghe tin dữ, ngỡ ḿnh ở trong cơn ác mộng, ta bàng hoàng không biết phải làm ǵ và nói ǵ đây. Để cho vơi đi một phần trong muôn vàn nỗi nhớ thương, ta mới đến t́m đến Karu no ichi, khu chợ nơi xưa kia vợ ta vẫn thường hẹn gặp ta. Lắng tai chỉ nghe tiếng chim kêu trên núi Inebi chứ nào có được giọng nói của người vợ yêu dấu. Trên đường đi, nào thấy một ai có dung mạo tương tự như nàng. Không biết làm sao để thỏa ḷng yêu, ta chỉ biết cất tiếng gào tên và vẫy tay áo đễ gọi người.

Tạm dịch thơ:

Làng vợ yêu anh ở / Trên đường đi Karu / Ḷng anh vẫn thương nhớ / Muốn gặp em không thôi / Nếu qua qua lại lại / Anh sợ tiếng người đời / T́nh riêng đành phong kín / Đợi ngày sống chung đôi / Ngờ đâu tin dữ tới / Nghe xong luống rụng rời / Em như mặt trời sáng / Lặn ở hướng tây rồi / Em như vầng nguyệt tỏ / Khuất sau đám mây trời / Từ khi em đă mất / Ta hết đứng lại ngồi / Để vợi ḷng thương nhớ / (Mới băng núi vượt đồi) / T́m về Karu cũ / Nơi xưa ḿnh hẹn ḥ / Chỉ nghe chim rừng hót / Đâu tiếng nói câu cười / Trên đường toàn khách lạ / Nào khuôn mặt em tôi! / Phất tay ta vẫy măi / Gào tên đến nghẹn lời.  

Trong bài thơ, Kakinomoto đă sử dụng thật nhiều “chữ gối đầu” (makura kotoba) rất khó dịch nên chúng tôi đành bỏ qua và đó là một thiệt tḥi lớn cho việc thưởng thức. Ví dụ cụm từ ama tobu ya (bay bổng lên trời) để chỉ địa danh Karu (c̣n có nghĩa là nhẹ) hay momijiba (lá đổi màu thành đỏ vào mùa thu) để tô điểm cho từ sugite ita (việc đă trôi qua, sự biến đổi). Karu no ichi vốn là địa danh, chỉ một thành phố khá lớn của nước Yamato thời xưa. 

Bài thơ dài này có thể chia làm 3 phần:

Phần 1 từ câu Ama tobu ya nói sự t́nh gặp gỡ khó khăn và ḷng ước mơ xây dựng tổ ấm với nhau lúc người yêu c̣n sống. Phần 2 từ câu Wataru hi bày tỏ sự kinh ngạc, bàng hoàng khi nghe tin nàng mất cũng như t́nh cảm bi ai thống thiết của ḿnh. Phần 3 từ câu Wagimo ko cho đến cuối nói đến cảnh trở về Karu no ichi, chốn hẹn ḥ xưa để t́m lại khuôn mặt và giọng nói của nàng nhưng vô vọng, đành gào khóc tên nàng và phất tay vẫy gọi. T́nh cảm dần dần lên cao điểm và như bùng nổ ra trong câu cuối. Theo nhà nghiên cứu Uemura Etsuko, hoàn cảnh của Kakinomoto lúc đó cũng giống như của nhân vật Sumi Ryuunosuke khi khóc người vợ trẻ là cô Rui trong tiểu thuyết Tajô takon ( Đa t́nh đa hận ) của nhà văn thời Meiji là Ozaki Kôyô (1867-1903)

2-208

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

秋山之 黄葉乎茂 迷流 妹乎将求 山道不知母 [一云 路不知而]

Dạng huấn độc (đă chua âm):

秋山の黄葉を茂み惑ひぬる妹を求めむ山道知らずも [一云道知らずして]

Phiên âm:

Akiyama no / momiji wo shigemi / madohinuru / imo wo motomemu / yamaji shirazu mo.

