MORI ÔGAI, NHÀ VĂN VÀ NHÀ TƯ TƯỞNG 
KHAI SÁNG THỜI MINH TRỊ DUY TÂN.

Nguyễn Nam Trân

Mori Ogai (ảnh trích từ Sigma Shin Kokugo Binran, 2002)

Văn học Nhật Bản trong giai đoạn sau của thời Minh Trị (1868-1926) được đại diện bằng những nhân vật hoặc đứng bên trong hay bên ngoài nhóm “Bạn Bút Nghiên” (Kenyuusha, Nghiễn Hữu Xă), một văn đoàn với văn phong cổ điển kết hợp lại từ năm 1885. Ba người đứng đầu Kenyuusha là Ôzaki Kôyô (Vĩ Kỳ, Hồng Diệp, 1867-1903), Yamada Bi.myô (Sơn Điền, Mỹ Diệu, 1868-1910) và Ishibashi Shi.an (Thạch Kiều, Tư Án, 1867-1927). Đứng ngoài nhóm và tượng trưng cho trào lưu văn học mới có Mori Ôgai (Sâm, Âu Ngoại, 1862-1922), Shimazaki Tôson (Đảo Kỳ, Đằng Thôn, 1872-1943) và Kitamura Tôkoku (Bắc Thôn, Thấu Cốc, 1868-1894).

Thế nhưng các nhà viết văn học sử đều nh́n nhận chỉ có Mori Ôgai, tuy xuất hiện về sau, mới là cái bóng lớn cùng với Natsume Sôseki đă bao trùm lên văn học suốt thời mở nước, từ Minh Trị măi đến Đại Chính.

Bước đầu của Mori Ôgai (Sâm, Âu Ngoại, 1862-1922):

Mori Ôgai người Shimane, tỉnh duyên hải nh́n ra biển Nhật Bản, sinh ra trong một gia đ́nh đời đời làm nghề thầy thuốc cho lănh chúa, lớn lên theo truyền thống đó, vào Đại Học Đế Quốc Tôkyô học y khoa, Ông tốt nghiệp năm 1881 và trở thành quân y của lục quân.Năm 1884, ông được gửi đi học về khoa vệ sinh ở Berlin (Đức).

Khi mới từ nước ngoài về (1888) Mori Ôgai đă nhận thấy trong khi Âu Châu đă bước vào thời cận kim th́ Nhật Bản hăy c̣n ở trong thời tiền cận kim nên đă ra sức hoạt động để kéo văn học Nhật tiến lên mau.Ông và em trai, Mori Atsujirô (Sâm, Đốc Thứ Lang), lập ra Shiragami-zôshi (nguyệt san văn học Bờ Giậu, 1889) để “định hướng cho một ḍng văn học đang chảy buông tuồng”. Ông đang xúc tiến hoạt động có tính chất khai sáng cho văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung th́ v́ bổn phận, phải đ́nh bản tạp chí để tùng quân tham gia trận chiến tranh Nhật-Thanh (1894-95). Ông đă đăng trên tạp chí đó phần đầu “Người ứng khẩu thành thơ” (Sokukyô Shijin, Tức Hứng Thi Nhân, 1902), tác phẩm rất ăn khách do ông dịch từ Improvisatoren (1835), tiểu thuyết trường thiên của văn hào Đan Mạch Andersen nói về cuộc đời ái t́nh và sự nghiệp nhà thơ Ư Antonio, người phải đối đầu với nhiều nghịch cảnh trong t́nh yêu và t́nh bạn.

Về mặt sáng tác, ông đă viết tác phẩm đầu tay Maihime (Nàng vũ công, 1890) dưới h́nh thức một thiên hồi kư với lời văn thanh nhă mô tả mối t́nh giữa một sinh viên Nhật tên Ôta Toyotarô (Thái Điền, Phong Thái Lang) và nàng vũ công ba-lê (ballet dancer) nghèo tên Elise mới 16, 17 tuổi với bối cảnh thành phố Berlin cuối thế kỷ 19. Toyotarô bắt buộc phải lựa chọn giữa sự nghiệp và t́nh yêu, một được một mất. Chàng đă hy sinh t́nh yêu để đuổi theo danh vọng, về nước rồi sau đó tiếc hận khôn nguôi v́ khi vừa khám phá được bản ngă, t́m được tự do ở nước ngoài th́ đă bị ràng buộc v́ những qui luật của xă hội cũ ở quê hương Trong đời thật, Ôgai sau khi đi Đức học 5 năm trở về, có người con gái Đức cũng tên Elise theo chân ông đến Nhật. Sau đó, ông đột nhiên cưới con gái Trung Tướng Akamatsu Noriyoshi tên là Toshiko, nhưng vừa có con xong th́ họ ly hôn. Ông không hề cho biết lư do sự thất bại của cuộc hôn nhân nhưng nhiều thuyết cho rằng nó bắt nguồn từ thái độ trịch thượng của bên nhà vợ đối với gia đ́nh ông.