Diễn ư:

Lá đỏ mọc dày khoe sắc trong núi thu.(Ở đây lá đỏ lại viết với hai chữ Hán hoàng diệp nhưng cùng đọc với âm kôyô như trường hợp hồng diệp). Ta muốn đi kiếm người vợ đi hái lá thu có lẽ lạc lối chưa về nhưng tiếc làm sao, ta cũng không biết đường đi trong núi nên không t́m ra nàng.

Tạm dịch thơ:

Em đi vào trong núi / Rừng thu lá đỏ chen / Lạc hướng, không về nữa / Lo lắng, anh đi t́m / Mịt mùng nào thấy lối. (Làm sao gặp, hỡi em?)

Người vợ của Kakinomoto sau khi chết có lẽ đă được chôn trong núi nhằm lúc mùa thu đă tô sắc đỏ lên khắp núi đồi. Ông ví bà như một kẻ đi hái lá thu trong núi rồi lạc hướng, t́m không ra lối về, để mỹ hóa cái chết của bà.

2-209

Nguyên tác (dạng Man.yôgana):

黄葉之 落去奈倍尓 玉梓之 使乎見者相日所念

Dạng huấn độc (đă chua âm):

黄葉の散りゆくなへに玉梓の使を見れば逢ひし日思ほゆ

Phiên âm:

Momiji ba no / chiriyuku nae ni / tamazu sa no / tsukai wo mireba / ahishi hi omohoyu

Diễn ư:

Khi lá đỏ rơi và ngập đầy trong núi là lúc vợ ta qua đời cho nên khi đọc cái tin dữ do người đưa thơ mang lại, ta nhớ đến kỹ niệm bên nhau với nàng lúc sinh thời mà ḷng buồn thương vô hạn.   

Tạm dịch thơ:

Người bỏ ta ra đi / Vừa khi thu đổ lá / Buồn trông sắc vàng rụng / Rồi nh́n người đưa tin / Nhớ lúc ḿnh kề bên / Thương một trời kỷ niệm.

Cụm từ tamazusa có nghĩa là cây gậy đẹp, được sử dụng như một từ tu sức cho tsukai (người đưa tin) v́ tama có nghĩa là đẹp và ngày xưa các sứ giả đều cầm gậy bằng gỗ tử (tsusa).

Sau đây là bài thơ Kakinomoto đă làm khi đi qua nới trú ngụ ngày xưa của Hoàng tử Karu (Karu no Ôji), sau sẽ là Thiên hoàng Kôtoku (trị v́ 6454-654)

1-48

Nguyên văn (dạng Man,yôgana):

東 野炎 立所見而 反見為者 月西渡

Dạng huấn độc (đă chua âm):

東の野にかぎろひの立つ見えてかへり見すれば月かたぶきぬ

Phiên âm:

Himugashi no / no ni kagirohi no / tatsumiete / kaherimi sureba / tsuki kata bukinu.

Diễn ư:

Ở chân trời phía đông sắc đỏ đă nhuộm, lúc này b́nh minh như hiện ra. Ngoảnh lại bầu trời ở phía tây th́, ô ḱa, vầng trăng đang lặn về sau ngọn núi.

Tạm dịch thơ:

Nơi chân trời hướng đông / Ngày đă nhuộm sắc hồng / Phương tây nh́n ngoái lại / Ô ḱa sao lạ lùng / Trăng vàng đang xế bóng / Lặn về núi xa xăm.   

Bài thơ này Kakinomoto làm ra khi ông đi chơi vùng Akino, chốn xưa kia Hoàng tử Karu trú ngụ. Đây là một trong những bài hanka viết tiếp sau bài chôka mang số 1-45. Himugashi no no (Cánh đồng hướng đông) dùng để chỉ chính cánh đồng này, nơi Kakinomoto từng có dịp tháp tùng Thái tử Kusakabe, cha của Karu đi săn bắn và qua đêm ở hành cung ngoài đồng. Ngày nay ông lại có dịp đi theo người con tức Hoàng tử Karu nghỉ chân tại cánh đồng này. Do đó ông chạnh ḷng hoài cựu, xem những cuộc thay đổi trong cuộc đời giống như sự đổi chỗ của mặt trời và mặt trăng (ám chỉ những bậc tôn quí như thái tử và hoàng tử) cùng trong một đêm. Nữ thi sĩ Yosano Akiko cũng đă chịu ảnh hưởng của câu thơ này khi nà viết “Na no hana ya / tsuki wa higashi ni / hi wa nishi ni” (Hoa cải dầu và vầng trăng ở phương đông, trong khi mặt trời ở hướng tây) nhưng phải nói rằng câu thơ của bà thiếu tính cách trữ t́nh của Kakinomoto.

Để kết thúc phần viết về Kakinomoto, xin giới thiệu thêm một bài tanka khác của ông  cũng bày tỏ ḷng hoài cựu đối với kinh đô Ômi (bài 3-266):

3-266

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

淡海乃海 夕浪千鳥 汝鳴者 情毛思<>尓 古所念

Dạng huấn độc (đă chua âm):

近江の海夕波千鳥汝が鳴けば心もしのにいにしへ思ほゆ

Phiên âm:

Afumi no umi / Yufunami chidori / naganakeba / kokoro mo shi no ni / inishie omoyu

Diễn ư:

Trên vùng Ômi bên bờ hồ Biwa (ngày xưa người ta gọi hồ lớn là biển hay umi) không biết màn đêm buông xuống tự lúc nào. Hỡi những con chim óc cau (chidori), một loài chim di, đang lượn trên mặt hồ gợn sóng kia ơi! Xin các ngươi đừng cất lên tiếng hót buồn thảm, không thôi ḷng ta sẽ phải chạnh nhớ thời vàng son ngày xưa của kinh đô.

Tạm dịch thơ:

Màni chiều chợt buông mau / Trên cánh đồng Ômi / Nhắn cùng lũ chim di / Hót gieo buồn mà chi / Làm chạnh nhớ triều xưa / Phế hưng qua mấy lớp.

Sau bài chôka với lời lẽ hùng hồn và bi tráng nói về kinh đô Ômi nay đă trở thành hoang địa, bài tanka này bày tỏ ḷng cảm khái và hoài cựu của tác giả. Ông không ngỏ cùng ai mà chỉ nói chuyện với lũ chim trời là giống óc cau đang bay lượn trên sóng hồ Biwa. Lũ chim óc cau (chidori), những con chim trời vô tâm, có tiếng hót thảm thiết, làm cho tác giả, trong một buổi chiều đứng bên hồ, cảm thấy hết sức cô đơn. (Đàn chim óc cau này cũng là bạn đường của chàng Genji trên bước đường lưu đày ra vùng biển Suma v́ một mối t́nh bất chính với cô vợ hứa hôn của Thiên hoàng). Cùng với màn đêm sụp tối, h́nh ảnh thời vàng son của chốn cố đô lại hiện về. Để ư là hai câu đầu của bài thơ là hai danh từ phúc hợp (Afumi no umi nói về hồ Ômi bao la như biển và Yufuyami chidori chỉ chim óc cau khi trời sập tối). Cách sử dụng câu không có động từ như vậy có hiệu quả cô đọng ư tưởng để sau đó buông ra và dàn trải trong câu cuối, một câu 8 âm nghĩa là thừa một âm (Inishie no omoyu = nhớ lại thời xưa).

 

Tiết X: Thơ Takechi no Kurohito

Nhà thơ Takechi no Kurohito 高市黒人(từ đây sẽ gọi tắt là Kurohito) là người đồng thời đại với Kakinomoto và cũng như ông, một viên quan phẩm trật thấp kém nhưng  tài thơ cao. Ông du hành nhiều nên trong thơ ông đầy h́nh ảnh về thiên nhiên và cách miêu tả thiên nhiên của ông khá độc đáo. Đề tài và lối diễn đạt của ông phần nhiều là khô héo, đạm bạc và buồn thương, phản ánh nhân cách tác giả. Ông chỉ viết tanka và c̣n để lại 18 bài.