Văn chương trong Maihime thanh nhă, tác giả kết hợp được lối hành văn mới mẻ của Tây Phương, cùng lúc biết sử dụng Hán văn một cách điêu luyện, làm toát ra được hương vị trữ t́nh của Tây Âu cận đại. Với tác phẩm tiêu biểu nầy, Ôgai đă thật sự thổi một luồng gió mới vào văn đàn thời Minh Trị.

Cùng năm đó, ông viết Utakata no Ki (Truyện người ca kỹ) và năm sau lại cho ra đời Fumizukai (Người đưa thư). Cả ba tác phẩm nầy có đặc điểm là đều nhuốm màu t́nh cảm lăng mạn cá nhân, được giới b́nh luận gọi chung là “bộ ba tác phẩm (trilogy) viết về nước Đức” của ông.

Đặc biệt thời điểm này được đánh dấu bằng hoạt động khai sáng có tính cách tích cực của Ôgai. Tuy ông bàn luận khai sáng trong nhiều lănh vực nhưng qua việc sáng lập tạp chí văn nghệ Shiragami-zôshi (Bờ Giậu), ông đă có công mở một diễn đàn cho những cuộc bút chiến về tiểu thuyết, ngoài ra, thông qua phiên dịch, lại giới thiệu được nhiều danh tác ngoại quốc đến với độc giả Nhật Bản.

Thời sáng tác sung măn của Mori Ôgai

Sau khi góp mặt với văn đàn vào những năm Minh Trị thứ 20 (1887-97), tiểu thuyết gia Ôgai gác bút một thời gian để tiếp tục ngành quân y. Ông đă đạt được địa vị cao nhất trong nghề: Tổng cục trưởng hệ thống quân y của lục quân. Hai năm sau đó, ông viết “Nửa ngày” (Hannichi, 1909), tiểu thuyết diễn tả bằng lối văn nói với chủ đề sự xung đột giữa mẹ chồng nàng dâu, đánh dấu sự trở về với văn đàn của ḿnh, rồi từ đó sáng tác không ngừng.

Để chống đối lại chủ nghĩa tự nhiên vốn xem tính dục như trung tâm của cuộc sống con người, ông viết “Tính dục” (Vitas Sexualis, 1909) mô tả một cách không ngượng ngùng cuộc sống tính dục của nhân vật trong truyện (có lẽ là chính bản thân) từ thuở bé kể cả việc đi lại với gái làng chơi xóm chị em ở Yoshiwara.. Tác phẩm này đă bị cấm lưu hành một thời. Ông mượn chi tiết của cuộc sống chung quanh ḿnh đưa vào một số đoản thiên trong đó có “Cuộc thảo luận” (Kondankai) và “Đang Trùng Tu” (Fushinchuu, 1910). Ông c̣n viết “Tuổi Trẻ” (Seinen, 1910-11) nói về lớp thanh niên thời đó, có lẽ lấy cảm hứng từ “Chàng Sanshirô” (Sanshirô, Tam Tứ Lang) của Sôseki, một tác phẩm cũng đề cập đến tâm trạng thế hệ mới thời Minh Trị. “Ngỗng Trời” (Gan, 1911-1913) mô tả tâm lư và t́nh cảm của một thiếu nữ, O-Tama (Ngọc), con gái nhà bán kẹo, thấy bản thân gặp cảnh tù túng như lũ chim ḿnh nuôi trong lồng khi cô phải lấy Suezô, người làm nghề cho vay nặng lăi, ông chồng già mà ḿnh không thương. Okada, anh sinh viên trường thuốc hàng ngày đi đến trường qua dưới cửa nhà cô trên con dốc mang cái tên định mệnh là… Muenzaka (Dốc Vô Duyên) mới là người cô thầm yêu nhưng những run rủi của cuộc đời đă làm họ không bao giờ được gần nhau. Ngay dịp may gặp gỡ cuối cùng trước khi Okada sang Đức du học cũng bị tác giả (nhân vật xưng tôi trong truyện và là bạn của Okada) vô t́nh phá đám.Trên đường về, Okada giận dữ ném ḥn đá nhỡ làm chết con ngỗng trời đang bơi trong hồ như thể giết mất một tự do.