Xin tuyển dịch 3 bài thơ của ông (bài 3-270, 3-271 và 3-272) thuộc loại tạp ca có tính ki lữ (du hành) và vọng hương (nhớ quê):

3-270:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

客為而 物戀敷尓 山下 赤乃曽<><> 奥榜所見

Dạng huấn độc (đă chua âm):

旅にしてもの恋しきに山下の赤のそほ船沖を漕ぐ見ゆ

Phiên âm:

Tabi ni shite / monokohoshiki ni / yamashita no / ake no sohobune / oki ni kogu miyu     

Trên đường lữ hành, làm sao không nhớ quê hương (kinh đô) nhưng không ǵ cảm động bằng khi nh́n thấy dưới chân núi con thuyền (nhà quan – okami no fune) sơn đỏ đang lướt sóng ra khơi để trở về kinh đô.

Tạm dịch thơ:

Trên bước đường lữ thứ / Nào nguôi dạ nhớ quê / Nhưng làm ta cảm động / Là phía núi xa kia / Thuyền quan sơn đỏ thắm / Đang vượt sóng quay về. 

Yamashita (dưới chân núi) có thể là một chữ gối đầu, tu sức cho aka (đỏ) nhưng vừa có nghĩa là chân núi. C̣n sohobune là thuyền sơn đỏ của nhà quan, thuyền công vụ. H́nh ảnh tương phản của con thuyền sơn đỏ và mặt nước xanh là cái đẹp mà Kurohito ca ngợi, nhưng trước đó, ông muốn bày tỏ nỗi cô đơn và ḷng buồn man mác của người lữ khách v́ phải xa quê (kinh đô).

3-271:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

櫻田部 鶴鳴渡 年魚市方 塩干二家良之 鶴鳴渡

Dạng huấn độc (đă chua âm):

桜田へ鶴鳴き渡る年魚市潟潮干にけらし鶴鳴き渡る

Phiên âm:

Sakurada he / tazu naki wataru / Ayuchigata / Shiho hi ni kerashi / tazu naki wataru/

Diễn ư:

Những con chim hạc vừa kêu vừa bay về hướng cánh đồng thôn Sakura. Phía ấy là băi cạn của vùng Aichi (Ayuchi), chắc nước triều đă rút cho phép lũ chim hạc cùng nhau đi kiếm mồi nên chúng mới cất tiếng kêu to như vậy.

Tạm dịch thơ:

Hạc vừa kêu vừa bay / Sakura xa hút / Phải chăng bờ Aichi / Nước triều vừa mới rút / (Băi giờ đây đă lộ) / Hạc vừa kêu vừa bay.

Thôn Sakura thuộc vùng Oware (Aichi, Nagoya bây giờ). Ở đó có băi biển tên là Aichi (viết theo lối cổ là Ayuchi). Bài thơ này về mặt không gian lẫn thời gian đều gieo cho ta một ấn tượng rộng răi, to lớn. Tác giả đă đi ngang qua băi biển này khi nước triều chưa rút để về hướng đông. Sau đó, ông thấy ngược chiều với ḿnh là một bầy chim hạc hướng về phía tây, cánh đồng thôn Sakura, vừa bay vừa kêu. Ông tưởng tượng rằng lúc này nước triều đă rút xuống, nhiều mồi (tôm, cá, vi sinh vật…) lộ ra nên chim mới kéo đến đông như vậy. Lúc ấy, chắc ông đang ngước mắt lên trời nh́n những cánh chim đang sải rộng. Câu thứ 2 và câu thứ 5 cho ta cảm tưởng không chỉ một đàn chim thôi đâu mà có rất nhiều đàn chim như vậy. Cùng lúc, khoảng thời gian triều lên, triều xuống cũng kéo rất bài, chứng tỏ tác giả đă đứng khá lâu giữa thiên nhiên.

Thiên nhiên rộng răi, chim hạc cao quí, bài thơ có phẩm cách cao sang. Những âm ta (9 chỗ) và ka (5 chỗ) gợi cho độc giả Nhật Bản một t́nh cảm sảng khoái.

Về cảnh hạc bay trên băi biển, ta cũng nhớ đến một giai tác khác của nhà thơ Akahito (Yamabe no Akahito). Xin xem phần nói về Akihito trong những trang sau.

3-272:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

四極山 打越見者 笠縫之 嶋榜隠 棚無小舟

Dạng huấn độc (đă chua âm):

四極山うち越え見れば笠縫の島漕ぎ隠る棚なし小舟

Phiên âm:

Shihatsuyama / uchikoe mireba / Kasanuhi no / shima kogikakuru / tana nashi obune

Diễn âm:

Rốt cuộc vượt qua được núi Shihatsu, từ trên cao ta thử nh́n chung quanh th́ vừa lúc ấy ở nơi xa kia, thấp thoáng một chiếc thuyền trơ trọi không mui đang chèo tiến về bóng núi trên ḥn đảo Kasanui.

Tạm dịch thơ:

Vượt núi Shihatsu / Đưa mắt nh́n ngoài khơi / Kasanui đảo ấy / Bóng một chiếc thuyền côi / Cố chống chèo về bến / Thấp thoáng phía xa xôi.

Địa danh núi Shihatsu vẫn chưa biết nằm ở đâu. Nội dung của bài thơ này chỉ có một nhận xét hoàn toàn khách quan trước khung cảnh thiên nhiên rộng lớn và yên lặng chứ không gửi gắm tâm tư ǵ vào đó cả. Tác giả đă cho ta thấy sự chính xác như đang chụp một bức ảnh trong việc mô tả ngoại giới của ông.

 

Tiết XI: Thơ Naga no Imiki Okimaro

Về tác giả Naga no Imiki Okimaro長忌寸奥麿, không ai biết ǵ về thân thế nhưng có lẽ ông cũng thuộc hàng quan lại, ra đời sau Kakinomoto no Hitomaro một ít lâu. Xin tŕnh bày 4 bài tanka của ông (1-57, 3-265, 16-382, 16-383):

1-57:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

引馬野尓 仁保布榛原 入乱 衣尓保波勢 多鼻能知師尓

Dạng huấn độc (đă chua âm):

引間野ににほふ榛原入り乱れ衣にほはせ旅のしるしに

Phiên âm:

Hikumano ni / nihofu harihara / irimidare / koromo nihowase / tabi no shirushi ni

Diễn ư:

Hỡi các vị trong đoàn tùy tùng ngự giá. Chúng ta đang ở trên cánh đồng Hikuma, nơi có nhiều cây hari (có bản viết là hagi) nở hoa đẹp đẽ (cây hari là cây trăn, một loại cây thuộc họ dâu (kuwa), c̣n hagi là cây thưu, một trong bảy loại cỏ mùa thu có hương thơm). Mọi người đều hăy vào đấy cho áo xống nhuộm màu (và ướm hương thơm) để kỹ niệm chuyến tuần du này.(Bài thơ dịch theo ư hagi)

Tạm dịch thơ:

(Hỡi các vị tùy giả) / Qua đồng Hikuma / Nơi cây nở hoa đẹp / (Hương thơm tỏa gần xa) / Vào đây cho áo xống / Nhuộm màu, tẩm hương hoa / Kỹ niệm theo xa giá / Chuyến tuần du (miền xa).

Lời chú thích cho biết năm 702, Hoàng hậu Jitô sau khi lên ngôi và nhường ngôi đă trở thành thái thượng thiên hoàng, đă tổ chức một cuộc ngự du với triều thần ở vùng Mikawa. Thuyết của tăng Keichuu cho rằng cánh đồng Hikuma nằm ở Mikawa (thuộc  Nagoya bây giờ) trong khi nhà nghiên cứu Mabuchi cho là nó ở Tôtômi. Cuộc tranh căi này đối với độc giả ngoại quốc chúng ta th́ không có ư nghĩa ǵ đặc biệt. Đáng lưu ư chăng là việc có thuyết cho rằng chuyến ngự du và phong cảnh dược đưa ra chỉ là sản phẩm tưởng tượng chứ không hề được thực hiện.