Ở giai đoạn sáng tác này, nói chung, đề tài của Ôgai rất phong phú.Tuy vậy, nơi ông, không c̣n t́m đâu ra h́nh bóng con người tranh đấu cho tinh thần khai sáng ngày xưa, có chăng là một thái độ “đứng bên lề” (bôkansha), “vui chơi” (asobi) và “cam phận” (teinen). Thái độ nầy một phần cũng v́ ở thế đứng của ông giữa chốn quan trường, phải đau khổ chứng kiến thảm cảnh của những nhà văn bị kết án “đại nghịch” bởi một nhà nước Minh Trị phong kiến, và bị đem ra xử h́nh v́ chủ trương và ư kiến của ḿnh[1].

Nổi khổ ấy ông đă lần lượt tŕnh bày trong các tác phẩm nối liền với nhau như “Dường như thế đấy” (Kanoyôni, 1912) và “Dưới cái chùy” (Tsui-ikka, 1913). Trong đó, ông nói về Gojô Hidemaro, một thanh niên quí tộc từng đi du học, hấp thụ được tính hợp lư của Tây phương (ví dụ như thuyết tiến hóa của Darwin mà thời đó coi là “tư tưởng nguy hiểm”), đứng trước cái không hợp lư của Nhật Bản (như thần thoại về nguồn gốc linh thiêng của các thiên hoàng) đang được nhà nước thổi phồng, t́m ra sự mâu thuẫn giữa hai bên nên đâm ra đau khổ. Kết cục, điều nói trên mang đến cho ông ư nghĩ là đành phải chấp nhận những nguyên lư của tôn giáo, khoa học, triết học, vốn không kiểm chứng được một cách cụ thể, như là những thực thể. Cái cách nh́n sự vật dường như thế đấy””[2] của ông xem một việc xảy ra như sự thực mà không cần t́m bằng cớ về sự hiện hữu của nó. Ông thử t́m cách dựa vào giả thuyết này để tiếp tục sống.

Thế nhưng mang một lập trường như vậy mà c̣n viết những tác phẩm có tính hiện đại là việc không c̣n làm được dễ dàng nữa nên ông chuyển qua loại tiểu thuyết lịch sử. Nhân cảm xúc v́ cái chết của đại tướng Nogi Marasuke (Năi Mộc, Hy Điển, 1849-1912) người tự sát để được tháp tùng chủ ḿnh là thiên hoàng Meiji (1852-1912), về bên kia thế giới, ông viết hai tác phẩm mang chủ đề “tự sát để theo chủ“ (tuẫn tử ) là “Thư trối trăn của Okitsuyaemon” (Okitsuyaemon no isho, 1912), “Một nhà họ Abe” (Abe ichizoku,1913) rồi sau đó là những danh tác về lịch sử như “Truyện của Sanshô, người kể dạo” (Shanshô Dayu, 1915) “Thuyền giải tù” (Takasebune, 1916).

Người Viết Tiểu Thuyết Lịch Sử

Đến lúc ấy, Ôgai c̣n viết song song hai thứ tiểu thuyết lịch sử, một là “ sát với lịch sử” và hai là “tách khỏi lịch sử”.Với Shibue Chôsai (Sáp Giang, Trừu Trai, 1916), đăng trên báo ở Ôsaka và Tôkyô, ông kể lại cuộc đời nhà y khoa và tư tưởng thời Edo, Shibue Chôsai (1805-1858), rồi từ đó triệt để theo con đường “sát với lịch sử”, cắt xén mọi sự kiện có tính cách tiểu thuyết mà đi vào hẳn lănh vực truyện kư. Con người của  Chôsai ”ḷng chứa đầy đạo nghĩa, đẩy lùi cám dỗ đến từ bên ngoài, lúc nào tâm thần cũng yên ổn, biết đợi thời cơ, lúc cần tiến th́ tiến, phải thoái th́ thoái” được ông coi như là một đàn anh mẫu mực trong công việc khảo chứng khoa học của ḿnh. Trong tiểu thuyết nầy, Ôgai như đặt lại vấn đề: một cuộc duy tân hấp tấp và hời hợt[3] có thể làm mất đi những giá trị cổ truyền quí báu tượng trưng bằng nhân vật Chôsai và để lại một khoảng trống tinh thần mà Nhật Bản không cách ǵ bù đắp vào được.