Thời Man.yô người đi đường thường nhuộm áo (suriirokoromo) để kỹ niệm chuyến đi như ngày nay người ta đóng dấu vào bưu thiếp hay hộ chiếu và đây có lẽ là lời của một ông quan tháp tùng muốn bày tỏ ḷng yêu và cảm xúc đối với thiên nhiên của ḿnh.

3-265:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

苦毛零来雨可 神之埼 狭野乃渡尓 家裳不有國

Dạng huấn độc (đă chua âm):

苦しくも降り来る雨か三輪の崎狭野の渡りに家もあらなくに

Phiên âm:

Kurushiku mo / Furikuru ame ka / Miwanosaki / sano no watari ni / ihe mo aranaku ni/

Diễn ư:

Sao mưa tầm tă như vậy, khổ ơi là khổ. Chỗ bến đậu thuyền ở Sano vùng mũi đất Miwagasaki này không có lấy một nóc nhà để chỗ trú mưa.

Tạm dịch thơ:

Khổ ôi chao là khổ! / Trời cứ mưa tầm tă / Ở doi đất Miwa / Trên bến Sano đó / Không cả một nóc nhà / Để tạm nấp qua mưa.

Nhà thơ vịnh cảnh khốn khổ của người bộ hành gặp cơn mưa lớn không t́m ra một mái nhà để trú mưa. Lời thơ đơn sơ mộc mạc, nh́n ngoại cảnh thấy sao nói vậy, không có một chút tu sức. Thế nhưng khung cảnh quạnh vắng ấy lại gieo được mối cảm động cho con người. Hiện tượng này giải thích được bằng phạm trù mỹ học mà người Nhật thường gọi là mono no aware (Mà thật thế! Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu).

Sano và Miwagasaki là những địa danh một vùng ven biển trong xứ Kii, một bán đảo (nay là tỉnh Wakayama). Trong Shin-Kokin ( gọi tắt Tân Cổ Kim Ḥa Ca Tập), nhà thơ Fujiwara no Teika cũng có bài thơ đă dùng thơ Naga no Imiki như một bài thơ gốc (honka), ghi lại cái hoang vắng, tịch mịch của bến Sano:

駒とめて袖うち払うかげもなし佐野の渡りの雪の夕暮れ

Koma tomete / Sode uchiharau / Kage mo nashi / Sano no watari no / Yuki no yuugure /

Qua đây ngựa dừng bước / Quạnh vắng không bóng người / Sano trên bến nuớc / Chiều tuyết xuống lâu rồi.

16-3824:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

刺名倍尓 湯和可世子等 櫟津乃 桧橋従来許武 狐尓安牟佐武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

さし鍋に湯沸かせ子ども櫟津の桧橋より来む狐に浴むさむ

Phiên âm:

Sashi nabe ni / yu wakase kodomo / ichihitsu no / ebashi yori komu / kitsune ni amusamu /

Diễn ư:

Hỡi các cô cậu bé con. Hăy đun nước lên bằng cái nồi có cán. C̣n chồn kêu “kon kon” trên cây cầu gỗ bách (hinoki) ở Ichihitsu đang đến nơi. Dội nước sôi lên nó đi.

Tạm dịch thơ:

Hỡi cô cậu bé con / Đem nồi nước mà đun / Ḱa trên cầu gỗ bách / Chồn đang kêu lon con / Sắp ḅ đến đây đó / Dội cho nó hết hồn!

Đây là một bài thơ làm ra để mua vui trong lúc yến tiệc. Trong những dịp đó, người ta hay ra đề tài về tiếng gơ vào chén, bát, bầu rượu gây âm thanh (như “kon, kon” ở đây) và kết hợp nó với sông, với cầu vv…là những ǵ chẳng liên quan đến nó và nhà thơ phải biết ứng biến để làm ra thơ ngay lập tức. Tṛ chơi này cũng tương tự như thơ tếu hoặc chuyện tếu (rakugo) bây giờ. Người Nhật có h́nh thức “rakugo sandai-banashi” có nghĩa là đưa ra 3 đề tài (sandai) để kể thành chuyện (hanashi) đi đến một kết luận đột ngột (rakugo) để mua vui. Ví dụ họ thách người làm thơ làm sao kết hợp được 3 thứ không ăn nhập vào nhau như kôri (băng, nước đá), futon (nệm giường, nệm ngồi) và kumo (mây) chẳng hạn.