Sau đó, ông c̣n biên soạn Izawa Ranken[4] (Y Trạch, Lan Hiên, 1916) và Hôjô Katei [5](Bắc Điều, Hà Đ́nh, 1917-20), xem việc viết “truyện kư lịch sử” như lối thoát cuối cùng của nhà văn.

Nhà Dịch Thuật và Khai Sáng

Ôgai cũng đóng một vai tṛ tiên phong trong việc giới thiệu thơ Tây Phương với người Nhật. Sau khi du học ở Đức về, ông đă cùng với Ochiai Naobumi[6] và Koganei Kimiko (Tiểu Kim Tỉnh, Hỷ Mỹ Tử) lập ra tổ chức “Tiếng Nói MớiShinseisha (Tân Thanh Xă) viết tắt là S.S.S., cho ra đời tập thơ dịch “Vang Bóng”(Omokage, 1889) trong đó họ dịch thơ từ chữ Hán, từ thơ Tây Phương (của Heinrich Heine và Goethe) cũng như một tiết cổ văn trong Truyện Heike. Bài thơ của Goethe (1749-1832) nhan đề “Khúc hát của nàng Mignon”, một mỹ nhân bạc mệnh, thấy trong tiểu thuyết mang tên “Thời học việc của Wilhelm Meister (Wilhelm Meistes Lehrjahre), với h́nh thức 10/10 âm tiết khác với thể 5/7 truyền thống của người Nhật. Trong đó c̣n có thơ trích từ Faust (1774-1831), kịch thơ gồm hai tập của Goethe nói về cuộc đời hứng thú, đầy bi kịch trong t́nh yêu và cũng như cuộc đổi chác giữa học giả Faust và ác quỉ. Ôgai đă dịch từ nguyên văn tiếng Đức theo lời yêu cầu của Bộ Giáo Dục và hoàn tất năm 1913. Khi xuất bản, sách bán rất chạy và gây được tiếng vang lớn.

Khác với việc đeo đuổi lư tưởng nhân bản của Natsume Sôseki, Ôgai là một nhà văn trí thức, đứng bên ngoài ḍng suy tưởng đó và gắn bó với truyền thống tôn quân trọng đạo nhiều hơn. Về bút pháp, ông rơ ràng, chính xác và chi tiết như một nhà giải phẫu, có lẽ v́ lư do nghề nghiệp. Ông được đánh giá như một kiện tướng của phong trào dùng văn nói để viết tiểu thuyết, đóng góp nhiều cho sự phát triển của tiếng Nhật hiện đại. Ông từng viết kịch theo phong cách Âu Tây và đồng thời cũng yêu chuộng sân khấu cổ điển Kabuki. Ngoài ra, Ôgai c̣n để lại dấu ấn trên phương pháp luận của các nhà phê b́nh văn học thời Minh Trị. Trong lănh vực này, theo Ivan Morris, ông tỏ ra chịu ảnh hưởng mỹ học của triết gia duy lư Đức Karl Eduard von Hartmann (1842-1906). Tuy không có nhiều độc giả và thu hút đệ tử lúc sinh thời như Sôseki, Ôgai được lớp nhà văn có tiếng tăm đi sau với văn phong khác nhau từ Tanizaki, Akutagawa, Kawabata đến Mishima đồng tôn làm thầy trong lănh vực văn chương.

                             *

Sau khi rời khỏi chức vị Tổng Cục Trưởng Cục Quân Y, Ôgai vẫn c̣n là viện trưởng Viện Mỹ Thuật Đế Quốc và Viện Bảo Tàng Đế Quốc cho đến lúc qua đời vào năm 1922, thọ 60 tuổi. Có điều lạ là khi chết, ông đă để lại di chúc từ chối tất cả những vinh dự mà chức phận của ông có thể dành cho và chỉ xin khắc đơn sơ trên mộ bia tên cúng cơm của ḿnh (Mori Rintarô = Sâm, Lâm Thái Lang) để được chết như một người thường dân xứ Shimane, quê nhà của ông.

BA ĐOẢN THIÊN CỦA MỘT NGƯỜI VIỂT VĂN THỜI MỞ NƯỚC

Khoảng giữa năm 1971-72, nhà xuất bản Iwanami ở Tôkyô đă cho ra đời toàn tập Mori Ôgai gồm 38 cuốn mà trong đó ba truyện được chọn ra để dịch v́ vừa thật ngắn, vừa có giá trị tiêu biểu.