16-3831:

Nguyên văn (dạng Man.yôgana):

池神 力土舞可母 白鷺乃 桙啄持而飛渡良武

Dạng huấn độc (đă chua âm):

池神の力士舞かも白鷺の桙啄ひ持ちて飛び渡るらむ

Phiên âm:

Ikegami no / rikishimahi kamo / shirasagi no / hoko kuhimochi de / tobiwataru ramu

Diễn ư:

Coi ḱa, có phải những con c̣ trắng kia đang bắt chước điệu múa của thần lực sĩ trên mặt ao (hồ) hay không đấy. Sao chúng lại biết ngậm nhánh cây và bay lượn tài t́nh như thế nhỉ?

Tạm dịch thơ:

Giống kim cương lực sĩ / Thần trấn giữ mặt hồ / Áo trắng, tay múa kích / (Oai dũng thật vô bờ) / Cũng ngậm nhành bay lượn / Khen cho mấy chú c̣.

Thần lực sĩ đây là Niô (Nhân vương) hay kim cương lực sĩ trong thần thoại Phật giáo.

Họ biết cầm vũ khí như cây mâu (hoko) để múa. Những con c̣ trắng (shirasaki) này cũng biết giang cánh bay như áo trắng bay, chẳng khác nào điệu múa của các vị thần. Không khỏi thấy lối so sánh này có đôi chút hài hước. Về sự tích thần ao hồ (ikegami) th́ không rơ cho lắm, chỉ biết trong xứ Yamato có một địa danh tên là Ikegami.


 

[1] Wa ga se no ga / Kubeki yoi nari / Sasa ga ni no / Kumono okonai / Koyoi shirushi mo.

[2] 妹が家も継ぎて見ましを大和なる大島の嶺に家もあらましを [一云 妹があたり継ぎても見むに] [一云 家居らましを] Imo ga ie mo / Tsugite mimashi wo / Yamato naru / Ôshima no ne ni / Ie mo amashi wo ?

[3] Xin xem thêm đoạn 19-Bốn mùa thay đổi, trong Tsurezuregusa (Buồn buồn phóng bút), tập tùy bút thời trung cổ của pháp sư Kenkô (Nguyễn Nam Trân dịch).

[4] Về Hoàng thái tử Furuhito, cha của Hoàng hậu Yamato, số phận ông rất bi đát. V́ mẹ thuộc họ Sôga, ông không được nối ngôi Jomei sau khi chàng rễ và em trai là Tenji diệt cả ḍng này. Về sau, dù đă xuất gia, ông lại bị kết tội mưu phản v́ chống lại cuộc cải cách Taika của Tenji và bị hành quyết cùng đồng bọn năm 645, thê tử đều chết theo và ông thành ra tuyệt tự. Đây là một cuộc tương tàn giữa thân tộc v́ tranh chấp quyền hành, một điều thường thấy trong lịch sử Nhật Bản.

[5] Aki konu to / me ni wa sayakani / mienedomo / kaze no oto ni zo odekarenuru (Khi mùa thu lại về / Làn gió thu t́m đến / Tuy mắt không nh́n thấy / H́nh dung như thế nào /Những tiếng gió không thôi / Đủ làm ta kinh ngạc.

[6] Bản Uemura Etsuko khác nhiều: Aki no ta no / Homuki no yori no / Kotoyorini / Kimi ni yori nana / Kochitakari tomo.

[7] Hai âm aka trong akatoki (b́nh minh) c̣n có nghĩa là màu đỏ.

[8] Đường Thi Trích Dịch (1958) của Đỗ Bằng Đoàn Bùi Khánh Đản, nhà xuất bản Văn Học tái bản năm 2006, trang 481.

[9] Bùi Khánh Đản dịch, sách đă dẫn, trang 819.

 

 

.........................

< Bản bổ sung mới nhất : July 20th 2010 >

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của dịch giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com