Trước hết là “Đang Trùng Tu” (Fushinchuu, 1910), tác phẩm Ôgai viết năm 48 tuổi. Ông xem nó nó như một Ich Roman (tiểu thuyết tự thuật) của ḿnh, trong đó nhân vật tham tán ngoại giao Watanabe, đă gặp lại một phụ nữ ngoại quốc, người yêu cũ của anh ta, trong khung cảnh đang xây dựng dở dang của thành phố Tôkyô sau khi chiến tranh Nhật Nga (1904-05) vừa chấm dứt với câu nói thời danh: “Đây là xứ Nhật mà!”, đúc kết những hạn chế và tiêu cực của một quốc gia đang muốn chen chân với liệt cường. Nó như thầm bảo người phụ nữ ngoại quốc trong truyện không hiểu về Nhật Bản cũng như Nhật Bản lai căng của thời Minh Trị chưa hiểu ǵ về ngoại quốc, nếu hai bên có t́m đến với nhau th́ chỉ là một cuộc hôn nhân tạm bợ. Đất nước này c̣n cần một thời gian trùng tu để chuẩn bị tốt cho cuộc gặp gỡ Đông Tây. Truyện này c̣n có thể xem là đoạn tiếp nối và lời trần t́nh cho thái độ của nhân vật chính trong Maihime (Nàng Vũ Công, 1910), anh chàng sinh viên du học Toyotarô đă bỏ rơi người yêu, một cô gái ngoại quốc để về nước lấy vợ.

Hanako (1910), nhan đề của truyện thứ hai mang tên một người con gái Nhật, Fukuhara Hanako. Cô cũng là một vũ công ba-lê, thực sự đă đến Paris và có dịp làm người mẫu cho nhà điêu khắc Auguste Rodin (1840-1917). Tiểu phẩm chỉ có vài trang này của Ôgai nhằm đánh giá cao vẻ đẹp Đông Phương của người con gái Nhật Bản, một cái đẹp chỉ có bậc đại sư phóng khoáng như Rodin mới có thể cảm nhận trong khi chính đồng bào của cô lại không nh́n thấy v́ họ c̣n bị che khuất bởi những thành kiến về giai cấp và về quan điểm mỹ thuật.

Takasebune (Thuyền Giải Tù, 1916), tác phẩm thứ ba được giới thiệu dưới đây, là một truyện ngắn lịch sử Ôgai viết năm 54 tuổi, đăng lần đầu trên tờ Chuô Kôron (Trung Ương Công Luận). Tác phẩm phản ánh những dằn vặt nội tâm của tác giả, vừa là nhà văn có tư tưởng mới mẻ vừa là một công chức cao cấp trong chính quyền, đứng trước những mâu thuẫn của xă hội ḿnh đang sống mà không t́m ra lời giải đáp. Truyện cũng khơi gợi lên một vấn đề y học mà ngày nay chúng ta c̣n đang bàn căi: quan điểm đạo đức về hành động trợ tử (euthanasia ).


[1] Vụ án gọi là “đại nghịch” nhằm tạo lư do để đàn áp phong trào của những người có tư tưởng xă hội và vô chính phủ. Mượn cớ khám phá được mưu toan ám sát thiên ḥang Meiji vào năm 1910, chính quyền thời đó đă tuyên án tử h́nh 24 người trong đó có nhiều kẻ hàm oan. Hai nhà văn Kotoku Shusuui (Hạnh Đức, Thu Thửy, 1871-1911) và Miyashita Taikichi (Cung Hạ, Thái Cát) đă bị hành h́nh tháng 1 năm 1911. Tuy không cùng ư kiến chính trị nếu không nói là có tư tưng đối lập với họ nhưng, vói tư cách một người trí thức, Ôgai rất xúc động về tính cách đàn áp của vụ án này.

[2] Dường như thế đấy (Kano yô ni) cũng là tên một truyện ngắn ông viết, trong đó quan điểm của ông dựa trên tư tưởng triết học của Hans Vaihinger, một người Đức, tŕnh bày trong tác phẩm nhan đề Die Philosphie des Als Ob (1911).

[3] Duy tân “hấp tấp và hời hợt” là từ ngữ phê phán sự chú trọng cái học thực dụng thực lợi, đề cao kiến thức khoa học công nghệ, mà bỏ qua khía cạnh văn hóa xă hội.

[4] Izawa Ranken (Y Trạch, Lan Hiên, 1777-1829) thầy thuốc và nhà tư tưởng (Nho học) dưới thời Edo.

[5] Hôjô Katei (Bắc Điều, Hà Đ́nh, 1780-1823) nhà thơ Hán thi đời Edo.

[6] Ochiai Naobumi (Lạc Hợp, Trực Văn, 18/61-1903), nhà thơ và nhà giáo dục.

 


® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com

..........